Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

THÁNH NỮ MONICA

THÁNH NỮ MONICA
Ngày 27/8
Mt 23,23-26


Có những giọt nước mắt đem lại hạnh phúc cho người khác.Có những giọt lệ làm lay chuyển tâm hồn người khác . Giọt nước mắt của người mẹ luôn có tác dụng rất lớn đối với con cái. Giọt nước mắt của thánh nữ Monica đã biến đổi cả cuộc đời của Augustinô,người con trai, đầu lòng thông minh nhưng ngang tàng, trụy lạc. Thánh nữ Monica đã cầu nguyện, đã khóc lóc, Chúa đã nhậm lời và ban cho con của thánh nữ là Augustinô ơn cải hóa từ tâm, ơn đổi mới tâm hồn,ơn làm đẹp con tim :con tim mới,cái nhìn mới .

MỘT CON NGƯỜI


Có một người nữ được sinh ra trong một gia đình đạo hạnh, thánh thiện:tên người nữ ấy là Monica . Monica sinh vào năm 332 tại làng Sucara bên Phi Châu.Gia đình Monica vốn có truyền thống đạo đức,yêu thương tha nhân,yêu thương người nghèo .Được sống trong bầu khí đạo đức của gia đình, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan hiền, nhiệt thành, sốt sắng. Ngay từ lúc còn nhỏ Monica đã có tâm hồn quảng đại yêu thương người nghèo:mỗi bữa cơm Monica thường dành ra một phần cho người đói túng thiếu và Monica thường tìm chỗ vắng vẻ để thân mật nói chuyện với Chúa .Monica đã biết biến những phút giây gặp gỡ người nghèo, chia sẻ cho người nghèo, cầu nguyện làm hạnh phúc cho đời mình. Cô đã biết biến những phút giây ấy làm phút giây cứu độ cho mình và cho người khác.

Con người đạo đức vẫn thường gặp truân chuyên như nhiều người thường nói . Ông Gióp đã là chứng minh hùng hồn cho cuộc đời thánh thiện,nhưng gặp toàn những chuyện thử thách,rắc rối .

Thánh Giuse là người công chính nhưng cũng gặp đắng cay nếu không hiểu được ý Chúa, chắc chắn Người đã đứt gánh giữa đường. Monica cũng nằm trong diện ấy . Năm 22 tuổi,vì vâng lời cha mẹ, thánh nữ đã kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi quí phái,nhưng tính tình xấu xa,ngang ngược,độc ác và lại hơn Monica cả hai con giáp.Đau khổ nhưng Monica đã chấp nhận ý cha mẹ và âm thầm cầu nguyện cho chồng vì thánh nữ xác tín mình sẽ cứu được một linh hồn trở về với Chúa.Nhờ lòng quả cảm,đức tính khiêm nhường,và nhờ cầu nguyện vững tin vào Chúa, Monica đã cảm hóa được người chồng và sau này bà sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng sau này chính nhờ những giọt lệ thành tâm và nhờ lời cầu nguyện liên lỉ của thánh nữ, Augustinô đã trở lại và trở nên thế giá , trở nên thánh .

VẪN GIỌT NƯỚC MẮT CỦA MONICA


Monica tuy sống trong một gia đình ngoại giáo,đã luôn chứng tỏ bà có Chúa ở cùng.Sự thánh thiện, lòng quảng đại, yêu thương của Monica đã cảm hóa được người chồng ác độc,ngang tàng,ích kỷ. Monica luôn dậy con cái biết mến Chúa, yêu người .Bà luôn yêu thương con cái với tất cả con tim,với tâm hồn đầy ắp Chúa . Bà đã biết biến mọi giây phút trong cuộc đời của bà trở thành những giây phút,những cơ hội hồng ân để thay đổi lòng người khác. Chính cái phút giây bà vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius đã thay đổi đời bà, nghĩa là bà đã chấp nhận điều mình không ưa thích để biến nó thành phút giây cứu độ cho mình và cho người mình sẽ sống, sẽ nhận làm chồng dù rằng bà biết bà sẽ phải đau khổ nhiều, phải hy sinh, phải từ bỏ.Tình yêu Đức Kitô thúc bách bà . Bà đã đi tới cùng, bà đã làm thay đổi chồng, con và biến đổi người con trụy lạc,ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp cho Giáo Hội . Qua những giọt lệ của Monica, qua lời cầu xin tha thiết của bà, Monica đã làm thay đổi tất cả, đã làm mới mọi sự để bà có thể nói được như ông già Siméon :” Giờ đây xin để tôi tớ ra đi bình an…” .

Thánh nữ Monica đã qua đời năm 387 sau khi Augustinô được thánh Giám mục Ambrosiô rửa tội.Thánh nữ được an táng tại Otti . Đức Thánh Cha Martinô truyền đem xác thánh nữ về nhà thờ Thánh Augustinô ở Roma vào năm 1430.

 Lạy Thánh nữ Monica, xin ban cho các bà mẹ công giáo luôn có tâm hồn thánh thiện và đạo đức  như thánh nữ .
 Xin cho các bà mẹ luôn biết giáo dục con cái mình biết mến Chúa và yêu người .
 Xin cho các bà mẹ công giáo luôn biết nêu gương sáng cho con cái trong đời sống để con cái nhiệt thành mến Chúa và yêu tha nhân.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT


Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

TIN BUỒN





THÂN MẪU LINH MỤC PHANXICÔ NGUYỄN NGỌC HIẾN  VỪA QUA ĐỜI.

Được tin bà cố Anê thân mẫu Linh mục  Phanxicô NGUYỄN NGỌC HIẾN  linh hướng Liên Đoàn HTDC  THÁNH LINH GIÁO PHẬN ĐÀ NẴNG vừa qua đời tại giáo xứ Tam Tòa, Đà Nẵng .

Xin Thành Kính Phân Ưu .

Nguyện cầu linh hồn cụ bà Anê sớm được hưởng nhan thánh Chúa.



GIẢI THÍCH CHỮ VIẾT TẮT SAU TÊN CÁC LINH MỤC - TU SĨ DÒNG TẠI VN



Các Linh Mục, Tu Sĩ trong các dòng ở Việt Nam thường viết thêm vào sau tên mình một vài mẫu tự. Ví dụ

Viện Phụ Phan Bảo Luyện, S.O.C.
Đan Sĩ: Hoàng Thanh Trương, O.S.B.
Đan sĩ Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh, O.C.D.
Sư Huynh Nguyễn Văn Tân, F.S.C
Lm. Mạnh Thư, C.M.C.
Lm. Phạm Trung Thành, C.Ss.R.
Lm. Trần Đức Anh, O.P.
Lm. Nguyễn Trung Tây, S.V.D
Lm. Vương Đình Khởi,O.F.M.
Lm. Savio Trần Ngọc Tuyên, O.H.
Lm. Trần Anh, S.J.


Những mẫu tự viết tắt như: O.H. - O.C.D. - O.P. - F.S.C.- v.v…có ý nghiã gì? Nói chung, giáo dân và những người không phải Công Giáo, chẳng mấy ai hiểu ý nghĩa các từ trên là gì, xuất phát từ đâu? Do vậy, bài viết này có hai mục đích:

Thứ nhất: giải thích danh xưng các dòng tu tại Việt Nam. Ví dụ tại sao gọi là dòng Biển Đức, Cát Minh, Ngôi Lời v.v..

Thứ hai giúp độc giả hiểu các từ viết tắt như O.P., O.C.D., F.S.C., v.v

Sau đây là phần giải thích tên các hội dòng và các chữ viết tắt:

Ảnh Phép Lạ: Từ để dịch tiếng Medaille Miraculeuse trong tên của một tu hội có danh xưng tiếng Pháp là Les Filles de La Medaille Miraculeuse được dịch là Chị Em Ảnh Phép Lạ. Hội Dòng do Đức Cha Jean Liévin Sion Khâm lập năm 1947 tại Kontum. Hội Dòng có mục đích tạo điều kiện cho các thiếu nữ Công Giáo dân tộc thiểu sống đời tu trì thích hợp với khả năng, tâm tính và văn hóa của dân tộc thiểu số.

Biển Đức: Tiếng phiên âm của tên riêng Benedicti trong tiếng La Tinh hay Benedict trong tiếng Anh. Thánh Benedict lập ra dòng có tên quốc tế là Ordo Sancti Benedicti hay Order of St. Benedict, viết tắt là O.S.B. được dịch ra tiếng Việt là Dòng Biển Đức. Năm 1936 dòng Biển Đức thiết lập đan viện đầu tiên tại Đà Lạt. Người Trung Quốc phiên âm từ Benedict là 
本篤 [běndǔ], Hán Việt đọc là Bản Đốc. Theo truyền thống, các tu sĩ dòng này thường thêm ba mẫu tự O.S.B. vào sau tên mình. Đan Sĩ: Hoàng Thanh Trương, O.S.B.

C.Ss.R.: Tiếng viết tắt của Congratio Sanctissimi Redemptoris có nghĩa là Dòng Cực Thánh Chúa Cứu Thế được giáo dân Việt Nam gọi tắt là Dòng Chúa Cứu Thế. Thánh Alphongso Maria Ligori thành lập dòng vào năm 1732 có tôn chỉ rao giảng tin mừng cho người nghèo. Các Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế thường thêm các chữ viết tắt C.Ss.R. vào sau tên mình: LM. Phạm Trung Thành, C.Ss.R.

Cát Minh: Tiếng phiên âm của địa danh CarmelCarmel là tên một ngọn núi ở phía tây bắc Do Thái. Nơi đây vào năm 1155 đan viện có tên Anh ngữ là Order Of Our Lady Of Mt. Carmel được thành lập. Chi nhánh đan viện này tại Pháp có tên là Ordre des Carmes Déchaux. Dòng Cát Minh từ Pháp đến Việt Nam vào năm 1861 và thành lập nhà đầu tiên tại Sàigòn. Do vậy, đan viện có tên viết tắt là O.C.D. Người Việt gọi là Đan Viện Cát Minh. Người Công Giáo Trung Quốc phiên âm từ Mount Carmel là 
   [jiàmìshàn], giọng Hán Việt đọc là Ca Mật Sơn. Theo truyền thống, các đan sĩ Cát Minh thường thêm ba mẫu tự O.C.D vào sau tên mình. Đan sĩ Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh, O.C.D.

Dòng Tên: Tên là từ Nôm lấy dạng của từ Tiễn 
: mũi tên trong Hán Việt. Từ Tên được dùng để thay thế cho từ ngữ Jesu trong danh xưng dòng có tên quốc tế là Societas Jesu hay Society of Jesus, dịch ra tiếng Việt là Dòng Chúa Giêsu và thường được viết tắt là S.J. Tại Việt Nam, vì phong tục kỵ húy tên các bề trên nên dòng này, thay vì nói Dòng Chúa Giêsu, đã được gọi là Dòng Tên. Dòng đã đến Việt Nam từ năm 1615 và hoạt động đến năm 1773. Sau đó, dòng đi khỏi Việt Nam trong 2 thế kỷ và trở lại hoạt động vào năm 1957. Theo truyền thống, các thành viên của Dòng Tên thường thêm hai mẫu tự S. J vào sau tên mình. Linh Mục Trần Anh, S.J. Khi Pháp ngữ còn thịnh hành ở Việt Nam, giới nhà tu còn đọc Dê Zúyt tức Jésuit để chỉ tu sĩ dòng Tên.

Đa Minh: 
多米 tiếng phiên âm của tên riêng Dominic. Thánh Dominic là người Tây Ban Nha, đấng tổ phụ lập ra dòng có tên quốc tế là Ordo Praedicatorium hay Order of Preachers, viết tắt là O.P, được dịch ra tiếng Việt là Dòng Anh Em Thuyết Giáo. Dòng đến Việt Nam từ năm 1550 tại Đàng Ngoài. Người Việt quen gọi dòng này là Dòng Đa Minh. Đa Minh là tên của thánh tổ phụ được phiên âm ra tiếng Tàu nhưng đọc theo giọng Hán Việt. Người Tàu phiên âm tên riêng Dominic là 多米 [duōmǐ], Hán Việt đọc là Đa Minh. Theo truyền thống, các tu sĩ dòng này thường thêm hai mẫu tự O.P. vào sau tên mình. Lm Trần Đức Anh, O.P.

Đồng Công: 
  hai từ Hán Việt có nghĩa cùng góp công, là tiếng nói tắt của cụm từ Đồng Công Cứu Chuộc để dịch từ ngữ La Tinh Coredemptricis trong tên của hội dòng Congregatio Matris Coredemptricis –Congregation of Mother Co Redemptrix, được viết tắt là C.M.C. và người Việt gọi là Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc hay vắn tắt gọi là Dòng Đồng Công. Dòng được Linh mục Đa Minh Trần Đình Thủ sáng lập từ năm 1953 tại Bùi Chu. Hiện nay dòng có hai cơ sở, một ở Thủ Đức, một ở Xuân Lộc. Tại hải ngoại dòng có chi nhánh ở tiểu bang Missouri, Hoa Kỳ.Theo truyền thống, các thành viên của dòng thường thêm ba mẫu tự C.M.C. vào sau tên mình. LM. Mạnh Thư, C.M.C.

La San: Tiếng phiên âm của tên riêng La Salle. Từ này là tên họ của vị thánh người Pháp có tên là Jean Baptist De La Salle. Năm 1680 thánh Jean Baptist De La Salle thành lập dòng có tên quốc tế là Fratres Scholarum Christianarum – Brother of the Christian Schools, viết tắt từ Pháp ngữ là F.S.C. được dịch ra tiếng Việt là Dòng Anh Em Trường Kitô nhưng dân chúng quen gọi là Dòng Sư Huynh La San hay Dòng La San. Dòng chính thức hoạt động tại Việt Nam từ năm 1890. Theo truyền thống, các thành viên của dòng này thường thêm các mẫu tự F.S.C vào sau tên mình. Sư Huynh Nguyễn Văn Tân, F.S.C. 

M.E.P: Mẫu tự viết tắt của danh xưng chính thức bằng Pháp ngữ là Société des Missions Étrangères de Paris nghĩa là Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris. Đây không phải là một tu hội mà là một tổ chức của các linh mục triều được thành lập tại Paris năm 1658 có mục đích truyền giáo tại hải ngoại. Nhiều người còn vắn tắt gọi hội này là Hội Thừa Sai Paris. Năm 1658 hai Đức Giám Mục François Pallu và Pierre Lambert de La Motte thuộc Hội Thừa Sai Paris đã được Ðức Giáo Hoàng Alexandre VII đặt làm Giám Quản Tông Toà Ðàng Ngoài và Ðàng Trong ở Việt Nam. 

Ngôi Lời: từ Nôm để dịch từ ngữ La Tinh Verbi Divini trong tên của hội dòng quốc tế có tên là Societas Verbi Divini – Society of the Divine Word, được viết tắt là S.V.D. và người Việt gọi là Dòng Ngôi Lời. Từ Ngôi Lời theo nghĩa thần học có nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Chúa Giêsu. Theo truyền thống, các Linh Mục tu hội dòng Ngôi Lời thường thêm 3 mẫu tự S.V.D. vào sau tên mình Lm Nguyễn Trung Tây, S.V.D.

Nô Tỳ: Từ Hán Việt. Nô Tỳ 
奴婢: đầy tớ gái là từ ngữ được dùng để đặt tên cho một Tu Hội có danh xưng chính thức là Tu Hội Nô Tỳ Thiên Chúa. Tu Hội do Linh Mục Phạm Ngũ Nhạc thành lập tại giáo xứ An Lạc, Sàigòn.

Nữ Tử : Từ Hán Việt. Nữ Tử 
女子: con gái được dùng để dịch từ Filles/ Daughters trong tên của Hội Dòng Les Filles de la Charité de Saint Vincent de Paul - Daughters of Charity of St. Vincent de Paul, được viết tắt là D.C. mà người Việt gọi là Tu Đoàn Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn. Dòng được sáng lập năm 1633 tại Pháp. Tới năm 2009, dòng có 49 cộng đoàn tại Việt Nam.

Nữ Tỳ: Từ Hán Việt. Tỳ 
: (1) Đầy tớ gái. (2) Tiếng đàn bà xưa tự xưng nhún mình như tì tử 婢子 nghĩa là kẻ hèn mọn này. Danh xưng Nữ Tỳ trong tên hội dòng Nữ Tỳ Thánh Thể nói lên tôn chỉ của các chị dòng là tôn sùng Thánh Thể. Dòng được sáng lập năm 1970 tại Biên Hòa. Từ ngữ Nữ Tỳ là nói theo kiểu bình dân, dư chữ Nữ, vì trong chữ Tì  đã sẵn có chữ Nữ .

Phan Sinh: Tiếng phiên âm của từ Franciscain (Pháp ngữ) –Franciscan (Anh ngữ). Từ này do tên riêng của thánh Francisco mà ra và có nghĩa là đệ tử của thánh Francisco hay các thầy dòng Franciscains hay Franciscans. Người Việt phiên âm tên riêng Francisco là Phanxicô và từ Franciscain thành Phan Sinh. Thánh Phanxicô sinh tại Assisi nước Ý. Năm 1209 Ngài lập một dòng có tên quốc tế là Ordo Fratrum Minor – Order of Friars Minor, viết tắt là O.F.M. được chính thức dịch sang tiếng Việt là Dòng Anh Em Hèn Mọn nhưng dân chúng thường gọi là Dòng Phanxicô hay Dòng Anh Em Phan Sinh với ý nghiã là môn sinh của thánh Phanxicô. Theo truyền thống, các tu sĩ dòng này thường thêm 3 mẫu tự O.F.M. vào sau tên mình. Linh Mục Vương Đình Khởi,O.F.M. Người Tàu phiên âm tên San Francisco là 
舊金山 [ jiù jīn shān], Hán Việt đọc là Cựu Kim Sơn. Vào khoảng năm 1972-1973, Tỉnh Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam bắt đầu sử dụng từ Phan Sinh, nhưng chỉ sử dụng giới hạn, thường là như một tĩnh từ, chẳng hạn: “Anh em phan sinh”, “tinh thần phan sinh”, truyền thống phan sinh”, … nhưng không gọi là “Dòng Phan Sinh” hay là “Thánh Phan Sinh”.

Quan Phòng: 
  hai từ Hán Việt dùng để dịch từ Providence trong danh xưng của dòng có tên quốc tế là Sisters of Providence: Dòng Chúa Quan Phòng. Theo nguyên nghĩa, Quan : xem xét. Phòng : ngăn ngừa, đề phòng. Quan Phòng: xem xét đề phòng. Người Công Giáo Việt Nam hiểu Quan Phòng là sự an bài của Thiên Chúa. Người Tàu dịch chữ Providence là Thiên Ý  : ý trời hay Thiên Đạo  : đạo trời. Dòng Chúa Quan Phòng đến hoạt động tại Việt Nam từ nam 1876 tạo Cù Lao Giêng.

Salesien: Từ Pháp ngữ xuất phát từ tên họ De Sales của thánh Francois de Sales, cha thánh Joannes Don Bosco đã đặt tên cho các tu sĩ của ngài là Salesien (tiếng Pháp) hay Salesian (tiếng Anh) nghĩa là các đệ tử thánh Sales. Ban đầu Cha Gioan Don Bosco cùng với 17 cộng sự viên đã lập ra hội dòng Thánh Francois De Sales vào năm 1859. Sau này hội dòng được đặt tên chính thức là Societas Salesiana Sancti Joannes Don Bosco – Salesians of St. John Don Bosco, viết tắt là S.D.B. Dòng bắt đầu hoạt động tại Hà Nội từ năm 1952. Người Việt thường gọi dòng này là Dòng Salesien Don Bosco, Dòng Don Bosco hay Dòng Salesien. Theo truyền thống, các thành viên của Dòng Salesien Don Bosco thường thêm ba mẫu tự S. D. B vào sau tên mình. Linh Mục Nguyễn Hữu Quảng. S.D.B.

Thiện Bản: từ được dùng để dịch từ ngữ tiếng Pháp Ouevre trong danh xưng chính thức của dòng Ouevre de Saint Paul mà người Việt gọi là Dòng Thánh Phaolô Thiện Bản. Thiện Bản là từ Hán Việt. Thiện 
: Tốt. Bản: :quyển sách. Từ Thiện Bản nói lên tôn chỉ của dòng là hoạt động chuyên biệt về ngành in ấn những tác phẩm văn hóa tốt để loan báo Tin Mừng và nâng cao trình độ văn hóa quần chúng.

Tiểu Đệ: 
小弟 hai từ Hán Việt có nghĩa là em trai để dịch danh xưng chính thức của hội dòng có tên tiếng Pháp là Les Petit Frères de Jésus - Little Brothers of Jesus mà người Việt gọi là Dòng Tiểu Đệ Chúa Giêsu. Dòng được sáng lập năm 1933 tại Pháp và bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 1954.


Tiểu Muội: 
小妹 hai từ Hán Việt có nghĩa là em gái để dịch danh xưng chính thức của hội dòng có tên Pháp là Les Petites Soeurs du Pr. Charles de Foucauld mà người Việt gọi là Dòng Tiểu Muội Chúa Giêsu. Dòng được sáng lập vào năm 1939 tại sa mạc Sahara. Tại Việt Nam dòng có 6 cộng đoàn.


Trợ Thế: 
  từ Hán Việt có nghĩa là trợ giúp thế gian để dịch từ ngữ La Tinh Hospitalis trong tên của hội dòng Ordo Hospitalis – Brothers of the Hospitaller Order of St. John of God mà người Việt gọi là Dòng Trợ Thế Thánh Gioan Thiên Chúa, được viết tắt là O.H. Dùng từ Trợ Thế để dịch từ Hospitalis là bệnh viện để nói lên tôn chỉ của dòng là phục vụ bệnh nhân và người nghèo khổ. Dòng do Thánh Gioan Thiên Chúa sáng lập năm 1572 tại Tây Ban Nha và đang hoạt động tại 2 điạ điểm ở Việt Nam là Tân Hiệp và Quang Trung tỉnh Đồng Nai. LM. Savio Trần Ngọc Tuyên, O.H.

Vinh Sơn: Từ phiên âm của tên riêng Vincent. Năm 1625 thánh Vincent de Paul, người Pháp thành lập tu đoàn truyền giáo có tên quốc tế là Congregation Missionis viết tắt lá C.M. được dịch ra tiếng Việt là Tu Đoàn Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn. Theo truyền thống, các thành viên tu đoàn thường thêm hai mẫu tự C.M vào sau tên mình. Lm Nguyễn Viết Chung, C.M. 

Xitô: Từ phiên âm từ tiếng La Tinh Cistercianus trong tên của hội dòng Santus Ordo Cistercianus – St. Order of Cistercians, được viết tắt là S.O.C. và người Việt gọi là Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam hay vắn tắt hơn là Dòng Xitô. Dòng được sáng lập năm 1918 tại Quảng Trị. Hiện nay dòng Xitô có các Đan Viện ở nhiều nơi tại Việt Nam. Viện Phụ Phan Bảo Luyện, S.O.C. 

Xuân Bích: Tiếng phiên âm của địa danh Saint–Sulpice. Linh Mục Olier lập ra một hội tại giáo xứ Saint Sulpice ở Pháp và đặt tên cho hội là Compagnie des Prêtres de Saint Sulpice, viết tắt là P.S.S. được dịch ra tiếng Việt là Hội Linh Mục Xuân Bích. Từ « SULPICE » được phiên âm thành « XUÂN BÍCH », khởi hứng từ một câu thơ chữ Hán “ Xuân Thảo Bích Sắc 
春草碧色: sắc cỏ xuân xanh biếc”. Đầu thập niên 30 hội này đến hoạt động tại Hà Nội. Theo truyền thống, các Linh Mục thành viên hội thường thêm 3 mẫu tự P.S.S. vào sau tên mình. Linh Mục Vincent Bùi Đoàn, P.S.S.


Tác giả Nguyễn Long Thao
(Nguồn : http://www.simonhoadalat.com/)

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2016

ĐỐ VUI GIÁO LÝ - HTDC GX BIÊN HÀ, BÌNH DƯƠNG 7/8/2016


Gửi các cha và các anh chị,
Như đã thông báo, chúa nhật 7/8 có cho các thiếu nhi Hùng Dũng Biên Hà thi Đố Vui Giáo Lý, hình như là lần đầu tiên sau ....bao nhiêu năm thành lập giáo xứ. Coi như là làm nháp vậy...

- Bộ chuộng đèn là loại "xịn" có mạch cảm ứng, chỉ cho đội bấm trước có chuông và đèn
- Chương trình thi là những câu vắn tắt của Lòng Chúa Thương Xót (năm thánh 2016), Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (bổn mạng giáo xứ), Kinh nhật tụng, Những điều luật cơ bản của Hùng Tâm Dũng Chí... Làm nháp nên ...tạm chấp nhận được
- Nhiều sự đóng góp và ủng hộ của các anh chị gần xa nên phần thưởng....khá xôm tụ với bánh kẹo, truyện kinh thánh, truyện Hạnh Các Thánh, một số Bài Suy Niệm của giới trẻ (tiếc là không có của thiều nhi)
- Cũng có sự ủng hộ của các anh chị em, vất vả làm món....Bánh mì nướng muôi ớt. Khi đưa tên của món này, cha sở giáo xứ không nói gì nhưng các em Biên Hà phản đối kịch liệt: "Trưởng ơi! Nhà con ăn bánh mì thịt không à, ăn bánh mì với đường nữa. Sao Trưởng cho tụi con ăn bánh mì nướng muối ớt....Xooooời ơi, mặn lắm". bản thân thấy món này tuổi teen ở Saigon chuộng lắm mà chưa ăn bao giờ nên cũng....ngài ngại. Lỡ có các anh chị giáo xứ Hòa Hưng ủng hộ nên ...cũng nhận lời

Buổi thi cũng vui và tuy chưa tốt lắm nhưng hy vọng đây là một trong những chương trình sinh hoạt của thiếu nhi sau các buổi lễ chúa nhật dành riêng. Và ....bánh mì nướng muối ớt, thật xuất sắc với bánh mì nướng, mỡ hành, nước xốt, bò khô, đậu phộng, trứng cút...Ngooon ngoon

Xin cám ơn tất cả để mang tinh thần giáo dục các trẻ. Hẹn Trung Thu 2016 hay....


Nhất Trí-Đồng Tâm

Ninh và ace giáo xứ Hòa Hưng , Sài Gòn































Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

TÂM TÌNH NGƯ DÂN VỚI MẸ MARIA




Kính mời Bà Con nghe Thánh Ca và xem Video. Có bài AVE MARIA, kiệt tác của Schubert, do Helena Fischer hát rất thành kính, dễ thương.

Bài ''Tung Hô Mẹ Giáo Phận Vinh'' cũng rất hay, nhiều người nghe hoài, vẫn cứ thích.

TÂM TÌNH NGƯ DÂN

''Mẹ là Mẹ Giáo Phận Vinh'' (1)
Xin dâng lên Mẹ tâm tình con đây:
Miền Trung cá chết tràn đầy
Ngư dân thống khổ, tỏ bầy cùng ai?
Cúi xin Mẹ Chúa Ngôi Hai
Ra tay cứu vớt dân chài lầm than!
Mực, tôm, cá... chết từng đàn!
Dân lành vô tội kêu van, ''tỏ tình''
Cùng nhau sốt sắng đọc kinh
Hiệp dâng Thánh Lễ, tôn vinh Chúa Trời (2)
Đưa tay vuốt hàng lệ rơi
Ngư dân nhớ cá, biển khơi ngày nào
Tàu thuyền cập bến xôn xao
Vui như mở hội dạt dào tình thương!
Giờ đây toàn cảnh tai ương!
Nằm yên, thuyền nhớ trùng dương, dân chài...
Mẹ ôi, biển rộng, sông dài
Tan thương vì cảnh ''nhân tai'' hoành hành!!!

Kính tặng Giáo Phận Vinh
Phan văn Phước

Ghi chú:
(1)- Trích từ Thánh Ca: Tung hô mẹ Giáo Phận Vinh – YouTube
(2)- Xin mời nghe bài giảng trong Thánh Lễ:
Xin mời nghe thêm:
a- Qua nguyên kiệt tác của Schubert bằng tiếng Đức, người đẹp ''Ngư Dân'' nghiêm trang khẩn cầu với Mẹ:Helene Fischer - Ave Maria (German Version - Franz Schubert … (Tên họ ''Fischer'': Ngư Dân.)

b- Giáo phận Vinh đón tiếp Đức Cha Cao Đình Thuyên trở về sau chuyến công du ...

Vùng tệp đính kèm

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

VÀO KHUNG CỬA HẸP


SUY NIỆM
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN C - 21/8/2016


                                                                                   ĐTGM. GIUSE NGÔ QUANG KIỆT 
Trong mùa thi vào đại học vừa qua, có nhiều bạn học sinh đã bị chứng suy dinh dưỡng, mất ngủ, thậm chí bị tâm thần. Lý do là các bạn phải học rất nhiều, phải phấn đấu để được vào đại học. Đại học hiện tại là một khung cửa hẹp. Trường lớp có ít mà số lượng sinh viên mỗi năm mỗi tăng. Thế nên các học sinh phải hết sức phấn đấu mới được vào.
Cảnh các thí sinh chen chúc trước các cổng trường đại học làm tôi nhớ đến bài Tin Mừng hôm nay. Ai muốn vào Nước Trời cũng phải đi qua khung cửa hẹp.
Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp. Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người. Nhưng không phải tất cả mọi người vào được, vì vào Nước Trời đòi có những điều kiện cần thiết. Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu.
Trước hết phải phấn đấu hạ mình xuống. 
Ở đời người ta thường phấn đấu để vươn lên. Người ở địa vị thấp phấn đấu để được địa vị cao. Người hèn kém phấn đấu để được trọng vọng. Người phải phục vụ phấn đấu để được người khác phục vụ mình. Nhưng trong Nước Trời thì ngược lại. Phải phấn đấu để đi xuống. Phải phấn đấu để tìm chỗ thấp hèn nhất. Phải phấn đấu để phục vụ anh em. Như lời Chúa dậy: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”(Lc 14,11). “Khi anh được mời, hãy ngồi vào chỗ cuối”(Lc 14,10). “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ”(Lc 22,26). “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào”(Mc 10,15).
Sau đó phải phấn đấu để bé nhỏ lại
Thông thường ở đời người ta phấn đấu để to ra. Ai có nhà nhỏ phấn đấu để có nhà lớn hơn. Ai có ruộng vườn nhỏ cũng phấn đấu để vườn ruộng lớn rộng thêm. Ai cũng phấn đấu để có nhiều của cải hơn, có nhiều bằng cấp hơn, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn. Trái lại, người muốn vào Nước Trời phải phấn đấu để trở nên bé nhỏ. Phải phấn đấu để trở nên nghèo. Phải phấn đấu để bỏ bớt của cải đi. “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”(Mt 19, 21). “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”(Mt 5,3).
Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu.
Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình thẳm sâu. Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp. Là Thày, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ. Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã để bị đối xử như một đại tội phạm. Người đã bị vùi dập xuống tận bùn đen.
Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ. Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.
Chúa Giêsu đã mở đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã qua. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người phấn đấu hạ mình khiêm tốn và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết “từ bỏ mình, vác thập giá mình”mà theo Chúa. Amen.




        Qua Cửa Hẹp
    (Phỏng theo Lc13.22- 30)
    “ Hãy cố gắng vào qua cửa hẹp”
     Chúa dạy con học biết lối vào
          Thiên đường vĩnh phúc thanh cao
Tin Mừng Chúa hứa con nào dám quên…
     Ý cửa hẹp là nền công phúc,
     Hãy khôn ngoan tỉnh thức trông chờ
          Chờ ngày Chúa gọi bất ngờ
Vượt qua cửa Tử tới bờ Tình Thương…
    * Có những kẻ theo đường tục hoá
     Ngã gục ngay trước cửa Thiên Đình,
          Vì mang tội lỗi đầy mình,
Phải đày tới chốn ngục hình thảm thương.
     *Có những kẻ sống đời tiêu cực,
     Nghĩ rằng ta, chính thức hữu danh,
         Chẳng lo sống đạo thiệt tình
Làm sao xứng đáng hiển vinh muôn đời.
     *** Chúa cho biết: người thời Cựu Ước
     Áp ra ham, I sắc, Tiên Tri
          Biết bao vị thánh xưa kia
Mọi người có mặt chẳng hề thiếu ai...
         Vinh quang Nước Chúa muôn đời…
(Thế Kiên Dominic)             

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

ĐẤM NGỰC : MỘT HÀNH VI PHỤNG VỤ

LM. GIUSE PHẠM ĐÌNH ÁI, SSS
Một tín hữu viết thư hỏi rằng: “Theo như con biết, trong kinh Cáo mình, thực hành truyền thống của Giáo hội là khi đọc đến câu ‘lỗi tại tôi...mọi đàng’ thì mọi người đấm ngực tỏ lòng sám hối. Nhưng có người lại nói làm như vậy là sai. Vậy xin cha cho biết cử chỉ này còn được áp dụng không?”.
Bài viết sau đây không chỉ nhằm trả lời thắc mắc ở trên liên quan đến cử chỉ đấm ngực trong kinh Cáo Mình, mà còn mở rộng hơn để trình bày hành vi đấm ngực trong phụng vụ nói chung.
Bức tranh cổ về Thánh Giêrônimô (347-420) trong sa mạc
Ý nghĩa của cử chỉ đấm ngực
Chúng ta phải nói trước hết đến một bức tranh cổ về Thánh Giêrônimô (347-420) trong sa mạc vì sau khi chịu phép rửa năm 19 tuổi, thánh nhân đã quyết tâm hiến mình cho Chúa nên đã đến sống đời tu khổ hạnh khoảng hai năm trong sa mạc Chalcis (Syria), một nơi vừa hoang vu, đầy đá sỏi lại vừa nóng như thiêu đốt. Trong bức họa này, tác giả vẽ Thánh Giêrônimô quỳ gối trên đất và đấm ngực mình bằng một hòn đá như muốn tự ý xử phạt mình, bày tỏ lòng thống hối và buồn đau về quá khứ. Thật ra, không phải chỉ có Thánh Giêrônimô, hầu hết loài người đều tỏ dấu ăn năn bằng cách dùng tay đấm vào ngực mình. Đây là cử chỉ trong mọi nền văn hóa. Nhưng đối với Kitô giáo, nó mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi vì cử hành phụng vụ dạy chúng ta sống ơn gọi của mình bằng cách hoán cải mỗi ngày hầu tìm thấy niềm vui khi cảm nhận được tình thương và ơn tha thứ của Chúa.1
Thật vậy, đấm ngực biểu lộ sự buồn sầu, bất xứng, khiêm nhường và sám hối nhìn nhận thân phận tội lỗi của con người trước Thiên Chúa. Đấm ngực để xin Chúa thứ tha, muốn làm đẹp lòng Ngài hoặc xin Ngài ban cho một ân huệ. Tất cả những ý nghĩa trên đều có thể hàm chứa trong trường hợp viên thu thuế đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực mà rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương tôi là đứa tội lỗi!” (Lc 18,14), hay trong trường hợp các nhân chứng về cái chết của Đức Kitô trên Thập giá, họ “đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về” (Lc 23,48). Cử chỉ biểu tỏ lòng ăn năn này còn được tìm thấy trong nhiều đoạn Thánh Kinh khác nữa như: Nk 3,8; Mt 24,30; Mc 13,26; Lc 21,27.2
"Lạy Thiên Chúa, xin thương tôi là đứa tội lỗi" (Lc 18,14)
Đấm ngực để tỏ lòng thống hối vì tội lỗi bao giờ cũng phát xuất từ lòng chúng ta đúng như lời Thánh vịnh 51 viết rằng:
Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài... Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng. Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm. Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy (Tv 51, 4-12).
Chúng ta dùng tay đấm ngực vì tay trở thành ngôn ngữ tố cáo lòng chúng ta. Do lòng đã thuận nên mọi sự dữ mới phát sinh. Khi đấm ngực chúng ta mong ước Thiên Chúa sẽ ra tay mà ban tặng chúng ta một quả tim mới, sẽ đặt vào lòng chúng ta thần khí mới, loại quả tim chai đá ra khỏi thân mình chúng ta để chúng ta có thể lãnh nhận một quả tim mới bằng thịt mềm biết yêu thương (Ed 36,26). Khi đấm ngực, chúng ta biểu lộ sự sẵn lòng lột bỏ bất kỳ sự lười biếng thiêng liêng nào vốn đã nảy sinh do bóng đêm của tội lỗi và sự cứng cỏi của cõi lòng, tức là thoát khỏi sự thống trị của Thần Dữ.3 Thánh Giêrônimô (347-420) tuyên bố rằng sỡ dĩ chúng ta đấm ngực vì ngực là nơi chốn của những tư tưởng xấu xa, khi đấm ngực chúng ta muốn xua tan những tư tưởng này, chúng ta mong ước tâm hồn mình được thanh tẩy.4
Trong tác phẩm Sacred Signs được viết năm 1955, cha Guardini cho rằng đấm ngực có một ý nghĩa nội tâm, đó là hành động đánh thức hay thức tỉnh lương tâm để chúng ta biết hoán cải tâm hồn mình mà làm theo lời mời gọi của Chúa và quay về với Ngài. Đấm ngực được ngài nhìn nhận y như hành động tấn công vào cánh cửa thế giới nội tâm để làm cho chúng vỡ ra tan tành, là dấu chỉ hữu hình chúng ta đáp lại tiếng nói của Chúa: hãy sám hối, hãy ăn năn.

Thực hành đấm ngực trong phụng vụ
Ngay từ thế kỷ IV, Thánh Giêrônimô (347-420) và Thánh Augustinô (354-430) đã dạy rằng ngay khi nghe đọc kinh tới chữ “Tôi thú nhận” (confessio) thì các tín hữu phải đấm ngực đến độ âm thanh nổi lên ầm ầm trong thánh đường hầu đem ra ánh sáng những điều còn dấu kín trong lòng và nhờ hành vi này mà thanh tẩy những tội lỗi còn ẩn khuất nơi mình. Bên cạnh đó, thời các ngài, mỗi khi đọc tới câu ‘và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’ trong kinh Lạy Cha, thì cả linh mục và giáo dân cũng đều đấm ngực.5
Trước kia, khi chưa có sự canh tân của Công đồng Vatican II, đã có truyền thống là các giáo hữu đấm ngực khi đọc hay hát: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương ...” (Agnus Dei) và cả khi đọc lời kinh trước hiệp lễ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con...” (Domine non sun dignus). Vị tư tế cũng đấm ngực đang khi đọc (hay hát) kinh “Đây Chiên Thiên Chúa” (Agnus Dei) ngoại trừ trong Thánh lễ cầu hồn để tỏ cho thấy ngài đang nghĩ về người quá cố hơn là về chính mình. Cử chỉ đấm ngực khi đọc câu “Lạy Chiên Thiên Chúa...” được biết là đã tồn tại khoảng năm 1311. Còn cử chỉ đấm ngực khi đọc: “Lạy Chúa con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con...” đã xuất hiện năm 1499 từ bản thảo bằng tiếng Tây Ban Nha.6

LM. GIUSE PHẠM ĐÌNH ÁI, SSS
_____________________________
Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, translated from Italian by William McDonough, Dominic Serra, Ted Bertagni (Collegeville : Liturgical Press, 2009), 10.
2 Xc. A.G. Martimort, “Structure and Laws of the Liturgical Celebration” trong The Church at Prayer, Vol. I (Minnesota: The Liturgical Press, 1992), 186; Xc. Joseph Ratzinger, Der Geist der Liturgie (Verlag Herder Freiburg im Breisgau, 8th edition, 2007). Bản dịch Việt ngữ: “Tinh Thần Phụng vụ” từ bản tiếng Anh “The Spirit of Liturgy”. Dịch giả: Nguyễn Luật Khoa, ofm. (Nxb. Tôn Giáo, 2007), 223.
Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 32.
4 In Ezechiel, c. xviii trích lại trong Andrew Meehan, “Striking of the Breast” trong The Catholic Encyclopedia, Vol. 2 (New York: Robert Appleton Company, 1907) - 18 Oct. 2015<http://www.newadvent.org/cathen/02751a.htm>.
Xc. Lm. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2, 117.
6 Xc. Andrew Meehan, op. sit.

(Nguồn : http://www.cgvdt.vn/)