Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC LẬP BÀN THỜ TỔ TIÊN KHÔNG ?


Hỏi :
     Đạo Công Giáo ngày nay có cho phép gia đình Công Giáo được lập bàn thờ ông bà cha mẹ đã khuất hay không ? Có được thắp nhang đèn, van vái trước bàn thờ tổ tiên, tổ chức giỗ chạp theo phong tục cổ truyền đối với người quá cố như các gia đình Việt Nam khác không có đạo không ?

Trường hợp gia đình cha mẹ con chỉ thờ phượng ông bà tổ tiên thôi thì khi lập gia đình chúng con có thể khấn lạy ra mắt ông bà tổ tiên của gia đình mình cũng như bên gia đình nhà vợ không ?


Giải đáp:

Anh M. thân mến,

Như anh đã biết người Công Giáo cũng có bổn phận thảo hiếu với cha mẹ và tổ tiên ông bà. Ngoài việc chăm lo phụng dưỡng khi còn sống mà cả khi đã qua đời cũng luôn phải nhớ ơn, xin lễ và và cầu nguyện cho các ngài nữa.

Nhân câu hỏi của anh về việc lập bàn thờ cho ông bà, cha mẹ đã khuất và giỗ chạp theo phong tục cổ truyền của người Việt Nam tôi xin trích Thông cáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam làm tại Đà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965 xin Tòa Thánh áp dụng huấn thị Plane compertum est(8-12-1939) về việc tôn kính tổ tiên đã được Bộ Truyền giáo chấp thuận Ngày 20-10-1964 :

Thể thức áp dụng Huấn thị Plane compertum est

1) Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổi nhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tính cách thế tục, lịch sự và xã giao đó, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.

Vì thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, có một ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...) thì được thi hành và tham dự cách chủ động.

2) Trái lại, vì có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công Giáo được tinh tuyền, Giáo Hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặc tự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lý mình dạy.

Vì thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lý Công Giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ lòng phục tùng và sự lệ thuộc của mình đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoan rõ rệt (như đốt vàng mã), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự... thì giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện một cách thụ động như đã ấn định trong giáo luật, khoản 1258 (GL 1917).


Một văn kiện nữa là thông cáo của Hàng Giám Mục Việt Nam sau Đại Hội toàn quốc kỳ VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc đã diễn ra tại Nha Trang từ ngày 12 đến 14 tháng 11 năm 1974 cụ thể hoá hơn nữa những gì được thực hiện phù hợp với tinh thần hội nhập văn hoá của quê hương, đất nước . Kết thúc khóa họp, 7 giám mục tham dự ra thông cáo về "Lễ Nghi Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên." Các giám mục chấp thuận và cho thi hành quyết nghị của Ủy Ban Giám Mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 19 tháng 4 năm 1972.

Thông cáo giải thích thêm 6 điểm của quyết nghị 1972:

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày "kỵ nhật" được "cúng giỗ" trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm "Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên" trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với Ông Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Ðược tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các "yêu thần, tà thần".


Với thông cáo chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam anh có thể yên tâm biểu lộ những cử chỉ tôn kính, hiếu thảo đối với tổ tiên và cả với những người có công với dân tộc trong xã hội nữa. Về những cử chỉ bầy tỏ sự tôn kính trong hôn lễ trước bàn thờ tổ tiên cũng đã được thông cáo trình bầy rõ ràng, chắc hẳn đã trả lời cho những thắc mắc của anh.

Hi vọng những điều vừa trình bầy giúp anh và nhiều người khác hiểu rõ lập trường của Hội Thánh đối với phong tục của dân tộc Việt Nam. Việc tôn kính tổ tiên không những chỉ là một việc nên làm mà còn là bổn phận và nghĩa vụ của con cháu theo lệnh truyền của Chúa là thảo kính cha mẹ, giới răn đứng ngay sau việc thờ phượng Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT giải đáp
(http://nhacthanh.net/diendan/)


Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

50 NĂM THỜ CÚNG TỔ TIÊN




Năm nào, chúng ta cũng cử hành thánh lễ ngày 02-11 cầu cho người quá cố. Riêng năm nay có một nét đặc biệt là cử hành kỷ niệm 50 năm Tòa Thánh chấp thuận cho người Công giáo Việt Nam áp dụng nghi thức cổ truyền của dân tộc để diễn tả lòng hiếu kính đối với người đã khuất.
Hoàn cảnh truyền giáo thế kỷ XVII có nhiều phức tạp, đã khiến một số nhà truyền giáo ngộ nhận, cho rằng việc thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam là một tôn giáo.
1. Nhiều vị tưởng rằng khi cúng lễ gia tiên, gia chủ phải đọc những lời thần bí rất tỉ mỉ. Thật ra, người ta chỉ thì thầm những câu nói tự phát chân thành. Nhiều vị tưởng chữ "lễ" trong lễ gia tiên có cái ý nghĩa nguyên thủy của nó là "các quy tắc của các lễ nghi tôn giáo". Thật ra, các "lễ" chỉ là những cách ứng xử trong cuộc sống. Chúng nêu rõ cách ứng xử người ta phải có trong nhà, ngoài phố, ở triều đình, ở các lễ hội.
Lý do mạnh nhất khiến Giáo hội đi đến chỗ không chấp nhận nghi thức thờ cúng Tổ tiên cổ truyền, chính là vì nhiều người tin rằng vong hồn của những người chết ở trong các bài vị, và người ta ghi rõ "đây là nơi ở của hồn (ông A, bà B)", cách riêng là ở trong tấm lụa đặt trước bài vị, được gọi là "hồn bạch", thường là tấm lụa đã phủ trên khuôn mặt người hấp hối và được cho là hồn đã nhập vào đó. Tuy nhiên đó chỉ là tin tưởng sai lạc của những người kém hiểu biết. Theo những giải thích chính thống của các nhà nho, các bài vị chỉ có mục đích duy nhất là để nhắc nhở người sống tưởng nhớ những người đã khuất.
Có những nhà truyền giáo cho rằng việc thờ cúng Ông Bà là một tôn giáo nhưng lại có những nhà truyền giáo khác khẳng định rằng người Việt không bao giờ xem Tổ tiên của họ là "những vị thần", cũng không bao giờ xem cha mẹ họ là "những vị thần tương lai". Đã đành là có bàn thờ dành cho Tổ tiên và Tổ tiên là đối tượng của một sự phụng tự nhưng phụng tự này chẳng là gì khác hơn một phụng tự tưởng nhớ, khác với sự thờ Trời. Do đó họ kết luận ngay rằng sự thờ cúng Tổ tiên không phải là một tôn giáo theo nghĩa đen của từ này (Chúng ta vẫn thường được nghe trả lời như sau: "Chúng tôi chỉ thờ cúng ông bà chứ không theo đạo nào cả."). Hơn nữa, khi truyền bá sự thờ cúng này, người xưa nhắm thiết lập những mối liên hệ xác thực giữa những người sống và những người chết, củng cố sự liên đới giữa các thế hệ và phát huy kỷ luật xã hội, tức là chỉ vì những mục tiêu xã hội và chính trị chứ không hề có ý tưởng tôn giáo nào.
2. Thế nhưng trong thực tế, đối với nhiều người, các nghi lễ dành cho Tổ tiên cũng dần dần mang thêm một ý nghĩa tôn giáo. Người ta đi đến chỗ thờ Tổ tiên như thần thánh, và có khi dành cho Tổ tiên một tâm tình thờ phượng tuyệt đối như thờ phượng Thiên Chúa. Chính đây là điều không thể nào đi đôi với giáo lý Kitô giáo. Chỉ có một Thiên Chúa độc nhất và chân thật. Không thể thờ bất cứ thụ tạo nào như Thiên Chúa được.
Nghi lễ thờ cúng ông bà ở các thế kỷ trước quả thật có bị lây nhiễm một số tin tưởng sai lạc đáng ngại. Chẳng hạn, tin rằng hồn ông bà về hưởng của cúng. Người ta sợ rằng không cúng tế thì hồn người chết sẽ đói khát, không đốt vàng mã thì hồn người chết không có tiền tiêu. Những tin tưởng sai lạc như thế không thể đi đôi với giáo lý Kitô giáo.
Ngoài ra còn có những mê tín khác.
3. Với hoàn cảnh ấy, các nhà truyền giáo đã tranh luận hết sức nghiêm túc qua nhiều năm, một bên cho rằng những sai lạc trên đây có thể điều chỉnh được, một bên cho là khó lòng thay đổi được não trạng của dân chúng. Cuối cùng, để bảo đảm cho niềm tin của tín hữu được tinh ròng, năm 1742, Giáo hội đã quyết định rằng người Công giáo Á Đông, bao gồm Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, chỉ được tôn kính Tổ tiên theo cách Giáo hội quen làm, chứ không được thờ cúng theo hình thức cổ truyền địa phương. Giáo hội quyết định như vậy mặc dù biết đó là một chọn lựa phải trả giá đắt, rất bất lợi cho công cuộc truyền giáo. Trước khi có quyết định ấy, số người hưởng ứng Đạo Chúa tại Việt Nam càng lúc càng đông, cả đến trong triều đình vua Lê cũng có nhiều người theo Đạo. Việc cấm thờ cúng Tổ tiên theo lối cũ đã khiến người ta tẩy chay tôn giáo mới, thậm chí đã thành một trong những lý do biện minh cho các cuộc bách hại của nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và chiến dịch Văn Thân. Đã hẳn việc cấm thờ cúng nói đây có phần do ngộ nhận nhưng dù sao nó cũng cho thấy đức tin Kitô giáo phải là một chọn lựa quyết liệt đến mức nào.
4. Mãi gần 200 năm sau, khi Đạo Hiếu không còn bị ngộ nhận là một tôn giáo và những tin tưởng sai lạc cũng không còn là chuyện chung của quảng đại quần chúng, ngày 8-12-1939, Tòa Thánh đã công bố một huấn thị chấp thuận cho người Công giáo Trung Quốc được thờ cúng ông bà theo lối xưa. Rồi 25 năm sau đó, ngày 20-10-1964, huấn thị ấy được áp dụng cho tín hữu Việt Nam, tính đến nay là tròn 50 năm. Với thông cáo của HĐGMVN năm 1965, những chỉ dẫn của huấn thị ấy đã chính thức đi vào cuộc sống của người Việt Công giáo.
Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổi nhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với Tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tính cách thế tục, lịch sự và xã giao đó, Giáo hội Công giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp. Chẳng hạn như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...
Đồng thời, vì có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công giáo được tinh tuyền, Giáo hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặc tự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lý mình dạy. Vì thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lý Công giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ lòng phục tùng và sự lệ thuộc của mình đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoan rõ rệt (như đốt vàng mã), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự của một tôn giáo khác... thì giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện một cách thụ động như đã ấn định trong giáo luật.
Kỷ niệm 50 năm một sự kiện quan trọng của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, độc giả nào quan tâm muốn tìm hiểu thêm, xin mời đọc quyển sách đính kèm: 50 NĂM THỜ CÚNG TỔ TIÊN. Sách in hiện cũng có bán tại các hiệu sách Công giáo ở Sài Gòn.
Việc thờ cúng tổ tiên theo lối xưa có thể được tượng trưng bằng ba cây nhang. Nhang là một sáng kiến tài tình của kinh nghiệm tâm linh phương Đông. Giữa nghĩa trang lộng gió, giữ cho ngọn nến khỏi tắt thật khó, nhưng nhang thì khác. Trên cánh đồng mục vụ của Hội thánh Việt Nam hôm nay cũng thế, Gió Thánh Thần đang thổi rất lạ, có thể khiến nến bị tắt nhưng nhang sẽ càng lúc càng hừng lên ánh lửa trầm ấm.

Tác giả:  Lm. TTT. Võ Tá Khánh
(Nguồn : conggiaovietnam.net)


                          




Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

6 ĐỊA ĐIỂM CẤM PHỤ NỮ

Cứ tưởng ĐÙA nhưng lại là THẬT !
Bất chấp đạo luật bình đẳng trên thế giới vẫn có nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng chỉ cho phép đàn ông lui tới, tuyệt đối cấm phụ nữ thăm viếng, thậm chí có nơi còn ngặt nghèo hơn khi cấm tất cả những những động vật thuộc giống cái vì nhiều lý do khác nhau. Dưới đây là 6 địa danh đã cấm phụ nữ tới từ nhiều năm trước.
1. Núi Athos, Hy Lạp
image
Núi Athos, Hy Lạp
Đây là “Quốc gia tu viện tự trị Núi Thiêng”, là nơi có 20 tu viện Chính thống giáo Đông phương và tạo thành một nước cộng hòa tự trị bán độc lập thuộc chủ quyền của Cộng hòa Hy Lạp. Dù có nối với đất liền, nhưng bạn chỉ đến được khu vực này chỉ một phương tiện duy nhất là thuyền. Số lượng du khách được hạn chế và tất cả phải có giấy phép. Chỉ có đàn ông mới được phép vào núi, cấm tất cả đàn bà, phụ nữ, thậm chí các loài động vật thuộc giống cái, khắc nghiệt hơn đàn ông không có râu cũng không được đặt chân đến.
image
Nguyên nhân là do Hoàng đế Hy Lạp vàonăm 1040 đã chính thức biến nơi đây thành vùng đất chỉ dành riêng cho dòng tu nam theo đạo Thiên Chúa. Phụ nữ và tất cả động vật giống cái đều bị cấm vì họ cho rằng vẻ đẹp quyến rũ của người phụ nữ là “tội đồ” khiến cho những đạo sĩ bị xao nhãng, cản đường họ đến với Chúa.
image
nữ văn sĩ người Pháp Maryse Choisy 
Bất ngờ là dù lệnh cấm ngặt nghèo đến mấy, vẫn có 2 người phụ nữ đã tìm cách len lỏi được đến vùng đất dành riêng cho đàn ông. Đó là nữ văn sĩ người Pháp Maryse Choisy hồi thập niên 1920 và Aliki Diplarakou – người đẹp Hy Lạp đầu tiên nhận vương miện hoa hậu châu Âu năm 1930. Tuy nhiên việc làm của họ đều bị cộng đồng lên án vì đã xâm phạm luật lệ riêng của ngọn núi này.
2. Ảrập Xêút
image
Nếu muốn du lịch ở Ảrập Xêút nhất thiết phải có đần ông đi cùng
Chưa kể việc thủ tục để xin visa Ả-rập Xê-út rất khó khăn, những công dân Israel hoặc đã từng đến Israel đều bị cấm đến đất nước này. Phụ nữ dưới 30 tuổi không được du lịch Ả-rập Xê-út một mình. Đàn ông và phụ nữ chỉ có thể du lịch cùng nhau nếu đã kết hôn hoặc thuộc một nhóm. Và nếu như vào được đến Ảrập, du khách nữ hầu như sẽ không được đi đâu hay làm bất cứ điều gì, vì phụ nữ ở đây khi ra ngoài hay tới nhà hàng đều cũng phải có đàn ông đi cùng.
3. Đền Haji Ali Dargah, Mumbai, Ấn Độ
image
Lệnh cấm phụ nữ bước vào ngôi đền này vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay
Đền Haji Ali thờ thánh Pir Haji Ali Bukhari xuất hiện từ thế kỷ 15 là một ngôi đền linh thiêng, mang tính biểu tượng tôn giáo uy nghiêm nhất tại Ấn Độ. Với ngôi mộ linh thiêng của vị thánh nằm ngay trong đền, mỗi ngày nơi đây đón nhận tới gần 20.000 du khách du lịch Ấn Độ thập phương đổ về.
image
Nhưng kể từ năm 2012, nơi đây đã không còn dành cho phụ nữ viếng thăm nữa. Theo nhà chức trách trước đây họ đã sai lầm khi cho phép phụ nữ vào thăm mộ thánh, vì đây là việc làm không đúng đắn và không tuân theo đạo Hồi. Dù rất nhiều hội phụ nữ lên tiếng nhưng chính quyền vẫn không bác bỏ đạo luật cấm phụ nữ, và trong vài năm nay, phụ nữ hoàn toàn bị cấm ra vào ngôi đền linh thiêng này.
4. Đền thờ đạo Hindu tại Ấn Độ và Indonesia
image
Đền thờ đạo Hindu tại Ấn Độ và Indonesia cấm phụ nữ viếng thăm
Mặc dù không cấm hoàn toàn phụ nữ nhưng những đền thờ theo đạo Hindu tại Indonesia và Ấn Độ đặc biệt nghiêm cấm phụ nữ, nhất là phụ nữ phương Tây, khi đến chu kỳ trong tháng thì không được vào trong nhà thờ. Theo những người thuộc đạo giáo này, những phụ nữ đang ‘đến kỳ’ thường không sạch sẽ nên bị cấm vào khu vực linh thiêng, thờ tự.
image
Tuy nhiên việc xác định phụ nữ “đến kỳ” và cấm phụ nữ bước vào trong đền gặp rất nhiều khó khăn Nguy hiểm hơn, một vài nơi còn xảy ra những hành động bạo lực với du khách nữ nếu họ cố vi phạm quy tắc.
5. Núi Omine, Nhật Bản
image
núi Omine, Nhật Bản
Núi Omine đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2004, là địa điểm tham quan hấp dẫn của nhiều du khách. Tuy nhiên, phụ nữ hoàn toàn bị cấm lên tham quan ngọn núi này vì và ngôi chùa linh thiêng trong hàng thế kỷ vì luật lệ ban hành cấm phụ nữ từ xa xưa.
image
Sở dĩ có luật lệ này vì các nhà sư cho rằng phụ nữ là nguyên nhân gây xao nhãng tới việc tu thành chính quả của các vị sư trên chùa.
6. Chùa Golden Rock , Myanmar
image
“Tảng đá vàng ” ở Chùa Golden Rock , Myanmar cấm phụ nữ sờ vào.
Kyaiktiyo (Golden Rock) được biết đến với cái tên Chùa Núi Vàng nằm trên một ngọn núi ở gần thị trấn Kyaikto, quận Thaton, trở nên linh thiêng và huyền bí bởi nhiều người tin rằng nơi đây lưu giữ một phần xá lợi – một sợi tóc của Đức Phật. Đây chính là lý do khiến cho Chùa Núi Vàng mỗi ngày đón tiếp hàng ngàn lượt tín đồ từ khắp nơi đến thắp hương cầu nguyện và chiêm bái.
image
Ngồi chùa này có “tảng đá thiêng” đã trở thành một “tảng đá vàng” khổng lồ và lấp lánh. Chỉ có đàn ông mới được phép lại gần, chạm tay và dát vàng lên khối đá kỳ diệu này, phụ nữ hoàn toàn bị ngăn cấm vì người dân nơi đây cho rằng nếu để phụ nữ chạm tay vào tảng đá, thì tảng đá sẽ bị rơi xuống vực.

SAO NGÀI BỎ RƠI CON ?


all_souls_day.jpg  

Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia.” Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Ðể xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không.” Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”  
 


Suy Niệm 
 Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta
 cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối.
 Ngài đã đón nhận cái chết một cách không dễ dàng
 sau nhiều giờ hấp hối trên thập giá.
 Ðau đớn đến tột cùng, nhục nhã và cô đơn kinh khủng.
 Có vẻ lúc đó Cha lại vắng mặt và làm thinh.
“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Ðức Giêsu có cảm tưởng như Cha bỏ rơi mình
 vào chính lúc Ngài vâng phục Cha, chấp nhận cái chết.
 Chúng ta cần nghe được tiếng kêu xé ruột của Ðức Giêsu.
 Ngài kêu bằng tất cả sức lực còn lại của mình.
 Ngài kêu một tiếng lớn, rồi tắt lịm.
 Chúng ta thích thấy Ðức Giêsu chết bình an hơn,
 chết anh hùng hơn và chết lành hơn.
 Nhưng Ðấng vô tội, chết thay cho cả nhân loại,
đã chẳng được hưởng chút êm đềm nào từ Thiên Chúa.
 Lời cuối của Ngài là một tiếng gọi: Lạy Thiên Chúa của con,
 một câu hỏi tại sao mà Ngài không rõ câu trả lời.
 Ðức Giêsu đã nhắm mắt trong niềm tin trần trụi.

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.
 Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu,
 vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn…
Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo,
điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã,
 mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.
Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi,
 nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.
 Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta,
 vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng.
 Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc,
 và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.
 Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công.
 Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế.
Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ.
Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang
để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.
 Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được.
 Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo,
 nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.
 Cái chết được chia đều cho mọi người.
 Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?
 Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?
 Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.
Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.
 Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi,
 sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết.
Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống
 nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.


Cầu Nguyện 

Lạy Chúa Giêsu,
 nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này
thì thật là phiền toái.
 Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn
 vì phải chia tay với những người thân yêu,
 vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.
Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết
 như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý
 nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,
 Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,
 và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,
để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.
 Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.
 Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,
 chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.
 Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.
 Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành
đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.
 Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.
 Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Share |