Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

CÓ ĐƯỢC PHÉP TRƯNG VÀ TÔN KÍNH CÁC ẢNH TƯỢNG CHÚA, ĐỨC MẸ VÀ CÁC THÁNH KHÔNG ?


Hỏi: Việc đúc, vẽ , trưng bày và tôn kính các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh có phải là hình thức thờ ngẫu tựơng (idolatry) như anh em Tin Lành thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo không ? 

Trả lời:
Sở dĩ anh em Tin Lành (Protestants) nói chung thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo về việc đúc, tạc, vẽ ảnh tượng Chúa ( Iconography) vì họ dựa vào những điều răn trong Sách Đệ Nhj Luật qua đó Thiên Chúa cấm dân Do Thái “không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời… không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ : vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của người là một vị thần ghen tương..” ( Đnl 20: 4-5)
Nhưng phải nói ngay là Giáo Hội Công Giáo đâu có dạy tín hữu tôn thờ các ảnh tượng( iconolatry) mà chỉ tôn kính ( venerate, honour) vì những lý do chính đáng sau đây:

Trước hết, với Thiên Chúa Cha, Người là Đấng vô hình , vô tượng , không ai đã nhìn thấy Chúa bao giờ, nên không thể tạc vẽ được dung nhan của Người cách nào được.
Đọc Kinh Thánh Cựu Ước, chúng ta chỉ thấy Thiên Chúa xuất hiện và nói với ông Môsê một lần qua hình ảnh “Bụi gai bốc cháy” mà không bị thiêu rụi.(x Xh 3:1-6). Đến thời Tân Ước, Thiên Chúa Cha đã cho nghe tiếng Ngài phán ra từ trời cao trong dip Chúa Giêsu từ sông Jordan bước ra sau khi nhận phép rửa của Gioan :“ Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con.(x.Lc3:22).

Và một lần nữa, khi Chúa Giêsu dẫn ba Tông đồ Phê rô, Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, nơi đây bất ngờ Chúa Giêsu đã biến đổi dung mạo trước mắt các ông và bỗng chốc có tiếng Chúa Cha từ trời phán ra:“Này là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”(Mc 9:7).

Đó là tất cả hình ảnh và tiếng nói của Đức Chúa Cha trong Kinh Thánh Tân và Cựu Ước.

Về Chúa Thánh Thần, thì Kinh Thánh chỉ cho ta thấy hai hình ảnh: một là hình chim bồ câu đáp xuống ngự trên Chúa Giêsu sau khi Chúa chịu phép rửa tại sông Gio-đan.(x.Mt 3:16). Và lần nữa trong dip Lẽ Ngũ Tuần (Pentecost), Chúa Thánh Thần đã lấy hình lưỡi lửa đậu xuống trên từng Tông Đồ đang tụ tập trong nhà đóng kín cửa (Cv 2:3)

Ngược lại với Chúa Giêsu thì khác. Người là Thiên Chúa thật cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.Nhưng khi nhập thể làm Con Người thật, Chúa Giêsu “đã mặc lấy xác phàm” để trở nên giống con người về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi.

Chính trong thân xác, hình hài và dung mạo Con Người của Chúa Giêsu mà Chúa Cha, Đấng vô hình vô tượng, được nhìn thấy cách cụ thể hữu hình qua chính lời Chúa Giêsu đã nói với Philiphê như sau: ” Ai thấy Thầy thì thấy Chúa Cha Sao anh lại nói : xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?”(x. Ga 14: 9) .

Như vậy, Chúa Giêsu là Bi tích, là hiên thân hữu hình của Chúa Cha giữa các môn đệ và những ai có diễm phúc đã được gặp và thấy Chúa Giêsu trong suốt ba năm Người đi rao giảng Tin mừng Cứu Độ, chữa lành các bệnh nhân và làm nhiều phép lạ như đã được ghi chép trong bốn Phúc Âm..

Đức Mẹ,Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ đều là loài thụ tạo, tức là con người như chúng ta nên các ngài phải có thân xác như mọi người trần thế.

Vì vậy , trước hết, việc đúc tượng và họa hình Chúa Giêsu-Kitô là điều được khuyến khích theo giáo lý của Giáo Hội : “Vì Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể khi mặc lâý nhân tính và có thân xác giới hạn rõ ràng, cho nên, khuôn mặt loài người của Chúa có thể được vẽ ra theo trí năng con người có thể hình dung ra được. Liên quan đến việc này, trong khoá họp thứ 6 của Công Đồng đại kết tại Nicea năm 787, Giáo Hội đã nhìn nhận việc hoạ lại hình dung của Chúa Giêsu trong các ảnh tượng thánh là điều chính đáng”.(x. SGLCG,số 476)

Từ đó, việc tạo chân dung và hình ảnh (Statues and Icons) của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh để tôn kính trong Nhà Thờ, Nhà Nguyện hay ở tư gia là điều chính đáng được phép làm trong Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống (Orthodox) trừ anh em Tin Lành xưa nay vẫn chỉ trích việc này là thờ ngẫu tượng= (idolatry), hoặc thờ ảnh tượng (Iconolatry).

Để trả lời cho vấn nạn trên và cũng để giúp quí tín hữu khắp nơi hiểu rõ lý do vì sao Giáo Hội Công Giáo cho phép dùng ảnh tượng trong việc thờ phượng , tôi xin được giải thích thêm chi tiết như sau:

Trước hết, chúng ta cần biết điều quan trọng này : đành rằng Thiên Chúa cấm dùng bất cứ hình ảnh nào do bàn tay con người làm ra để mô phỏng hay tượng trưng Thiên Chúa (x. Deut 4:15-18; SGLCG, số 2129). Nhưng mặt khác, Chúa cũng đã truyền cho dân Do Thái phải khắc ghi các Điều Răn của Ngài vào đá tảng, phải làm một Hòm Bia bằng gỗ bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài và đúc hai tượng thần hộ giá đặt ở hai đầu của Hòm Bia mà bên trong có chứa đựng các Điều Răn của Chúa như Giao Ước giữa Ngài và Dân Do Thái.(x. Xh 25: 10-22). Như thế Hòm Bia tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân của Ngài. Điều này cho thấy Thiên Chúa vẫ n cho phép dùng những vật hay hình ảnh cụ thể như những biểu tượng (symbols) để giúp con người hướng lòng lên tới Ngài là Đấng vô hình vô tượng, vượt quá tầm hiểu biết và hình dung của tâm trí con người như Giáo Hội đã dạy như sau:

“Ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền hoặc cho phép làm ra nhữ ng hình ảnh như những biểu tượng dẫn đến ơn cưú độ nhờ Ngôi Lời Nhập thể : đó là con rắn bằng đồng , Hòm Bia Giao Ước và các thiên thần sốt mến. ( x. SGLCG, số 2130).

Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau về ý nghĩa và mục đích của hai từ ngữ tôn kính (veneration) và tôn thờ (adoration).

Tôn thờ là hành động thờ lậy và yêu mến cao nhất (latria)chỉ dành cho một mình Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng mà thôi. Đức Mẹ được tôn kính ở mức Hyperdulia trong khi các Thánh nam nữ được tôn kính ở mức Dulia, tức là được mến mộ chứ không được tôn thờ. Ảnh tượng chỉ giúp con người dễ nhận biết để hướng tâm hồn lên tới Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà các ảnh tượng kia là biểu tượng hay vật súc tác thiêng liêng chứ không phải là hiện thân của Chúa, của Đức Mẹ và các Thánh.

Như thế, ta phải tôn thờ một Thiên Chúa, tôn kính Đức Mẹ và các Thánh mà ta không nhìn thấy bằng giác quan chứ không được thờ lậy hay tôn kính các ảnh tượng kia như chính hiện thân của Chúa, Đức Mẹ và các Thánh.

Nói khác đi, chi khi nào tôn thờ, tôn các kính ảnh tượng như chính Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh hiện diện trong các ảnh tượng đó thì đây mới là hình thức thờ ngẫu tượng (idolatry) hay thờ ảnh tượng (iconolatry) tức là điều nghịch với đức tin cần phải ngăn cấm.

Ngược lại, nếu chỉ dùng ảnh tượng như phương tiện hữu ích để nâng lòng lên tới Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà ảnh tượng kia là trung gian tượng trưng thì không có gì lỗi nghich điều răn thứ nhất về đức thờ phượng . Ngay cả với Chúa Kitô, dù Ngài có thân xác, hình hài như mọi người chúng ta, nhưng tượng Chúa chiụ nạn trên thánh giá, hay hình ảnh Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ, cũng chỉ là những biểu tượng giúp ta nhớ đến Chúa Kitô đích thực đang ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời, và hiện diện bí tích thực sự trong Phép Thánh Thể nơi trần gian. Cho nên, ta phải tôn thờ với tất cả lòng kính yêu Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hình bánh và hình rượu mỗi khi bí tích Thánh Thể được cử hành.

Ngoài bí tích Thánh Thể , Chúa Kitô không hiện diện tương tự trong các ảnh tượng khác của Chúa, như tượng Chúa chịu nạn, hình Bữa Tiệc Ly, Máng cỏ hay hình Chúa tỏ lòng thương xót cho thánh nữ Faustina.v.v .

Cũng vậy đối với Đức Mẹ, và các Thánh nam nữ , hình ảnh của các ngài mà người ta đúc nặn hay tô vẽ mỹ thuật đến đâu thì cũng chỉ là biểu tượng giúp đánh động niềm tin và lòng yêu mến , tôn kính và biết ơn ( esteem,veneration and gratitude) của ta đối với Mẹ và các Thánh đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên đàng, chứ không hề hiện diện thực sự nơi các ảnh tượng đó, dù được làm bằng vàng, bạc, gổ quí hay đá kim cương, cẩm thạch và trưng bày ở bất cứ nơi linh thiêng nào trên thế giới và trong Giáo Hội.

Tóm lại, ta không được phép coi các ảnh tượng như chính hiện thân của Chúa, Đức Mẹ, và các Thánh, trừ Phép Thánh Thể. Các ảnh tượng chỉ là các phụ tích hay á bí tích (sacramentals) nhắc nhở chúng ta nhớ đến để yêu mến tôn thờ Chúa và tôn kính Đức Mẹ và các Thánh đang ở trên trời mà thôi. Dầu vậy, chúng ta cũng phải dành cho các Á bí tích này một sự kính trọng đúng mức, vì Công Đồng chung thứ VII, họp tại Nicêa năm 787 đã biện minh cho việc tôn kính các ảnh tượng thánh, chống lại những người phá hủy( iconoclasts) các tượng thánh như ảnh tượng Chúa Kitô, ảnh tượng Đức Mẹ, các thiên thần và tất cả các vị thánh. Khi nhập thể , Con Thiên Chúa đã khai mạc một chương trình mới, một kế hoạch mới về các ảnh tượng.(x.Sđd,số 2131)

Mặt khác, tuy Giáo Hội cho phép đúc và vẽ chân dung Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh, nhưng việc này phải được thực hiện sao cho phù hợp với đức tin, văn hoá và phong hoá của các dân tộc. Nói rõ hơn, không thể vẽ chân dung, ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh một cách lãng mạn, thiếu nội dung đức tin và đường nét trang trọng linh thiêng giúp đạt mục đích tôn kính trong phụng vụ và đời sống tín hữu.

Thánh Gioan Damascene (675-749) đã nói như sau về nét đẹp thiêng liêng của các ảnh tượng thánh : “Vẻ đẹp và mầu sắc các ảnh thánh kích thích việc cầu nguyện của tôi. Đó là một lễ hội cho đôi mắt tôi, cũng như phong cảnh đồng quê kích thích tâm hồn tôi ca tụng vinh quang của Thiên Chúa”. ( De imag. 1,27)

Ngày nay, các tín hữu thuộc nhiều sắc dân đều có khuynh hướng muốn hội nhập đức tin vào văn hoá (inculturation of faith), nên đã vẽ ảnh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse, vốn là người Do Thái, da trắng thành da đen, da đỏ, da ngăm ngăm tùy theo sắc thái văn hóa và chủng tộc của người tín hữu.

Người Công giáo ViệtNam chúng ta cũng đã có tượng Đức Mẹ LaVang với y phục và nét ViệtNam riêng biệt. Người Mễ Tây Cơ có Đức Mẹ Guadalupe, người Pháp có Đức Mẹ Lộ và dân Bồ Đào Nha có Đức Mẹ Fatima v.v. Giáo Hội không ngăn cấm việc tạc tượng với những sắc thái riêng biệt này. Nhưng chúng ta cũng không nên đặt nặng vấn đề hội nhập đức tin vào văn hoá mà đưa vào nghệ thuật thánh những hình ảnh, hay nét vẻ quá tự do khiến cho đức tin và lòng sùng mộ của người tín hữu bị thương tổn, chia trí khi ngắm nhìn các ảnh tượng phóng khoáng đó. Thí dụ, về các Thánh tử đạo Việtnam thì không thể vẽ thiếu nét lịch sử về y phục và sắc thái điạ phương, khiến cho tín hữu con cháu ngày nay và mai sau có thể hiểu sai về nguồn gốc và đặc tính riêng của mỗi vị khi nhìn vào chân dung hay hình vẽ các ngài.

Tóm lại, việc sử dụng ảnh tượng trong Giáo hội Công Giáo không phải là hình thức tôn thờ ngẫu tượng (idolatry) hay thờ ảnh tượng (iconolatry) như dân ngoại (pagans) tôn thờ các thần (idols) được đúc nặn và trưng bày trong các đền thờ của họ.

Để phân biệt điều này, chúng ta cần tránh những hành động có tính chất mê tín như sờ mó vào các ảnh tượng Chuá Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh rồi làm dấu thánh giá trên mình, hay lấy khăn tay lau các ảnh tượng kia để đem vể nhà ấp ủ, tương tự như dân ngoại tỏ lòng cung kính các tượng thần của họ.

Là tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta phải bày tỏ lòng tôn kính các Ảnh tượng của Chúa Giêsu , Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ cách xứng hợp bằng hành động cúi đầu hay hôn kính Thánh Giá, và các ảnh tượng thánh trưng bày ở tư gia hay ở nhà thờ, nhà nguyện. Nhưng phải bái quỳ ( genuflect) trước Nhà Tạm ( Tabernacle) để tỏ lòng tôn thờ Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trong phép Thánh Thể giữa trần gian.

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn
(Nguồn :http://thanhcavietnam.net)


Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

CHUYỆN CHƯA BIẾT VỀ BỨC TRANH "ĐỨC MẸ VIỆT NAM " GIÁ 5.000 USD

 Bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” nổi tiếng thế giới bởi nét riêng biệt của “Đức mẹ” trong hình hài người phụ nữ Việt Nam. Sau nhiều năm được trưng bày ở thành Rome (Italia), cuối đời họa sĩ Nam Phong đã đồng ý bán tranh với giá 5.000 USD.

Cố họa sĩ Nam Phong người ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn (Ninh Bình), cả đời ông gắn với nghiệp vẽ tranh truyền thần. Ông nổi tiếng bởi những bức tranh truyền thần giống mẫu đến khó tin nên được giới hội họa trong nước rất thán phục.
Họa sĩ Hòa Bình (con trai của cố họa sĩ Nam Phong) kể, cả đời đời bố tôi chỉ chuyên tâm vào nghiệp vẽ tranh truyền thần. Nhờ vẽ tranh mà ông nuôi sống cả gia đình và hướng cho anh em tôi theo nghiệp hội họa. “Trong phòng tranh rộng chưa đầy 10m2 ở thị trấn, ngày ngày ông say mê vẽ, mỗi lúc rỗi ông lại đến nhà thờ cầu nguyện. Ông say mê hội họa hơn bất cứ thứ gì trên đời này”, anh Hòa Bình kể về cha mình.
Bản in bức tranh Đức mẹ Việt Nam đang được họa sĩ Hòa Bình lưu giữ.
Bản in bức tranh "Đức mẹ Việt Nam" đang được họa sĩ Hòa Bình lưu giữ.
Trong những tác phẩm mà họa sĩ Nam Phong đã sáng tác, ông có một bức tranh làm nên tên tuổi không chỉ nổi tiếng trong nước mà khắp thế giới. Đó chính là bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” được trưng bày ở thành Rome (Italia) từ những năm 1950 của thế kỷ trước.
Kể về bức họa nổi tiếng của cha mình, anh Hòa Bình nhớ như in từng chi tiết về bức tranh có một không hai ở Việt Nam này. Vốn là một giáo dân nên khi đến nhà thờ, họa sĩ Nam Phong rất say mê những bức tượng và tranh thờ về chúa Giê-su, Đức mẹ Maria, các thành Tông đồ… Vì những bức tượng, tranh này đều được những họa sĩ nổi tiếng trên thế giới vẽ lại theo Kinh thánh.
“Bố tôi say mê đến nỗi sau này những nét vẽ của ông cũng mang đậm dòng tranh cổ điển của thế giới. Từ màu sắc, ánh sáng, đến đường nét, họa tiết ông đều học theo để từ đó sáng tạo cho mình những nét riêng biệt có trường phía riêng. Chính vì thế mà nhiều bức tranh như chân dung Nàng Molisa, Bữa tiệc ly… được bố tôi chép rất chuyên nghiệp”, anh Hòa Bình chia sẻ.
Sau nhiều năm cầm cọ, họa sĩ Nam Phong vẽ một bức tranh miêu tả về một “Đức mẹ Việt Nam”. Cái khó khăn lớn nhất mà họa sĩ Nam Phong gặp phải chính là chưa có hình mẫu nào để theo, cũng như việc vẽ về Đức mẹ Việt Nam làm sao để toát lên được những nét riêng biệt của hình mẫu người phụ nữ Việt Nam trong tranh.
“Bố tôi cứ mày mò suy nghĩ, những lúc bế tắc ông lại đến nhà thờ cầu nguyện và nhìn thật sâu vào hình mấu Đức mẹ trong nhà thờ. Nhiều ngày liên tục suy nghĩ và vẽ, cuối cùng “đứa con tinh thần” của ông cũng ra đời với hình hài tuyệt mĩ. Chưa có bức tranh nào mà bố tôi đâm đắc như vậy”, anh Bình nhớ lại.
Năm 1953, tại thị trấn Phát Diệm tổ chức triển lãm tranh với chủ đề mở rộng, kêu gọi đầy đủ tầng lớp nhân dân tham gia. Ban đầu, họa sĩ Nam Phong nghĩ vẽ tranh ra là để mình thưởng thức chứ không có ý đưa đi triển lãm. Sau ông quyết định đưa bức “Đức mẹ Việt Nam” đến triển lãm với hi vọng được sự góp ý từ nhiều người. Ông không ngờ tới, khi bức tranh được trưng bày, mọi người đồ dồn hết mọi ánh nhìn về tranh của ông và không ngớt lời ca ngợi.
Bức “Đức mẹ Việt Nam” của ông nổi tiếng từ đó. Biết tin, Đức Cha phụ trách giáo phận Phát Diệm lúc bấy giờ đã ngỏ lời xin đưa bức tranh này sang Tòa thánh Vatican (Italia) để trưng bày. Được họa sĩ Nam Phong đồng ý, bức “Đức Mẹ Việt Nam” sau đó được đưa sang Ý và được những họa sĩ nổi tiếng thế giới đánh giá rất cao bởi là bức tranh đặc biệt về Đức mẹ Maria nhưng lại mang đậm nét dân tộc Việt Nam. Màu sắc, ánh sáng, đường nét, bố cục trong tranh cũng được vẽ rất tinh xảo.
“Tranh được chọn trưng bày nhiều năm tại thành Rome, nhiều người đến tham quan đã xin được in bản photo về làm kỷ niệm. Sau hơn một năm Đức Cha đưa tranh đi đã gửi lại cho bố tôi 2 vạn tiền Đông Dương tiền lãi in tranh. Đây là số tiền vô cùng lớn và ý nghĩa từ bức tranh mang lại”, anh Bình nói.
Sau nhiều năm chiến tranh, tin tức về bức tranh không được họa sĩ Nam Phong biết đến. Đầu những năm 1990, một ngày tình cờ ông gặp Đức cha Bùi Chu Tạo, chủ giáo phận Phát Diệm lúc bấy giờ sắp có chuyến sang Vatican công tác. Họa sĩ Nam Phong đã viết một lá thư gửi cho những người đang lưu giữ bức tranh với mong muốn được biết tin về “đứa con” thất lạc của mình.
“Không lâu sau đó, Đức cha Tạo báo về, bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” của bố tôi hiện vẫn trưng bày tại thành Rome và được bảo quản rất cẩn thận. Năm 1994, trước khi qua đời bố tôi đã đồng ý bán bức tranh lại cho bảo tàng với giá 5.000 USD. Hiện những bản photo của bức tranh vẫn đang được những người trong gia đình tôi lưu giữ như một kỷ vật mà bố để lại. Đây không chỉ là niềm tự hào cho gia đình mà còn là một bức tranh độc đáo đến nay ở Việt Nam và trên thế giới chưa có bức thứ 2”, anh Bình khẳng định.
Thái Bá
(Nguồn : dantri.com.vn)

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

BỨC TRANH CỔ NHẤT VỀ ĐỨC MẸ

Các chuyên gia của Đại học Yale (Hoa Kỳ) đã công bố giả thuyết mới cho rằng họ đã tìm được bức tranh cổ xưa nhất về Đức Mẹ Đồng trinh Maria trong biến cố Truyền tin.
Đức Mẹ Đồng trinh Maria, thân mẫu của Chúa Giêsu, là người phụ nữ được kính trọng nhất trong truyền thống Công giáo. Trong lịch sử ngành hội họa, tần suất xuất hiện của Mẹ chỉ kém hơn Chúa Giêsu. Tuy nhiên, trong 80 năm qua, một trong những bức họa cổ nhất về Đức Mẹ được trưng bày công khai nhưng hiếm người nào biết được tầm quan trọng của nó.
Bức họa vô danh
Theo tờ The New York Times, Viện bảo tàng nghệ thuật của Đại học Yale (Mỹ) lâu nay vẫn treo những bức họa thuộc về một trong những nhà thờ lâu đời nhất thế giới. Bị chôn vùi vào giữa thế kỷ thứ 3, nhà thờ tại gia ở phía đông Syria từng cất giữ những hình ảnh của Chúa Giêsu, thánh Phêrô và vua David. Và trong số này, bức bích họa vẽ một phụ nữ che mạng từng được đặt bên trong phòng rửa tội của nhà thờ đó. Được treo lặng lẽ trong phòng tranh của đại học nổi tiếng, ít được lưu ý đến như các bức họa Chúa Giêsu và Thánh Phêrô, bức tranh dù đã nhạt màu nhưng vẫn còn có thể thấy được hình ảnh một phụ nữ đang cúi mình xuống giếng. Cầm trong tay sợi dây thừng nối với cái thùng, bà nhìn về hướng người xem, dường như bị đánh động trong lúc đang kéo nước.
Tác phẩm có thể là bức họa đầu tiên của Đức Mẹ Đồng Trinh Mara tại Deir ez-Zor, Syria - Ảnh Yale University Art Gallery
Bà là ai? Dòng chữ diễn giải của Viện bảo tàng bên dưới bức tranh dường như vô cùng có lý: “Bức họa nhiều khả năng vẽ lại cảnh tượng gặp gỡ giữa đấng Kitô (không thể hiện trong bức tranh) và một phụ nữ đến từ Samaria”, chỉ một sự kiện đã được ghi lại trong Phúc âm Thánh Gioan. Thế nhưng giới sử gia cũng biết rằng Người đàn bà Samaria bên giếng nướcthường được khắc họa đang đối thoại với Chúa, trong khi người phụ nữ này lại xuất hiện một mình. Phải chăng đội ngũ chuyên gia của Đại học Yale đã chú thích nhầm bức bích họa được khai quật từ đống đổ nát của nhà thờ vào năm 1932? Những bức bích họa trên được chuyển từ tiền tuyến phía đông của Đế quốc La Mã, một tiền đồn quân sự có thể gọi là “Dura” hoặc “Europos”.
Nằm ngất ngưởng trên cao so với sông Euphrates tại một khu vực giờ đây được gọi là Deir ez-Zor, tàn tích của Dura-Europos đã cung cấp nhiều cổ vật nhất so với bất cứ địa điểm khảo cổ nào khác: một cái khiên La Mã còn nguyên vẹn, một giáo đường Do Thái được tô vẽ lộng lẫy, và một đền thờ của Đấng tối cao gần Palmyra. Nó được gọi là “Pompeii của sa mạc Syria”, theo tờ The New York Times dẫn lời Michael Rostovtzeff, giám đốc các dự án khai quật của Đại học Yale. Tuy nhiên, không hề có sức mạnh siêu nhiên nào vùi lấp Dura-Europos như trường hợp của Pompeii, mà nơi này bị chôn vùi một cách có chủ đích trong nỗ lực đắp thành lũy với hy vọng có thể chặn đà tiến của quân đội Sassanid xâm lăng từ hướng đông vào thập niên 250. Vận rủi của pháo đài thời La Mã hóa ra lại trở thành vận may cho giới sử gia. Thành lũy thiết lập trên nền tảng nhiều di tích thời đó, bao gồm nhà thờ trên, cho phép các chuyên gia ngày nay nắm chắc niên đại của chúng cũng như nhiều cổ vật có giá trị vào thời đại này.
Phòng rửa tội của nhà thờ đến nay vẫn là một phát hiện độc nhất vô nhị. Ngoài những dòng chữ có nội dung về các hầm mộ ở Rome, có một vài bức họa quý từ trước thời Đại đế Constantine cải đạo sang Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4, cũng như những bằng chứng cho thấy phần nào tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo của người Công giáo Syria, một cộng đồng hiện đối mặt với nguy cơ hủy diệt.
Giải mã biến cố Truyền tin
Trong khi Người đàn bà Samaria bên giếng nước là một nhân vật trong Kinh Thánh được chú ý trong các thế hệ tín hữu Công giáo đời đầu, trên thực tế có “một phụ nữ bên giếng nước” khác nổi bật hơn nhiều: Đức Mẹ Đồng Trinh Maria trong biến cố Truyền tin. Theo đó, sứ thần Gabriel đã hiện ra thông báo rằng bà được Thiên Chúa chọn để làm mẹ của Đức Giêsu. Đã có nhiều hình ảnh mô tả khi Đức Mẹ đang lấy một cái bình và bước đến giếng kéo nước, đột nhiên, một giọng nói vang lên: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ”. Và bà đã nhìn xung quanh để tìm kiếm người nói chuyện. Trong cuộc gặp gỡ lần đầu tiên này, bên cạnh giếng nước hoặc con suối, thiên thần đã đến nhưng không hiện thân. Đức Mẹ ở đó một mình.
Một cảnh tượng khắc họa biến cố Truyền tin trong tác phẩm vào thế kỷ 12 - Ảnh: Bibliothèque Nationale France
Đại đa số tín hữu, khi nghe về biến cố truyền tin, luôn mường tượng ra cảnh Đức Mẹ trong một tu viện thánh khiết nào đó chào đón thiên thần. Nhưng hình ảnh của người Byzantine lại hoàn toàn khác, thường mô tả Đức Mẹ đứng cạnh giếng nước. Một số bản viết tay luôn chuộng bối cảnh đời thường so với phiên bản thánh hóa. Bức họa vẽ người phụ nữ tại Dura-Europos không những trùng hợp với những hình dung của người thời Byzantine mà còn mang theo nhiều bí mật khác. Những bức ảnh và các phác họa được lưu trữ tại tàn tích của nhà thờ cho thấy có một vài dòng chữ nằm ở vị trí đằng sau nhân vật nữ, cùng với một dạng giống như vầng sáng xuất hiện phía trước thân của bà. Theo phân tích của giới chuyên gia, có vẻ như họa sĩ muốn phác họa một chuyển động huyền bí về hướng cơ thể của người phụ nữ, giống như một dạng hóa thân. Nếu tất cả phân tích đều đúng, người phụ nữ trong bức bích họa là hình ảnh cổ nhất về Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
Ngày nay, những bức họa từ nhà thờ ở sa mạc Syria vẫn đang được bảo quản an toàn, nhưng các cơ hội tìm hiểu thêm về những người Kitô giáo Syria đời đầu đang trôi tuột dần theo thời gian, do các di tích khảo cổ quý giá đang bị tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tiến hành hủy diệt có hệ thống tại Deir ez-Zor. Dựa trên những hình ảnh chụp từ vệ tinh và lời kể của người địa phương, sự hủy hoại và tẩu tán cổ vật tại Dura-Europos là không thể đo đếm được. Do vậy, các bức bích họa từ nhà thờ cổ ở Syria mang ý nghĩa quan trọng hơn là các bức tranh trong viện bảo tàng. Chúng đại diện cho một dân tộc và một nền di sản đứng trước nhu cầu cấp bách cần được cứu rỗi, giống như tinh thần của lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đức Thượng phụ Chính thống giáo Kirill trong cuộc gặp lịch sử 1.000 năm vừa qua tại Havana, Cuba.
LING LANG
(Nguồn : http://www.cgvdt.vn/) 

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

CÁI ĐẸP ĐANG CHẾT DẦN TRONG THỜI ĐẠI NÀY

Tranh minh họa của Pawel Kuczynski

Có lẽ chưa bao giờ thế giới thông tin và giải trí lại phong phú, đa dạng và phát triển một cách chóng mặt như ngày hôm nay. Ở cả ba loại hình nghe, nhìn và đọc, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận thấy rằng hiện nay, người thưởng thức nói chung và giới trẻ nói riêng đang được tận hưởng một đời sống tinh thần no đủ thậm chí là dư dả.
Ngay cả cách để người ta tiếp cận các loại hình văn hóa cũng thuận tiện và không còn phải chật vật như trong trí nhớ của những người trẻ thế hệ 8x trở về trước vẫn còn lưu giữ. Đó là những khó khăn mà người ta phải trải qua đôi khi chỉ để nghe được một bản nhạc hay sự mong ngóng để được xem một bộ phim phát trên truyền hình.
Bây giờ chỉ cần vào Youtube người ta có thể xem bất cứ thứ gì mình muốn. Các trang nhạc online luôn luôn đáp ứng mọi gu âm nhạc của mọi đối tượng. Để được cầm trên tay một quyển sách mà mình yêu thích cũng không cần phải chạy ra nhà sách lục lọi, tìm kiếm mà cơ hội tìm được đôi khi chỉ là may rủi, các dịch vụ bán sách online đang phục vụ rất tốt trong vấn đề này và càng ngày càng tăng dần chất lượng phục vụ. Vì vậy thiết nghĩ, con đường tìm kiếm tri thức và tô điểm cho tâm hồn, làm giàu tinh thần, học hỏi và trau dồi nhân cách thông qua con đường tiếp cận văn học, nghệ thuật của con người trong xã hội hôm nay chưa bao giờ thuận tiện đến thế, với sự hỗ trợ đắc lực của internet.
Tuy nhiên, cũng thông qua cánh cửa rộng mở của internet, có lẽ không ai trong chúng ta không đủ tinh tế để nhận ra chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự tha hóa nhân cách ngày một trầm trọng, đời sống tinh thần của giới trẻ ngày một non yếu hơn và tâm hồn của các bạn trong thời đại này có lẽ chỉ còn là những khu vườn hoang vu, thiếu bàn tay chăm sóc. Đâu là nguyên nhân của sự mâu thuẫn này?
Tôi có dịp tiếp xúc và quan sát nhịp sống của nhiều thanh thiếu niên và đã kịp rút ra cho mình nhiều sự cảm nghiệm, trong đó có không ít ray rứt và lo ngại về một tương lai của đời sống văn hóa người Việt không mấy tươi sáng nếu một ngày nào đó chính các bạn bước vào tuổi trưởng thành, trở thành những con người đại diện cho cả xã hội. Nhìn chung, tư duy “ăn xổi ở thì” vốn đặc trưng cho đời sống thể chất của con người đương thời thì nay cũng đang lấn át sang khía cạnh tinh thần.
Cư dân mạng chính là những người hiểu rõ vấn đề này hơn ai hết khi mỗi ngày trên các trang mạng xã hội, tất cả những gì mà các bạn trẻ quan tâm chỉ là “đang có vụ gì hot?” trong khi đó có những vấn nạn khiến cả xã hội hoang mang đang tồn tại từ năm này qua tháng nọ vẫn chưa đi đến hướng giải quyết mà ngược lại đang bị chính các bạn dần dần quên lãng hay coi đó không phải là chuyện của mình. Chính cái cách quan tâm cuộc sống này đang hình thành trong giới trẻ một sự thờ ơ trước các vấn đề chung của cộng đồng mà chỉ chăm chăm đáp ứng nhu cầu bắt kịp xu hướng, hưởng ứng trào lưu để hùa theo đám đông hay đơn giản chỉ thỏa mãn thói ngồi lê đôi mách. Có lẽ nói đến đây, những con người của thời đại hôm nay thật sự quan tâm thực tại cuộc sống đã không còn thấy vấn đề này là xa lạ nữa. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không liên tục nhắc lại và đem ra mổ xẻ.
Quay lại việc giải trí, các video hài hước, chọc cười đôi khi rất nhảm nhí mà chính cái chất nhảm nhí của nó là phương tiện chính để chọc cười chứ nội dung hoàn toàn không mang ý nghĩa gì lại đang thu hút lượt view đáng ao ước trên Youtube. Và khi dạo qua các tụ điểm hay bất cứ nơi nào mà các bạn trẻ tụ tập, lướt qua các màn hình điện thoại, chúng ta dễ dàng nhận thấy các bạn đang chăm chú xem những video này và cười với nhau rất sôi nổi. Không thiếu những thứ hay ho, ý nghĩa khác trên mạng chia sẻ video lớn nhất thế giới này, tại sao các bạn lại chỉ quan tâm những video ấy.
Phim hài nhảm đang là thể loại hút khách ở các rạp và điều này lại làm các tác phẩm được gọi là điện ảnh này đang không ngừng gia tăng về số lượng khiến chúng ta một lần nữa lại phải ưu tư về vai trò định hướng thưởng thức của người làm nghệ thuật đang ở đâu trên mảnh đất này. Chủ nghĩa thực dụng và sự lên ngôi của đời sống tôn thờ vật chất đã tạo ra một cách làm ngược với lương tâm người làm nghệ thuật khi chỉ chạy theo thị hiếu để trục lợi.
Vấn đề người Việt thích xem hài đi kèm với chất lượng các tác phẩm hài ngày một đi xuống cũng đã gây nhiều trăn trở cho các nhà làm văn hóa khi điều đó ngày càng thể hiện một cách mạnh mẽ rằng, người Việt đang dần quan tâm nhiều đến cảm giác hơn là cảm xúc. Người trẻ ngày nay thích cười những tràng cười sảng khoái trước những trò hề ngớ ngẩn hơn là suy niệm những thông điệp nhân văn, tìm tòi để dần dần hiểu được ý nghĩa cuộc sống.
Khi băn khoăn về mục đích sống của mình, các bạn không đào sâu đến gốc tích của vấn đề nhằm khai sáng cho bản thân mà ngay lập tức tìm quên, phủ lấp nỗi ưu tư của mình bằng những phương tiện xả stress, điều đó dần hình thành thói lười suy nghĩ. Và khi con người ta lười suy nghĩ, chỉ đi tìm những ngây ngất nhất thời thì chúng ta đừng mơ đến hai từ phát triển. Vì không suy nghĩ thì không tìm ra cái mới, không có cái mới thì làm sao có phát triển.
Tương tự ở chuyện đọc, tôi có một quan niệm trong việc đọc đó là số lượng không quan trọng. Không phải cứ đọc nhiều là tốt vì thật sự với một quyển sách giá trị và sâu sắc, khi chúng ta buông nó xuống tức là để cho nó đeo bám trong suy nghĩ của mình suốt đời. Chúng ta sẽ còn phải đọc lại nó nhiều lần hơn nữa, không phải cầm nó lên lại mà là đọc nó trong suy tưởng. Đa số các sách văn chương đều tạo được tác động đó đối với người đọc, điều này khiến cho tư duy chúng ta luôn có chiều hướng vận động và phát triển, tạo ra những phát kiến mới trong tâm trí.
Khi nghe các bạn trẻ chia sẻ rằng mình thích đọc sách, tôi cũng cảm thấy có phần vui mừng. Tuy nhiên, khi đi sâu hơn vào các thể loại mà các bạn thường đọc, tôi mới phát hiện ra rằng phần lớn các bạn nữ đọc ngôn tình, còn các bạn nam thì đọc các thể loại sách helpself, sách dạy làm giàu, bí quyết thành công,… Tôi không có ý nói rằng các thể loại này không tốt và cũng không hề phủ định những ích lợi ngay trước mắt của việc đọc các thể loại này nhưng tôi rất muốn nói rằng các bạn đang tiếp xúc với một phần rất nhỏ mà lại còn không quan trọng cho lắm trong môi trường phong phú và rộng lớn của văn hóa đọc.
Các giải thưởng văn học như Pulitzer, Nobel văn chương, Man Booker,… của thế giới đang làm rất tốt vai trò định hướng văn hóa đọc. Một người đọc thông minh và có hiểu biết chỉ cần theo dõi những giải thưởng này là đã có thể tích lũy cho mình những đầu sách giá trị. Tuy vậy, bao nhiêu bạn trẻ biết được điều giản đơn này và ai nói cho họ biết khi mà trong thời đại công nghiệp vô cùng tất bật hiện nay, sự gần gũi giữa các thế hệ đang ngày một giãn cách ra khi người lớn giải trí theo cách của người lớn và để mặc con trẻ cho thời thế lôi cuốn vô hình trung khiến các bạn lạc lối hay đang đi những con đường lòng vòng trong cái ma trận thông tin của thời đại công nghệ dẫn đến việc “đói thông tin” ngay giữa thời buổi thông tin tràn lan, thừa mứa hôm nay.
Cũng với cùng một cách nghĩ như trên đối với các hình thức giải trí và tiếp nhận thông tin khác, tôi rất buồn khi phải kết luận rằng giới trẻ của chúng ta đang dấn vào con đường biết cái không cần biết và không biết cái cần biết. Bên cạnh đó là sa lầy với một lối sống thức thời, xa rời chân, thiện, mỹ là những giá trị mà nhân loại bao đời tìm kiếm. Nay, với sự thờ ơ của các bạn, tôi lại phải đau buồn mà nói rằng cái đẹp đang chết dần trong thời đại ngày hôm nay.
Tác hại của việc vô định hướng trên như chúng ta thấy không phải là không rõ rệt, nó đang hiển hiện trong tính cách và sinh hoạt tinh thần của giới trẻ ngày nay. Nhiều bạn bị thiếu vốn từ nghiêm trọng, vụng về trong cách diễn đạt và trình bày suy nghĩ. Thiếu sự hiểu biết về các giá trị nền tảng của đời sống nhân bản như đạo đức, luân lý, niềm tin, công lý, sự thật,… Mà những điều này có những tác động không nhỏ trong việc xây dựng nhân cách con người và tô điểm tâm hồn của các bạn trẻ nhất là trong thời đại kim tiền này, sự tha hóa nhân cách luôn chực chờ nuốt chửng lấy mỗi con người.
Nói như vậy không chỉ để các bạn trẻ hiểu ra vấn đề mà thay đổi cách nhìn nhận vì trên thực tế con người thường khó chuyển đổi được ý thích của mình và sự tôn trọng quyền cá nhân đang được xã hội bảo vệ. Nhưng xã hội nào cũng có chuẩn mực của nó và người ta không được lãng quên chân lý cũng như phải nhìn ra ý nghĩa cuộc sống ít nhất là trong phần còn lại của đời mình.
Các bạn trẻ được quyền chọn lựa con đường riêng của mình điều đó không có nghĩa là những người đi trước không có trách nhiệm hướng các bạn đến cái đẹp. Vậy chẳng lẽ những con người hiểu rõ các chuẩn mực ấy lại chấp nhận khoanh tay đứng nhìn tương lai của đất nước đang ngày càng mục ruỗng ý thức và ngày càng tự giết mình vì ngay từ đầu đã không chịu cố gắng làm cho chân lý, cái đẹp được bám rễ sâu vào con người mình khiến sự tha hóa cứ ngày một lan rộng. Nếu chẳng may một cơn giông tố nào đó kéo đến, chúng ta có tự hỏi thế hệ này rồi sẽ đi về đâu?

Tác giả: Nguyen_Tai
(Nguồn : http://triethocduongpho.tumblr.com/)



Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

NHỚ MANG THEO TRÁI TIM



SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN C - 10/7/2016

                                                                                                   TGM  Giuse Ngô Quang Kiệt

Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thày thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa “làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời”.

Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện bình thường xảy ra hằng ngày: Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thày tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thày Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria, một người ngoại đạo, đã chạnh lòng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông còn chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi bình phục.

Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm vì có trộm cướp rình rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:

Đó phải là một trái tim nhạy bén.


Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nhìn thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn. Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động lòng. Trái tim các thầy bị đóng kín vì những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật. Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nhìn bằng đôi mắt, nhưng nghe và nhìn bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rõ tiếng rên rỉ thì thầm tận đáy lòng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nhìn thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.

Đó phải là một trái tim quan tâm.

Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đã tránh sang bên kia đường mà đi. Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. Vì có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. Vì quan tâm nên ông đã mang sẵn bên mình nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đã lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đã làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đã làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt tình để cứu nạn nhân.

Đó phải là một trái tim chung thuỷ.


Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dõi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì các thầy không mang theo trái tim. Người xứ Samaria đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình ông. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời.

Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hãy lên đường với trái tim. Hãy lắng nghe với trái tim. Hãy hành động với trái tim. Hãy đi trên đường của trái tim. Hãy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hãy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.


Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

NGUỒN GỐC SỰ THẬT CỦA NGHI THỨC BÔNG HỒNG CÀI ÁO

Về sau, khi phong tục "Bông Hồng Cài Áo" qua đến Việt Nam, hoa cẩm chướng lại bị hiểu lầm thành hoa hồng và Nhật Bản được nghĩ lầm là nguồn gốc của phong tục.
Phạm Lệ Hương



"Bông Hồng Cài Áo" là một nghi thức nhuốm màu Phật Giáo, thường được tổ chức trong ngày Lễ Vu Lan ở các ngôi chùa VN hằng năm để tưởng nhớ những bà mẹ đã khuất và vinh danh những bà mẹ còn tại thế với con cháu. Trong nghi thức đó, các em Phật Tử, với hai giỏ hoa hồng (roses), màu đỏ & màu trắng, sẽ đến cài hoa lên áo từng người dự lễ. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được nhận một bông hoa trắng trên ngực áo. Đây là 1 nghi thức thật dễ thương, nhiều ý nghĩa và rất hữu hiệu trong việc giáo dục đại chúng về lòng hiếu thảo và tình người. Nghi thức đó được giới thiệu đến người Việt từ cuốn sách "Bông Hồng Cài Áo" của Thiền Sư Nhất Hạnh được viết vào tháng 8, 1962 và sau đó, được dân chúng biết đến nhiều hơn nữa nhờ bản nhạc cùng tên cùa nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ.

Tính đến nay, người Việt mình đã biết đến và đã theo nghi thức này được hơn 40 năm. Hỏi tại sao và từ đâu có "Bông Hồng Cài Áo", nhiều người quả quyết không ngập ngừng rằng đó là 1 nghi thức được phỏng theo một phong-tục của người Nhật theo đó, các em học sinh sẽ ra đường, không phải trong khuôn viên các ngôi chùa, trong ngày lễ mẹ để gắn hoa hồng (roses) cho những người qua lại.

Sự thật không đúng, như vậy. Nghi thức này không bắt nguồn từ nước Nhật và loại hoa được ưa chuộng để dành cho mẹ không phải là hoa hồng.

Hiểu lầm

Trước hết là chuyện "tác quyền". Nhật không phải là "tác giả" của phong tục này, họ chỉ bắt chước người khác và, nói cho ngay, họ cũng không thực hành nghi thức này nhiều như mình nghĩ. Việc gắn hoa trong ngày lễ mẹ không phổ thông lắm tại Nhật. Họ chỉ có 2 tập tục hơi hơi giống “Bông Hồng Cài Áo” của mình. Đó là tục gắn lông gà để quyên tiền và tục tặng hoa cẩm chướng cho mẹ trong ngày lễ mẹ.

Tục gắn lông gà mới có khoảng 50 năm nay. Mỗi năm, từ 1/10 đến cuối tháng 12, Tokyoto Kyodo Bokinkai (Đông Kinh Đô Cộng Đồng Mộ Kim Hội) thành lập từ năm 1946, có tổ chức văn nghệ tại nhiều nơi trên toàn nước Nhật để lạc quyên cho cơ quan Hồng Thập Tự Nhật (Nhật Bản Xích Thập Tự).

Các em học sinh, sinh viên mang thùng đến từng người xin tiền quyên góp. Ai tặng tiền thì được các em gắn lên áo một lông gà nhuộm màu đỏ, vừa là 1 cách cám ơn người tặng tiền, vừa là 1 cách nhắc nhở khéo những người chưa có lông gà đỏ và cũng là 1 dấu hiệu cho biết người nào đã góp tiền, ngươì nào chưa để các em học sinh khác không làm phiền người đã quyên góp. Ngoài ra, Bộ Nông Lâm Thủy Sản Nhật Bản hằng năm cũng tổ chức cũng quyên tiền để bảo vệ môi sinh. Người nào đã bỏ tiền vào thùng sẽ được gắn 1 chiếc lông gà nhuộm màu xanh lá cây. Nếu màu đỏ của hình chữ thập tượng trưng cho gíup máu cứu giúp người bị thương thì màu xanh lá cây được nhìn như một biểu tượng bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Tục tặng hoa cẩm chướng cho mẹ cũng chỉ mới có tại xứ Phù Tang từ sau thế chiến. Bắt chước người, Nhật cũng lấy ngày Chủ nhật thứ hai trong tháng 5 là ngày Mother's Day . Trong ngày này, con cái thường tặng mẹ hoa cẩm chướng đỏ (carnation) và những món quà nho nhỏ để bày tỏ lòng kính yêu mẹ. Hoa này tặng Mẹ chứ không phải tặng con và là hoa cẩm chướng chứ không phải hoa hồng. Phong tục này cũng mới theo tây phương, nói trắng ra là theo Mỹ, khoảng vài chục năm nay.

West Virginia, Hoa Kỳ: cái nôi của “Bông Hồng Cài Áo”

Đúng vậy, phong tục này khởi đầu từ thành phố Grafton, West Virginia vào ngày 09 tháng 05, 1907 và người đầu tiên lấy hoa cẩm chường đỏ và trắng để vinh danh các bà mẹ là cô Anna Jarvis mất trước đó 2 năm. Cô là người bỏ cả đời ra để vận động cho 1 ngày lễ mẹ trên toàn quốc Hoa Kỳ để vinh danh các bà mẹ, trong đó có thân mẫu của cô đã tận tụy nuôi 11 người con. Hôm đó là ngày chủ nhật mồng 9 tháng 5, Anna đã tổ chức 1 ngày Mother's Day trong nhà thờ nhỏ tại Grafton. Khi đó, Mother's day chưa được chấp thuận là national holiday. Anna Jarvia dùng cẩm chướng trong buổi lễ này chỉ vì thân mẫu của cô lúc sinh tiền thích hoa này. Buổi lễ vừa là cầu hồn cho mẹ Anna và những bà mẹ trong họ đạo đã khuất, vừa là cầu an cho những bà mẹ còn sống. Anna Jarvis đã lấy hoa cẩm chướng màu đỏ biểu trưng cho những bà mẹ còn sống và hoa cẩm chướng màu trắng, cho những bà mẹ đã khuất. (1)

Như vậy, chính thành phố Grafton, W Virginia, không phải Nhật Bản, là cái nôi của phong tục hoa đỏ, hoa trắng cho mẹ hiền.

Về sau, khi phong tục "Bông Hồng Cài Áo" qua đến Việt Nam, hoa cẩm chướng lại bị hiểu lầm thành hoa hồng và Nhật Bản được nghĩ lầm là nguồn gốc của phong tục.

Tại sao lại có chuyện hiểu sai đi như vậy? Có phải sai lầm từ tác giả Nhất Hạnh hay là từ nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ? Không phải.

Trong cuốn sách do An Tiêm xuất bản, thiền sư Nhất Hạnh không hề có 1 lời nào nói rằng phong tục này là của người Nhật. Tác giả chỉ kể rằng ông biết được phong tục đó là do sự giải thích của cố Thượng Tọa Thiên Ân nhân dịp tác giả được một cô sinh viên Nhật, bạn của TT Thiên Ân, cài hoa cẩm chướng trắng cho thầy tại 1 tiệm sách trong khu thương mại Ginza ở Tokyo. Đọc lại thật kỹ đoạn văn kể lại chuyện này, ta thấy chữ Tây Phương được nói đến 2 lần, ý nói đây là 1 phong tục của Tây Phương. Không có 1 lời nào nói đó là phong tục của người Nhật. Đoạn văn cũng nói rõ là hoa cẩm chướng, không thể nào lầm lẫn với hoa hồng (roses) (2). 

Chuyện hiểu lầm không phải từ cuốn sách của thày Nhất Hạnh. Thế còn nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ? Trong bài hát "Bông Hồng Cài Áo" nhạc sỹ tuy không dùng chữ hoa cẩm chướng nhưng có dùng chữ "đoá hoa màu hồng" để nói về bông hoa cho mẹ (3). Viết "hoa màu hồng" như vậy là nhạc sỹ muốn nói đến 1 loại hoa nào đó, có thể là rose và cũng có thể là bất kỳ loại hoa nào khác, miễn sao có màu hồng là được. Nếu muốn chỉ rose, người VN chỉ cần dùng chữ hoa hồng hay đóa hoa hồng là đủ (4), không cần thêm chữ màu. Thừa..

Chuyện hiểu lầm, như vậy, cũng không phải từ bài hát của Phạm Thế Mỹ. Thiền sư Nhất Hạnh, vốn du học bên Mỹ, kể chuyện thăm viếng Nhật, được người Nhật gắn hoa, được nghe Thầy Thiên Ân, vốn du học bên Nhật, giải thích về phong tục cài hoa, ai cũng đinh ninh là thiền sư Nhất Hạnh kể về phong tục bên Nhật, chẳng dè hai vị tu sỹ, tuy gặp nhau giữa lòng Tokyo, nhưng lại nói chuyện về phong tục bên... Mỹ. Sai lầm là từ chỗ đó.

Nhận ra chỗ hiểu lầm rồi, có nên thay đổi chi trong nghi thức"Bông Hồng Cài Áo"? Thật ra, nghi thức này bắt nguồn từ đâu thì chỉ những ai muốn tìm hiểu đến nơi, đến chốn thôi mới đặt thành vấn đề. Với đại chúng, chuyện này không quan trọng. Phong tục đó khởi đầu từ đâu mà có, thây kệ nó, miễn sao mình báo hiếu cho mẹ là được rồi. Tuy nhiên, với tinh thần tôn trọng sự thật, sau khi đã tìm ra chỗ hiểu lầm, nếu có ai hỏi người Việt mình tìm đâu mà có được 1 nghi thức đầy ý nghĩ như vậy, thì mình phải thẳng thắn loại bỏ cái anh Nhật Bản ra ngoài và nhẹ nhàng đưa cái nhà thờ Hoa Kỳ vào thay chỗ "tác giả" của nghi thức "Bông Hồng Cài Áo"

Việc thứ hai là kể từ nay, nên dùng hoa nào trong nghi thức "Bông Hồng Cài Áo", hoa hồng hay hoa cẩm chướng. Đối với người Việt, hoa hồng tượng trưng cho tình thương và lòng biết ơn. Lại nữa, người Việt mình không ai lại không biết hoa hồng. Còn hoa cẩm chướng? Có người chỉ nghe tên mà không biết đó là hoa gì. Ngược lại, cẩm chướng rất phổ thông bên Tây phương. Theo truyền thuyết Ki tô giáo, hoa cẩm chướng sanh ra từ những giọt nước mắt của Đức mẹ Maria lúc bà theo chân Chúa Jesus trên đoạn đưòng vác thánh giá. Vì vậy, hoa cẩm chướng tượng trưng cho tình yêu bất tử của người mẹ (5).

Nói cho cùng thì ý nghĩa nào cũng chỉ là do con người gán cho hoa. Khi chưa có loài người thì hoa cũng chỉ là hoa, có ý nghĩa chi đâu. Hoa nào cũng chỉ là biểu tượng, miễn sao nói lên được cái ý nghĩa mà mọi người muốn nhìn thấy ở biểu tượng ấy. Vậy thôi. Tiếp tục dùng hoa hồng hay thay thế hồng bằng hoa cẩm chướng hoặc ngay cả đi tìm 1 biểu tượng khác cũng không quan trọng, miễn sao có sự đồng thuận của mọi người.

Ăn thua là ở cái lòng, không phải ở hoa này, hoa nọ.

Với tâm thành, đóa hoa dại ngắt vội bên đường cũng đáng trân trọng. Không có tấm lòng, vương giả chi hoa như lan, như huệ cũng vất đi.

(1) "She passed out more than 500 carnations, one for each mother in the congregation. She chose carnations because they were her mother's favorite flowers; the white carnation was her most favorite because it represented the purity of a mother's heart. A white carnation was to be worn to honor deceased mothers, and a red one to honor a living mother.
(2) Thích Nhất Hạnh,"Bông Hồng Cài Áo", An Tiêm xuất bản "Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day), ngày chúa nhật thứ nhì của tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong xắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. " 
(3) Phạm ThếMỹ, "Bông Hồng Cài Áo", "Đoá hoamàu hồng vừa cài lên tóc đó anh" TrịnhCông Sơn, Lời buồn thánh, 
(4) "Đoá hoa hồng cài lên tóc ai, Ôi đường phố dài, lời ru miệt mài..."
(5) Theo tu điển bách khoa online Wikipedia 

According to Christian legend, carnations first appeared on Earth as Jesus carried the Cross The Virgin Mary shed tears at Jesus' plight, and carnations sprang up from where her tears fell.
_http://www.luanhoan.net/

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

TRIẾT LÝ SÔNG ĐƠN GIẢN CỦA MẸ TÊRÊXA CALCUTTA


Mẹ Têrêsa Calcutta nói về tình yêu

♦ “Nếu bạn xét đoán ai, bạn sẽ không còn thì giờ để yêu thương họ”.

♦ “Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, cho đi không chỉ những gì dư thừa, nhưng những gì bạn không thể sống nếu không có, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành một hy sinh, có giá trị trước mặt Thiên Chúa.”

♦ “Tôi luôn luôn nói rằng tình yêu khởi sự từ gia đình trước đã, và sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ngay cạnh chúng ta thì không luôn dễ dàng”.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về nghèo đói

♦ “SỰ NGHÈO ĐÓI KHỦNG KHIẾP NHẤT CHÍNH LÀ SỰ CÔ ĐƠN, BỊ BỎ RƠI VÀ CẢM NHẬN KHÔNG ĐƯỢC YÊU THƯƠNG”.

♦ “Căn bệnh trầm trọng nhất của thời nay không phải là bệnh phong hủi hay bệnh lao, mà là sự cảm nhận bị ruồng bỏ”.

♦ “Trên thế giới, người đói khát tình yêu thì nhiều hơn người đói khát cơm bánh”.

♦ “Nhiều khi chúng ta cứ nghĩ rằng nghèo đói là đói khát, thiếu áo quần, không nhà ở. Sự nghèo đói lớn nhất là bị bỏ rơi, không ai chăm sóc, không được hưởng sự yêu thương. Loại nghèo đói này cần được giải quyết ngay từ những tổ ấm gia đình”.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về chiến tranh


♦ “Tôi chưa bao giờ sống trong cảnh chiến tranh nhưng tôi đã chứng kiến nạn đói và sự chết chóc.

Tôi tự hỏi: ‘Họ đã cảm nhận điều gì khi họ gây ra chiến tranh?’

Tôi không thể hiểu nổi. Họ đều là con cái Thiên Chúa. Tại sao họ lại làm như vậy? Tôi không hiểu nổi”.

♦ “Hãy làm ơn chọn lựa đường lối hoà bình…! vì trong chỉ một khoảng thời gian ngắn ngủi, sẽ có người thắng kẻ thua trong cái cuộc chiến mà chúng ta đều sợ hãi, nhưng rồi chẳng thể và chẳng bao giờ có thể biện minh cho những nỗi đau và chết chóc do bom đạn gây ra”.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phá thai

♦ “Phá thai chính là giết người. Trẻ nhỏ là quà tặng của Thiên Chúa. Nếu bạn không muốn có nó, hãy giao em bé cho tôi!”

♦ “Sự phá hoại nền hoà bình kinh khủng nhất chính là việc phá thai, vì nếu người mẹ nhẫn tâm giết chính con mình thì bạn có thể cũng giết tôi và tôi cũng có thể giết bạn, vì giữa chúng ta chẳng có mối liên hệ nào”.

♦ “Chính thật là sự nghèo nàn khi quyết định đứa trẻ phải chết để bạn được sống theo ý mình”.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phục vụ Chúa

♦ “Tôi chỉ là cây bút chì của Chúa, để Ngài gởi bức thư tình yêu của Ngài cho thế giới”.

♦ “Tôi không cầu nguyện cho sự thành công, tôi cầu nguyện cho sự trung tín”.

♦ “Nhiều người lầm lẫn công việc và ơn gọi. Ơn gọi của chúng ta là yêu mến Chúa Giêsu”.

♦ “Mỗi người trong số họ, chính là Chúa Giêsu cải trang”.

♦ “Cần phải nói ít đi, vì điều rao giảng chưa phải là điều được đón nhận. Vậy ta phải làm gì?

Hãy cầm lấy cây chổi để quét nhà cho một ai đó, công việc ấy đã đủ để rao giảng”.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về cầu nguyện

♦ “Không cầu nguyện, tôi không thể làm việc dù chỉ nửa giờ. Tôi có được sức mạnh của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện”.
 
♦ “Có quá nhiều đau khổ trong các gia đình ngày nay trên toàn thế giới, nên cầu nguyện thật là quan trọng, và tha thứ cũng thật quan trọng.

Người ta hỏi tôi phải khuyên bảo thế nào cho đôi vợ chồng đang gặp khó khăn, tôi luôn luôn trả lời: ‘Cầu nguyện và tha thứ’;

và cho những thanh thiếu niên từ những mái nhà đầy hung bạo: ‘Cầu nguyện và tha thứ’;

và cho những người mẹ cô độc không được gia đình hỗ trợ: ‘Cầu nguyện và tha thứ’.

Hãy nói: ‘Lạy Chúa, con yêu Chúa. Lạy Chúa, con hối lỗi. Lạy Chúa, con tin ở Chúa. Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin giúp con yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng con’.”