Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

TRÒ ĐÙA CỦA THƯỢNG ĐẾ

                          


Chiều Christmas Eve năm 2004, Wendy Hương, cô sinh viên năm thứ ba đại học Duợc Khoa đang đứng đợi chuyến xe lửa duới subway của thành phố NewYork để trở về nhà. Tất cả các anh chị em của cô đều hẹn là sẽ về nhà đúng 7 giờ để đoàn tụ trong buổi com chiều thân mật cùng cha mẹ theo truyền thống của gia đinh 
 

Bỗng Wendy để ý đến một cặp nam nữ đang đứng cách cô vài buớc, họ đang ra dấu bằng tay để giao luu với nhau.  Wendy hiểu đuợc thuật ngữ ra dấu bằng tay vì trong những năm đầu đại học cô đa volunteer làm việc trong truờng tiểu học dành cho nguời khuyết tật nên cô đa học đuợc cách ra dấu tay để trò truyện với những nguời câm điếc.  Vốn tính chịu khó học hỏi, Wendy đa khá thông thạo thuật ngữ này.

 
Nhìn vào cách ra dấu của hai nguời, đa “nghe lóm” đuợc câu chuyện của hai nguời. Thì ra, cô gái câm hỏi thăm đuờng đến một noi nào đó, nhung chàng thanh niên câm thì "trả lời" là anh không biết noi chốn đó.

 
Wendy rất thông thạo đuờng xá trong khu vực nầy nên có mạnh dạn đứng ra chỉ dẫn cho cô gái. Di nhiên cả ba đều dùng cách ra dấu bằng tay để “nói” trong câu chuyện của họ. Khi xe lửa đến trạm thì Wendy và hai nguời bạn mới quen đa kịp thời trao đổi emails address cho nhau.

Những ngày sau đó, ba nguời tiếp tục trò chuyện dùng phuong tiện text messages của mobile phone rồi dần dà họ trở thành bạn thần giao cách cảm với nhau. Chàng trai kia tên là Jack và cô gái tên là Debbie. Jack cho biết anh đang làm việc cho một hãng xuất nhập khẩu và ở cách nhà Wendy một đổi không xa mấy.



 
Từ những text messages, emais thăm hỏi xã giao lúc đầu, cả hai dần dần tiến đến chỗ trở thành bạn thân lúc nào không hay. Đôi khi Jack đến truờng đón và mời cô đi ăn. Cả hai thích khung cảnh êm đềm trong Central Park nên thuờng yên lặng đi bên nhau trong những giờ phút nghi ngoi. Tuy phải ra dấu để trò chuyện nhung Wendy không cảm thấy bất tiện mà cô lại có dịp trau dồi “thủ thuật” để nghệ thuật ra dấu của cô càng lúc càng tinh xảo hon.

 
Đến mùa thu năm đó thì hai nguời đa thân thiết nhu một cặp tình nhân. Wendy đa quên hẳn Jack là một nguời khuyết tật, cho nên lần đầu tiên khi Jack ra dấu “I Love You” thì Wendy đa nhẹ nhàng ngả đầu vào vai anh.

 
Sau những giờ học, thỉnh thoảng Wendy cung vào chatroom đấu láo với bạn bè, mỗi khi Wendy đặt câu hỏi “Bạn có thể fall in love với một nguời câm điếc hay không?” thì hình nhu không có bạn bè nào của cô có đuợc câu trả lời dứt khoát. Điều này khiến cho Wendy bị dày vò không ít.

Vào dịp lễ Thanksgiving năm đó, Jack tặng cho Wendy một bó hoa hồng kèm theo câu ra dấu: “Wendy có chịu làm girl friend của mình không?” Wendy vừa vui mừng vừa kinh ngạc nhung sau đó khổ sở trong tâm.  Cô biết mình sẽ gặp phản đối mạnh mẽ của những nguời thân.


 
Quả nhiên khi biết sự việc, cha mẹ Wendy đa dùng đủ mọi phuong thức để lôi kéo đứa con “lầm đuờng lạc lối” trở về. Thôi thì hết chú bác, cô dì, lại đến các anh chị em, bạn học, đuợc cha mẹ có vận động tới để làm thuyết khách.  Truớc áp lực này, Wendy chỉ có thể phân trần với gia đinh về nhân cách cao cả của Jack, cô còn cho mọi nguời biết là thái độ lạc quan, đầu óc thực tế, tích cực của anh đa khiến cô cảm thấy gần gui hon những bạn trai mà cô đa từng quen biết truớc đây.

Sau khi nghe giải bày, gia đinh cô không còn quá khắt khe, mọi nguời dự định là sẽ gặp mặt Jack truớc rồi mới đánh giá cuộc tình của hai nguời.  Cả nhà đồng ý là sẽ gặp mặt Jack vào trua ngày 25 tháng 12, sau khi mọi nguời đa huởng đuợc một silent night đêm Giáng Sinh bình yên cho tâm tu lắng đọng. Wendy định trong đầu, nếu nhu cha mẹ, anh chị của cô có những cử chỉ khinh miệt Jack thì cô và Jack sẽ đi đến nhà thờ để nhờ sự gia on và chúc lành của Thiên Chúa.


 
Trên đuờng dẫn Jack đến nhà, tâm trạng hồi hộp của của Wendy đa không thoát khỏi cặp mắt quan sát của Jack, anh mỉm cuời ra dấu cho cô:

- Wendy yên tâm, bảo đảm với em là cha mẹ em sẽ hài lòng. Anh cho họ biết là anh sẽ thuong yêu em, chăm sóc em suốt đời.

Đó là lần đầu tiên trong đời cô sinh viên truờng Duợc rớt những giọt lệ cảm động.

Vừa vào đến nhà, Wendy nắm tay Jack đi đến truớc mặt cha mẹ, cô nói:

- Thua ba má, đây là Jack, bạn trai mà còn thuờng nhắc đến.

Câu nói của cô vừa thốt ra thì tất cả những hộp kẹo bánh, tức thời hoa tuơi trên tay Jack lộp độp rơi xuống đất, anh nhào tới ôm lấy cô vào vòng tay khỏe mạnh của anh. Wendy không ngờ đuợc:  cô bỗng nghe một giọng nói thảng thốt phát ra từ cửa miệng của Jack:

- Trời đất, em biết nói à?

Đó cũng chính là câu mà Wendy muốn hỏi Jack.

Mọi nguời đều ngẩn ngơ ngạc nhiên trong khi hai nguời ôm nhau cuời, nói, la, hét, nhảy nhót nhu điên dại. Thì ra Jack cứ ngỡ Wendy là một cô gái câm, thế mà anh vẫn sinh lòng quyến luyến, mà còn muốn tiếp tục đi đến hôn nhân. Wendy cũng tự hào có quyết định sáng suốt vì đa chọn đuợc nguời bạn tuyệt vời.


                         

Trái ngược với hình ảnh vui vẻ của những người khách du lịch thì nhìn những em bé tại SaPa co ro trong tuyết lạnh khiến nhiều người không khỏi xót lòng.Ảnh:vtc.vn



Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

KỶ LỤC ẤN TƯƠNG VỀ NHỮNG CÂY THÔNG NOEL

Những cây thông Noel khổng lồ làm từ vàng ròng, chai bia, bóng đèn...đã tạo nên những kỷ lục ấn tượng trên thế giới về sự độc đáo, cũng như sự kỳ công trong thiết kế.
1. Cây thông Noel lớn nhất thế giới
Chào mừng mùa Giáng sinh năm nay, thị trấn cổ Gubbio ở vùng Umbria ở Italy đã thắp sáng những ngọn đèn tạo thành cây thông khổng lồ được coi là cây thông Noel lớn nhất thế giới.
Cây thông Noel lớn nhất thế giới tại Gubbio, Italy.
Cây thông này được tạo thành từ hơn 1.000 bóng đèn các màu. Các bóng đèn được xếp trên một sườn đồi, trải dài tới độ cao 750 m và phần tán cây lớn nhất có độ rộng là 450 m. Ngôi sao trên đỉnh ngọn đồi do 250 bóng đèn tạo thành và bao trùm diện tích lên đến hơn 1.000 m2.
Cây thông sẽ được thắp sáng suốt từ 18h30 ngày 7/12/2013 đến ngày 6/1/2014.
2. Cây thông đúc bằng 43 kg vàng ròng
Công ty vàng bạc hàng đầu tại Nhật Bản Ginza Tanaka đã cho ra mắt một cây thông bằng vàng ròng khổng lồ vào ngày 18/11/2013. Việc chế tác loạt sản phẩm bằng vàng ròng vào mùa Noel được coi là hoạt động thường niên của hãng Ginza Tanaka nhằm quảng bá thương hiệu cao cấp của mình.
Cây thông Noel làm bằng 43 kg vàng ròng.
Nguyên liệu làm ra cây thông cao 2,4 m này chính là 43 kg vàng nguyên chất. Cây thông Noel bằng vàng ròng này được trang trí bằng những nhân vật hoạt hình nổi tiếng. Dưới chân cây thông cũng đặt những gói quà vàng và được để ngay lối ra vào, thu hút sự chú ý của rất nhiều người.
Cây thông này được chào bán với giá 500 triệu yên (tương đương hơn 100 tỷ đồng). Nó sẽ được trưng bày tại cửa hàng của hãng Ginza Tanaka đến hết ngày 25/12.
3. Cây thông làm từ 1.000 chai bia
Cây thông được tạo nên từ hơn 1.000 chai bia xanh được trưng bày tại thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Tác phẩm này được tạo nên bởi các sinh viên đại học. Nó cao tới 10 m, được giữ kiên cố bằng một dải dây mỏng với một ngôi sao trang trí trên đỉnh.
4. Cây thông làm từ kim loại phế thải tại Nhật Bản
Các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã tạo nên một cây thông làm từ kim loại phế thải của những chiếc ô tô bị phá hủy trong thảm họa động đất sóng thần năm 2011.
Buổi lễ ra mắt cây thông làm bằng kim loại phế thải.
14 nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản đã cùng nhau phối hợp tạo nên cây thông này, nhằm thể hiện sức mạnh tinh thần đoàn kết của người dân Nhật Bản khi phải đối mặt với những mối nguy hiểm ảnh hưởng đến đất nước, đặc biệt là các thảm họa tự nhiên. Đội ngũ 7 kỹ sư trẻ đã làm việc miệt mài trong 2 tháng để chế tạo tác phẩm này.
Để làm được công việc này, nhóm nghiên cứu đã quan sát và ghi lại hình ảnh cây thông duy nhất còn sống sót trong thảm họa động đất sóng thần 2011. "Cây thông kỳ diệu" ở thành phố Rikuzentakata là cây duy nhất trụ vững trong rừng thông 70.000 cây đã bị xóa sổ hoàn toàn. Nó đã trở thành biểu tượng cho hy vọng của người dân về ngày mai tươi sáng hơn.
5. Cây thông làm bằng điện thoại cũ
Cây thông này xuất hiện tại đường Ấp Bắc, TP.Mỹ Tho, Tiền Giang. Nó cao khoảng 4,5m và có 32 tầng "lá" được kết bằng 2.500 chiếc điện thoại di động cũ. Số được điện thoại này được người ta thu gom suốt gần 10 tháng. Ý tưởng này xuất phát từ việc Việt Nam đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ do có quá nhiều người dùng điện thoại di động. Cây thông này là sự cảnh báo về tình trạng rác công nghệ ở nước ta.
6. Cây thông Noel từ đồ trang sức đắt tiền trị giá 11.000.000 USD
Tác phẩm quý giá này được trưng bày tại khách sạn 7 sao Emirates Palace ở các tiểu vương quốc Ả Rập. Với chiều cao 13m, cây thông được trang trí bởi 181 mảnh kim cương, ngọc trai, dây chuyền ngọc lục bảo, vòng tay, hoa tai…
7. Cây thông bằng lọ thủy tinh ở Venice, Italia
Cây thông tuyệt đẹp này được làm hoàn toàn từ 1000 ống thủy tinh Murano. Nó cao 8,5 m và có đường kính gần 3 m. Với trọng lượng 3 tấn, đây là cây nhân tạo lớn nhất thế giới làm từ loại thủy tinh được thổi thủ công.
8. Cây thông Noel làm từ xe đẩy cũ trong siêu thị
Tác phẩm ấn tượng này được nghệ sĩ Anthony Schimitt tạo nên từ những chiếc xe đẩy cũ trong siêu thị. Nó được đặt ở Santa Monica, California (Mỹ).
Cây thông Noel từ xe đẩy trong siêu thị cũ.
Schimitt cho rằng, vẻ đẹp của những vật dụng trong đời thường rất khó nhìn thấy, nhưng cuộc sống sẽ rất khó khăn nếu thiếu chúng.
Minh Khôi (tổng hợp)
(Nguồn : báo Đời Sống và Pháp Luật )

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

AI SẼ CHO GIÊ SU TÁ TÚC ?










“Chúa Giêsu không nhà” đến Vatican



WGPSG/PCCS -- Sau buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tư 26-11-2013 của Đức Thánh Cha Phanxicô tại quảng trường Thánh Phêrô, tác phẩm điêu khắc “Chúa Giêsu không nhà” của một điêu khắc gia Canada đã được giới thiệu với Đức Thánh Cha.
Tác phẩm trình bày Chúa Giêsu bằng cỡ người thật đang nằm ngủ co ro trên một chiếc ghế đá công viên, đôi chân trần với vết đinh thò ra khỏi tấm chăn.
Đức Thánh Cha đã cầu nguyện trước bức tượng này và làm phép bức tượng.
Tác giả bức tượng, nhà điêu khắc Timothy Schmalz chia sẻ: “Thật là tuyệt vời! Sau đó, các quan chức Vatican đã giới thiệu tôi với Đức Thánh Cha Phanxicô và ngài nói ngài nghĩ rằng bức Chúa Giêsu không nhà là một tác phẩm điêu khắc đẹp. Vì vậy, không cần phải nói, tôi rất xúc động”.
Nhà điêu khắc Schmalz năm nay 44 tuổi, chuyên  tạc tượng theo chủ đề Kitô giáo, sống tại St. Jacobs, gần Waterloo. Sau khi hoàn thành bức tượng dài 2,5m này trong khoảng hai năm, ông không tìm được nơi nào để trưng bày. Cả Nhà thờ chính toà Thánh Micae ở Toronto và Nhà thờ chính toà Thánh Patrick ở New York City đều từ chối.
Cuối cùng “Chúa Giêsu không nhà” đã đến với Regis College, một trường thần học của dòng Tên thuộc Đại học Toronto. Từ khi bức tượng được trưng bày tại đây vào tháng Tư, đã có hai người hâm mộ khuyên nên đem đến Vatican.
Một vài tuần trước, tác giả bức tượng đã nhận được lời mời tham dự buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tư của Đức Thánh Cha.
Người chuyển dịch:
 Đinh Lăng
Nguồn:
http://www.pccs.va/






Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

DUNG MẠO ĐỨC KI-TÔ

                                                  
Thánh Gioan Baotixita, tranh của Bartolomeo Veneto thế kỷ 16


Suy niệm Chúa nhật III mùa vọng năm A

                                                                                         ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

                 Thánh Gioan Tiền Hô là một vị tiên tri cương trực. Ngài không hề run sợ trước thế lực, cường quyền. Ngài chỉ quan tâm một điều: làm chứng cho chân lý. Khi Hêrôđê Antipas cướp vợ của người anh, thánh nhân đã không ngần ngại lên tiếng công kích hành động vô luân của nhà vua. Vì thế mà thánh nhân bị bắt giam trong ngục Machéronte. Khi bị giam trong ngục, thánh nhân vẫn theo dõi những hoạt động của Chúa Giêsu. Hôm nay thánh nhân sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi gây ngỡ ngàng cho ta: “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”.
                Thật lạ lùng đến khó hiểu. Người đi mở đường, người giới thiệu Đấng Cứu Thế nay lại nghi ngờ Người mà mình giới thiệu. Đó là bi kịch của thánh Gioan Tiền Hô. Câu hỏi cho thấy thánh nhân ở trong một tâm trạng hoang mang. Đức tin của ngài chao đảo. Nửa tin nửa ngờ.
                Sự hoang mang của thánh Gioan Tiền Hô đến do hai nguyên nhân sau:
1) Nguyên nhân thứ nhất: Chúa Giêsu có những việc làm khác với lời Gioan loan báo.
              Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo một Đấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại. Trong Phúc Âm tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do Thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa. Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc. Thóc sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi. Sứ điệp quả thật là dữ dội, bởi loan báo ấy đã gây xôn xao sợ hãi. Thế mà khi Chúa Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn. Không oai phong, quyền lực, Chúa Giêsu tỏ ra là Đấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói”. Gioan Tiền Hô loan báo sự trừng phạt. Nhưng Chúa Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ. Chúa Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa”. “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”. Thật là trái ngược. Trách nào Gioan chẳng hoang mang.
2) Nguyên nhân thứ hai: Gioan bị giam trong tù.
                Ông bị ngược đãi, tất nhiên. Hơn nữa ông cảm thấy mình thất bại. Đi rao giảng sự công chính nhưng chỉ gặp bất công. Đi rao giảng ơn giải thoát nhưng lại bị giam cầm. Hết rồi những sứ điệp rực lửa. Hết rồi thời hy vọng tràn đầy. Thê thảm hơn nữa, ông tự hỏi: Sao Đấng Cứu Thế không đến giải thoát mình? Sao Ngài để cho sứ giả của Ngài mòn mỏi trong tù? Sao Ngài để cho bạn hữu bị khinh miệt cười chê? Lời sấm của Isaia còn rành rành: “Đấng Cứu Thế sẽ mở cửa phóng thích tù nhân”. Thế mà sao chờ đợi hoài chẳng thấy. Và Gioan nghi ngờ: hay Ngài không phải là Đấng Cứu Thế. Bị giam cầm, bị ngược đãi, Gioan còn có thể chịu được. Nhưng mối nghi ngờ gặm nhấm, thiêu đốt tâm hồn ông. Ông e sợ mình đã lầm đường, lầm người. Không nén lòng được, ông đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế, hay chúng tôi phải chờ đợi một Đấng khác?” Câu hỏi táo bạo nhưng quan trọng, vì quyết định cả ý nghĩa cuộc đời Gioan.
                Trước câu hỏi ấy, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp. Nhưng chỉ yêu cầu các sứ giả về thuật cho Gioan những việc Ngài làm: “Cho kẻ mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.
               Với câu trả lời ấy, Chúa Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của Isaia về Đấng Cứu Thế. Đồng thời cũng thanh luyện cái nhìn của ông về dung mạo Đấng Cứu Thế.
               Đấng Cứu Thế không phải là vị vua oai phong từ trời ngự xuống trên đám mây. Nhưng chỉ là một hài nhi bé nhỏ sơ sinh xuất hiện giữa loài người như một mầm cây bé bỏng.
               Đấng Cứu Thế không phải là vị vua sang trọng ngự trong cung điện nguy nga. Nhưng chỉ là anh thợ mộc nghèo hèn sống trong một làng quê hẻo lánh.
               Đấng Cứu Thế không phải là vị quan tòa oai nghiêm hét ra lửa, thở ra khói. Nhưng chỉ là một lương y hiền từ đến chữa lành những vết thương, an ủi những ưu sầu, nâng đỡ người yếu đuối, tha thứ kẻ tội lỗi.
              Đấng Cứu Thế không đến trong vinh quang huy hoàng, trong chiến thắng rực rỡ. Nhưng chỉ âm thầm và tình nghĩa như một người bạn thân thiết.
            Đấng Cứu Thế không đến trong hàng ngũ những người quý phái có địa vị cao trọng trong xã hội. Nhưng lui tới với những người bé nhỏ nghèo hèn, những thành phần bị gạt ra bên lề xã hội.
            Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến tôi tỉnh ngộ. Chúa Giêsu đã cho tôi một hình ảnh trung thực về dung mạo Đấng Cứu Thế. Qua câu trả lời đó, Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi rằng: Nếu con muốn Giáo Hội là hình ảnh đích thực nguyên tuyền của Thày, con hãy xây dựng một Giáo Hội không quyền lực, không tiền bạc, không phô trương. Hãy làm cho Giáo Hội mang dung mạo của Thày: một dung mạo khiêm tốn, nghèo hèn, bình dị, thân ái và nhân từ. Nếu con muốn tiếp tục sứ mạng của Thày, hãy chạy trốn quyền lực, hãy sợ hãi tiền bạc, hãy tránh thói phô trương. Hãy yêu thích những việc âm thầm bé nhỏ. Trước hết hãy đến với những người nghèo hèn. Hãy bắt đầu bằng tình thương. Vì chỉ có tình thương mới cứu được thế giới.
           Ta đang chờ đón Chúa đến. Hãy cảnh giác. Chúa không đến trong một biến cố kinh thiên động địa. Chúa không có những pha biểu diễn ngoạn mục. Chúa không đến trong những thành công rực rỡ. Chúa không đến trong uy tín hay quyền lực. Chúa sẽ chỉ đến rất âm thầm, bé nhỏ nhưng đầm ấm tình người. Chúa sẽ đến trong một bàn tay kín đáo nâng đỡ. Chúa sẽ đến trong một nụ cười khích lệ. Chúa sẽ đến trong một cái bắt tay thân ái. Chúa đến chỉ thoáng qua. Nơi nào có dấu hiệu của tình thương, nơi đó đang vẽ nên dung mạo của Chúa.
            Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận ra dung mạo đích thực của Chúa, để con biết đón tiếp Chúa trong Mùa Giáng Sinh năm nay. Amen.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI


Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội bởi Bartolomé Esteban Murillo, 1678, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Prado, Tây Ban Nha.


Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội:  Niềm hy vọng của nhân loại
 




 



        Vào tháng 11 năm 1848, các cuộc cách mạng bạo động sôi xục diễn ra trên khắp Âu Châu cuối cùng đã lan tràn tới Rome. Những người quá khích đã ám sát thống đốc tiểu bang và bao vây Ṭòa Thánh.  Đức Thánh Cha Piô 9 phải thoát đi lánh nạn ở Ghêta, thuộc vương quốc Naples.
       Ba tháng sau đó, ngay trong khi  đang phải đi tị nạn, Đức Piô 9 đã gửi cho tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới một bức thư tựa đề
 Ubi Primum.  Điều đáng ngạc nhiên là Đức Piô đã không dùng lá thư để nói đến việc ngài đi tị nạn hoặc những khủng hoảng chính trị và xã hội đang đe dọa Giáo Hội, nhưng là để mời tất cả các Giám Mục cùng cầu nguyện và góp sức với ngài trong việc công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
       Chọn thời điểm này để công bố một tín điều quan trọng, Đức Piô 9 đã chứng tỏ rằng Giáo Hội không hề bị lay chuyển bởi những xáo trộn chính trị và những khủng hoảng xã hội.
       Nhờ ḷòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt,  ngài đã đem Giáo Hội đi từ những lo âu đến vui mừng.
       Đức Thánh Cha Piô 9 viết: "Đức Maria đã luôn luôn che chở các tín hữu khỏi những hoạn nạn lớn lao nhất, khỏi những cạm bẫy và tấn công của kẻ thù, đã cứu vớt họ khỏi mọi đổ vỡ ...  Và tương tự như vậy, trong t́ình h́ình hiện tại, Đức Mẹ mong muốn ngăn cản và xóa tan mọi bão tố hiểm nguy của ác thần đang chống phá Giáo Hội."
       Trải qua nhiều thế hệ, qua nhiều bàn luận có khi rất gay go sôi nổi trong Giáo Hội, niềm tin nơi sự vô nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ vào thời gian đó đã trở nên hiển nhiên.  Chẳng hạn, trước đó ngay tại Mỹ vào năm 1846, các Đức Giám Mục đã nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là bổn mạng của quốc gia Hoa Kỳ.   V́ì thế đối với Đức Piô 9, trên phương diện đức tin, thời điểm để công bố tín điều quan trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã chín mùi.
       Trong khi đó tại Âu Châu, các cuộc cách mạng ý thức hệ, các ảnh hưởng gia tăng của chủ thuyết vô thần, sự tôn thờ khoa học và vật chất đã liên tục gây ra những khủng hoảng lớn liên tiếp xảy ra từ Paris qua Frankfurt, Vienna, Budapest và Rome. Do đó tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đã chẳng được chú ư đến. Tuy nhiên, Đức Piô vững ḷòng tin nơi một sức mạnh âm thầm nhưng rất mạnh mẽ đang che chở Giáo Hội, dựa vào một sự kiện mà ngài đã biết, là vào năm 1830, một nữ tu trẻ ở Paris đã được diện kiến Đức Maria.

       Đức Trinh Nữ hiện ra đầu mang vương miện và mặc áo trắng tuyền, đứng trên qủa địa cầu, chân đạp trên đầu con rắn. Một ṿầng sáng h́ình bầu dục bao quanh Trinh Nữ, trên đó có hàng chữ "Lạy Mẹ Maria tinh tuyền lúc thụ thai, cầu cho chúng con là những người chạy đến xin Mẹ che chở." 
        Nữ tu, mà sau này trở thành thánh nữ Catherine Labouré, đã nghe trong ḷng một lời chỉ bảo hãy làm mẫu ảnh dựa trên những ǵì đã được diện kiến.
       Đức Piô rất tôn kính mẫu ảnh này và ḷòng tôn kính đó đã thúc đẩy ngài khi thảo bức thư cho các giám mục như đã nêu trên. Mẫu ảnh đó đúng là một hào quang huy hoàng nổi bật giữa những tăm tối đang đe dọa Giáo Hội. Đức Maria đã tỏ ḿình ra ứng nghiệm với tất cả những điều đã được viết về Mẹ trong Kinh Thánh:  một Evà mới trong sách Sáng Thế Ký  và một Hoàng Hậu trong sách Khải Huyền, nghĩa là từ đầu cho đến cuối của toàn bộ Kinh Thánh.
 
       Đức thánh cha Piô 9 trở lại Rome vào năm 1850 với ḷòng cảm tạ Đức Mẹ đã che chở Giáo Hội trong những sóng gió vừa qua.  Ngài bắt tay ngay vào việc soạn thảo tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, sau khi được các Đức Giám Mục nồng nhiệt phúc đáp thư của ngài. Đã có tổng cộng 603 giám mục ưng thuận và chỉ có 4 vị không đồng ý.
       Bốn năm sau đó, vào ngày 8 tháng 12, 1854 cùng với sự hiện diện của các giám mục trên thế giới, Đức Thánh Cha Piô 9 đã chính thức công bố niềm tin của Giáo Hội nơi việc Thiên Chúa đã tạo sinh Đức Mẹ tinh tuyền, vô nhiễm nguyên tội.
       Ngày nay giữa một thế giới khủng hoảng lan tràn v́ xa đọa và chiến tranh hận thù, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là niềm hy vọng của nhân loại.
       Đức cha Fulton Sheen nói: "Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố vào thời điểm mà thế giới văn minh đang mù quáng chạy theo những thần tượng đối nghịch.  Kác-Mác cho ra đời chủ thuyết cộng sản vô thần và đấu tranh giai cấp; Darwin phổ biến thuyết tiến hóa, theo đó con người bắt nguồn từ loài vật,   và John Stuart Mill chủ trương một quan niệm cực đoan về quyền lợi cá nhân.  Những chủ thuyết này có cùng một ước vọng muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi niềm tin của nhân loại, cho rằng con người không cần đến Thiên Chúa.  Họ phủ nhận tội tổ tông và cho rằng con người tự ḿình có khả năng trở nên toàn thiện.
       Đức cha Fulton Sheen kết luận rằng: "Nói cách khác, con người tự vỗ ngực cho rằng họ tất cả đều vô nhiễm nguyên tội". Trong những ngày đi tị nạn, Đức Piô đã thấy trước chiều hướng nguy hiểm này. Do đó khi soạn thảo tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngài muốn soạn một hiến chương mới cho thế giới, để kháng cự lại những tà thần của thời đại.
       Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội luôn nhắc nhở chúng ta về sự nguy hiểm của ma qủi và tội lỗi, đồng thời cũng cho ta một hy vọng, một lời hứa là chúng ta được che chở và bảo vệ.


                                       

       Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã khởi sự một thế kỷ mới trong việc kính mến và tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, mà cao điểm là việc công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời vào năm 1950.  Hai tín điều thật quan trọng: tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội khởi đầu và tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời kết thúc cuộc đời Đức Mẹ ở trần gian.   Qua hai tín điều này Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta nh́ìn vào gương của Đức Mẹ để nhận ra ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta được cứu khỏi tội lỗi, được thánh hóa, được ban cho khả năng biết yêu mến và được hứa cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.
       Sau cùng, chính Đức Mẹ là người đã xác tín với chúng ta về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Đầu năm 1858, tức là chỉ 4 năm sau khi tín điều được công bố, Bernadette một cô gái quê mùa và thất học tại Lộ Đức, một làng nhỏ nơi miền núi Pyréné bên Pháp đã được diện kiến Đức Mẹ.  Khi được Bernadette hỏi tên, Đức Mẹ mỉm cười trả lời: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội."



Vũ Tiến
 (Nguồn : donghanh.org)






Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

LỊCH SỬ VÀ NGUỒN GỐC CÂY NOEL



              Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.
             Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên
            Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.
          Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ VII có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây  thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

            Thế kỷ thứ XI, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ XII, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp).
             Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.
            Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.
             Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël.
            Thế kỷ XII và XIII các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.
     
          Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles.
          Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này.
         Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.
         Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .
         Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã  trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. 
         Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.
      
         Đầu thế kỷ thứ 19 Cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.
        Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël.
         Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

                                             

           Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.
          Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.
         Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.
         Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
        Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
        Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
        Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
        Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
        Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
        Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
grandis-1Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).
Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ''Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân".
           Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.
sapin-noel-strasbourg           Giáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang....Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:
'' Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương'' (Lc 2,14).
          Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế. Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của "lễ hội văn hóa Giáng Sinh". Bình an và niềm vui là quà tặng của Giáng sinh. Cây Noel lộng lẫy ánh đèn nhấp nháy sáng lên tia hy vọng như mời gọi chúng ta hãy tỏa sáng tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
(sưu tầm trên net)

LỊCH SỬ LỄ GIÁNG SINH

Christmas Day 
Sưu tầm
Chữ Giáng Sinh có nguồn gốc từ tiếng La tinh - chữ Natalis - nghĩa là ngày sinh ra đời.

1. NGUỒN GỐC:
Tại thành phố Roma - Ý đã có một buổi lễ được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 từ một thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa . Người dân La Mã làm lễ tôn thờ Mirthra, gốc Ba Tư, được mang vào Roma bởi những người lê dương La Mã. Mirthra là vị thần ánh sáng của người Ba Tư . Lễ vào ngày 25 tháng 12 là ngày điểm chí của mùa đông, sự ra đời của Mirthra tượng trưng cho sự bất bại của mặt trời (Dies natalis solis invicti). Trong buổi lễ người ta cúng thần bằng một con bò rừng nhỏ.
Năm 274, hoàng đế La Mã Aurélien tuyên bố việc tôn thờ thần Mirthra là quốc giáo và lấy ngày 25 tháng 12 để cử hành lễ.
Lễ Noël chưa xuất hiện vào thời kỳ đầu của đạo Thiên Chúa. Chỉ từ vào thế kỷ thứ II sau nhiều lần tìm tòi để có thể lấy một ngày nào đó trong năm làm ngày ra đời của Chúa Jésus vì không tìm thấy một dấu vết nào đề cập đến việc này trong các sách Phúc Âm. Nhiều ngày, tháng đã được đề nghị như ngày 6 tháng Giêng, ngày 25 tháng 3, ngày 10 tháng Tư…nhưng vẫn không dẫn đến một quyết định dứt khoát nào.
Tại La Mã, Giáo hội Thiên Chúa đã chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Jésus chắc chắn không hẳn không có hậu ý đối với buổi lễ cổ truyền tại đây : lễ kỷ niệm ngày sinh của thần “tà giáo” Mirthra. Vào những năm 330 hay 354, hoàng đế La Mã Constantin quyết định lấy ngày Noël là ngày 25 tháng 12.
Năm 354, Giáo hoàng Libère ấn định cử hành lễ vào ngày 25 tháng 12. Ngày này đã có một giá trị tượng trưng vì theo Malachie 3/19 và Luc 1/78 người ta xem như sự hiện diện của Chúa Cứu Thế như một sự mở màn cho “mặt trời của công lý”. Như thế buổi lễ Noël cũng là ngày sinh của Jésus mặt trời công lý.
Buổi lễ vào ngày 25 tháng 12 dần dần phát triển về phương Đông và vùng Gaule (Pháp ngày xưa) : vào năm 379 tại Constantinople, đầu thế kỷ thứ V tại đất Gaule, trong thế kỷ thứ V tại Jérusalem và vào cuối thế kỷ thứ V tại Ai Cập. Các giáo hội Đông Phương vào thế kỷ thứ IV cũng cử hành lễ dười nhiều hình thức khác nhau vào ngày 6 tháng Giêng để biểu dương cho Thượng đế.

2. LỊCH SỬ NGÀY NOËL ĐẾN CUỐI THỜI TRUNG ĐẠI
Hoàng đế La Mã Théodore vào năm 425 đã nguyên tắc hoá những nghi lễ cho Noël . Buồl lễ vào ngày 25 tháng 12 đã trở nên đặc biệt dành cho những người theo Thiên Chúa Giáo. Clovis được rửa tội vào đêm Noël năm 496. Năm 506, hội nghị Giám mục Agle đã ấn định ngày lệ này như một nghĩa vụ phải có. Năm 529, hoàng đế La Mã Justinien đã ban hàng chỉ thị là ngày nghỉ được trả lương.
Buổi lễ nhà thờ vào nửa đêm được cử hành từ thế kỷ thứ V dưới triều đại của Giáo Hoàng Grégoire Le Grand.
Vào thế kỷ thứ VII, một tục lệ đã được ấn định tại La Mã để cử hành 3 buổi lễ : lễ trọng vào chiều ngày 24 tháng 12, lễ vào buổi sáng và ngày 25 tháng 12 tại các nhà thờ.
Ngày lễ Noël được lan tràn khắp Âu châu : Thế kỷ thứ V tại Ailenn thế kỷ thứ VII tại Anh quốc, thứ VIII tại Đức, thử IX tại các quốc gia vùng Bắc Âu , thứ IX và X tại các quốc gia vùng Xla-vơ.
Kể từ thế kỷ thứ XII, nghi thức tôn giáo được cho kèm thêm những “thảm kịch” lễ bái, những “bí mật” được dàn dựng cảnh tôn thờ của những mục đồng hoặc đám rước những vị đạo sĩ ba tư (mage). Những “thảm kịch lễ bái ” này được trình diễn đầu tiên trong ngay nhà thờ rồi sau đó được đem ra sân trước nhà thờ.

3. LỄ NOËL TỪ THỜI PHỤC HƯNG
Những màng cỏ xuất hiện trong nhà thờ tại Ý đại lợi từ thế kỷ thứ XV và cây Noël tại Đức vào thế kỷ thứ XVI. Sau đó được lan đến các gia cư vùng Na-pô-li rồi các vùng miền Nam nước Pháp từ thế kỷ thứ XVII.
Trong thời kỳ phục hưng vào năm 1560, những người Tin Lành chống đối với sự hiện diện của máng cỏ và họ ưa chuộng phong tục cây Noël hơn. Cùng với sự đối kháng trong giai đoạn phục hưng vào thế kỷ thứ XVII, những trình diễn “thảm kịch lễ bái” đã bị cấm chỉ vì trở thành quá “phàm tục” một cách quá đáng.
Ngày nay, lễ Noël đã trở thành một buổi lễ dành cho trẻ em và gia đình.

4. Ý NGHĨA CỦA NGÀY NOËL
Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chúa, Noël là một ngày lễ gia đình, một ngày đặc quyền để tụ tập quây quần mọi người, mọi thế hệ trong gia đình. Lễ này dưới mọi hình thức được biểu lộ, tạo những kỷ niệm chung và duy trì tình cảm giữa mọi người trong gia đình. Mỗi người tìm được, bằng cách thức riêng của mình, để tạo dựng mối liên hệ : chia sẻ với nhau một bữa ăn chung, một đêm không ngủ, nghe thuật lại một câu chuyện, quây quần bên cạnh cây sa pin Noël… Với địa vị ngày càng lớn lao của trẻ con trong gia đình, ngày Noël trở thành một buổi lễ của trẻ em : một đêm thần diệu mà hầu như tất cả mọi ước nguyện trẻ con được thành sự thật trong sự sung sướng của những người lớn.
Ngày Noël cũng là một thông điệp của hoà bình : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người Chúa thương.” đây là câu được hát bởi những Thiên Thần báo tin sự xuất hiện của Vị Cứu Thế và Noël cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn, già yếu…

(Nguồn : tinmung.net)