Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI MẸ TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI


          Trong việc giáo dục con cái, người mẹ đóng vai trò quan trọng nhất vì người mẹ mang con nặng trong bụng mình chín tháng mười ngày, vì người mẹ rất đau đớn khi phải sinh đẻ con, vì người mẹ ấp ủ con suốt đêm con ngủ, và vì người mẹ ôm con cho con bú, cho con ngồi trên gối mình, bồng con trên tay nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, lo cho con từng miếng cơm manh áo, tập cho con bập bẹ nói, dạy cho con biết chắp tay cầu nguyện, ....
          Không thể nào tưởng tượng rằng có một gia đình mà không có người mẹ. Mọi cái trong gia đình đều xoay quanh người mẹ. Nhờ có người mẹ, các công việc trong gia đình mới chạy êm xuôi.  Không có người mẹ, căn nhà trở nên trống rổng, dù gia đình có đông đúc mấy đi nữa.
          Thường thì người cha làm ra tiền để nuôi gia đình, nhưng cái việc làm cho đồng tiền đó biến thành vật có ích, biến thành quần áo, thức ăn, v.v..., là công việc tế nhị của người mẹ. Người mẹ biết trong nhà cần gì, biết riêng mỗi người trong gia đình cần gì, và người mẹ lo cho được như vậy. Người mẹ biết dùng mọi cách để lo cho mọi người trong gia đình được đầy đủ. Như vậy, chúng ta thấy rằng công việc của người mẹ trong gia đình thật là hết sức quý báu, hết sức cần thiết.
          Người mẹ là người sống đời tận tụy hy sinh hết sức: muốn cho mọi việc được êm xuôi trong gia đình, người mẹ phải thức khuya dậy sớm, phải lo lắng ngược xuôi, phải hy sinh thật nhiều.
Người mẹ là người hết sức vị tha, chỉ nghĩ đến những người trong gia đình, chỉ lo cho chồng, cho con được đầy đủ mọi cái vật chất và tinh thần, dù có ai trong gia đình tỏ ra vô ơn bội bạc, thì người mẹ cũng không buồn phiền. Người mẹ biết rằng mình mà buồn phiền thì cả gia đình trở nên u ám, vì thế, đối với những chuyện không vừa ý trong gia đình, những chuyện trái ý xảy ra trong gia đình, những sự nóng nảy và những lời ta thán của chồng, của con, người mẹ luôn luôn chịu đựng, luôn luôn nhịn nhục, luôn luôn tỏ ra lạc quan trong gia đình, để có thể vững tay lèo lái con thuyền gia đình một cách an toàn.
          Đắm chìm trong hy sinh, trong tình yêu, trong đại độ và quên mình, người mẹ thường ít nói, không những vì luôn luôn người mẹ mắc việc, mà nhất là vì người mẹ biết rằng lời mình nói ra, không ảnh hưởng cho bằng thái độ mình sống của mình, vì nếu mình có thái độ quạu cọ, cau có, thì lời mình nói ra để dạy con cái cũng vô ích.
          Thái độ quạu cọ, cau có có thể là do người mẹ làm việc nhiều quá, do mình mệt mỏi, do mình dễ xúc cảm, nhưng người mẹ biết rằng nếu mình không vui vẻ, không dễ thương, thì con cái không muốn đến với minh đâu.
          Nói chung, người mẹ người một người rất đẹp, đây nói về đẹp tinh thần, đẹp của một người luôn có thái độ dịu dàng, lời nói dễ thương, nét mặt luôn tươi sáng.
          Trước một tình thế trong gia đình đáng lo, đáng buồn, đáng thất vọng, người mẹ luôn luôn tỏ ra vui vẻ. Dù cho khi chồng con gây ra sự bất hòa khó chịu, người mẹ vẫn phải làm sao đủ sức để gây sự vui vẻ trong gia đình.
Người mẹ chân chính, là người mẹ lúc nào cũng sẵn sàng khuyên nhủ đúng lúc, lúc nào cũng nhận thức lời nói của mình đối với chồng, với con, sẽ có kết quả gì, và luôn luôn tránh những lời nói nào gây ra sự buồn phiền hoặc bất hòa.
Người mẹ nào nói nhiều thì làm cho chồng con chán nản, rồi sinh ra lãnh đạm, không còn muốn nghe nữa. Khi ta nói nhiều, nói không đúng lúc, nói không hợp thời, nói lui nói tới - dẫu đó là điều phải, điều tốt đi nữa - thì trở thành nước đổ lá môn, và kết quả là làm cho chồng con không muốn đến gần mình, và làm cho gia đình trở thành một nơi buồn chán.
Lời nói của người mẹ phải làm sao tăng thêm sự hấp dẫn trong gia đình : kể bằng giọng dịu dàng một một câu chuyện nhỏ về giáo dục vào giờ đi ngủ; kể một câu chuyện hay, một câu chuyện tâm tình đúng lúc, Người mẹ nên đưa ra những nguyên tắc và để cho con cái tự ý rút ra những bài học kinh nghiệm.
          Người mẹ hãy sống đàng hoàng và tỏ ra cái bản ngã hy sinh vị tha của mình, đó là điều quan hệ hơn nói nhiều,  bởi vì muốn thuyết phục người khác, nhất là những trẻ con, thì chính đời sống của ta mới có giá trị.
          Giọng nói dịu dàng, tính tình vị tha đáng yêu, tuy là cần thiết cho người mẹ, nhưng chưa đủ, bởi vì muốn thành công trong phận sự của mình, người mẹ phải chăm lo săn sóc hình thức của mình nữa. Lúc nào người mẹ cũng phải áo quần sạch sẽ, chỉnh tề. Có thể người mẹ không mặc thứ áo quần sang trọng, nhưng áo quần nào người mẹ dùng, thì cũng phải hợp với màu da của mình, màu con mắt của mình, màu tóc của mình. Mặt mày phải luôn sạch sẽ, tươi tỉnh, tóc phải chải đàng hoàng, miệng phải sạch sẽ, tay chân phải sạch sẽ. Mỗi ngày mỗi tắm rửa sạch sẽ, tóc chải, quần áo chỉnh tề, đó là điều kiện làm cho người đàn bà dễ gây thiện cảm.
          Người mẹ phải dậy sớm để trông coi các công việc, và suốt ngày, phải làm nhiều việc, vì thế phải dành năm mười phút trong ngày để tắm rửa sạch sẽ, làm cho con người mình không còn nặng nề, tư tưởng trở nên sáng suốt, sức mạnh được tăng thêm, để sẵn sàng dùng vào những công việc khác.
          Người mẹ phải lo đủ mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà trong cửa, nhưng đừng vì những sự lo lắng nghĩ ngợi nầy mà mất ăn mất ngủ.
Phải biết lo cái đáng lo và đừng phí sức lo những cái không nhằm chỗ.
Phải khôn ngoan gìn giữ sức khỏe là điều hết sức quan trọng cho người mẹ. Nếu người mẹ đau ốm mà nằm xuống, chồng con sẽ bị thiệt hại đủ mọi bề. Người mẹ hãy chọn cho mình những thức ăn giản dị nhưng phải có đủ chất bổã dưỡng. Vì phải dậy sớm nhất trong nhà, người mẹ phải tìm cách ngủ cho đủ trong mức tối thiểu. Vì thế, mỗi buỗi trưa, sau khi xong mọi công việc trong nhà, người mẹ nên ngủ chừng một tiếng đổng hổ. Vì sức khỏe của mình rất quan trọng cho gia đình, nên người mẹ thỉnh thoảng hãy đi khám bác sĩ  để ngăn ngừa trước những bệnh tật có thể xảy ra. Làm như vậy, là xây đắp hạnh phúc cho gia đình, cho chồng con.
          Một nhà giáo dục danh tiếng kia hỏi một bà góa:
- “Bà có nhiều con. Khi chồng chết, đứa con lớn nhất của bà chưa đầy 15 tuỗi. Khi chồng bà chết, tiền của trong gia đình của bà lúc đó rất eo hẹp. Vậy sao bây giờ, các con trai của bà đều làm nên sự nghiệp, các con gái của bà đang sống hạnh phúc vui vẻ. Cứ sự thường, giữa bao nhiêu khó khăn, buồn phiền, đau khổ, túng thiếu, tôi chắc bà đã phải thất vọng nhiều lần lắm chứ?”
Bà góa nầy trả lời đơn sơ:
- “Tôi tin vào Chúa. Tôi cầu nguyện, và tôi thấy tôi phải tu chỉnh đời mình, tôi phải cải tạo đời sống tôi cho đạo đức hơn, tôi phải tập cho có nhiều đức tính. Nói tóm lại, tôi phải tự sửa mình.”
Nhà giáo dục kia hỏi tiếp:
- “Thế bà có làm gì khác nữa không, mà con cái bà nên tốt như vậy?
Bà góa nầy cũng trả lời đơn sơ:
- “Tôi tự cố gắng sửa mình, tôi cố gắng nên tốt, và tôi cũng không ngờ rằng con cái tôi cứ bắt chước tôi mà tốt theo lên.
          Bà góa nầy, người mẹ nầy, truyền những đức tính tốt cho các con trai con gái của bà. Bà truyền mà bà không biết. Và bà nầy cũng không biết mình là một nhà giáo dục tuyệt vời, một nhà giáo dục vĩ đại, đã tạo cho con cái mình những đức tính và sức mạnh cần thiết để chúng trở nên những con người đáng phục.
          Ảnh hưởng của người mẹ rất lớn trên đứa con: Mẹ ngoảnh đi, con dại, mẹ ngoảnh lại, con khô; Con dại, cái mang; Con hư tại mẹ; Phúc đức tại mẫu; Con nhờ đức mẹ; ....
           Thánh Gioan Tông Đồ khen các bà mẹ đạo đức:
- "Tôi là kỳ mục, kính gởi Bà đã được Thiên Chúa tuyển chọn, và con cái Bà là những người mà tôi thực sự quý mến; không phải chỉ một mình tôi, mà là tất cả những ai đã biết sự thật, cũng đều quý mến ... ” (Thư thứ hai của thánh Gioan 1,1).
- "Tôi rát vui mừng vì đã gặp thấy trong số con cái của Bà, những người sống trong sự thật, đúng như điều răn chúng ta đã nhận được từ Chúa Cha ” (Thư thứ hai của thánh Gioan 1,4).
          Ở trên đời nầy, không có sự nghiệp nào cao quý hơn vai trò của người mẹ. Nhà họa sĩ vẽ cái đẹp lên bức tranh, nhà điêu khắc chạm vẻ đẹp trên đá gỗ, nhà văn sĩ, nhà thi sĩ diễn cái đẹp ra trong lời nói, nhà nhạc sĩ ghi cái đẹp ra trong nốt nhạc, còn người mẹ tạo nên những con người đẹp đẽ, tạo nên lịch sử  tốt đẹp của loài người.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
(Nguồn : tonggiaophanhue.net)

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

SỬA LỖI ANH EM TRONG TÌNH THƯƠNG

SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXIII MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM A

         Tạp chí “Vận May” trong số ra ngày 23-12-1997, đã xếp hạng 25 nhà hảo tâm giàu có nhất tại Hoa kỳ. Rất nhiều nhà tỉ phú không có tên trong danh sách, vì họ không đóng góp gì cho các công tác từ thiện, hoặc sự đóng góp đó không đáng kể. Một số khác cũng không được nêu tên, vì họ chỉ hứa dâng cúng sau khi chết mà thôi. Một trong những điểm chung nối kết các nhà hảo tâm, đó là niềm tin tôn giáo của họ. Theo cuộc thăm dò của tạp chí “Vận May”, các nhà hảo tâm cho biết động lực thúc đẩy họ trong công cuộc từ thiện chính là niềm tin tôn giáo và đa số đã có thói quen tốt này trước khi giàu có. Quả thực, tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, tôn giáo nào cũng dạy sống bác ái. Riêng trong Kitô giáo, nền tảng của bác ái chính là tình huynh đệ. Người Kitô hữu yêu người, vì họ nhận ra mỗi người là anh em của mình, và đó là điểm nòng cốt của điều răn yêu thương.
           Hai chữ “anh em” là sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ Tân Ước. Danh xưng “anh em” được áp dụng cho các tông đồ, các môn đệ, các cộng đoàn nhỏ đựơc qui tụ quanh Chúa Giêsu lúc sinh thời và nhất là sau khi Ngài phục sinh. Hơn nữa, hai chữ “anh em” còn có một ý nghĩa rộng rãi hơn, là anh em của chúng ta, không những là những ai tin nhận Chúa Giêsu, mà còn là tất cả mọi người, bởi vì Chúa Giêsu đã chết cho mọi người. Tác giả thư Do Thái đã khẳng định : “Chính vì mọi người mà Chúa Giêsu đã nếm trải cái chết, và Ngài không xấu hổ khi gọi mọi người là anh em”.
           Là anh em của Chúa Giêsu, nên mọi người đều là anh em với nhau. Tình huynh đệ giữa mọi người là tình huynh đệ đại đồng, không biên giới, đối với Kitô giáo, không có bất cứ hàng rào nào mà không thể vượt qua được, bởi vì mọi người đều là anh em với nhau. Tóm lại, Chúa Giêsu đã chết và sống lại là để đánh thức nơi con người cái ý thức về tình huynh đệ đại đồng ấy. Qua cái chết và sự phục sinh ấy, Ngài mặc khải cho thấy mọi người đều là con cái của Cha trên trời, và do đó là anh em với nhau. Đây chính là nền tảng của điều răn yêu thương và cũng là nền tảng của giáo huấn xã hội mà Giáo Hội không ngừng truyền bá để kêu gọi xây dựng một cộng đồng nhân loại công bằng hơn, huynh đệ hơn. Hai chữ “anh em” và tình huynh đệ cũng là hai điều Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.
          Sống với nhau như anh em, yêu thương như anh em, lý tưởng như thế, nhưng “bá nhân bá tánh” : trăm người thì có trăm tính khác nhau, vì thế, mỗi người phải phát huy ưu thế của mình và tận dụng nó trong việc giúp đỡ anh em mình cái mặt yếu kém của họ, không được ỷ vào ưu điểm Chúa ban mà lên mặt tự phụ khinh thường người khác. Hơn nữa, “nhân vô thập toàn”, không ai là hoàn hảo, tuyệt đối không bao giờ sai lầm hay thiếu sót, trái lại, còn thường xuyên lầm lỗi và thiếu sót nữa, nên chỉ bảo cho nhau, góp ý xây dựng cho nhau, sửa lỗi lẫn nhau là một việc cần thiết. Đây là một cách cư xử rất khó khăn, rất phức tạp, đòi hỏi hết sức tế nhị và phải làm.
          Quả thực, yêu thương không phải là luôn khen ngợi, tâng bốc anh em mà còn là ân cần sửa lỗi cho anh em nữa. Dĩ nhiên chúng ta không được dò xét để tố cáo nhau, nhưng phải có trách nhiệm với nhau trong cộng đoàn. Chúng ta tránh kết án lỗi lầm người khác, nhưng nên khiêm tốn sửa lỗi anh em trong sự tế nhị kín đáo. Người Kitô hữu không nên can thiệp vào chuyện thiên hạ, nhưng chúng ta cũng phải có trách nhiệm đối với những lỗi lầm của anh em mình.
         Chúa Giêsu hiểu biết tâm lý con người, Ngài biết rõ chúng ta yếu đuối, hay lỗi lầm, thiếu sót và cần sửa chữa, nên Ngài đã chỉ dạy chúng ta một cách sửa lỗi nhau rất hay, rất tế nhị, đó là hãy kiên nhẫn thực hiện bốn giai đoạn hay bốn bước sau đây:
       Trước hết, phải gặp gỡ riêng hai người, chỉ hai người thôi, ta và người sai lỗi. Gặp gỡ và nói chuyện với nhau trong tình thân ái, kín đáo và chân thành. Gặp gỡ như vậy sẽ giúp chúng ta hiểu nhau, thông cảm nhau và biết đúng sự thật hơn. Đàng khác, sẽ giúp cho người sai lỗi thấy được lỗi lầm của họ để sửa chữa và phục thiện.
          Sau khi đã gặp gỡ riêng rồi mà không kết quả, người sai lỗi vẫn tự ái, cố chấp, thì mời thêm một hoặc hai người làm nhân chứng và cùng góp ý. Nhiều người nhiều bộ óc, tất nhiên sẽ mạnh lý hơn, vừa minh chứng cho lòng thành thực của chúng ta, vừa cho người sai lỗi thấy rõ và phải nhìn nhận điều sai trái của họ.
           Nếu vẫn không kết quả, khi ấy mới đưa ra cộng đoàn hay đưa đến người có thẩm quyền để giải quyết, đây là người có thẩm quyền trong Giáo Hội chứ không phải là người có thẩm quyền ngoài xã hội. Nếu đã làm cả ba bước như trên mà vẫn không kết quả, thì hãy nhận sự giới hạn của mình và phó dâng người anh em cho lòng nhân từ của Thiên Chúa, là cầu nguyện cho họ. Chúng ta cầu nguyện và cộng đoàn cầu nguyện, lời cầu nguyện ấy sẽ được Chúa nhận lời, như Chúa Giêsu quả quyết trong Tin Mừng hôm nay : Nếu chúng ta hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện và trong tình yêu thì Chúa Giêsu sẽ ở giữa chúng ta và lời cầu xin của chúng ta sẽ được Chúa Cha chấp nhận.
          Chúng ta sống trong một gia đình, một cộng đoàn, một giáo xứ hay với những người chung quanh, chúng ta liên đới với nhau, nương tựa vào nhau và giúp nhau lớn lên trong tình yêu thương. Bất cứ nghĩa cử yêu thương nào cũng làm cho chúng ta lớn lên trong tình yêu thương và giúp chúng ta được thêm một bước đến gần với Thiên Chúa tình yêu. Vì vậy, giúp nhau sửa chữa những lỗi lầm, thiếu sót cũng là một khía cạnh của tình thương, với điều kiện việc sửa lỗi đó phải đặt trên nền tảng đức ái, tức là sửa lỗi anh em chỉ vì tình yêu thương, bởi vì không phải những lý luận sắc bén làm cho người anh em ăn năn hối cải, chỉ có tình thương, lòng nhân ái, thông cảm và tha thứ mới làm cho con người đổi đời mà thôi.

Theo Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
(Nguồn : giaoxuphuly.jcapt.com)

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI CHA TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI


Trong việc giáo dục con cái, vai trò của người cha cũng rất quan trọng.
Trong gia đình, nếu người mẹ tượng trưng cho sự hiền lành, mềm mại, an ủi, cảm thông, thì người cha tượng trưng cho sức mạnh, can đảm, chính xác, uy quyền. Cái gì trong gia đình, người cha cũng phải biết, ít nữa là biết một cách tổng quát, vì người cha là kẻ chỉ huy trong gia đình. Trong gia đình, lúc nào ý kiến của người cha cũng phải được tôn trọng vì người cha tượng trưng cho công lý, cho uy quyền, và vợ con cái phải chấp nhận điều đó.
Đứa con nào, khi còn nhỏ, cũng luôn luôn nhìn xem cha nó để bắt chước sống theo. Khi biết mình có một người cha xứng đáng, đứa con mới dám ngang nhiên nhìn đời, ngang nhiên đi dứng, ngang nhiên ra mặt với bạn bè. Vì thế, trong cuộc đời của đứa con, nếu nó thấy mình có một người cha sống đàng hoàng, xứng đáng, thì nó sẽ tránh được nhiều thất vọng và thất bại khi nó bước chân vào đời và khi nó đang sống giữa đời.
Dù người cha là một kẻ lao động bình thường hay là một người có chức phận trong xã hội, đứa con vẫn luôn luôn xem cha mình như một gương mẫu đáng quý mà nó cần phải noi theo. Đứa con luôn luôn muốn thấy cha mình là kẻ rộng lượng, có lòng tốt, có ý chí mạnh mẽ, có lòng dũng cảm đáng khen, biết sống hợp lý, biết che chở. Vì thế, đứa con nào cũng để ý tới cách cư xử của người cha đối với mẹ nó.
Nếu người cha thiếu lễ độ, thiếu nhẹ nhàng đối với mẹ nó là người nó yêu quý nhất trên đời, thì đứa con khó có lòng kính phục cha mình. Trái lại, đối với mẹ, đứa con luôn bênh vực mẹ mình: nếu thấy mẹ giận dữ, mất bình tĩnh, đứa con nói một cách thông cảm: tại mẹ mệt, tại mẹ quá lo, tại mẹ quá làm việc.
Gia đình nào không có người cha, là một gia đình không đầy đủ. Mặc dù thường phải vắng mặt vì công ăn việc làm ngoài xã hội, người cha phải luôn luôn duy trì sự hiện diện tích cực của mình trong gia đình. Nếu người cha, khi ở nhà, chỉ biết đọc sách, đọc báo, coi tivi, uống rượu say, hoặc ngủ li bì, thì sự có mặt của người cha như vậy, sẽ được coi là như không có ,ặt, hoặc có mặt nhưng đem lại nhiều tai hại cho gia đình. Huống nữa, khi người cha cứ bê tha với bạn bè nơi quán nhậu, nơi quán cà phê, nơi sòng bạc..., thì người cha này thật đámg khinh và đáng trách vô cùng!
Trong gia đình, bao giờ người mẹ và con cái cũng nóng lòng mong đợi người cha về. Người cha phải biết nỗi mong đợi của vợ và của các con ở nhà mà đừng trể quá trong việc về nhà.
Mọi người trong nhà mong muốn người cha lúc nào cũng vui vẻ vì ai cũng thích gần người vui vẻ, vì tính vui vẻ đem lại hòa khí và hạnh phúc cho mọi người trong gia đình.
Người cha nên kể cho mọi người trong gia đình nghe những mẫu chuyện hay, vui, có tính cách giáo dục.
Người cha hãy tìm cách ân cần hỏi han mọi người trong gia đình để xem trong gia đình, khi mình vắng mặt, có chuyện gì xảy ra không.
Người cha còn tìm cách hỏi han những sở thích của con cái, vì nhờ hỏi han và thông cảm như vậy, mà người cha hiểu được con cái và tìm cách giúp ích cho chúng.
Trẻ con thường ưa kể những chuyện xảy ra trong cuộc đời của chúng và thích có người chịu khó nghe mình. Nếu người cha không tìm dịp để lắng nghe con cái, thì sẽ khó mà có ảnh hưởng trên con cái của mình. Con cái chỉ biểu lộ tâm tình với những ai hiểu chúng. Người mẹ thường lắng nghe con cái, vì thế, con cái thường chọn mẹ làm người tri kỷ, làm người bạn tâm tình, chứ không chọn người cha là kẻ thường không chịu lắng nghe chúng. Vì thấy người cha thường không lắng nghe, nên con cái chỉ biết có mẹ, xem mẹ là người thân cận nhất, và sẳn sàng vâng theo lời mẹ dạy, nên có thể xảy ra những sự bất đồng giữa người cha và người mẹ trong việc giáo dục và lo cho con cái.
Điều tốt đẹp nhất, là cha mẹ phải hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc giáo dục và lo cho con cái, vì thường người mẹ thì sống theo tình cảm, dễ thông cảm và tha thứ, còn người cha thì sống theo lý trí và muốn mọi người trong gia đình phải vâng phục, nên khi xử đoán con cái, người mẹ thường theo tình cảm mà bênh con, còn người cha thì theo lý trí mà xử thẳng con cái. Vì thế, nếu chỉ để người mẹ hướng dẫn con cái, thì cũng không tốt; mà nếu chỉ để người cha hướng dẫn con cái, thì cũng không hay. Cả cha lẫn mẹ phải hiệp nhất với nhau trong công việc chung, là hướng dẫn và giáo dục con cái.
Cha mẹ nên để con cái làm việc chung với mình trong những điều có thể được, chẳng hạn như con trai làm chung với cha trong những công việc như sửa chữa bàn ghế, đồ dùng, điện đài máy móc, con gái học nội trợ, học thêu thùa với mẹ, ......
Nếu để ý, người ta thấy con cái thích đứng nhìn người cha của mình làm việc và muốn phụ lực cha với những dụng cụ mà người cha đương dùng, và có thể đó là những cái mà người con thích hơn cả đồ chơi của hg nửa. Người cha hãy lợi dụng và khuyến khích cái ý thức nầy để cho con cái mình sau này ham chuộng những công việc thực nghiệm.
Khi cha và con cùng nhau làm một việc gì, thì tình cha con dễ hòa hợp và đi đến chổ hiểu biết nhau hơn. Chính vì yếu tố hòa hợp này, mà người cha nên tham gia vào những trò chơi giải trí của con cái. Người cha hãy kiếm thời giờ để giải trí như con cái, và giải trí với con cái. Như vậy, người cha sẽ được cái lợi là: khi hạ mình xuống ngang trình độ của con cái, người cha sẽ thấy con cái mình cũng tìm cách nâng cao trình độ của mình lên ngang trình độ của người cha.
Người cha phải tránh đừng bao giờ để cho con cái nghe chuyện mình than phiền về điều này, về vấn đề nọ... Những chuyện buồn nầy mà để cho con cái chứng kiến hoặc nghe biết, thì chúng sẽ buồn theo, và bầu không khí trong gia đình trở ngột ngạt, ảm đạm, ảnh hưởng đến đời sống vui tươi của con cái. Nhất là trước mặt con cái, người cha và người mẹ đừng bao giờ sừng sộ nhau, cải vả nhau, nặng lờ to tiếng với nhau, gây thiật hại vô cùng đau thương cho con cái của mình hiện giờ và sau này.
Lớn lên trong một gia đình mà bầu không khí luôn thiếu thốn tiền bạc và và bị nợ nần ray rứt, đứa con sẽ mang một tâm trạng bi quan, buồn rầu, và nó có thể mất cả can đảm để chống chọi lại với cuộc đời sau này. Khi thấy cha mình không bình tĩnh trước túng thiếu và nợ nần, con cái mất tin tưởng vào cha nó, không còn tin vào tài năng của cha nó, và đi đến chổ không còn tôn trọng cha nó nữa.
Thỉnh thoảng người cha phải họp gia đình đông đủ để báo cáo cho gia đình nghe một cách vui vẻ những công việc xảy ra trong gia đình. Nhờ vậy, mọi người trong nhà đều vững lòng tin tưởng vào cuộc sống của gia đình mình.
Người cha phải lập một ngân sách gia đình, và nên để cho mỗi người trong gia đình phát biểu ý kiến của mình về những món chi tiêu. Khi người cha thảo luận ngân sách trong gia đình với vợ con, thì tập cho những đứa con nhỏ của mình có tính phòng xa và tính quả cảm, làm cho chúng sau này đủ sức chống chọi với cuộc đời đầy khắt khe và bạc bẽo...
Chúng ta thấy có rất nhiều trách nhiệm nặng nề đè trên vai người cha, vì thế, người cha không những phải có sự thông minh sáng suốt, có tinh thần can đảm, mà còn phải có lòng yêu thương con cái và hết tình hy sinh cho con cái, và nhất là phải treo cao gương mẫu, luôn sống đàng hoàng, đạo đức, nói gì là làm, hứa gì là giữ, không bao giờ gian dối, phỉnh gạt, lừa dối vợ con mình ...
Chúng ta thường ca tụng tình yêu của người mẹ đối với con cái, sự hy sinh cao cả và vô vị lợi của người mẹ đối với con cái. Nhưng tình yêu của người cha đối với con cái, sự hy sinh cao cả và vô vị lợi của người cha đối với con cái, cũng rất đáng khâm phục lắm thay!
Ước gì được như vậy!
Và mong ước này được thực hiện, là tuỳ Bạn, Người Cha của những người con của Bạn!
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
(Nguồn : tonggiaophanhue.net)

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

MẸ TERESA CALCUTTA HẾT LÒNG GẮN BÓ VỚI VIỆT NAM


Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta sinh ngày 26.08.1910,tại Skopje nước Albanie. Tên thánh Rửa tội và tên gọi là Agnes Gonxha Bojaxhiu.

TeresaCalcutta-7.jpg

          Nhân dịp kỷ niệm 3 năm Mẹ Teresa Calcutta được phong chân phước - ngày 19.10.2003 - chúng tôi muốn được chia sẻ một vài nét về Mẹ trong những lần Mẹ đến Việt Nam mà chúng tôi được gặp gỡ.
- Vào tháng 6 năm 1973, Mẹ Teresa và Cha Andrew gửi 7 thầy Thừa Sai Bác Ái từ Ấn Ðộ đến Việt Nam. Ðức Tổng PhaolôNguyễn Văn Bình đã mua 2 căn nhà tại đường Cống Quỳnh cho các thầy ở và làm việc. Các thầy rước các người vô gia cư về chăm sóc, nhưng chỉ được vài năm thì biến cố 1975 các thầy đã phải tản cư sang Hongkong và Campuchia.

             Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình rất yêu thích linh đạo của Mẹ Teresa. Trong hoàn cảnh mới giao thời của năm 1975, khó khăn nhiều mặt, nhất là khan hiếm về thuốc men mà bệnh tật lại nhiều và người vùng quê tỉnh lẻ không dễ dàng nhập các bệnh viện tại Sài Gòn để điều trị.

             Trước nhu cầu của những bệnh nhân nghèo, Ðức Tổng Bình đã mời gọi một số bác sĩ y tá người công giáo họp thành một nhóm để có thể tiếp cận chữa bệnh miễn phí và chia sẻ thuốc men cần kíp cho bệnh nhân nghèo, hoặc rước Mình Thánh Chúa cho họ. Sau này nhóm còn lại vài bác sĩ, một số y tá và các thành viên thường xuyên lui tới bệnh viện; tất cả những người này độc thân nên có nhiều thì giờ tham gia sinh hoạt. Nhóm này mỗi tháng1 lần lên gặp Ðức Tổng để được người chia sẻ Lời Chúa và huấn đức, cũng như trình cho ngài biết những sinh hoạt hoặc những khó khăn.

Từ năm 1991 tới ngày 20.12.1995, Mẹ đã đến Việt Nam 5 lần:

(1) Lần thứ nhất là đầu tháng 9 năm 1991, Mẹ Teresa đến Hà nội gặp Chính phủ Việt Nam.

(2) Lần thứ hai, ngày 05.11.1993 Mẹ đi từ Calcutta đến thành phố Sàigòn
. Cùng đi với Mẹ là Soeur Nirmala - nay là Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa - và có cô bác sĩ tên Jannet, cô cũng là thành viên của Tu hội đời của Mẹ. Chỉ có ông lãnh sứ quán Ấn Ðộ và cô Thanh Nga ra phi trường đón Mẹ bởi vì vợ của ông lãnh sứ quán từ Calcutta gọi điện và báo về cho ông rằng: "Mẹ đến Việt Nam", (cô ấy là người công giáo, là thư ký của ông). Theo lời của cô thư ký nói lại với chúng tôi, vừa lên xe ông lãnh sứ quán, Mẹ đã đưa cho ông ấy tên và địa chỉ của Chị Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - vì có thư của tôi gửi cho Mẹ và thư của Ðức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã giới thiệu tôi và một số chị em cho Mẹ - Vì thế tôi và một vài chị em lên gặp Mẹ tại khách sạn Ðộc lập. Sau đó Mẹ nói tôi gọi điện qua Toà Giám Mục để xin hẹn được gặp chào Ðức Tổng Phaolô - Ðức Tổng đang nghỉ dưỡng bệnh tại Bãi Dâu Vũng Tàu - Ngài hẹn gặp Mẹ vào 2 giờ chiều ngày thứ Bảy mồng 6.11.1993. Mẹ đã ở lại Sài Gòn một tuần lễ và mỗi ngày Mẹ đến chia sẻ với chị em chúng tôi tại 428 Huỳnh Văn Bánh, F. 14, Phú Nhuận, giáo xứ Tân Hoà.

(3) Vào tháng 4 năm 1994, Mẹ sang Việt Nam lần thứ 3. Mẹ được Bộ Thương binh Xã hội mời 8 nữ tu của Mẹ qua Việt Nam làm việc: 4 nữ tu chăm sóc các em cô nhi tại 38 Tú Xương, Q.3, Tp. Sàigòn; và 4 nữ tu chăm sóc các em khuyết tật tại trung tâm Thụy An, Ba Vì, Hưng Hoá. Ðồng thời Mẹ Teresa làm đơn gửi Chính phủ Trung ương Hà Nội xin mở nhà dòng tại Việt Nam; Mẹ có đề cập tới 20 chị em chúng tôi xin gia nhập Dòng và xin bảo lãnh 7 người chúng tôi qua Ấn Ðộ để được huấn luyện.

             Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, tôi chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa cho một Linh mục bà con đang nằm tại bệnh viện Chợ Rẫy, ngài là Cha Gioan Hồ Hán Thanh, thuộc giáo phận Ban Mê Thuột - ngài bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức - ngài phải nằm điều trị tại lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy. Ngài và một vị Ðảng viên cộng sản (40 năm tuổi Ðảng) đã về hưu cùng nằm chung một phòng.

         Tôi và một chị khác đang chuẩn bị đi thì gặp Mẹ Teresa và Soeur Nirmala đi tắc-xi tới - Lần này Mẹ tới không báo trước - Khi tôi cho Mẹ biết là tôi rước Mình Thánh Chúa và đi thăm Cha Gioan Thanh bà con của tôi, Mẹ cũng muốn cùng hai chị em chúng tôi đi thăm Cha. Khi tới trước cửa phòng của Cha Thanh, tôi đã nói nhỏ với Mẹ và chỉ cho Mẹ biết giường nào là của Cha Gioan Thanh và giường nào là của ông Ðảng viên.

             Mẹ bước vào phòng, đi thẳng tới giường ông Ðảng viên hỏi thăm ông và khi biết ông ấy bị đau tim, Mẹ Á Thánh Teresa đã đặt bàn tay lên ngực của ông và cầu nguyện vài phút. Sau đó Mẹ lấy một ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trong giỏ vải xách tay của Mẹ, Mẹ đã hôn ảnh trước khi đưa cho ông Ðảng viên và nói: "Xin Ðức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục". Tiếp đó Mẹ mới qua giường Cha Gioan Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của Cha cầu nguyện và Cha Thanh rước Mình Thánh Chúa. Vài ngày sau, tôi tới thăm cha Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là tôi nhìn thấy ông Ðảng viên đeo mẫu ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trên túi áo ông ấy mặc.

              Mẹ chia sẻ với chúng tôi: "Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình hạnh phúc - chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười - hãy mỉm cười ít là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào! Xin hãy làm điều đó vì hoà bình! Ngày nay trên thế giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều! Những đau khổ về vật chất như: đau khổ vì đói, đau khổ vì không nhà cửa, đau khổ vì bệnh tật... Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là cô đơn! Bị bỏ rơi, không ai yêu thương là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai đều cảm nhận được".

           Trong thời đại văn minh và phát triển ngày nay, cả thế giới ai cũng vội vã và hối hả, nhưng cũng có những người quỵ ngã trên đường và không còn đủ sức để đứng lên mà đi. Ðó là những người mà chúng ta phải quan tâm.

(4) Ðầu tháng 9 năm 1994, Mẹ lại qua thăm các con cái của Mẹ ở Hà Nội và Thành phố Sàigòn. Sau đó Mẹ Teresa gặp chính quyền về vấn đề bảo lãnh của chúng tôi, nhưng Mẹ vẫn chưa nhận được câu trả lời...! Lần này Mẹ ở lại Việt Nam10 ngày.

(5) Ngày 20.12.1995, Mẹ và Soeur Nirmala lại sang Hà Nội
. Lần này Mẹ sang để xin cho các soeurs được gia hạn - vì Chính phủ Việt Nam không cho phép các soeurs gia hạn tiếp - Mẹ đã xin gặp chính quyền để xin cho các soeurs tiếp tục làm việc. Nhưng ngày 22.12.1995, Mẹ Teresa nhận được lệnh: các soeurs phải rời Việt Nam vào ngày 23.12.1995. Mẹ Teresa rất buồn về điều ấy. Mẹ ôm tôi và nói: "Chúng ta hãy nhận thánh ý Chúa, tìm hiểu thánh ý Ngài muốn chúng ta làm gì". Ước ao của Mẹ Teresa là được mở nhà tại Việt Nam.

            Sau khi các soeurs rời Việt Nam, Mẹ Teresa thấy chưa được phép mở nhà tại Việt Nam cũng như chưa bảo lãnh các chị em qua Ấn Ðộ nên Mẹ đã viết thư cho Ðức cha Giám quản Tông toà Ðịa phận Sài Gòn - Ðức cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi - xin ngài cho phép chúng tôi được thành lập Hội dòng mang tên Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô; và sống theo hiến luật, linh đạo của Dòng Mẹ Teresa - Ðức Giám quản Nicolas đã chấp thuận. Mẹ Teresa nói với chúng tôi: "Khi nào Dòng Mẹ được trở lại ViệtNam, nếu các con muốn sát nhập vào Dòng Mẹ, Dòng luôn mở rộng đón các con.

              Năm 1995, Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô lúc đó có 30 chị em, nay đã hơn 120 chị em gồm 58 khấn; 23 tập sinh và trên 40 thỉnh sinh. Dòng đã và đang phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo qua việc: đón nhận những cụ già neo đơn bị bỏ rơi, các cô gái lầm lỡ, chăm sóc bệnh nhân AIDS. v.v...

* Ngày 23.12 1995 Mẹ bị sốt nặng, phải rời Hà Nội bay qua Singapor và Mẹ phải vào nằm trong bệnh viện. Còn các soeurs thì bay qua Hongkong.

             Từ khi rời Việt Nam lần cuối sức khoẻ Mẹ cũng yếu nhiều, nên lần đó trở đi Mẹ không còn có dịp sang Việt Nam vì sức khoẻ không cho phép.

             Ðức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình giới thiệu chúng tôi cho Mẹ, để được huấn luyện trở thành nữ tu của Mẹ và trở về phục vụ người nghèo tại Việt Nam. Vì thế mà những lần sang Việt Nam Mẹ thường đến tham dự thánh lễ, Chầu Thánh Thể và chia sẻ cho chúng tôi.

             Mẹ Teresa đã chia sẻ và để lại cho chúng tôi rất nhiều bài học. Trong những lần Mẹ ở Việt Nam chúng tôi được tiếp xúc, sinh hoạt với Mẹ, lúc ở trên xe, khi ăn cơm hoăc trong giờ chia sẻ...

Tôi xin kể vài sự việc nho nhỏ về Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta:

            Mẹ còn chia sẻ với chúng tôi: "Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Nếu bạn đối diện với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ nói với bạn". Ðể thực hành sự thinh lặng bên trong thực sự, cần theo các bước sau:

- Thinh lặng của mắt: bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và sự tốt lành của Thiên Chúa ở mọi nơi; và đóng lại trước những sai lỗi của người khác, trước những tội lỗi và tất cả những gì có thể gây rối loạn cho tâm hồn.

- Thinh lặng của tai: bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa, tiếng kêu than thống thiết của người nghèo, người túng quẫn; và đóng lại trước những lời nói thiếu bác ái, nói chuyện không tốt của người khác.

- Thinh lặng nơi lưỡi: bằng cách luôn ca ngợi Chúa và nói những lời mang lại sự sống của Người; kiềm chế hãm lại những sự tự vệ và tất cả những lời nói gây ra sự tối tăm, rối loạn, đau khổ và chết chóc.

- Thinh lặng trong trí: bằng cách mở ra trước sự thật và sự hiểu biết về Chúa trong sự cầu nguyện và chiêm niệm; và đóng lại trước những sự giả dối, điên cuồng, những ý nghĩ phá đổ, phán đoán bừa bãi, những hoài nghi sai lầm về người khác và những ý nghĩ cùng ước muốn trả thù.

- Thinh lặng trong trái tim: bằng cách yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương họ; tránh tất cả những sự ích kỷ, hận thù, tham vọng, ghen ghét và tham lam".

           Mẹ còn đề cao giá trị của tình yêu: "Mỗi hành động của tình yêu, cho dù nhỏ bé đến đâu, đều là một công việc của hoà bình". Có thể chỉ là một nụ cười, một sự viếng thăm ngắn ngủi, thắp một cây đèn dầu, viết giùm một lá thư cho một người mù, xách giúp một thùng than, tặng cho ai đó một đôi giày, hay đọc giùm một tờ báo... những việc thật nhỏ - rất nhỏ mọn - nhưng trong thực tế là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện trong hành động.

"Tại Ðại chủng viện ơ Bangalore, một tu sĩ lần kia nói với tôi rằng: 'Thưa Mẹ Teresa, Mẹ đang làm hư những người nghèo bằng việc cứ cho họ mọi thứ cách nhưng không. Họ đang mất dần phẩm cách của họ'.

              Khi mọi người thinh lặng, Mẹ điềm tĩnh nói: "Không ai làm hư con người bằng chính Thiên Chúa. Hãy xem tất cả những ân huệ tuyệt vời Chúa đã ban cho chúng ta cách nhưng không. Tất cả các bạn ở đây đều có thể nhìn thấy cả. Nếu Thiên Chúa bắt các bạn trả tiền mới được nhìn thấy cảnh vật chung quanh thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta đang tiếp tục thở và sống trong bầu khí oxy mà chúng ta không hề trả đồng nào. Và điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa nói: 'Nếu các con làm việc bốn tiếng thì các con sẽ được hưởng ánh mặt trời trong hai tiếng?' Nếu vậy thì có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ sống sót?"

              Sau đó Mẹ cũng nói với họ rằng: "Ðã có rất nhiều hội dòng làm hư người giàu, thì cũng tốt thôi nếu có một Hội dòng nhândanh người nghèo để làm hư người nghèo". (Trích trong In The Heart of The World)

            Những lời nói và việc làm của Mẹ không thể kể hết được ở đây. Nhưng tựu chung những hành động yêu thương và những bài nói chuyện của Mẹ đều phát xuất từ một linh đạo đặc biệt.

             Theo linh đạo của Dòng Mẹ, sứ mạng của Hội Dòng là chầu Chúa Giêsu Thánh Thể và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trong đa dạng: nghiện ngập, ma tuý, chăm sóc người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi không được ai biết tới,...

Sau Ðây Là Những Sự Kiện Chính Trong Tiểu Sử Của Mẹ Teresa:

1928 : Mẹ vào dòng Ðức Mẹ Loretto ở Ái Nhỉ Lan và vào nhà tập ở Darjeeling, Ấn Ðộ.

1929 - 1948 : Mẹ làm giáo viên dạy địa lý và lịch sử ở trường trung học St. Mary tại Calcutta trong nhiều năm, làm hiệu trưởng của trường.

1948 : Mẹ đựơc phép của Toà thánh để sống ngoài tu viện và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trên các đường phố của Calcutta.

1949 : Mẹ nhận quyền công dân Ấn Ðộ.

1950 : Dòng các soeurs Thừa Sai Bác Ái được Hội thánh Công giáo công nhận, thành lập tại Calcutta.

1952 : Thiết lập nhà đầu tiên tại Ấn Ðộ - nhà mang tên Nirmal Hriday - bổn mạng là Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.

1953 : Di chuyển nhà Mẹ đến đường Lower Circular, Calcutta.

1965 : Dòng Thừa Sai Bác Ái trở thành dòng thuộc Quyền Giáo hoàng tại Roma. Nhà đầu tiên được mở ngoài Ấn Ðộ là ở Coconote, nước Venezuela.

1966 : Dòng nam dòng Thừa Sai Bác Ái được thành lập.

1969 : Hiệp hội Thiện nguyện quốc tế được thành lập. Mở các nhà tại Úc và bắt đầu lan tràn tại nhiều nước.

1973 : Các thầy Thừa Sai Bác Ái mở nhà đầu tiên ngoài Ấn Ðộ tại Việt Nam.

1976 : Mẹ lập ngành chiêm niệm các soeurs Thừa Sai Bác Ái gọi là " Sisters of the Word".

1979 : Mẹ Teresa lãnh giải thưởng Nobel Hoà bình.

1980 : Từ năm nay, nhiều nhà được mở cho các bệnh nhân cai nghiện, các cô gái lỡ lầm và những người phụ nữ bị hành hung trên khắp thế giới. Vận động chống lại việc phá thai bằng cách khuyến khích nhận con nuôi; xây dựng cô nhi viện và các trường học cho trẻ em nghèo.

1985 : Thiết lập trung tâm cho những bệnh nhân AIDS tại New York.

1986 : Thành lập Tu hội đời Thừa Sai Bác Ái.

1988 : Mẹ gởi các soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Nga. - Mở một nhà cho bệnh nhân AIDS tại San Francisco ở Mỹ.

- Ngày 24.09. 1991: Mẹ đến Hà Nội, Việt Nam.

- Ngày 05.11.1993 : Mẹ đến thành phố Sàigòn.

- Ngày 01.04.1994 : Mẹ gởi 8 soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Việt Nam: 4 soeurs làm việc tại trung tâm Thuỵ An, Ba Vì, Hà Nội; và 4 soeurs làm việc tại 38 Tú Xương, Q.3, TP Sàigòn.

Hiện nay, Dòng Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta có 759 nhà tại 136 nước trên thế giới với gần 4,500 nữ tu.

- Ðầu tháng 4.2006 Dòng đã gởi 4 nữ tu sang Thượng Hải theo lời mời của Ðức Giám mục Thượng Hải.

- Ngày 06.06.2006, Soeur Nirmala (BT Tổng quyền- kế vị Mẹ Teresa) cùng Soeur Lysa (phó BT Tổng quyền) và Soeur Leon (Giám Tỉnh Hongkong) đã đến Việt Nam, có Soeur BT Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh ra đón tại Hà Nội. Và ngày 09.06.2006, Soeur Marie Francoise cùng với phái đoàn các Soeurs lên gặp Ban Tôn giáo Chính phủ. Ban Tôn giáo đã tiếp đón vui vẻ và sẵn sàng mời các Soeurs sang làm việc từ thiện tại Việt Nam.

Ban Tôn giáo Chính phủ và TP. Sàigòn đã cho phép Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô tại TP. Sàigòn - 428 Huỳnh Văn Bánh, F.14, Phú Nhuận - được tiếp đón các Soeurs trong tu viện của Dòng 01 tháng, nhưng các soeurs có chương trình nên chỉ ở 01 tuần lễ. Trong thời gian này các soeurs đi thăm tất cả các cộng đoàn của Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Soeur Nirmala nhận định: "Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều cởi mở so với cách đây 10 năm".

Dòng của Mẹ gồm 8 ngành:
1. Ngành hoạt động nữ.
2. Ngành chiêm niệm nữ.
3. Ngành hoạt động nam.
4. Ngành chiêm niệm nam.
5. Ngành các cha Thừa sai.
6. Tu hội đời Thừa sai.
7. Hiệp hội những người thiện nguyện.
8. Hiệp hội những bệnh nhân và những người đau khổ.



Sr. Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh – MCC.
Tổng phụ trách Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô
(Kỷ niệm 3 năm phong chân phước Mẹ Têrêsa, ngày 19/10/2003-19/10/2006
(Veritas Radio – Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu )

Nguồn : Continchuaoi.com


TeresaCalcutta-6.jpg

TeresaCalcutta-5.jpg

TeresaCalcutta-4.jpg

TeresaCalcutta-3.jpg

TeresaCalcutta-2.jpg

TeresaCalcutta-1.jpg

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

HÌNH ẢNH MẸ TÊRÊXA ĐỐI VỚI TÔI



"Một suy nghĩ hướng đến tha nhân.  Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động.  Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình."  Mẹ Têrêxa.

            Ngày 5 tháng 9 năm 1997, một vĩ nhân đã ra đi..... Vâng, Mẹ Têrêxa thành Calcutta đúng là vĩ nhân của thế kỷ XX nếu ta nhớ lại rằng Mẹ đã nhận được Giải Nobel Hoà Bình năm 1979, và ngày qua đời Mẹ được một vinh dự mà chưa một vĩ nhân nào có được: ba nước trên thế giới chịu quốc tang, đó là Ấn Độ, Anbani và Hoa Kỳ.

            Mẹ có dịp qua Việt nam hai lần, năm 1994 và năm 1995, và hai lần đó, tôi được may mắn tiếp kiến mỗi lần gần một giờ.  Lạ lùng thay, hình ảnh Mẹ để lại trong tôi không có gì là của một vĩ nhân cả, mà của một người khiêm nhường đến độ quên đi bản thân mình.  Tôi không còn nhớ Mẹ đã nói gì với tôi, nhưng Mẹ để lại hai hình ảnh vẫn còn theo tôi cho đến ngày hôm nay.

            Điểm đầu tiên gây ấn tượng là cảm thức về Thiên Chúa nơi Mẹ.  Khi đến Việt nam, Mẹ tạm trú trên lầu 3, tại 38 Tú Xương.  Người ta dành một phòng cho Mẹ và một phòng cho ba nữ tu theo Mẹ (trong số đó có vị Bề Trên tổng quyền hiện nay là Sr Nirmala Joshi).  Thế nhưng Mẹ đã biến phòng của mình thành nhà nguyện với sự hiện diện của Mình Thánh Chúa, rồi cùng chia sẻ với ba chị em phòng còn lại.  Mẹ đã hẹn anh chị Soi và tôi đến gặp Mẹ lúc 11 giờ trưa.



            Đúng hẹn, chúng tôi lên lầu 3.  Vì không có chỗ tiếp khách, Sr. Nirmala mời chúng tôi ngồi ở hành lang và Mẹ ra tiếp chúng tôi tại đấy.  Sau nụ cười chào đáp, Mẹ chỉ ngay vào nhà nguyện và bảo: "Chúa kìa", với một thái độ tự nhiên giống như một bà mẹ bảo con mình chào ông ngoại khi đi đâu về.  Mẹ vào quì trước Thánh Thể với chúng tôi một vài phút trước khi bắt đầu câu chuyện.  Và cuối buổi nói chuyện, Mẹ cũng chỉ vào nhà nguyện bảo chúng tôi chào Chúa trước khi ra về.  Thái độ mẹ đơn sơ như thể Chúa luôn có mặt bằng xương bằng thịt ở bên Mẹ.  Cái cảm thức về Chúa nơi Mẹ rõ rệt đến độ tôi có cảm giác rằng nó hùng biện hơn bất cứ bài giảng nào của bất cứ ai nói về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể.

            Điểm thứ hai gây ấn tượng là cách nói chuyện của Mẹ.  Mẹ không nói chuyện với ba người, mà nói với từng người một.  Mẹ cúi mình xuống và nhìn lên với cái nhìn thật trân trọng, cứ như là Mẹ muốn tiếp thu một bài học nào đó từ người đối thoại mà quên mất mình là ai.  Nói chuyện với Mẹ mà trong đầu tôi cứ lờn vờn hình ảnh của Chúa Giêsu quì xuống rửa chân cho môn đệ mình.  Qua thái độ lắng nghe và ánh mắt, Mẹ đã cho người đối thoại thấy rằng mình vô cùng giá trị...  Có những cái nhìn đè bẹp người người đối thoại và làm cho họ trở nên nhỏ bé và đầy mặc cảm; có những cái nhìn làm cho người đối diện lớn lên và tự hào về giá trị của mình: Mẹ Têrêxa là người có cái nhìn thứ hai đó.

            Mẹ Têrêxa thành Calcutta! Một danh xưng đem tự hào về cho Giáo Hội, cho các quốc gia của Mẹ, cho toàn thể nhân loại.  Thế nhưng qua hai lần gặp gỡ, tôi không bị choáng ngộp vì một vĩ nhân, mà chỉ đọc được nơi Mẹ một Kitô hữu điển hình: một người "đã hóa mình ra không" trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh chị em nhân loại, dù cho người ấy có thấp hèn đến đâu.

            Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước.  Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội: vỏn vẹn 6 năm sau ngày qua đời.  Tuy nhiên, Giáo Hội chỉ chính thức hóa một điều mà mọi người gặp Mẹ đã công nhận từ lâu:  Mẹ quả là hình ảnh sống động của Chúa Kitô trên thế gian này.

            Giờ này Mẹ đã về bên Chúa, tôi bỗng nghĩ đến 4690 nữ tu Thừa Sai Bác Ái đang tiếp tục sống đời sống ,"Kitô hữu mẫu mực" của Mẹ tại 710 nhà trong 132 nước trên thế giới.  Bất giác tôi nhớ lại lời Mẹ dặn: "Con hãy cảm tạ Chúa cùng với Mẹ, vì Việt Nam là nước thứ 100 mà các Thừa Sai Bác Ái hoạt động và nhà tại Việt Nam là nhà thứ 500 của họ".  Tôi không biết sau 2 năm hiện diện tại Việt Nam, các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêxa có được gia hạn giấy phép hoạt động hay không.  Nếu không được thì kể cũng xót xa cho Giáo Hội tại Việt Nam đấy.  Nhưng dù các con của Mẹ có hoạt động công khai hay âm thầm, thì Mẹ vẫn còn sống mãi trong họ để tiếp tục khẳng định cho mọi người mà họ gặp gỡ: Chúa đang sống cạnh bạn và Ngài tôn trọng bạn với trọn vẹn trái tim yêu thương của Ngài.

            Để kết thúc những cảm nhận này, tôi ghi lại đây một chuyện nhỏ.  Khi trao đổi danh thiếp với nhau, Mẹ cho biết rằng mình không bao giờ có danh thiếp.

            Sr. Nirmala trình cho Mẹ 'danh thiếp' sau đây với những lời vàng ngọc của Mẹ.  Mẹ cầm bút viết lời chúc phúc, rồi trao cho tôi như một kỷ vật:

(1) Ghi chú: Trên "danh thiếp" có hàng chữ viết tay God Bless you (Xin Chúa chúc lành cho con) và chữ ký của Mẹ.  Tác giả cũng đã dịch những hàng chữ trên ra tiếng Việt như sau:

The fruit of SILENCE is Prayer
The fruit of PRAYER is Faith
The fruit of FAITH is Love
The fruit of LOVE is Service
The fruit of SERVICE is Peace.
( Hoa quả của THINH LẶNG là Cầu Nguyện
Hoa quả của CẦU NGUYỆN là Ðức Tin
Hoa quả của ÐỨC TIN là Tình Yêu
Hoa quả của TÌNH YÊU là Phục Vụ
Hoa quả của PHỤC VỤ là Bình An )
(Kỷ niệm 6 năm ngày Mẹ Têrêxa Calcutta về thiên quốc)

Trần Duy Nhiên