Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

CHỚ ÁY NÁY VỀ NGÀY MAI

PHÚC ÂM: Mt 6, 24-34


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được. Vì thế Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao?
Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin.
Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy". 
Đó là lời Chúa.

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GỬI CÁC GIA ĐÌNH



Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban hành một bức thư gửi cho các gia đình hôm thứ Ba,25 tháng 2 năm 2014, trong đó ngài yêu cầu họ cầu nguyện cho Đại Hội Ngoại Thường của Thượng Hội Đồng Giám Mục sắp tới, được triệu tập để thảo luận về chủ đề “Các thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh của công cuộc loan báo Tin Mừng”.
Bản dịch của  Phaolô Phạm Xuân Khôi2/25/2014

         Các gia đình thân mến,

        Với bức thư này, như được viết, tôi muốn vào tận nhà của anh chị em để nói với anh chị em về một biến cố sẽ xảy ra ở Vatican vào tháng Mười tới. Đó là Đại Hội Ngoại Thường của Thượng Hội Đồng Giám Mục, đang được triệu tập để thảo luận về chủ đề “Các thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh của công cuộc loan báo Tin Mừng”. Thật vậy, trong thời đại chúng ta, Hội Thánh được mời gọi để rao giảng Tin Mừng bằng cách trực diện với những nhu cầu mục vụ mới và cấp bách mà các gia đình đang phải gặp phải.

          Cuộc họp quan trọng này sẽ liên quan đến toàn thể Dân Thiên Chúa - Giám Mục, Linh Mục, các nam nữ tu sĩ, và giáo dân của các Hội Thánh địa phương trên toàn thế giới - tất cả những người đang tích cực tham gia vào việc chuẩn bị cho cuộc họp qua những đề nghị thực tế và nâng đỡ chủ yếu là cầu nguyện. Sự nâng đỡ như thế từ anh chị em, các gia đình thân yêu, là điều đặc biệt quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Đại Hội của Thượng Hội Đồng này đặc biệt dành riêng cho anh chị em, cho ơn gọi và sứ vụ trong Hội Thánh và trong xã hội của anh chị em, với những thách đố của hôn nhân, của cuộc sống gia đình, của việc giáo dục con cái, và vai trò của gia đình trong đời sống Hội Thánh. Cho nên tôi yêu cầu anh chị em tha thiết cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần, để Ngài soi sáng cho các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng và hướng dẫn các ngài trong nhiệm vụ quan trọng của các ngài. Như anh chị em đã biết, Đại Hội Ngoại Thường của Thượng Hội Đồng này sẽ được tiếp theo bởi một Đại Hội Thường Kỳ một năm sau đó, cũng sẽ có gia đình như chủ đề. Trong bối cảnh ấy, cũng sẽ có Đại Hội Thế Giới về Gia Đình dự định tổ chức ở Philadelphia vào tháng Chín năm 2015. Vậy, chớ gì tất cả chúng ta cùng nhau cầu nguyện để qua những biến cố này Hội Thánh sẽ thực hiện một cuộc hành trình phân biệt thật sự và áp dụng các phương tiện mục vụ cần thiết để giúp các gia đình đương đầu với những thách đố hiện nay của họ với ánh sáng và sức mạnh đến từ Tin Mừng. 

          Tôi viết thư này cho anh chị em vào ngày lễ Đức Mẹ Dâng Chúa trong Đền Thờ. Thánh Sử Luca cho chúng ta biết rằng Đức Mẹ và Thánh Giuse, khi giữ Luật Môsê, đã đem Hài Nhi Giêsu đến Đền Thờ để dâng Người cho Chúa, và có hai vị lão thành, là ông Simeon và bà Anna, được Chúa Thánh Thần đánh động, đã đến gặp các Ngài và nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Được Xức Dầu (x. Lc 2:22-38 ). Ông Simeon đã bế Chúa trong tay ông và cảm tạ Thiên Chúa rằng ông cuối cùng đã “nhìn thấy” ơn cứu rỗi. Bà Anna, mặc dù đã cao niên, tìm thấy sức sống mới và bắt đầu nói với mọi người về Hài Nhi. Đó là một hình ảnh đẹp: hai cha mẹ trẻ và hai người lớn tuổi được Chúa Giêsu đem đến cùng nhau. Người là Đấng đem các thế hệ lại và kết họ với nhau! Người là suối nguồn vô tận của tình yêu ấy là tình yêu vượt qua mọi ích kỷ, cô đơn và buồn rầu. Trong cuộc hành trình của anh chị em như một gia đình, anh chị em chia sẻ rất nhiều những giây phút tốt đẹp: các bữa ăn, nghỉ ngơi, công việc gia đình, giải trí, cầu nguyện, các cuộc du lịch và hành hương, và thời gian nâng đỡ lẫn nhau... Tuy nhiên, nếu không có tình yêu thì không có niềm vui, và tình yêu đích thực đến với chúng ta từ Chúa Giêsu. Người ban cho chúng ta Lời Người, là Lời soi sáng con đường của chúng ta; Người ban cho chúng ta Bánh hằng sống là bánh nâng đỡ chúng ta trên hành trình của chúng ta.

          Các gia đình thân mến, lời cầu nguyện của anh chị em cho Thượng Hội Đồng Giám Mục sẽ là một kho tàng quí báu làm cho Hội Thánh thêm phong phú. Tôi cảm ơn anh chị em, và xin anh chị em cũng cầu nguyện cho tôi, để tôi có thể phục vụ Dân Chúa trong chân l‎ý và trong tình yêu. Nguyên xin sự bảo vệ của Đức Mẹ và Thánh Giuse luôn luôn đi cùng tất cả anh chị em và giúp anh chị em đoàn kết bước đi trong tình yêu và trong việc chăm sóc cho nhau. Tôi cầu khẩn Chúa ban phúc lành cho mỗi gia đình. 

http://giaoly.org/vn/




Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

THÔNG BÁO : TĨNH TÂM CỰU HÙNG DŨNG


Trân trọng kính mời :
Tòan thể  các anh chị cựu HÙNG TÂM DŨNG CHÍ  hiện cư ngụ tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận
về tham dự NGÀY TĨNH TÂM HÙNG DŨNG , được tổ chức :
 
     - từ 9g sáng đến 16 g chiều
     - ngày chúa nhật, 02/03/2014
     - tại Nhà thờ La San  Mai Thôn  số 970 đường Xô viết Nghệ Tĩnh  (cũ) , phường 28 ,
       Quận Bình Thạnh , Tp HCM -(đường vào khu du lịch Bình Qưới ,Thanh Đa )

Sự hiện diện  của  các anh chị sẽ thắt chặt thêm tình thân ái Hùng Dũng , để cùng  hăng hái bước
trên  đường khó nguy  ,  mang Phúc Âm  chiếu soi khắp nơi .

                                                                      Ghi chú : Ăn uống tự túc

Kính mời

Trần văn Cửu ,  cựu HD  Phủ Cam Huế
Lê Ngọc Bưu ,      "     Phủ Cam Huế
Nguyễn Trần  Ninh ,   "   Hòa Hưng Sài Gòn
Trần Thế Châu ,     "    An Hòa Đà Nẵng



Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

BỔN PHẬN GIÁO DỤC CON CÁI



 Có con cái ư?
Hãy dạy dỗ và uốn nắn chúng ngay thuở còn thơ.
(Hc 7,23)


Hạnh phúc của cha mẹ là được thấy con cái nên người. Ngược lại, nếu con cái hư hỏng sẽ là một nỗi đắng cay phiền muộn. Kết quả đáng mừng hay đáng tủi ấy tuỳ vào sự bận tâm giáo dục của cha mẹ ngay từ đầu.
Giáo dục con cái không phải chỉ là một bổn phận quan trọng, mà còn là một vinh dự lớn lao của bậc làm cha làm mẹ, bởi vì được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Đó là việc trồng người. Không chỉ trồng nên những người hữu ích cho xã hội, cho Hội Thánh mà còn trồng nên những vị thánh. Vì thế, giáo dục con cái không phải là một việc tuỳ hứng, nhưng cần có một đường hướng, một kế hoạch và những phương pháp.

1. Quyền và bổn phận giáo dục con cái

Quyền và bổn phận giáo dục con cái là cái cốt lõi của việc làm cha làm mẹ, bởi vì nó liên quan đến việc lưu truyền sự sống. So với những người khác, thì vai trò giáo dục của cha mẹ là khởi nguồn và là cơ bản vì tương quan yêu thương độc nhất vô nhị giữa cha mẹ và con cái. Vai trò giáo dục của cha mẹ không ai thay thế được và cũng không nhường cho ai được, nên không thể nào khoán trắng cho người khác hoặc để người khác chiếm đoạt.
Yếu tố nền tảng cơ bản nhất đánh dấu vai trò giáo dục của cha mẹ là tình phụ tử và mẫu tử. Chính tình yêu thương này, như nguồn mạch xuất phát, trở thành linh hồn và quy tắc để gợi ra những sáng kiến và hướng dẫn cho mọi hoạt động giáo dục cụ thể, làm cho chúng thấm đượm những giá trị của sự dịu dàng, kiên nhẫn, nhân hậu, phục vụ, vô vị lợi, hy sinh, là những hoa trái quý giá nhất của tình yêu[1].

2. Phải dạy từ lúc nào?

 Công đồng Vaticanô II ngỏ lời với các bậc làm cha làm mẹ: “Vì đã lãnh nhận ân sủng cũng như bổn phận của bí tích hôn phối nên cha mẹ phải dạy dỗ con cái ngay từ nhỏ[2]“. Cha ông chúng ta cũng thường nói:
Uốn cây từ thưở còn non,
Dạy con từ thưở con còn đương thơ.
“Còn đương thơ” hay “ngay từ nhỏ” ở đây có nghĩa là ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ. Khoa học ngày nay cho thấy: Người mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khoẻ của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Việc giáo dục này được gọi là thai giáo. Trong thời gian này, các tâm tình và thái độ ứng xử của cha mẹ sẽ ghi dấu sâu đậm trên tâm tính đứa con sắp chào đời. Do đó, những bậc cha mẹ thương con sẽ hết sức lưu ý, để trong thời gian mang thai sống thật lành mạnh về luân lý và tâm linh.
 Tuy nhiên, thời gian thuận tiện nhất để trực tiếp giáo dục con cái, đó là khi đứa con bắt đầu có trí khôn, bắt đầu nhận biết về những điều cha mẹ dạy bảo. Lúc bấy giờ gia đình sẽ trở nên mái trường đầu tiên dạy cho đứa bé những bài học làm người. Trong mái trường đó, cha mẹ chính là những “thày cô” được tín nhiệm và yêu thương hơn cả, vì cha mẹ là những người sống gần con cái, hiểu biết con cái và yêu thương con cái hơn hết.

3. Phải dạy những gì?

Mục tiêu của của việc giáo dục Kitô giáo là giúp con cái trở thành người và trở thành người con Thiên Chúa. Khuôn mẫu của con người hoàn hảo đó là Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa đã hạ sinh làm người để nên mẫu mực cho chúng ta noi theo[3].
Trong việc giáo dục con cái, phải để ý đến mặt nhân bản cũng như mặt đức tin.
3.1. Giáo dục nhân bản
 Nền giáo dục nhân bản phải bao gồm cả ba phương diện: đức, trí và thể dục.
-                      Thể dục: dạy con vệ sinh sạch sẽ, giữ gìn sức khoẻ.
-                      Trí dục: trau dồi cho chúng về học vấn, về nghề nghiệp, để chúng có thể sống tự lập, xây dựng tương lai cuộc đời mình, góp phần xây dựng xã hội.
Đức dục: trừ khử những thói hư tật xấu và tập luyện những tính tốt. Nhất là bốn nhân đức cột trụ làm nền tảng cho những nhân đức khác: khôn ngoan, công bằng, tiết độ và dũng cảm.
Khôn ngoan: biết khiêm nhường lắng nghe và mau mắn vâng lời; biết suy nghĩ cân nhắc trước khi làm và khi làm xong sẽ dừng lại một chút để kiểm điểm và rút kinh nghiệm; biết xem xét và chuẩn bị kỹ để chu toàn mọi bổn phận thật chu đáo cũng như để ứng xử đúng trước những tình thế mới.
. Công bằng: Chăm chỉ làm tròn bổn phận; yêu thương mọi người, tôn trọng của cải và quyền lợi của họ; tôn trọng của chung và biết lo cho công ích; luôn thành thật trong lời nói và việc làm; không bao giờ gian lận.
Tiết độ: Có kỷ luật, đúng giờ giấc và chừng mực trong những điều nhỏ mọn hằng ngày, trong ăn uống cũng như giải trí; tập cân nhắc đúng bậc thang giá trị theo tinh thần Kitô giáo và biết chọn lựa cách ý thức. Biết tiết kiệm. Dạy cho con cái biết giá trị của lao động cũng như giá trị thực sự của của cải vật chất. Hướng dẫn con cái chọn thú vui giải trí cũng như bè bạn
Dũng cảm: Biết can đảm đứng vững trong điều tốt; biết chấp nhận những sai lỗi của mình, tự tin và tự lập, biết lãnh nhận trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm.
Đối với người Việt Nam, những đức tính ấy được diễn tả qua khái niệm “trung dung”, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Những đức tính này giúp ta biết yêu thương, có lòng biết ơn, cộng tác và nâng đỡ người khác, nói năng cũng như cư xử lễ độ và tế nhị, biết suy nghĩ cân nhắc và biết tạo nên sự tin cậy lẫn nhau.
Riêng đối với nữ giới cần thêm: Công, dung, ngôn, hạnh.
Giáo dục giới tính: Ngoài ra, trong việc giáo dục nhân bản cũng phải để ý đến việc giáo dục giới tính, hướng dẫn con cái về phái tính và tính dục. Việc giáo dục này nhằm mục đích giúp con cái có một sự hiểu biết về tính dục phù hợp với lứa tuổi và tầm nhận thức, để chúng sống trong sạch, trưởng thành, xứng đáng là người nam, người nữ như ý Chúa. Trong việc giáo dục này, cũng cần dạy cho con cái biết sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông, đặc biệt về phim ảnh, internet.
 Nền giáo dục nhân bản này là điều hết sức cần thiết. Đức Thánh Cha nói: “Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: giá trị của con người là do cái mình làm, hơn là do cái mình có.”[4]
 Xem đó chúng ta thấy: Để trở thành một người Kitô hữu, thì tiên vàn phải là một người cho đúng nghĩa của nó. Hay nói một cách khác: Phải là người trước đã, rồi sau đó mới có thể là người Kitô hữu.
3.2. Giáo dục đức tin
 Là người có đạo, ngoài nền giáo dục nhân bản, cha mẹ còn phải cho con cái nền giáo dục Công giáo, nghĩa là ngay từ hồi còn tấm bé, đã phải dạy cho con cái biết mến Chúa yêu người, biết tuân giữ những giới luật của Chúa, biết tham dự những công việc đạo đức, biết siêng năng lãnh nhận các bí tích, nhờ đó con cái sẽ trở thành những Kitô hữu đích thực, nghĩa là những người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống, cũng như trở thành những người tín hữu đích thực, nghĩa là những người có đức tin và sống đức tin của mình giữa lòng cuộc đời.
Công đồng Vaticanô II nói: “Vợ chồng đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha mẹ, sẽ chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này liên hệ đến họ trước[5]“.
 Công đồng Vaticanô II cũng xác định nội dung của việc giáo dục Kitô giáo như sau: “Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành, nhưng chính là nhằm giúp những người đã được rửa tội, để nhờ hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm cứu rỗi, thì càng ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh, biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4, 23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Ep 4,22-24), và nhờ vậy họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn đạt tới sự sung mãn của Đức Kitô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm thể được tăng trưởng[6].
Trong việc giáo dục đức tin, cũng cần để ý tới việc giúp con cái nhận ra ơn gọi của chúng và giúp chúng đáp lại ơn gọi đó.
Khi con cái bắt đầu học giáo lý, cha mẹ nên quan tâm tìm hiểu hệ thống các lớp giáo lý trong giáo xứ mình. Ngay cả khi con cái chưa đi học, nếu được, họ cũng nên tham gia giảng dạy hoặc hỗ trợ cho các lớp giáo lý, bởi đó là cách đơn giản để nâng cao nhận thức giáo lý của mình và tự trang bị khả năng đào tạo đức tin cho con cái. Một số nơi, vì giới phụ huynh ít tham gia, việc giảng dạy giáo lý được giao cho lớp trẻ và nói tới Giáo lý viên là người ta dễ nghĩ tới những anh chị chưa lập gia đình. Thật ra, đội ngũ Giáo lý viên phải là những người có bề dày kinh nghiệm sống, cho nên Hội Thánh rất ước mong các đôi bạn quảng đại chia sẻ sứ mạng này.

4. Để việc giáo dục đạt kết quả tốt

4.1. Đồng tâm nhất trí
Cha mẹ phải nhất trí với nhau trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái: Tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái và phải biết dùng những phương pháp thích hợp để giúp chúng đạt được mục đích. Công đồng xác quyết :
“Gia đình là một trường học phát triển nhân tính, nhưng để gia đình có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mệnh mình, cần phải biết hòa hợp tâm hồn: vợ chồng phải cùng nhau bàn định, cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái[7]“.
Ngoài việc đồng tâm nhất trí với nhau, cha mẹ còn phải biết cộng tác với những nhà giáo dục khác, đặc biệt là các thầy cô và các Giáo lý viên.
4.2. Làm gương sáng
Kể từ lễ đính hôn, bình thường người ta chỉ còn hơn một năm để trở thành nhà giáo dục. Cách hữu hiệu nhất để biến mình thành nhà giáo dục là cương quyết sống những gì mình muốn truyền đạt cho con cái. Khi cha mẹ thăng tiến chính bản thân, nêu gương đời sống tốt đẹp về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác, con cái sẽ noi theo. Đúng như người xưa vẫn nói:
- Cha nào con nấy,
 - Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
Thật vậy, đứa bé, nhất là khi còn nhỏ, chưa có đủ trí khôn để phân biệt điều phải và điều trái, điều tốt và điều xấu. Nó thường bắt chước những gì cụ thể đập vào mắt nó. Thấy người lớn nói và làm thế nào, nó sẽ bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, gương sáng của cha mẹ là điều rất cần thiết trong việc giáo dục con cái. Cha ông ta thường nói:
Lời nói như gió lung lay,
Việc làm như tay lôi kéo.
Công đồng cũng xác quyết: “Được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn[8]“.
4.3. Tạo bầu khí gia đình đầm ấm
Cần tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, hoà thuận, lạc quan và biết tín nhiệm nhau. Trong Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo, Công đồng Vaticanô II nói: “Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện con cái trong đời sống cá nhân và xã hội trở nên dễ dàng. Do đó Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể[9]“.
Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 nơi số 12 viết: “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường họcvề đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa”.
4.4. Tìm hiểu con cái
 Giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ luôn có một khoảng cách. Nếu không chịu tìm hiểu con cái, công việc giáo dục của cha mẹ sẽ không đạt được những kết quả mong muốn đã đành, mà còn gây nên những bực bội và oán trách. Quả thật, giữa cha mẹ và con cái luôn có một bức tường ngăn cách. Bức tường này chính là tuổi tác. Vì tuổi tác chênh lệch, nên thời gian và không gian của hai thế hệ già và trẻ cũng khác biệt, để rồi từ môi trường sống ấy đã phát sinh những dị biệt, những bất đồng.
Giáo dục có nghĩa là hướng dẫn, uốn nắn và làm cho tốt đẹp hơn. Vì thế, việc đầu tiên cần thực hiện ngay, đó là phải tìm hiểu con cái, phải biết con cái nghĩ gì, muốn gì, nói gì và làm gì thì mới có thể hướng dẫn chúng một cách hữu hiệu.
 Điều gì tốt nơi con cái, cần biết duy trì và cổ võ để được liên tục phát triển, còn điều gì xấu, lo nhắc bảo và sửa sai bằng những lời lẽ ôn tồn và tế nhị, thành thực và yêu thương.
 Có tìm hiểu con cái, cha mẹ mới cảm thông và xích lại gần con cái hơn, nhờ đó lấp đầy được hố sâu ngăn cách giữa già và trẻ, một hố sâu muôn thuở trong gia đình cũng như ngoài xã hội, đã tạo nên những mối bất bình sâu xa giữa cha mẹ và con cái.
4.5. Kiên nhẫn trong việc giáo dục
Uốn cây, cần phải kiên nhẫn, bằng không nó sẽ gãy. Vì thế, người xưa đã từng khuyên: Dục tốc bất đạt. Vội vã sẽ không thành.
 Trẻ con thường ham chơi và mau quên. Cho nên nói một lần mà thôi chưa đủ, chúng ta phải nói lần nữa và lần nữa. Chúng ta phải nhắc đi nhắc lại để những lời khuyên nhủ được thấm dần vào đầu óc của chúng.
 Đừng bao giờ thất vọng và nản chí trong việc uốn nắn sửa dạy con cái, bởi vì đó là một ơn gọi, một thiên chức cao cả mà Chúa đã dành cho chúng ta, những bậc làm cha và làm mẹ.
4.6. Cầu nguyện cho con cái
 Một trong những điều mà bậc làm cha làm mẹ cần nhớ, đó là ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa: cộng tác trong việc vun trồng sự sống, cộng tác trong việc truyền sinh cũng như trong việc giáo dục con cái. Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái[10]. Bởi vậy, trong việc giáo dục con cái, hai vợ chồng cần chạy đến với Chúa, bởi vì “Không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 5). Đến với Chúa để xin Ngài soi sáng và hướng dẫn cách thức dạy dỗ. Cầu nguyện cho con cái, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển khó khăn của chúng.
Sau cùng và hết sức quan trọng, để biết dạy dỗ con em, ta cần biết đến với vị Thầy tối cao của nhân loại là Chúa Giêsu Kitô: “Hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho ta để ta học được sự hiền lành và khiêm nhường cần có.


(Nguồn : simonhoadalat.com)

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

HÃY YÊU KẺ THÙ




"Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù
và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em."
(Mt 5,43-44)


          Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu dạy chúng ta về cách hành xử cần phải có trong những hành động trực tiếp làm cho người thân cận. Với bài Tin Mừng hôm nay Chúa tiếp tục những lời dạy về cách cư xử đó. Nội dung những lời chỉ dẫn của Chúa Giêsu thì có nhiều nhưng chúng ta có thể tóm gọn lại bằng 2 ý:
A.. Ý thứ 1 Chúa bảo đừng trả đũa (Mt 5,38-42):
- Khuynh hướng tự nhiên là muốn trả đũa, và trả đũa thì thường nặng hơn mức người ta gây cho mình: “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại”. Chì thì chắc chắn nặng hơn đất và nguy hiểm hơn đất.
- Cựu Ước hạn chế sự trả đũa đúng với mức thiệt hại người ta gây cho mình: “Mắt đền mắt, răng đền răng”(Mt 5,38)
- Còn Chúa Giêsu, thì Ngài dạy hoàn toàn không trả đũa.
          Không trả đũa, đó không phải là thái độ của kẻ yếu, mà ngược lại đó chính là thái độ của kẻ mạnh.
          Hàn Tín, một danh tướng của vua Hán Cao Tổ, thuở nhàn vi phải đi câu cá đổi gạo ăn. Thế mà có những lúc cũng không đủ ăn, Hàn Tín được một bà lão thợ giặt gọi về cho ăn cơm. Ó một điều lạ là, đi đâu Hàn Tín cũng mang theo một thanh gươm kè kè bên mình.
        Một hôm, có một tên đồ tể thô lỗ ở chợ tên là Ác Thiểu muốn hạ nhục Hàn Tín nên chặn đường thách thức:
 - Chú thường mang gươm, chả biết để làm gì. Bây giờ tôi không cho chú đi. Chú có to gan thì sẵn gươm đó, hãy chém tôi mà đi, bằng không thì phải lòn dưới "chôn" tôi mà qua!
         Hàn Tín chẳng chút đo dự, lòn dưới "chôn" tên hạ tiện đó mà đi, lòng tự nhủ:
Giết thằng này thì được rồi, nhưng mà phải lấy mạng mình mà đổi mạng nó, thì không đáng tí nào.
       Sau đó Hàn Tín nhờ có công giúp Hán Cao Tổ dựng nước mà được phong làm một vua chư hầu vùng Tam Tề . Lúc bấy giờ, Hàn Tín bèn mời bà thợ giặt đến biếu một nghìn lạng vàng để tạ ơn. Rồi không những không thèm trả thù tên đồ tể mất dạy ngày xưa, Hàn Tín lại còn phong cho hắn chức Trung Húy. Ác Thiểu rất ngạc nhiên, khúm núm nói:   
- Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, đã dại dột xúc phạm đến oai nghiêm của Ngài, nay tội ấy được tha chết là may lắm ròi, đâu còn dám mong được ban chức tước?
       Hàn Tín ôn tồn bảo:
- Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng cừu hận. Hành động của ngươi ngày xưa tuy quá đáng, nhưng cũng là bài học để ta luyện chí. Vậy nhà ngươi chớ tỵ hiềm mà từ chối nhưng hãy nhận lấy chức tước ta ban. 
        Vâng! Chỉ người nào rất mạnh mới chế ngự được khuynh hướng trả đũa vốn nằm sẵn trong lòng mình. Người đó còn mạnh hơn về tình thương, vì chỉ khi có một tình thương rất mạnh mới có thể tiếp tục yêu thương và không trả đũa kẻ đã xúc phạm mình.
B. Ý thứ hai: hãy đối xử tốt với những kẻ thù ghét mình (Mt 5,43-48):
- Khuynh hướng tự nhiên là thù ghét kẻ thù ghét mình.
- Cựu Ước không có khoản luật nào dạy yêu thương kẻ thù.
- Còn Chúa Giêsu thì dạy :
a/ Hãy yêu thương kẻ thù;
b/ Hãy làm ơn cho kẻ ghét mình;
c/ Hãy cầu nguyện cho họ.
        Phim ảnh thường nói về những chuyện báo thù, coi việc báo thù là bổn phận thiêng liêng: con báo thù cho cha, chồng báo thù cho vợ, anh em báo thù cho nhau, bạn bè báo thù cho nhau v.v. Nhưng gần đây, ngay cả những phim mang nội dung báo thù ấy cũng dẫn đến một ý tưởng kết thúc là báo thù không giải quyết được vấn đề, càng báo thù thì hận thù càng gia tăng chồng chất. Nghĩa là lương tri con người đã ý thức rằng báo thù không phải là một nghĩa vụ thiêng liêng nhưng là một thảm họa.
          Đấy là câu truyện do nhà văn hào Lep Tolstoi kể: Có người hành khất nọ đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí một đồng xu hay một miếng bánh vụn. Đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi ở người giàu có. Thế nhưng mặc cho người nghèo khó khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến lúc không còn chịu đựng nổi những lời năn nỉ của kẻ ăn xin nữa, thì thay vì bố thí cho nghèo đó một cái gì thì người giàu có lại lấy hòn đá ném vào mặt người nghèo khó khốn khổ đó. Người hành khất cúi xuống nhặt hòn đá cho vào bị vừa nhặt vừa thì thầm trong miệng: "Ta sẽ mang hòn đá này cho đến khi nhà ngươi sa cơ thất thế, ta sẽ dùng nó để ném trả lại nhà ngươi”. Thế rồi, đi đến đâu người hành khất đó cũng mang theo hòn đá đó. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.
        Rồi năm tháng qua đi, lời chúc dữ đó đã trở thành sự thật. Vì biển lận nên người giàu có đã bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vô ngục.
         Ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người giàu có bị áp giải dẫn vào ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong tâm hồn ông. Ông len lỏi đi theo đoàn người áp giải. Tay ông nắm thật chặt hòn đá mà cách đây 10 năm người kia đã ném vào ông. Ông muốn ném ngay hòn đá ấy vào mặt người tù để rửa mối nhục hằng đeo đuổi bên ông. Nhưng rồi cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tụy khốn nạn của kẻ đang bị còng tay dẫn đi trước mặt ông, người hành khất ném nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: Tại sao ta lại phải mang nặng hòn đá này suốt bao năm qua. Con người này giờ đây cũng chỉ là một kẻ khốn khổ, có lẽ còn khốn khổ hơn ta nữa".
       Có lẽ trong cuộc đời biết đâu lại chẳng có lúc chúng ta cũng ứng xử giống như người hành khất nghèo khó nọ. Chúng ta vẫn còn mang những hòn những hòn đá thù hận còn tệ hơn, không những làm cho tâm hồn chúng ta bất an mà còn phá hủy đi mối tương quan liên đới tồt đẹp giữa người với nhau.
(Nguồn : tgpsaigon.net)

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ CỦA CĂN TÍNH KITÔ


          Trong một số nền văn hóa nhất định, người ta khích lệ các tín hữu phải có một khuôn mặt đạo mạo, thậm chí là rầu rĩ trong trạng thái của một hối nhân đau buồn trước tội lỗi của mình. Tuy nhiên, theo Đức Thánh Cha Phanxicô, Giáo Hội chẳng được lợi gì từ những khuôn mặt “buồn như đưa đám” của các tín hữu.
       Trong thánh lễ sáng thứ Sáu 14 tháng 2 tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói một Kitô hữu chân chính phải là người tiến bước giữa thế giới này tung tăng hớn hở như một chiên con của Chúa.

         Đề cập đến bài đọc thứ nhất trong ngày, trích từ sách Công Vụ Tông Đồ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày những nét chính yếu trong căn tính Kitô giáo, và nhấn mạnh rằng một Kitô hữu trước hết phải được hiểu như là một người được Chúa “sai đi vào thế giới để rao giảng Tin Mừng”. Như thế, Kitô hữu phải là một môn đệ “luôn chuyển động, luôn tiến về phía trước”. Một Kitô hữu đứng yên là một người “mắc bệnh”, bởi vì, nét đặc thù đầu tiên của căn tính Kitô là khả năng “tiến bước ngay cả trong những khó khăn, để vượt qua những trở ngại này”.

        Là một Kitô hữu có nghĩa “là một con chiên, và phải giữ cho được bản sắc này”. Theo Đức Thánh Cha Phanxicô đó là đặc điểm thứ hai của căn tính Kitô giáo. Ngài nói: “Chúa sai chúng ta ra đi như chiên con giữa bầy sói”. Một số người đề nghị sử dụng sức mạnh chống lại những con sói, nhưng Đức Thánh Cha cảnh cáo rằng chúng ta phải nhớ đến bài học của Đa-vít khi ông chiến đấu với quân Phi-li-tinh. Người ta muốn mặc cho Đa-vít tất cả các áo giáp của Sau-lô, nhưng như thế Đa-vít không thể di chuyển được, “Đa-vít không còn là mình nữa, ông không còn nhanh nhẹn nữa.” Vì thế, cuối cùng Đa-vít cởi phăng mọi thứ và cầm lấy cái ná của mình và đã thắng trận.

Đôi khi chúng ta bị cám dỗ suy nghĩ rằng: ‘Trường hợp này thật là khó khăn. Những con sói này quỷ quyệt và ta phải quỷ quyệt hơn chúng’. Nhưng chừng nào anh chị em vẫn là những chiên con, Chúa sẽ bảo vệ anh chị em, nếu anh chị em là sói, Chúa sẽ bỏ mặc anh chị em.

         Tính chất đặc thù thứ ba của căn tính Kitô, là "phong cách Kitô giáo", đó là niềm vui. “Kitô hữu là những người hân hoan vì họ biết Chúa và mang Chúa đến cho thế gian.” Không thể tiến bước trong tư cách là Kitô hữu với một khuôn mặt đưa đám. Ngay cả khi phải đối mặt với những thử thách, những gian truân, hay với cả những sai lầm và tội lỗi của chúng ta, anh chị em hãy vui lên vì niềm vui trong Chúa Giêsu, Đấng luôn tha thứ và phù giúp chúng ta.

        "Những Kitô hữu với 'phong cách sống' rầu rĩ, phàn nàn quanh năm suốt tháng chẳng giúp gì được cho Chúa và cho Giáo Hội của Ngài: đó không phải là phong thái người môn đệ Chúa Kitô."

        Đức Thánh Cha kết luận rằng “trong ngày lễ kính hai môn đệ Chúa là hai thánh Xyrilô và Mêthôđiô, chúng ta cần phải suy tư trên căn tính người môn đệ Ngài. Một Kitô hữu phải là một người nam hay người nữ không bao giờ đứng chết trân một chỗ nhưng tiến bước và tiến bước hớn hở như chiên con. Nhờ lời cầu bầu của hai vị thánh bổn mạng của châu Âu, xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng để tung tăng tiến bước như chiên con."

Đặng Tự Do

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

DẠY CON THEO CÁCH CỦA NGƯỜI DO THÁI



          Tựa đề của bài viết dựa theo tên một cuốn sách (Phương Pháp Giáo Dục Con Của Người Do Thái – Trần Hân). Và tôi sẽ đứng trên quan điểm của một người đã từng là trẻ con để nêu ra một số quan điểm liên quan tới giáo dục trẻ em.

          Nhắc đến người Do Thái hẳn ai cũng phải ngưỡng mộ trí tuệ của họ. Đây là một trong những dân tộc ưu tú nhất Thế Giới và sản sinh ra nhiều vĩ nhân như nhà bác học Albert Einstein, Nhà tâm lý học Sigmund Freud, họa sĩ Picasso, Karl Marx…

         Đối với người Do Thái, điều đầu tiên họ dạy trẻ em là phải luôn tôn thờ Trí Tuệ. Nếu nhà bị cháy, bạn sẽ bảo con bạn mang theo thứ gì? Có câu chuyện kể Người Do Thái dạy con họ rằng lúc đó hãy mang theo trí tuệ vì "trí tuệ là thứ không thể đốt cháy và sẽ ở bên con mãi mãi." Bởi thế người Do Thái không những chú trọng đến việc học hành ở nhà trường mà còn chú ý tới khả năng tư duy của trẻ em. Việc học của trẻ em Do Thái không chỉ bó buộc trong kiến thức sách vở mà chúng còn được chỉ dạy nhiều cách tiếp cận khác nhau thông qua việc tiếp xúc với những nguồn tài liệu hợp lý, giao lưu với những con người khác nhau để cùng tích lũy thêm kiến thức. Nhìn lại nền giáo dục của Việt Nam hiện nay, hầu hết các bậc phụ huynh đều chạy theo bệnh thành tích, nhồi nhét vào đầu trẻ những chương trình quá tải, những kỳ thi nặng nề và những áp lực về điểm số, một chương trình giáo dục không những được học ở trường mà đứa trẻ còn phải đi học thêm vài ba thầy cô khác, các bậc cha mẹ thúc em con em mình học bài – làm bài như một nghĩa vụ.

        Người Do Thái có câu "Không là con lừa cõng trên lưng nhiều sách." Khác với trẻ em Do Thái vừa được tiếp thu kiến thức, vừa phải suy nghĩ sáng tạo, vừa đặt câu hỏi – tạo nghi ngờ cho các vấn đề thì trẻ em Việt Nam hiện nay chấp nhận kiến thức một cách máy móc, gia đình và nhà trường không quan tâm tới việc tạo ra những cách kích thích nhu cầu tò mò tìm hiểu của trẻ.

        Người Do Thái rất yêu sách, đối với họ sách có mùi vị của quả ngọt. Họ có truyền thống luôn đặt tủ sách ở đầu giường để đọc được nhiều sách và thường xuyên hơn. Họ cũng luôn làm gương và có kế hoạch bồi dưỡng thói quen đọc sách cho trẻ em. Chúng ta hãy nhìn lại thói quen đọc sách của người Việt, đặc biệt là các bậc cha mẹ.

         Trẻ em Do Thái luôn được dạy tính tự lập từ nhỏ. Trong lúc, ở Việt Nam các ông bố bà mẹ chăm chút cho đứa con mình từng chút một từ việc ăn việc ngủ, tất tần tật mọi thứ luôn làm hộ con thì trẻ em Do Thái không như thế. Người Do Thái luôn dạy con phải biết tự làm mọi việc của bản thân. Ở Việt Nam thường thấy cái cảnh một đứa trẻ vấp ngã, bà mẹ sẽ lo lắng suýt xoa, dỗ dành nhưng đứa trẻ Do Thái tự vấp ngã sẽ tự đứng lên, cha mẹ sẽ không giúp đỡ và đứa trẻ luôn được dạy phải thể hiện mình đã là người lớn. Chúng ta vẫn thường thấy cảnh ba mẹ mặc áo quần giày dép cho một đứa trẻ 5 tuổi ở Việt Nam, nhưng người Do Thái đã rèn cho con của họ làm mọi việc cá nhân ở cái tuổi đó. Cha mẹ nào cũng yêu thương con nhưng không phải ai cũng biết yêu thương con đúng cách, có rất nhiều người nhầm lẫn tình yêu với sự nuông chiều, và sự nuông chiều sẽ đánh cắp mất tính độc lập của đứa trẻ. Tin tưởng và luôn dựa vào bản thân là nền tảng căn bản để một đứa trẻ có thể thích ứng nhanh chóng với cuộc sống và xã hội.

        Một đặc điểm nổi bật trong cách giáo dục con của người Do Thái nữa là kỹ năng quản lý Tài Chính. 3 tuổi, trẻ đã được cha mẹ bắt đầu giảng giải giá trị và công dụng của đồng tiền, họ thường cho những trò chơi đoán giá trị tiền tệ để nhận biết giá trị tiền và tiền là do lao động chứ không phải là từ túi từ ba mẹ chúng. Đứa trẻ 10 tuổi đã hiểu được ý nghĩa của việc dành dụm. Họ còn giúp những đứa trẻ của mình so sánh sản phẩm của mình trong việc mua sắm và lên kế hoạch chi tiêu cho bản thân. Còn ở Việt Nam thì sao? "TRẺ CON THÌ BIẾT GÌ VỀ CHUYỆN TIỀN BẠC," đa phần tư tưởng của bậc phụ huynh của Việt Nam là như thế.

          Người Do Thái là những kẻ coi trọng kinh doanh, có rất nhiều ý kiến cho rằng họ là những kẻ coi tiền là mạng sống và luôn tham lam, nhưng họ vẫn không giận dữ và sáng suốt. Việc kiếm tiền đối với họ là việc chính đáng và họ luôn giáo dục con cái họ những kiến thức về kinh doanh lẫn việc vận dụng nó vào thực tế. 5 tuổi, họ đã dạy con cái kiếm tiền từ những đồng tiền nhỏ nhất bằng những việc đơn giản nhất và bằng chính sức lao động của mình. Nhìn lại thực tế Việt Nam, đứa trẻ bao nhiêu tuổi mới quan tâm tới việc kiếm tiền? 18 – 20 hay 22 tuổi?

        Đối với cha mẹ Do Thái,
"Giáo dục trẻ không phải là để bồi dưỡng chúng thành thiên tài mà là để chúng có thể sống với chính mình." Do đó, họ luôn tạo điều kiện để phát huy những tiềm năng của đứa trẻ, để trẻ lựa chọn điều yêu thích chứ không ép buộc trẻ đi theo những điều mà họ muốn.

         Và tất nhiên, việc giáo dục con cái các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cũng được người Do Thái chú trọng như các Dân Tộc khác. Như việc đối nhân xử thế, quan tâm – thân thiện với những người xung quanh. Kính trọng, yêu thương cha mẹ và mọi người. Tình yêu dành cho thiên nhiên và những loài vật nhỏ. Sự thành thật và chữ tín. Các đức tính chăm chỉ và tiết kiệm. Quan tâm tới sức khỏe của bản thân….

       Thực sự, người Do Thái cũng như người Việt Nam, không phải họ có chỉ số IQ cao hơn chúng ta mà chính cách sống và cách họ được giáo dục đã khiến họ trở thành những thiên tài. Họ không những để lại cho nhân loại những thành tựu to lớn mà trên hết đó chính là cả một nền văn minh.

Trang Nguyễn

Nguồn: Triết học đường phố

http://www.triethocduongpho.com/