MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
CỦA HUYNH TRƯỞNG HÙNG TÂM DŨNG CHÍ
.
1- Huynh trưởng đại độ luôn luôn hy sinh bất kể .
2- Huynh trưởng hướng dẫn và làm gương
đi đầu mọi lúc mọi nơi .
3-Huynh trưởng nghĩ đến kẻ khác trước
giúp các em không một tí gì kiểu cách.
4- Huynh trưởng biết tùng phục triệt để,
để các em tùng phục mình.
5- Huynh trưởng biết tự chủ không mất nhẫn nại bao giờ.
6- Huynh trưởng vui luôn nhất là khi gặp trở ngại .
7- Huynh trưởng chịu lễ hy sinh ,
cầu nguyện cho các em Doàn mình .
8- Huynh trưởng gánh phần trách nhiệm Đoàn mình .
9- Huynh trưởng xem Chúa Giêsu nơi thầy cả,
phụ giúp người trong việc tông đồ .
10- Huynh trưởng chỉ muốn phần thưởng
là được hướng dẫn các em đến củng Chúa Giêsu .
Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012
Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012
THƯ GIÃN
KỶ NIỆM VUI
"GÀ ...Ở CÙNG CHA"
NTHH - USA
"GÀ ...Ở CÙNG CHA"
Cha Cố An Tôn có một trại gà lớn ở An hòa, gà thịt, gà đẻ trứng.....
rất nhiều .Các HTDC ai cũng rất thích vào xem trại gà .
Trong một thánh lễ
rất đông giáo dân tham dự , khi Cha Cố quay xuống , giang hai tay và nói : “Chúa
ở cùng anh chị em “ thì có tiếng nhanh
nhảu đáp lại rất to : “ Gà...Gà... ở
cùng Cha “. Các Trưởng và mọi người trố mắt nhìn .Thì ra có một Ấu hùng vừa bị ngọng, lại
vừa nói lắp tình cờ được xếp đứng gần micro Cha mới mua về cho nhà thờ .Hú vía
.
NTHH - USA
Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012
HỘI NGỘ
HỘI NGỘ
(Ghi nhớ lần găp mặt tại Ánh Linh, tháng 10-2012)
* * * * * * * * * * * *
Mừng chúc anh em giáo phận ta
Hôm nay có dip ghé chơi nhà
Huynh Trưởng Saigon tay rộng mở
Hoa lòng rộn rã khúc hoan ca
Mừng chúc anh em giáo phận ta
Tuy xa nhưng vẫn ước ao là :
Trao cùng nhịp đập tâm Hùng Dũng
Một ngày hội ngộ sẽ không xa
Vững lòng trông cậy phước ân Cha
Hùng Dũng luôn xum họp một nhà
Bao là mong ước – bao chờ đợi
Nhiệt huyết trong ta cất bước xa
Tay nắm chặt tay - Huynh Trưởng ta
Dặn lòng không bội ước ba hoa
Nhớ ơn Cha Cố - công gầy dựng
Hùng Dũng muôn đời ở trong ta
Thôi nhé cùng nhau tiến dâng Cha
Hùng Dũng vui tươi tới muôn nhà
Hang cùng ngõ hẻm ta rảo bước
Hùng Dũng trên đà huong bay xa
Đan Thụy (Vũ thị Lý )– Saigon
Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012
KHÓA 10: TẾ NHỊ
TRẦN DUY NHIÊN
Đối tượng hành động của một trưởng không phải là cái máy những là con người với tình cảm, với ý chí, với lòng tự trọng... Vì thế, bổn phận của người trưởng là biết rõ từng người trong tập thể mình chịu trách nhiệm. Không những biết tên tuổi, chỗ ở, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, mà còn phải biết tính tình, khả năng, xu hướng của họ. Điều này không phải là một chuyện quá khó nhưng nhiều khi trưởng không làm vì không nghĩ rằng quan trọng. Mặt khác, khi biết rõ về một người nghĩ rằng quan trọng. Mặt khác, khi biết rõ về một người thì người trưởng tỏ ra ‘thông cảm’ qua mức, nghĩa là tỏ ra dè dặt, cả nể và không dám yêu cầu cao... Cả hai thái độ - hoặc không muốn biết gì, hoặc biết rồi không muốn đòi hỏi mảy may - cảh ai thái độ ấy đều không phải là thái độ tế nhị. Người tế nhị luôn luôn tôn trọng phẩm giá của thành viên mình những không vì thế mà trở nên yếu hèn, không dám phê bình, không dám đặt yêu cầu cao. Người tế nhị là người biết thuyết phục mà không lớn tiếng, biết phê bình mà không nhục mạ.
Các trưởng của các tập thể tự nguyện thường rơi vào một trong hai thái cực sau:
- Một là nói lên khuyết điểm của thành viên, nhưng liền sau đó kể ra trăm ngàn lý do để biện bạch và bênh vực người có khuyết điểm đến độ khuyết điểm hầu như trở thành ưu điểm.
- Hai là phê bình hằn học hạn chế của thành viên khiến lòng tự ái của họ bị tổn thương.
Trong hai trường hợp, người trưởng đều thiếu tế nhị. Người trưởng là người có lý có tình. Tế nhị là phẩm chất của một người tự tin và tin tưởng vào mục đích của mình. Thiếu tự tin, người trưởng xử sự như một người hèn nhát chứ không phải là một người tế nhị. Người trưởng tế nhị là người biết tạo ra bầu không khí phấn khởi để tiến bộ, để mọi người góp sức vào việc chung; mọi hành vi khiến cho bầu không khí đó mất đi đều là hành vi thiếu tế nhị. Người trưởng tế nhị biết dùng lý trí để cưỡng bách và dùng tình cảm để kêu gọi, như thế người trưởng vừa được kính trọng vừa được mến thương.
Tóm lại, người tế nhị là người mà các thành viên cảm thấy giá trị mình được nâng cao khi cùng cộng tác trong việc chung.
Người trưởng thường bị phân vân khi thấy cần làm mất lòng một thành viên và bảo vệ nỗ lực của tập thể. Người trưởng tế nhị cần tôn trọng nguyên tắc này: sự tế nhị đối với mọi người cho phép mình tổn thương người làm cản trở công việc chung trong ý hướng giúp người ấy thăng tiến, nhưng người trưởng không có quyền gây tổn thương cho một người, vì lý do cá nhân của mình hoặc gây tổn thương một cách vô ích. Xét cho cùng, ta chỉ có quyền làm đau một người để khuyết điểm người đó không gây đau cho nhiều con người khác chứ không bao giờ có quyền tổn thương một con người để cho một công việc xảy ra vừa ý mình.
1. Bạn có cân nhắc kỹ càng những cách đối xử với tập thể để các thành viên đồng thời giữ được vừa tinh thần hăng say vừa tinh thần kỷ luật không?
2. Lời ăn tiếng nói của bạn có nhã nhặn không?
3. Khi có một thành viên làm hỏng việc tập thể, bạn có muốn ‘trả thù’ cho hả giận, hay muốn giúp đỡ để cho người ấy tiến lên cùng với tập thể?
4. Bạn có đủ uy tín khiến cho mọi lời tuyên dương của bạn là một sự động viên và mỗi lời phê bình của bạn là một khích thích vươn lên không?
5. Khi phê bình, bạn hằn học hay bạn trầm tĩnh nhưng dứt khoát?
6. Khi một thành viên có lỗi, bạn có gặp riêng người ấy trước để tìm hiểu rõ lý do không?
7. Có bao giờ phải phải hối hận vì đã phê bình không đúng chỗ, hay bỏ qua một lỗi lầm vì cả nễ không?
8. Khi một thành viên bị khó khăn, đau ốm, tai nạn, bạn có chạy ngay đến với người đó không?
1. Hãy nêu lên một vài trường hợp cụ thể để chứng minh rằng tế nhị không phải là xuề xòa, buông thả.
2. Tế nhị có đi ngược lại với uy quyền không? Tại sao?
Tưởng tượng một trường hợp cụ thể mà bạn phải phê bình. Bạn hãy phê bình vào máy cassette, sau đó tự đặt mình vào vị trí của người được phê bình nghe lại cassette và xét xem cách cư xử ấy có làm cho bạn tiến bộ không? Rút kinh nghiệm cho những lần động viên các thành viên của tập thể mình chịu trách nhiệm.
Anh em muốn được người ta làm cho anh em thế nào thì anh em hãy làm cho người ta như vậy (Lc 6, 31).
(tiengnoigiaodan.net)
TẾ NHỊ
I. - Gợi ý
Đối tượng hành động của một trưởng không phải là cái máy những là con người với tình cảm, với ý chí, với lòng tự trọng... Vì thế, bổn phận của người trưởng là biết rõ từng người trong tập thể mình chịu trách nhiệm. Không những biết tên tuổi, chỗ ở, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, mà còn phải biết tính tình, khả năng, xu hướng của họ. Điều này không phải là một chuyện quá khó nhưng nhiều khi trưởng không làm vì không nghĩ rằng quan trọng. Mặt khác, khi biết rõ về một người nghĩ rằng quan trọng. Mặt khác, khi biết rõ về một người thì người trưởng tỏ ra ‘thông cảm’ qua mức, nghĩa là tỏ ra dè dặt, cả nể và không dám yêu cầu cao... Cả hai thái độ - hoặc không muốn biết gì, hoặc biết rồi không muốn đòi hỏi mảy may - cảh ai thái độ ấy đều không phải là thái độ tế nhị. Người tế nhị luôn luôn tôn trọng phẩm giá của thành viên mình những không vì thế mà trở nên yếu hèn, không dám phê bình, không dám đặt yêu cầu cao. Người tế nhị là người biết thuyết phục mà không lớn tiếng, biết phê bình mà không nhục mạ.
Các trưởng của các tập thể tự nguyện thường rơi vào một trong hai thái cực sau:
- Một là nói lên khuyết điểm của thành viên, nhưng liền sau đó kể ra trăm ngàn lý do để biện bạch và bênh vực người có khuyết điểm đến độ khuyết điểm hầu như trở thành ưu điểm.
- Hai là phê bình hằn học hạn chế của thành viên khiến lòng tự ái của họ bị tổn thương.
Trong hai trường hợp, người trưởng đều thiếu tế nhị. Người trưởng là người có lý có tình. Tế nhị là phẩm chất của một người tự tin và tin tưởng vào mục đích của mình. Thiếu tự tin, người trưởng xử sự như một người hèn nhát chứ không phải là một người tế nhị. Người trưởng tế nhị là người biết tạo ra bầu không khí phấn khởi để tiến bộ, để mọi người góp sức vào việc chung; mọi hành vi khiến cho bầu không khí đó mất đi đều là hành vi thiếu tế nhị. Người trưởng tế nhị biết dùng lý trí để cưỡng bách và dùng tình cảm để kêu gọi, như thế người trưởng vừa được kính trọng vừa được mến thương.
Tóm lại, người tế nhị là người mà các thành viên cảm thấy giá trị mình được nâng cao khi cùng cộng tác trong việc chung.
Người trưởng thường bị phân vân khi thấy cần làm mất lòng một thành viên và bảo vệ nỗ lực của tập thể. Người trưởng tế nhị cần tôn trọng nguyên tắc này: sự tế nhị đối với mọi người cho phép mình tổn thương người làm cản trở công việc chung trong ý hướng giúp người ấy thăng tiến, nhưng người trưởng không có quyền gây tổn thương cho một người, vì lý do cá nhân của mình hoặc gây tổn thương một cách vô ích. Xét cho cùng, ta chỉ có quyền làm đau một người để khuyết điểm người đó không gây đau cho nhiều con người khác chứ không bao giờ có quyền tổn thương một con người để cho một công việc xảy ra vừa ý mình.
II. - Câu hỏi tự kiểm
1. Bạn có cân nhắc kỹ càng những cách đối xử với tập thể để các thành viên đồng thời giữ được vừa tinh thần hăng say vừa tinh thần kỷ luật không?
2. Lời ăn tiếng nói của bạn có nhã nhặn không?
3. Khi có một thành viên làm hỏng việc tập thể, bạn có muốn ‘trả thù’ cho hả giận, hay muốn giúp đỡ để cho người ấy tiến lên cùng với tập thể?
4. Bạn có đủ uy tín khiến cho mọi lời tuyên dương của bạn là một sự động viên và mỗi lời phê bình của bạn là một khích thích vươn lên không?
5. Khi phê bình, bạn hằn học hay bạn trầm tĩnh nhưng dứt khoát?
6. Khi một thành viên có lỗi, bạn có gặp riêng người ấy trước để tìm hiểu rõ lý do không?
7. Có bao giờ phải phải hối hận vì đã phê bình không đúng chỗ, hay bỏ qua một lỗi lầm vì cả nễ không?
8. Khi một thành viên bị khó khăn, đau ốm, tai nạn, bạn có chạy ngay đến với người đó không?
III. - Đề tài thảo luận
1. Hãy nêu lên một vài trường hợp cụ thể để chứng minh rằng tế nhị không phải là xuề xòa, buông thả.
2. Tế nhị có đi ngược lại với uy quyền không? Tại sao?
IV. - Rèn luyện
Tưởng tượng một trường hợp cụ thể mà bạn phải phê bình. Bạn hãy phê bình vào máy cassette, sau đó tự đặt mình vào vị trí của người được phê bình nghe lại cassette và xét xem cách cư xử ấy có làm cho bạn tiến bộ không? Rút kinh nghiệm cho những lần động viên các thành viên của tập thể mình chịu trách nhiệm.
V. - Phương châm
Anh em muốn được người ta làm cho anh em thế nào thì anh em hãy làm cho người ta như vậy (Lc 6, 31).
(tiengnoigiaodan.net)
Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012
KHÓA 9: CÔNG MINH
TRẦN DUY NHIÊN
Khi người trưởng đã có uy thế thì các thành viên đòi hỏi được đáng giá một cách công minh. Chỉ cần một sự bất công là uy thế của người đó có nguy cơ sụp đổ.
Công minh là tuyên dương hay phê bình chính xác, là hiểu được sự cố gắng của mỗi người, và nếu cần, hiểu được nguyên do đã làm cho một người không thể tiến thêm được nữa.
Công minh là không thiên vị bất cứ trường hợp nào, là đánh giá theo sự kiện chứ không theo tình cảm.
Công minh là tôn trọng quyền hạn mà mình đã giao phó.
Công minh là không qui trách nhiệm cho người khác khi mọi việc không xảy ra tốt đẹp, nhất là khi người thừa hành đã nỗ lực thi hành một mệnh lệnh vượt khả năng hoặc khi người ấy thi hành không đạt yêu cầu vì lệnh của mình ban ra không rõ ràng chính xác.
Cuối cùng, công minh là trung thực, là thực hiện thật tốt những gì mình đòi hỏi người khác làm, là không dành về mình một quyền lợi vật chất hay tinh thần trên công sức của người khác.
Người trưởng cần phải công minh. Thiếu công minh, người trưởng sẽ mất cả uy tín lẫn uy quyền, và bao nhiêu phẩm chất khác cũng bị tập thể quên đi.
1. Bạn có thường bênh vực cho thành viên khi gặp bất công không?
2. Bạn có thích làm nổi bật những thành tựu của thành viên mình không?
3. Bạn có ghê tởm sự giả dối không?
4. Khi bạn có một khuyết điểm hay phạm một sai lầm, bạn có nhận dễ dàng hay tìm cách chối quanh?
5. Bạn có trọng chữ Tín không?
6. Bạn có bao giờ tha thứ cho bản thân một lỗi lầm mà mình khiển trách người khác không?
7. Khi gặp một thất bại, bạn lãnh trách nhiệm hay đổ lỗi cho người khác hoặc cho hoàn cảnh?
8. Khi thành công, bạn có nhớ lại công sức của thành viên hay qui tất cả vào cho mình.
9. Có bao giờ bạn thiên vị vì cản tình hay vì cả nể không?
10. Có bao giờ bạn lấy một sáng kiến của thành viên làm của mình và tự hào về sáng kiến đó không?
- Bạn hiểu sự công minh như thế nào?
- Đối với bạn, sự công minh có tầm quan trọng như thế nào trong các phẩm chất của người trưởng?
Hãy ghi lại những hạn chế trong khi trả lời những câu hỏi tự kiểm và tìm biện pháp xóa bỏ những hạn chế đó cho đến khi dứt hẳn.
Lời của anh em phải là: có thì nói có, không thì nói không, kỳ dư là tự ác tà mà ra. (Mt 5, 37)
(tiengnoigiaodan)
CÔNG MINH
I. - Gợi Ý
Khi người trưởng đã có uy thế thì các thành viên đòi hỏi được đáng giá một cách công minh. Chỉ cần một sự bất công là uy thế của người đó có nguy cơ sụp đổ.
Công minh là tuyên dương hay phê bình chính xác, là hiểu được sự cố gắng của mỗi người, và nếu cần, hiểu được nguyên do đã làm cho một người không thể tiến thêm được nữa.
Công minh là không thiên vị bất cứ trường hợp nào, là đánh giá theo sự kiện chứ không theo tình cảm.
Công minh là tôn trọng quyền hạn mà mình đã giao phó.
Công minh là không qui trách nhiệm cho người khác khi mọi việc không xảy ra tốt đẹp, nhất là khi người thừa hành đã nỗ lực thi hành một mệnh lệnh vượt khả năng hoặc khi người ấy thi hành không đạt yêu cầu vì lệnh của mình ban ra không rõ ràng chính xác.
Cuối cùng, công minh là trung thực, là thực hiện thật tốt những gì mình đòi hỏi người khác làm, là không dành về mình một quyền lợi vật chất hay tinh thần trên công sức của người khác.
Người trưởng cần phải công minh. Thiếu công minh, người trưởng sẽ mất cả uy tín lẫn uy quyền, và bao nhiêu phẩm chất khác cũng bị tập thể quên đi.
II. - Câu hỏi tự kiểm
1. Bạn có thường bênh vực cho thành viên khi gặp bất công không?
2. Bạn có thích làm nổi bật những thành tựu của thành viên mình không?
3. Bạn có ghê tởm sự giả dối không?
4. Khi bạn có một khuyết điểm hay phạm một sai lầm, bạn có nhận dễ dàng hay tìm cách chối quanh?
5. Bạn có trọng chữ Tín không?
6. Bạn có bao giờ tha thứ cho bản thân một lỗi lầm mà mình khiển trách người khác không?
7. Khi gặp một thất bại, bạn lãnh trách nhiệm hay đổ lỗi cho người khác hoặc cho hoàn cảnh?
8. Khi thành công, bạn có nhớ lại công sức của thành viên hay qui tất cả vào cho mình.
9. Có bao giờ bạn thiên vị vì cản tình hay vì cả nể không?
10. Có bao giờ bạn lấy một sáng kiến của thành viên làm của mình và tự hào về sáng kiến đó không?
III. - Đề tài thảo luận
- Bạn hiểu sự công minh như thế nào?
- Đối với bạn, sự công minh có tầm quan trọng như thế nào trong các phẩm chất của người trưởng?
IV. - Rèn luyện
Hãy ghi lại những hạn chế trong khi trả lời những câu hỏi tự kiểm và tìm biện pháp xóa bỏ những hạn chế đó cho đến khi dứt hẳn.
V. - Phương châm
Lời của anh em phải là: có thì nói có, không thì nói không, kỳ dư là tự ác tà mà ra. (Mt 5, 37)
(tiengnoigiaodan)
Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012
KHÓA 8 : UY QUYỀN
TRẦN DUY NHIÊN
Người trưởng luôn ở vị thế phải ra lệnh hay ít ra là phải truyền lệnh, nghĩa là xác định cho mọi người trong tập thể vị trí và công việc mình phải làm để biến tập thể thành một khối thống nhất, hướng về một mục tiêu nhất định. Điều này không phải là dễ, vì người trưởng trong nhiều trường hợp cũng chỉ là một thành viên của tập thể và không có gì trổi vượt trên người khác. Vả lại, ra lệnh là đòi hỏi hành động, mà hành động có nghĩa là tập thể phải bỏ thêm công sức. Ra lệnh là đòi buộc mọi người vượt qua chính mình, đòi hỏi người khác đi ngược lại với cái quy luật lười biếng luôn luôn tiềm tàng trong mỗi con người. Đòi hỏi như thế thật là khó. Nhiệm vụ của người trưởng là taọ một bầu không khí thuận lợi để cho mỗi người đóng góp hết sức mình. Một thủ lãnh có tài là người mà chỉ sự hiện diện là đủ cho mọi người tiến lên.
Đừng tưởng các thành viên trong tập thể đồng tình với một trưởng xuề xòa ba phải. Cố nhiên, có một số người sẽ lạm dụng nhưng rồi sau đó lại phê phán khắt khe và chỉ trích người trưởng không biết tổ chức và quản lý. Người trưởng qua dễ dãi, để cho tập thể sa sút, không bao giờ nhận được cảm tình thực sự của các thành viên, nhưng chỉ là sự coi thường. Những thành viên tích cực nhất dần dần cũng trở nên tiêu cực vì không ai muốn góp sức và một tập thể mà ai muốn làm gì thì làm. Sự cứng rắn của một trưởng là một đảm bảo và một động lực cho các thành viên có tinh thần, đồng thời cũng là một sức ép đối với những thành viên tiêu cực mà bất cứ tập thể nào cũng có, không nhiều thì ít. Những người này chỉ mong trưởng chùn bước là họ buông xuôi.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Một trưởng yêu cầu cao nhiều khi có lợi cho tập thể hơn vì tránh cho tập thể những vấp váp nặng nề trong chuyện lớn. Nhiều trưởng có những điều kiện bẩm sinh như vóc dáng, nét mặt, giọng nói dễ làm cho tập thể sẵn sàng nghe lời, nhưng người trưởng nào cũng có thể tự rèn luyện cho mình các phẩm chất tạo nên uy tín.
Một người trưởng càng xác tín vào mục đích mà mình hướng dẫn tập thể đi đến, thì uy quyền mình càng gia tăng. Uy quyền người trưởng gia tăng thì không hề phương hại đến cá tính từng thành viên trong tập thể, ngược lại, uy quyền ấy giúp mỗi người mau trưởng thành hơn vì đã được tập luyện để quên mình mà hiến dâng cho tập thể nghĩa là cho tha nhân.
1. Bạn có biết rằng uy quyền không nằm trong nghệ thuật truyền lệnh mà là nghệ thuật làm cho người khác thi hành mệnh lệnh không?
2. Bạn có sợ hãi khi phải ra lệnh hoặc ngược lại, bạn thích ra lệnh để mà ra lệnh không?
3. Trước khi ra lệnh, bạn có cân nhắc chăng để thấy:
- lệnh ấy cần thiết
- những người nhận lệnh có khả năng thực hiện.
4. Bạn có phải là hạng trưởng năn nỉ thành viên thi hành một mệnh lệnh, hoặc ngược lại, bạn có tỏ ra vênh váo vì có người thi hành mệnh lệnh của mình không?
5. Khi ban hành một lệnh, bạn có quyết tầm theo đuổi để lệnh đó được thực thi không?
6. Bạn có hiểu rằng người trưởng không có quyền đánh mất uy thế của mình, và có bổn phận làm cho người khác tôn trọng uy thế đó không?
7. “Một lệnh đưa ra phải ngắn gọn, nhưng rõ ràng và đầy đủ”. Bạn có tôn trọng nguyên tắc đó không?
8. Khi ban hành lệnh, bạn có phân công người chịu trách nhiệm thi hành, nói rõ yêu cầu và thời hạn không?
9. Khi chưa chắc người thừa hành đã hiểu lệnh, bạn có yêu cầu họ nhắc lại không?
10. Khi tập thể không tôn trọng uy quyền của bạn, bạn có nghĩ rằng bạn có lỗi đối với tập thể không?
Muốn có uy tín và uy quyền, người trưởng phải có những điều kiện gì?
1. Nhiều lần trong ngày, khi làm một việc hay bảo người khác làm một việc, bạn hãy trả lời thật nhanh những câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Lúc nào? Thế nào?
2. Tưởng tượng một số mệnh lệnh phải truyền rồi viết lại trong một nôi dung ngắn gọn nhất, nhưng đầy đủ và rõ ràng.
Ngài dạy dỗ người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các ký lục. (Mt 7, 28)
(tiengnoigiaodan)
KHOÁ 8
UY QUYỀN
I. - Gợi Ý
Người trưởng luôn ở vị thế phải ra lệnh hay ít ra là phải truyền lệnh, nghĩa là xác định cho mọi người trong tập thể vị trí và công việc mình phải làm để biến tập thể thành một khối thống nhất, hướng về một mục tiêu nhất định. Điều này không phải là dễ, vì người trưởng trong nhiều trường hợp cũng chỉ là một thành viên của tập thể và không có gì trổi vượt trên người khác. Vả lại, ra lệnh là đòi hỏi hành động, mà hành động có nghĩa là tập thể phải bỏ thêm công sức. Ra lệnh là đòi buộc mọi người vượt qua chính mình, đòi hỏi người khác đi ngược lại với cái quy luật lười biếng luôn luôn tiềm tàng trong mỗi con người. Đòi hỏi như thế thật là khó. Nhiệm vụ của người trưởng là taọ một bầu không khí thuận lợi để cho mỗi người đóng góp hết sức mình. Một thủ lãnh có tài là người mà chỉ sự hiện diện là đủ cho mọi người tiến lên.
Đừng tưởng các thành viên trong tập thể đồng tình với một trưởng xuề xòa ba phải. Cố nhiên, có một số người sẽ lạm dụng nhưng rồi sau đó lại phê phán khắt khe và chỉ trích người trưởng không biết tổ chức và quản lý. Người trưởng qua dễ dãi, để cho tập thể sa sút, không bao giờ nhận được cảm tình thực sự của các thành viên, nhưng chỉ là sự coi thường. Những thành viên tích cực nhất dần dần cũng trở nên tiêu cực vì không ai muốn góp sức và một tập thể mà ai muốn làm gì thì làm. Sự cứng rắn của một trưởng là một đảm bảo và một động lực cho các thành viên có tinh thần, đồng thời cũng là một sức ép đối với những thành viên tiêu cực mà bất cứ tập thể nào cũng có, không nhiều thì ít. Những người này chỉ mong trưởng chùn bước là họ buông xuôi.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Một trưởng yêu cầu cao nhiều khi có lợi cho tập thể hơn vì tránh cho tập thể những vấp váp nặng nề trong chuyện lớn. Nhiều trưởng có những điều kiện bẩm sinh như vóc dáng, nét mặt, giọng nói dễ làm cho tập thể sẵn sàng nghe lời, nhưng người trưởng nào cũng có thể tự rèn luyện cho mình các phẩm chất tạo nên uy tín.
Một người trưởng càng xác tín vào mục đích mà mình hướng dẫn tập thể đi đến, thì uy quyền mình càng gia tăng. Uy quyền người trưởng gia tăng thì không hề phương hại đến cá tính từng thành viên trong tập thể, ngược lại, uy quyền ấy giúp mỗi người mau trưởng thành hơn vì đã được tập luyện để quên mình mà hiến dâng cho tập thể nghĩa là cho tha nhân.
II. - Câu hỏi tự kiểm
1. Bạn có biết rằng uy quyền không nằm trong nghệ thuật truyền lệnh mà là nghệ thuật làm cho người khác thi hành mệnh lệnh không?
2. Bạn có sợ hãi khi phải ra lệnh hoặc ngược lại, bạn thích ra lệnh để mà ra lệnh không?
3. Trước khi ra lệnh, bạn có cân nhắc chăng để thấy:
- lệnh ấy cần thiết
- những người nhận lệnh có khả năng thực hiện.
4. Bạn có phải là hạng trưởng năn nỉ thành viên thi hành một mệnh lệnh, hoặc ngược lại, bạn có tỏ ra vênh váo vì có người thi hành mệnh lệnh của mình không?
5. Khi ban hành một lệnh, bạn có quyết tầm theo đuổi để lệnh đó được thực thi không?
6. Bạn có hiểu rằng người trưởng không có quyền đánh mất uy thế của mình, và có bổn phận làm cho người khác tôn trọng uy thế đó không?
7. “Một lệnh đưa ra phải ngắn gọn, nhưng rõ ràng và đầy đủ”. Bạn có tôn trọng nguyên tắc đó không?
8. Khi ban hành lệnh, bạn có phân công người chịu trách nhiệm thi hành, nói rõ yêu cầu và thời hạn không?
9. Khi chưa chắc người thừa hành đã hiểu lệnh, bạn có yêu cầu họ nhắc lại không?
10. Khi tập thể không tôn trọng uy quyền của bạn, bạn có nghĩ rằng bạn có lỗi đối với tập thể không?
III. - Đề tài thảo luận
Muốn có uy tín và uy quyền, người trưởng phải có những điều kiện gì?
IV. - Rèn luyện
1. Nhiều lần trong ngày, khi làm một việc hay bảo người khác làm một việc, bạn hãy trả lời thật nhanh những câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Lúc nào? Thế nào?
2. Tưởng tượng một số mệnh lệnh phải truyền rồi viết lại trong một nôi dung ngắn gọn nhất, nhưng đầy đủ và rõ ràng.
V. - Phương Châm
Ngài dạy dỗ người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các ký lục. (Mt 7, 28)
(tiengnoigiaodan)
Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012
KHÓA 7 : TINH THẦN ĐOÀN KẾT
TRẦN DUY NHIÊN
Trần Duy Nhiên
Muốn thành công, người trưởng phải có tinh thần đoàn kết. Có đoàn kết mới phát huy trí lực và ý chí tập thể. Khi các trưởng thiếu đoàn kết thì cả tập thể trở nên lục đục bời vì hai trường hợp có thể xảy ra:
- Một là tập thể sẽ chia làm hai phe để ủng hộ người này chống lại người kia và những gì phe này xây dựng thì phe kia đạp đổ.
- Hai là cả tập thể sẽ coi thường cả nhóm trưởng vì họ không đủ tư cách lãnh đạo.
Giữ tinh thần đoàn kết: đó là vấn đề sống chết. Trong lời nguyện hiến tế, chúa Yêsu đã xem sự hiệp nhất là yếu tố căn bản của các tông đồ, nghĩa là nhóm trưởng mà Ngài để lại trong thế gian. Ngài cầu nguyện: “Xin cho họ hiệp nhất nên một như Cha và Con là một”.
Chúng ta không ngây thơ đến độ tưởng rằng gìn giữ sự đoàn kết giữa các trưởng là một điều dễ dàng, nhất là khi đoàn kết mà vẫn phải thẳng thắn đấu tranh, phê bình.
Các trưởng đều là những người có cá tính và vì vậy họ dễ va chạm nhau. Biết như thế, mỗi người trưởng phải quyết tâm thông cảm người khác, mỗi người phải biết đứng vào chỗ của bạn mình để xem xét vấn đề, chỉ có thế thì lời phê bình góp ý mới thật sự là một phương tiện giúp nhau cùng tiến bộ.
Tuy nhiên, thông cảm không phải là xuề xòa, ba phải, bỏ qua những hạn chế của nhau; nếu thiếu đấu tranh thẳng thắn thì không có một sự đoàn kết thực sự. Sự dối trá luôn luôn làm hỏng tinh thần đoàn kết vì sẽ làm cho các trưởng nghi ngại lẫn nhau. Thế nhưng phải thẳng thắn trong tinh thần yêu thương và cởi mở, nghĩa là không bao giờ lên án người trưởng khác.
Các trưởng của một tập thể đều cùng nhắm một mục tiêu mà phấn đấu, vì vậy, những điều khác biệt phần nhiều là khác biệt về hình thức hơn là về nội dung; chỉ cần nhắc lại cho nhau mục tiêu ấy là mọi chuyện sẽ được giải tỏa dễ dàng.
Đối với các trưởng trong những tổ chức Tin Mừng, thì mục tiêu thật rõ: làm cho hình ảnh Chúa Kitô rõ nét hơn trong lòng mọi người.
Ý thức liên tục như thế, các trưởng sẽ biết đấy tranh thẳng thắn và cởi mở. Có được tinh thần thẳng thắn và cởi mở thì các trưởng sẽ là một khối đoàn kết. Và đoàn kết là sức mạnh.
Tinh thần đoàn kết đòi hỏi mình từ bỏ cá tính hay giúp mình triển nở cá tính?
Trong tuần này, tìm đến một trưởng mà mình thấy ít thông cảm nhất để trao đổi và đấu tranh trong tinh thần đặt mình vào vị trí của người ấy.
Điều Thầy truyền cho anh em là hãy yêu thương nhau. (Gn 15, 17)
(tiengnoigiaodan)
KHÓA 7
TINH THẦN ĐOÀN KẾT
Trần Duy Nhiên
I. - Gợi ý
Muốn thành công, người trưởng phải có tinh thần đoàn kết. Có đoàn kết mới phát huy trí lực và ý chí tập thể. Khi các trưởng thiếu đoàn kết thì cả tập thể trở nên lục đục bời vì hai trường hợp có thể xảy ra:
- Một là tập thể sẽ chia làm hai phe để ủng hộ người này chống lại người kia và những gì phe này xây dựng thì phe kia đạp đổ.
- Hai là cả tập thể sẽ coi thường cả nhóm trưởng vì họ không đủ tư cách lãnh đạo.
Giữ tinh thần đoàn kết: đó là vấn đề sống chết. Trong lời nguyện hiến tế, chúa Yêsu đã xem sự hiệp nhất là yếu tố căn bản của các tông đồ, nghĩa là nhóm trưởng mà Ngài để lại trong thế gian. Ngài cầu nguyện: “Xin cho họ hiệp nhất nên một như Cha và Con là một”.
Chúng ta không ngây thơ đến độ tưởng rằng gìn giữ sự đoàn kết giữa các trưởng là một điều dễ dàng, nhất là khi đoàn kết mà vẫn phải thẳng thắn đấu tranh, phê bình.
Các trưởng đều là những người có cá tính và vì vậy họ dễ va chạm nhau. Biết như thế, mỗi người trưởng phải quyết tâm thông cảm người khác, mỗi người phải biết đứng vào chỗ của bạn mình để xem xét vấn đề, chỉ có thế thì lời phê bình góp ý mới thật sự là một phương tiện giúp nhau cùng tiến bộ.
Tuy nhiên, thông cảm không phải là xuề xòa, ba phải, bỏ qua những hạn chế của nhau; nếu thiếu đấu tranh thẳng thắn thì không có một sự đoàn kết thực sự. Sự dối trá luôn luôn làm hỏng tinh thần đoàn kết vì sẽ làm cho các trưởng nghi ngại lẫn nhau. Thế nhưng phải thẳng thắn trong tinh thần yêu thương và cởi mở, nghĩa là không bao giờ lên án người trưởng khác.
Các trưởng của một tập thể đều cùng nhắm một mục tiêu mà phấn đấu, vì vậy, những điều khác biệt phần nhiều là khác biệt về hình thức hơn là về nội dung; chỉ cần nhắc lại cho nhau mục tiêu ấy là mọi chuyện sẽ được giải tỏa dễ dàng.
Đối với các trưởng trong những tổ chức Tin Mừng, thì mục tiêu thật rõ: làm cho hình ảnh Chúa Kitô rõ nét hơn trong lòng mọi người.
Ý thức liên tục như thế, các trưởng sẽ biết đấy tranh thẳng thắn và cởi mở. Có được tinh thần thẳng thắn và cởi mở thì các trưởng sẽ là một khối đoàn kết. Và đoàn kết là sức mạnh.
II. - Câu Hỏi Tự Kiểm.
- Bạn có đặt mình vào chỗ người khác dễ dàng không?
- Bạn có cố gắng nhìn ưu điểm của những người quanh bạn hơn là những nhược điểm của họ chăng?
- Bạn có chấp nhận dễ dàng là người khác có quyền suy nghĩ không giống như bạn không?
- Trong những lần tranh luận, bạn có cố gắng tìm hiểu lý lẽ của người đối thoại không?
- Bạn có nghĩ rằng khi có một sự bất đồng thì đương nhiên phải có một bên hoàn toàn đúng và một bên hoàn toàn sai không?
- Hay ngược lại bạn nghĩ rằng mỗi bên đều có phần lý và có phần cần phải bổ túc?
- Khi tranh luận, giọng nói bạn có gắt gỏng không?
- Bạn có biết rằng làm cho ai đó đóng cửa miệng thì cũng làm cho họ đóng cửa lòng không?
- Khi có một mối bất hòa với một trưởng khác, bạn có nghĩ rằng mình phải là người đi bước trước để giải quyết càng sớm càng tốt không?
- Bạn có bao giờ biết ‘xin lỗi’ vì đã từng cố chấp chưa?
III. - Đề Tại Thảo Luận
Tinh thần đoàn kết đòi hỏi mình từ bỏ cá tính hay giúp mình triển nở cá tính?
IV. - Rèn Luyện
Trong tuần này, tìm đến một trưởng mà mình thấy ít thông cảm nhất để trao đổi và đấu tranh trong tinh thần đặt mình vào vị trí của người ấy.
V. - Phương Châm.
Điều Thầy truyền cho anh em là hãy yêu thương nhau. (Gn 15, 17)
(tiengnoigiaodan)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)