Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

CÂU CHUYỆN VEN ĐƯỜNG


Câu chuyện ven đường.
Sưu tầm.
Một số người thoảng qua cuộc đời ta,
Một số khác ở lại đôi chút và ghi dấu trong tim ta,
Và từ dạo đó, ta dường như không còn như xưa nữa.
Khuyết danh.

Trên một con đường vắng, một chiếc xe đang phóng nhanh chợt đột ngột thắng gấp lại và tấp vào lề đường.
Ai đó vừa ném một viên đá vào cánh cửa chiếc xe.
Bước ra khỏi xe, liếc nhìn chỗ xe bị ném, người lái xe bực tức chạy nhanh đến tóm ngay thằng bé đứng gần đó – chắc chắn nó là tác giả của vết trầy trên chiếc xe.

Trước đó anh đã thấy nó vẫy xe, chắc là để đi nhờ. “không cho đi nhờ mà mày làm như vậy hả?”.
Anh vừa gằn giọng vừa nắm chặt cổ áo đẩy cậu bé sát vào chiếc xe…

Cậu bé lắp bắp sợ hãi: “Em xin lỗi! nhưng em… em… không biết làm cách nào khác. Nếu em không ném vào xe của anh thì anh đã không dừng xe… Nãy giờ em đã vẫy biết bao nhiêu xe mà không có ai chịu dừng”.

Nói đến đó, nước mắt cậu bé lăn dài trên má. Cậu chỉ tay về vệ cỏ phía bên kia đường. “Có một người… anh ấy bị ngã và chiếc xe lăn của anh ấy cũng ngã. Em tình cờ đi ngang qua thấy vậy nhưng không thể đỡ nổi anh ấy vì anh ấy nặng quá”.

Giọng ngắt quãng vì những tiếng nấc liên tục, cậu bé nài nỉ: “Anh có thể giúp em đưa anh ấy trở lại chiếc xe lăn được không ạ? Anh ấy ngã chắc là đau và đang bị chảy máu”.

Lời nói của cậu bé khiến anh thanh niên không thể thốt lên được lời nào.
Anh thấy cổ mình như nghẹn lại vì bất ngờ và xúc động.
Anh đến đỡ người bị ngã trở lại ngồi ngay ngắn trên chiếc xe lăn, băng vết thương và cùng cậu bé kéo xe lên đường.
Người bị ngã cảm ơn anh rồi chiếc xe bắt đầu lăn đi về phía đường ngược lại, cậu bé phụ đẩy phía sau.
Anh dõi mắt nhìn theo cho đến khi hình ảnh cậu bé và chiếc xe lăn khuất hẳn.

Anh bước thật chậm về phía chiếc xe của mình, cảm giác giận dữ trong anh không còn nữa và những bước chân ngập ngừng cũng không thể diễn tả hết tâm trạng của anh lúc này.
Anh quyết định không sửa lại vết trầy trên xe.
Anh muốn nó sẽ nhắc anh về câu chuyện xúc động hôm nay, về một điều mà trước nay anh không để ý đến và cũng không có thời gian để ý đến.

Anh đã không nhận ra, không có được lòng trắc ẩn như cậu bé kia, anh đã tiếc thời gian và đi quá nhanh đến nỗi phải có một ai đó ném một viên đá mới làm anh dừng lại.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

SƠ CẤP CỨU KHI ĐI CẮM TRẠI , DÃ NGOẠI (6)






     6- NGỘ ĐỘC THỨC ĂN 
       Ngộ độc thức ăn hay ngộ độc thực phẩm là các biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những loại thực phẩm nhiễm khuẩn, nhiễm độc, hoặc có chứa chất gây ngộ độc, hoặc thức ăn bị biến chất, ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia …
        Ngộ độc thức ăn đôi khi không chỉ xảy ra cho một cá nhân, có khi là cả một gia đình hoặc tập thể ăn cùng một loại thức ăn đó.
       a)    Cách nhận biết một người bị ngộ độc thức ăn

        Sau khi ăn hay uống một thực phẩm bị nhiễm độc (sau vài phút, vài giờ, thậm chí có thể sau một ngày), người bệnh đột ngột có những triệu chứng:
-       buồn nôn và nôn ngay, có khi nôn cả ra máu,
-       đau bụng
-       đi ngoài nhiều lần (phân nước, có thể lẫn máu),
-       có thể không sốt hoặc sốt cao trên 38oC.
-       đôi khi ,  còn có thể có các triệu chứng thần kinh và toàn thân như nhức mỏi cơ thể, mê sảng, co giật...
         Ở người cao tuổi và trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, các triệu chứng này thường nặng.
        Nếu nôn nhiều lần và đi ngoài nhiều lần, người bệnh sẽ dễ bị mất nước, mất chất điện giải dẫn đến bị trụy tim mạch và sốc. Vì thế phải rất lưu ý đến những dấu hiệu mất nước, nhất là đối với những người nôn nhiều trên 5 lần và đi ngoài phân lỏng trên 5 lần, sốt cao, miệng khô, môi khô, mắt trũng, khát nước (cần lưu ý: người già hay bị nặng lại không kêu khát do tuổi cao bị mất cảm giác khát), mạch nhanh, thở nhanh sâu, mệt lả, hay co giật, nước tiểu ít, sẫm màu.

      b)  Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm

        Những  nguyên nhân chính gây ngộ độc hay gặp, đó là :
-       do hóa chất bảo quản thực phẩm (thuốc trừ sâu, hóa chất chống sâu mọt...), do hóa chất dùng trong trong chế biến thực phẩm (ví dụ phẩm màu trong các loại bánh, xôi, rượu...)
-       thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như thịt, cá, trứng, giàu đạm, rất dễ trở thành môi trường tốt cho các vi sinh vật, nhất là vi khuẩn gây bệnh phát triển, và khi đó thức ăn biến thành chất độc.
-       còn có thể là do thức ăn và nước uống bị nhiễm chất độc như: kim loại (asen, kẽm, chì...), các chất hữu cơ, các thuốc diệt côn trùng, vật hại (rau quả bị dính các hóa chất trừ sâu, chất bảo quản chống thối rữa).
-       Bên cạnh đó còn có các siêu vi khuẩn, độc tố của chúng tiết ra, các nấm độc có trong thực phẩm, các chất độc có tự nhiên trong rau, quả, thịt như: nấm độc, măng , lá ngón, cá nóc độc, cà độc dược, gan cóc, trứng cóc, vỏ sắn, mật cá trắm, nọc rắn, nọc ong...

       Một số đối tượng thực phẩm có nguy cơ cao gây ra ngộ độc:
·         Ăn thịt gỏi hay thịt chưa chín kỹ.
·         Ăn cá và hải sản (trainghêucuaghẹ) tươi sống hay chưa chín kỹ.
·         Ăn các món có trứng gà chưa hoàn toàn được nấu kỹ
·         Ăn các món gỏi
·         Ăn một số loại rau sống như cải bruxen, đậu.
·         Uống nước trái cây chưa được diệt khuẩn.
·         Sữa và các sản phẩm từ sữa chưa qua diệt khuẩn.

      c) Sơ cứu
       Sơ cứu khi phát hiện nạn nhân bị ngộ độc thực phẩm theo nguyên tắc sau :
      * Hạn chế độc tố ngấm vào cơ thể
      * Bù nước cho bệnh nhân
      * Không uống thuốc cầm tiêu chảy

      Thực hiện các bước sau : 
- Nếu bị ngộ độc thức ăn, phải ngừng  sử dụng ngay món đó.
- Khẩn trương gây nôn cho bệnh nhân, nôn càng nhiều càng tốt để đẩy hết thức ăn ra ngoài. Nếu  nạn nhân còn tỉnh táo cần làm cho chất độc lẫn trong thức ăn đào thải ra ngoài càng nhanh càng tốt, bằng cách dùng hai ngón tay để ngoáy họng hay dùng một thìa nhỏ hoặc tăm pon đưa vào gốc lưỡi (cẩn thận tránh làm xây sát miệng) để gây nôn. Khi bệnh nhân nôn, để đầu cúi thấp hơn ngực, tránh bị sặc vào phổi.
Trong trường hợp nếu biết chất độc là dầu hỏa, xăng, hóa chất trừ sâu, thuốc chuột... thì không nên gây nôn vì gây nôn sẽ có thể làm bệnh nhân hít chất độc vào phổi hoặc lên cơn co giật khi đang nôn mà nhanh chóng cho nạn nhân uống than hoạt tính 20-30g nếu là người lớn, 5-10g đối với trẻ em. Cần cho bệnh nhân uống than hoạt tính để giữ các chất độc không cho thấm vào máu, tiếp đó dùng thuốc nhuận tràng Sorbitol để tống chất độc và than hoạt qua đường phân. Nên cho bệnh nhân uống nhiều nước để than hoạt dễ dàng đi ra ngoài.
- Sau khi gây nôn để người bệnh nằm nghỉ, sau đó hòa 1 lít nước với một gói orezol hoặc nếu không có sẵn gói orezol thì có thể pha 1/2 thìa cà phê muối cộng với 4 thìa cà phê đường trong 1 lít nước rồi cho người bệnh uống để bù và chống mất nước cho cơ thể.
Mặt khác, uống nước còn giúp trung hòa chất độc trong cơ thể người bệnh nhằm hạn chế tối đa những tác hại mà độc tố sẽ mang lại.
Đối với những trẻ từ 2 - 10 tuổi thì pha một gói orezol với 200ml nước rồi cho trẻ uống.
- Nếu bị co giật và ngừng thở, ngừng tim phải cấp cứu cho bệnh nhân bằng cách hà hơi thổi ngạt và ép tim. Nếu bệnh nhân hôn mê, để bệnh nhân nằm đầu thấp, nghiêng về một bên phòng chất nôn sặc vào phổi.
- Sau khi sơ cứu, phải khẩn trương đưa người bị ngộ độc đến bệnh viện sớm nhất để được xử lý tiếp.
- Cần mang theo thức ăn nghi ngờ gây ngộ độc, chất nôn hoặc phân để giúp bác sĩ chẩn đoán và điều trị nhanh hơn.
Lưu ý đặc biệt :
Đối với các trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, khi sơ cứu cần chú ý :
-       chỉ gây nôn khi bệnh nhân tỉnh và không gây nôn nếu bệnh nhân là trẻ em, vì trẻ rất dễ bị sặc.
-       Tuyệt đối không cho người bị ngộ độc thực phẩm dùng các thuốc chống tiêu chảy vì các thuốc này có thể làm chậm quá trình đào thải vi khuẩn, chất độc ra khỏi cơ thể.
Sau khi tiến hành sơ cứu tạm thời cho người bệnh, hãy đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ rửa ruột và điều trị.


 d) Phòng ngộ độc thức ăn




Để phòng ngộ độc, mọi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh trong ăn uống, trong chế biến và kinh doanh thực phẩm. Hãy thực hiện tốt 8 điều sau:
- Nên tìm hiểu kỹ những cây rau, các loại nấm, cá để phân biệt được loại không độc và loại độc. Tuyệt đối không ăn những thức ăn lạ.
- Thực phẩm dùng để làm thức ăn phải được chọn lựa cẩn thận, phải tươi, không dập nát. Không ăn cá ươn, không hái nấm ở dọc đường hay trong rừng để ăn.
- Chuẩn bị thức ăn kỹ càng: nấu chín, đun sôi, bỏ những phần nghi là gây độc (bỏ vỏ sắn và ngâm nước trước khi luộc; bỏ da, đầu, ruột, mật cá trước khi nấu...).
- Giữ sạch bát, đĩa, xoong nồi đựng thức ăn. Thức ăn nấu chín nên ăn ngay. Thức ăn không ăn hết cần đun lại rồi mới cất giữ trong tủ lạnh. Khi ăn lại vẫn phải đem đun sôi rồi mới ăn.
- Diệt ruồi, gián, chuột... Tuyệt đối không để chúng tiếp xúc với thức ăn.
- Quả, rau sống phải rửa sạch, ngâm và gọt vỏ rồi mới ăn.
- Không uống mật cá trắm, trôi, chép với mục đích chữa bệnh. Tuyệt đối không ăn cá nóc. Không uống bia rượu nấu lậu.</div>
- Rửa sạch tay bằng xà phòng trước khi ăn hay khi chuẩn bị chế biến thức ăn.


Không được hái ăn những nấm mọc dại trong rừng
(đặc biệt là những nấm có mũ nấm mầu sắc lòe loẹt)




Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

SƠ CẤP CỨU KHI ĐI CẮM TRẠI, DÃ NGOẠI (5)









5- KHI BỊ CHUỘT RÚT (VỌP BẺ)


Vọp bẻ còn gọi là chuột rút. Vọp bẻ là một triệu chứng của nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Biểu hiện của vọp bẻ là co cơ (cơ vân, có khi cả cơ trơn) gây đau đớn, rất khó chịu, xảy ra đột ngột mang tính chất cấp tính. Vọp bẻ sẽ làm hạn chế vận động hoặc ngừng vận động.
Vọp bẻ nhiều khi gây nguy hiểm đến tính mạng.




Có nhiều nguyên nhân  gây ”Chuột rút” hay “Vọp bẻ” là
-          thiếu ôxy cho cơ bắp hoặc
-          cơ thể thiếu nước và muối ăn.
-          Các rối loạn điện giải có thể gây ra chuột rút, đặc biệt là hạ canxi máu (thiếu canxi) hoặc hạ kali máu (thiếu kali) khi ra mồ hôi quá nhiều mà không được bù đắp, điều chỉnh kịp thời,  như  trong lao động nặng nhọc (thợ mỏ, thợ sửa chữa đường điện, công nhân bốc vác..); trong thể dục thể thao (bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bơi lội...).  
-          Vọp bẻ cũng có thể gặp trong một số bệnh lý thuộc tĩnh mạch, điển hình là ở người giãn tĩnh mạch nông như giãn tĩnh mạch chân. Vọp bẻ xảy ra trong các trường hợp này là do hiện tượng ứ đọng máu trong lòng tĩnh mạch bởi sự giảm về chức năng và các van tĩnh mạch
-          Ngoài ra khi có “tháng”, chị em rất dễ bị chuột rút ở mức độ nhất định tại vùng bụng gây đau lan tỏa ra thắt lưng và đùi. 
-          Một số phụ nữ mang thai cũng hay bị chuột rút, nhiều khi vào ban đêm.

b)Vọp bẻ có nguy hiểm không?
                                                    
        Như phần trên đã giới thiệu vọp bẻ sẽ gây đau cơ cấp tính.
        Gần như các trường hợp vọp bẻ đều phải ngừng hoạt động và cần được chăm sóc ngay.
        Tuy vậy, không phải trường hợp vọp bẻ nào cũng được xử trí kịp thời.
        Nguy hiểm nhất của vọp bẻ là khi đang leo trèo (công nhân đường dây điện, thợ xây...); đang bơi lội, đang tắm ở sông, biển... nếu không được xử lý kịp thời thì rất nguy hiểm đến tính mạng.
        Ngay cả những vận động viên bơi lội cừ khôi cũng đều rất sợ bị chuột rút  .Cơn đau do chuột rút có thể làm giảm khả năng bơi lội. Nghiêm trọng hơn là bị chết đuối.


         Các nguy cơ hạ thân nhiệt, nhiễm lạnh, hạ đường huyết dẫn đến “chuột rút” thường xảy ra với những bạn ở trong nước lâu, hay xuống nước lúc trời mới sáng hay nhá nhem tối, hay bỏ bữa trước đó.
          Tuy nhiên cũng không nên xuống nước khi bụng căng đầy, vì hệ tuần hoàn buộc phải cáng đáng cả công việc của dạ dày nên không cung ứng đủ oxy cho các bắp cơ và giữ ấm cơ thể.
          Muốn phòng ngừa “chuột rút”, tất cả các giai đoạn của buổi đi bơi (khởi động, xuống nước, lên bờ) đều phải được thực hiện một cách khoa học.

                  1. Trước khi xuống nước:
           Chú ý uống đủ nước khi trời nắng nóng (nên pha ít muối, hay nhất là chuẩn bị sẵn ở nhà theo tỉ lệ: 1 muỗng cà phê muối/1 lít nước), càng cẩn thận nếu trước đó bạn nôn mửa quá hăng do say xe hay bị “tào tháo”tróc nã vì ăn uống không hợp phong thổ.

    Nhất thiết phải dành khoảng 30 phút để khởi động cơ thể:
§  Làm các động tác nhằm khởi động cơ bắp và các khớp. Có thể áp dụng các bài thể dục buổi sáng; nên tập hai lần với cường độ khác nhau.
§  Chạy cự ly ngắn (100 m) chậm – nhanh dần – chậm dần và trở về trạng thái cân bằng.
§  Tiếp tục khởi động các khớp theo thứ tự: khớp các đốt sống cổ, thắng lưng, khớp hông (háng), các khớp gối, cổ chân, ngón bàn chân, các khớp vai, khuỷu, cổ tay, các ngón tay. Thực hiện vận động vặn xoay vòng các khớp theo chiều kim đồng hồ và ngược lại.

                 2. Khi xuống nước: 
        Sau một thời gian bơi , cơ thể đã tiêu hao nhiều năng lượng, cần được bù đắp phần năng lượng đã mất đi.
        Trên thực tế, khi người bơi thấy mỏi cơ, các động tác phối hợp rời rạc, không còn nhịp nhàng, báo hiệu cơ thể cần được nghỉ ngơi ,thì việc cố tiếp tục bơi sẽ dẫn đến hiện tượng chuột rút hoặc rét lạnh thứ phát.
       Khi cảm thấy mỏi cơ, người bơi cần giảm dần tốc độ, bơi vào gần bờ hoặc gần phương tiện cứu hộ, sau đó thả lỏng toàn thân trong tư thế nổi 3-5 phút rồi lên bờ.
       Trường hợp cảm thấy rét lạnh thì phải lên bờ ngay, tìm nơi kín gió hoặc có lửa để sưởi ấm; có thể uống một ít nước trà đường nóng.
                3. Khi lên bờ: 
       Cần nằm nghỉ ngơi, thư giãn cơ 10-15 phút ở nơi kín gió, sau đó tắm rửa lại bằng nước ấm trong phòng kín gió 5-10 phút. Lau khô người và mặc quần áo ấm ngay trong phòng. Chú ý lau khô tai, mũi, mắt; khi cần thiết có thể nhỏ thuốc. Nếu mệt, nên uống một cốc trà đường nóng.


1-    Khi đang bơi

            Bất cứ ở chỗ nông hay sâu, việc đầu tiên là phải báo cho người xung quanh biết nếu có thể.
·         Khi ở chỗ sâu, nếu cơ bụng bị chuột rút (rất nguy hiểm), phải bình tĩnh thả lỏng toàn thân trong tư thế dang rộng tay chân, từ từ hít sâu và dùng tay bấm các huyệt xung quanh (có thể bấm cả các huyệt bên chi đối xứng) và xoa nhẹ nhàng lên vùng chuột rút rồi nhờ người xung quanh hoặc bộ phận cứu hộ giúp đưa lên bờ. Trường hợp quá xa nơi cứu hộ hoặc có một mình thì khi thấy đỡ nhờ tự xử trí như trên, phải nhẹ nhàng bơi vào bờ.
·         Khi bị “chuột rút” ở các vùng cơ khác cần tìm cách lên bờ hay ít ra cố lết đến vùng nước nông, sau đó tự mình hay nhờ bạn bè giúp sức chữa chuột rút bằng các cách sau:
·         Chuột rút ở bắp chân (thường gặp nhất) hãy gắng nhỏm dậy duỗi thẳng chân, đứng bằng gót và ngón giúp cơ bắp vế giãn ra. Có thể gọi người giúp bằng cách nằm xuống giữ chân thẳng tối đa và nhờ ai đó đẩy mạnh các ngón bàn chân ngược về hướng đầu gối.
·         Chuột rút ở đùi, nên ngồi xuống, người giúp kéo chân nạn nhân ra thật thẳng, đồng thời nâng gót chân lên cùng lúc dùng tay kia ấn mạnh đầu gối xuống.

Nên nhớ, khi không có khả năng bơi vào bờ, bạn càng hoảng loạn quẫy đạp lung tung bạn càng chìm mau. Do vậy nếu sóng không lớn lắm hãy bình tĩnh thả ngửa cơ thể trên mặt nước chờ người đến cứu (hãy ôn lại kiến thức thả nổi đã học).
Nên nhớ, khi cần người cứu chỉ giơ một tay “la làng” còn một tay để đập nước nếu giơ cả hai tay lên thì bạn nhanh chóng chìm xuống dưới. Nên phòng xa bằng cách đội mũ bơi màu càng sặc sỡ càng tốt để mọi người  hay nhân viên cứu hộ có thể phát hiện bạn từ xa.  Nên chọn điểm bơi trong tầm mắt của các chòi cứu hộ, đương nhiên không gì tốt bằng có một chiếc phao bơi bên mình.
Sau cùng khi đã bị chuột rút, tốt nhất không nên xuống nước lần nữa mà hãy gắng đợi vào ngày hôm sau.
2-    Khi vận động, leo trèo, ở trên cạn

        Hiện tượng bị chuột rút ở người vận động viên sẽ chóng qua khỏi khi họ ngưng vận động và xoa bóp nhẹ ở chỗ cơ bắp bị co rút. 

        Để tránh bị chuột rút, trước khi tham gia cuộc chơi, nên có thời gian khởi động để tập các động tác từ nhẹ tới nặng. 

        Trong cuộc chơi, cứ nửa giờ lại nên uống nước có pha thêm một ít muối hoặc các loại nước giải khát có tác dụng tăng lực.
         Nghỉ ngơi: một khi đã xảy ra chuột rút bạn không nên cố chơi tiếp mà phải nghỉ ngơi hoàn toàn.
         Uống nước trái cây vắt sạch hoặc nước khoáng để cung cấp đầy đủ nước cho cơ thể.
          Thực hiện việc căng cơ trong tầm vận động nhẹ nhàng, xoa bóp nhẹ nhàng nhóm cơ bị co rút.
           Việc căng cơ được thực hiện bằng cách căng từng nhóm cơ ví dụ chuột rút nhóm cơ vùng bắp chân bạn nên cho gập cổ chân về phía mặt lưng bàn chân từ từ. Tránh các động tác căng cơ đột ngột và quá sức sẽ gây co rút thêm cơ.
          Nếu không giảm sau 1 giờ nên gọi cấp cứu.


   

Khi đang bơi bị chuột rút rất nguy hiểm 



        Người bị chuột rút ở bắp chân vào ban đêm khi duỗi chân hoặc vươn mình có thể tự chữa bằng cách đứng thẳng lên, để chân trần tiếp xúc với sàn gạch mát hoặc kéo ngón chân cái ngược lên về phía mình.

 Xử trí chuột rút ở bắp chuối, nhè nhẹ vươn duỗi cơ theo chiều đối ngược: kéo đầu ngón chân và bàn chân lên phía trần nhà, hướng về đầu gối.

      Phương pháp trị vọp bẻ cấp tốc rất hiệu nghiệm

       Vọp bẻ (còn gọi là bị chuột rút – Muscle Cramps) là do các sớ thịt li it trong cơ bắp (thường là bắp chân dưới hay còn gọi là bắp chuối) đan thắt lại với nhau mà không thư giãn trở lại trạng thái bình thường, nên cơ bắp bị phồng co cứng, rất đau, nhất là trong khi ngủ. 

1. Nếu bạn đang đi bỗng nhiên bị vọp bẻ bạn chỉ cần bước lùi (đi ngược) vài bước thì sẽ hết ngay.
2. Nếu bạn đang ngồi, không cần đứng dậy để đi lùi, bạn chỉ cần đặt chân chạm đất rồi nhẹ nhàng nhất chân di chuyển lui về sau vài ba bước (nếu vậy bạn từ từ duỗi chân Ra trước xa xa để có khoảng cách phía sau gót mà dời chân lui được nhiều bước hơn)
3. Nếu bạn đang nằm ngủ, bạn trở mình nằm ngữa, sau đó co chân lên và cũng dời gót chân lui vài bước hướng về mông (bạn co chân thế nào để có một khoảng cách khá xa giữa gót chân và mông mà khi bạn dời chân sẽ được nhiều bước hơn)
4. Nếu bạn đang bơi, thì cũng vậy, cố gắng làm Sao bước lui trong nước vài bước thì vọp bẻ sẽ hết.
                          

      Ngoài ra , có một mẹo ít được biết đến là khi bị chuột rút, hãy dùng ngón tay cái và ngón trỏ ấn và day vào huyệt nhân trung (chỗ lõm nằm giữa môi trên và mũi). Cứ như thế tác động liên tiếp khoảng từ 25 đến 30 giây sẽ hết cảm giác đau.
      Đây là phương pháp khá cổ điển nhưng phát huy tác dụng rất nhanh.

 (theo trang kynangviet.net và http://huongduongtxd.com )