Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

LÀ CHA


GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 7: LÀ CHA

       Trong bản tuyên xưng Đức Tin : “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha”, hai chữ “Là Cha” đây có ý nghĩa gì ? Diễn tả niềm tin gì ?
       1. Dựa vào các bản cổ và ngắn hơn của kinh Tin Kính các Tông Đồ, chúng ta có thể biết được ý tứ chính của hai chữ “Là Cha”.
       “Là Cha” đây nhất định không thể hiểu theo nghĩa thông thường : Thiên Chúa yêu thương ta như người Cha thương con ! Ý tứ hai chữ đó ở đây sâu xa hơn nhiều : chúng ta tin Đức Chúa Trời “Là Cha” thực sự, chứ không phải chỉ theo nghĩa bóng !
       Vì bản cổ của Kinh Tin Kính : phần thứ nhất dành cho việc tuyên xưng Đức Tin vào Chúa Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Đấy cũng là một ý thức quan hệ nhất của Giáo Hội tiên khởi : Giêsu Kitô quả thực là Con Thiên Chúa theo nghĩa thực sự và đầy đủ của chữ “Con”, nghĩa là đồng bản tính với Chúa Cha. Ý niệm về Ba Ngôi Thiên Chúa càng rõ ràng và mạnh mẽ thêm dưới áp lực của các bè rối xoay quanh thân thế Chúa Giêsu. Việc cử hành phụng vụ đã nhanh chóng hưởng thụ công việc ý thức mạnh mẽ này. Thay vì Rửa Tội “nhân danh Chúa Giêsu” (Cv 2,38), từ rất sớm đã được đổi thành Rửa Tội “nhân danh Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19).
       Sau phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Ba Ngôi, mới đến phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Kitô và công việc của Ngài.
       Trong bản Kinh Tin Kính các Tông Đồ như ta đọc ngày nay, phần thứ hai nói về Chúa Kitô, đã chen lấn sang phần thứ nhất. Vì thế mà phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Ba Ngôi không còn rõ ràng nữa, vì đoạn nói về Chúa Con quá dài so với đoạn Chúa Cha và Thánh Thần!
       “Là Cha”, chính là khởi đầu cho phần tuyên xưng Đức Tin về Thiên Chúa Ba Ngôi ! Đức Tin đó có thể diễn tả vắn tắt thế này : Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là : Cha, Con, Thánh Thần !
       Nhờ Chúa Giêsu (Ga 1,18), từ lời giảng dạy (Ga 6,45-46; 10,25-38) cho đến cách Ngài cầu nguyện (Ga 17), ăn ở (Ga 4,34 ; 5,17), chúng ta biết được :
       Đấng mà ta vẫn gọi là Thiên Chúa (Ga 8,54), là Đấng Tạo Dựng (Mt 5,45 ; 6,25-34), Đấng ấy là một Vị Cha, vì Ngài có một Con (Ga 5,19-23 ; 20,17) mà Ngài đã sinh ra từ thuở đời đời (Ga 1,1.2.14.18).
       Dựa vào mạc khải trên, do chính Con Chúa nói, chúng ta ngày nay có được niềm tin : Thiên Chúa là Cha, theo đúng nghĩa chữ “Cha”. Niềm tin mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính : “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha”.
       Thiên Chúa là Cha, Cha của Chúa Con đã xuống thế là Chúa Giêsu, nhưng cũng còn là Cha chúng ta, Cha theo một nghĩa khác nhưng là Cha thật. Vì chúng ta đã tiếp nhận Con Một của Ngài xuống thế, nên chúng ta được trở nên Con Thiên Chúa (Ga 1,12 ; 1 Ga 3,1-2).
       2. Quan niệm “Cha – Con thực sự” ở nơi Thiên Chúa quả thực là một mạc khải đặc biệt của Tân Ước. Nhưng cũng như nhiều Tín Điều khác, Tín Điều này đã bắt đầu từ trong Cựu Ước và tiến triển dần theo sư phạm giáo dục của Thiên Chúa.
       Vì quả thực bên cạnh các đạo giáo do trí óc loài người bày vẽ tưởng tượng ra cùng với các vị Thần sinh sống theo kiểu loài người : cũng phối hợp để rồi sinh con đẻ cái, cũng có đời sống tình dục…, một mạc khải vội vàng không chuẩn bị về “Cha–Con Thiên Chúa” có thể đưa đến ngộ nhận ghê gớm ! Vì trí óc con người nặng nề và đầy ẩn khuất về tình dục, đâu có dễ dàng chấp nhận ngay ý niệm “Cha–Con” thuần thiêng, siêu việt, và hoàn hảo ! Ngay ý niệm về Thiên Chúa thuần thiêng, siêu việt, khác hẳn loài người, mà còn phải một thời gian lâu lắc hàng ngàn năm Dân Chúa mới lĩnh hội được !
       Thánh Kinh đã cho thấy công việc chuẩn bị lâu dài kiên nhẫn đầy khôn ngoan của Thiên Chúa để loài người đón nhận mạc khải về “Thiên Chúa Cha–Con” như thế nào.
       Chúng ta có thể ghi nhận 2 cuộc chuẩn bị song song với nhau : cuộc chuẩn bị để ta nhận Thiên Chúa là Cha thực sự vì Ngài sinh ra một Con thực sự ; và cuộc chuẩn bị để ta nhận Thiên Chúa là Cha ta hơn mọi người Cha dưới thế, vì Ngài đã làm cho ta thành con Ngài còn hơn cha mẹ phần xác ta.
       Cả hai cuộc chuẩn bị đều bắt đầu bằng khái niệm “Cha–Con” trần thế (vì cũng dùng một danh từ Cha–Con). Nhưng cuộc chuẩn bị thứ nhất kết thúc bằng mạc khải : “Thiên Chúa là Cha thực sự vì đã sinh ra Chúa Con thực sự” ; còn cuộc chuẩn bị thứ hai kết thúc bằng mạc khải “Thiên Chúa nhận chúng ta là nghĩa tử của Ngài trong Con Một Ngài là Chúa Giêsu”.
       Cuộc chuẩn bị trước bắt đầu bằng việc Thiên Chúa bênh vực săn sóc Israel như Cha thương Con (Xh 4,22). Thiên Chúa như người Cha cứu chuộc Israel (Xh 6,6). Tư tưởng “Thiên Chúa là Cha Israel” được các tiên tri quảng diễn sâu rộng (Is 1,2 ; Hs 11,1-4 ; Gr 3,19-20 ; 31,20) và được thêm giàu ý do việc móc nối với công việc tạo dựng (Is 64,7) và so sánh với tình Cha con thể xác (Is 63,16 ; Tv 27,10 ; 103,13).
       Tư tưởng Thiên Chúa là Cha đã thu hẹp vào Israel (Chúa yêu thương Israel hơn mọi dân tộc khác). Tư tưởng “Cha Thiên Chúa” đó còn tiếp tục thu hẹp với quan niệm Chúa là Cha đặc biệt đối với các vị xét xử dân (Quan Án) (Tv 82,6 ; 58,1) và nhất là đối với các Vua, kể từ Đavít và con cháu Đavit (2 Sm 7,14). Cùng với lời hứa Đấng Cứu Thế sẽ là con cháu Đavít, “Thiên Chúa là Cha” sẽ càng được hiểu một cách đặc biệt đối với “người con cháu Đavít” này, vì Ngài là Đấng Cứu Thế. Các lời tiên tri càng làm cho ý nghĩa này trở nên khắng khít (1 Cr 17,13 ; Tv 89, 27-38; 2,7). Thế là mọi sự đã được chuẩn bị sẵn sàng để chính Con Thiên Chúa xuống thế nói cho ta biết sự thật hoàn toàn, kèm theo ấn tín của Thiên Chúa tức cuộc Phục Sinh vinh hiển (Cv 2,32-36).
        Cuộc chuẩn bị thứ hai bắt đầu từ liên hệ Cha–Con thể xác ; Israel là con cháu Abraham (St 12,2) cùng với nghi lễ gia truyền (Phép Cắt Bì) và lời chúc lành hiệu nghiệm của Cha già trước khi chết (St 27,1…; 49,1…).
        Thế nhưng, liên hệ thể xác dần dần đã bị lu mờ trước liên hệ tinh thần : Abraham là Cha tất cả mọi người tin như Ông (St 12,3) ; Gioan Tẩy Giả nói rõ :
       “Từ hòn đá Chúa có thể tạo nên con cháu Abraham” (Mt 3,9)
        Chúa Giêsu cũng quả quyết không kém (Ga 8,9), Thánh Phaolô còn phân biệt :
        “Israel thật” không phải là Israel theo thể xác (Rm 9,6).
         Một khái niệm về “Cha tinh thần hơn Cha thể xác” đã thành hình, Mạc Khải chỉ cần quả quyết dứt khoát rõ ràng : Thiên Chúa chọn chúng ta làm nghĩa tử trong Con Một Ngài, và để thực hiện Ngài đã ban cho ta Chúa Thánh Thần để giúp tâm hồn ta có những tâm ý của người Con Thiên Chúa (Rm 8,15-16), đang khi chờ đợi về hưởng gia tài của Cha ta trên Trời (Rm 8,17) cùng với Anh Cả chúng ta là Chúa Giêsu (Rm 8,29).
Đề tài trao đổi
Khi chúng ta đọc : “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha”, chúng ta có ý tuyên xưng niềm tin gì ? Bạn hãy dựa vào Thánh Kinh để chứng minh niềm tin đó.


Lm Anton Trần Văn Trường

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

ĐỨC CHÚA TRỜI


GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 6 ĐỨC CHÚA TRỜI

         “Đức Chúa Trời”, “Thiên Chúa” hay “Chúa”, đôi khi “Thượng Đế”, “Đấng Tối Cao”… : đó là những chữ chúng ta thường dùng để gọi Đấng là Chúa Tể tạo dựng muôn loài, Đấng đã tỏ mình ra cho loài người theo như Thánh Kinh.
         Trong lịch sử, lúc Đạo Công Giáo vừa du nhập vào Việt Nam, vấn đề dùng chữ gì để chỉ Đấng Đạo Công Giáo thờ, đã là một vấn đề rất gay go !
         Các vị Thừa Sai người ngoại quốc, không phải là không biết đến chữ “Chúa”, “Thiên Chúa” hay “Thượng Đế”…! Nhưng vấn đề là làm sao để đừng lẫn lộn Thiên Chúa của Đức Tin Công Giáo, với Thiên Chúa của đạo Khổng chẳng hạn ! Vì nếu lẫn lộn, thì làm sao có thể có vấn đề trở lại Đạo Công Giáo được ?! Vì cả hai bên đều tin có Thiên Chúa, có Ông Trời mà ! Dân Việt đâu có phải là dân vô thần !
         Cho tới ngày nay, còn hiếm gì người lẫn lộn Chúa nọ Chúa kia, và vì thế không thể hiểu được tại sao Đạo Công Giáo bắt người ngoài trở lại Đạo ?
        Cái mới mẻ của Đạo Công Giáo phải làm sao diễn tả được ngay trong danh xưng của Vị Thần của mình, và đừng gây lẫm lẫn ! Đó là mối bận tâm của các Tông Đồ Phúc Âm.
       Lúc đầu, khuynh hướng của đa số Thừa Sai, là chấp nhận danh từ được phiên âm chữ “Deus” tiếng Latinh để lập thành một chữ hoàn toàn mới, đó là “Chúa Dêu”. Như ta còn thấy trong các kinh cổ thời đầu của Giáo Hội Việt Nam. Ngày nay, Đạo Công Giáo đã quá rõ ràng đối với người Việt Nam nên chữ “Chúa”, “Thiên Chúa”… có một nội dung, một ý tứ khác với chữ “Ông trời” “Trời” của các tôn giáo khác. Chính vì thế, vấn đề danh từ không còn quan hệ như lúc đầu nữa.
        Thực sự, vấn đề danh xưng Thiên Chúa không phải là vấn đề riêng gì ở Việt Nam. Ngay trong chính Thánh Kinh cũng đã có vấn đề đó.
        Vấn đề Tên Chúa trong Thánh Kinh :
        Như chúng ta biết, Thánh Kinh chính là lịch sử Đạo Độc Thần, Đạo thật ! Đạo đó phải được tách biệt ra khỏi các thứ đạo khác, như vàng thật đối với vàng giả. Vàng đối với những thứ rõ ràng không phải là vàng, như đất, đá, sắt, chì… thì rất dễ phân biệt và chẳng ai lầm lẫn. Nhưng vàng thật với vàng giả, đạo thật với đạo không thật, Chúa thật với Chúa giả, phân biệt cho được và dùng danh từ cho đúng để tránh được sự lầm lẫn, đấy  là vấn đề.
        Vị Chúa thật đã chọn Abraham ra khỏi quê quán dân tộc của ông, để bắt đầu từ ông gây dựng một Đạo thật, tôn thờ Chúa thật, Vị Chúa đó đã không có một danh xưng nào ngoài danh xưng: “Chúa của Abraham, Isaac và Giacop” hay “Chúa của tổ phụ các người” (Xh 3,6; Mt 22,32 ; Cv 3,13).
Đối với Maisen, người có trách nhiệm thiết lập dứt khoát Do Thái giáo như là một Đạo duy nhất thật, vì tôn thờ một Vị Chúa duy nhất thật (Xh 19,5 ; Dnl 6,4; Is 44,6; 45,5-6), Maisen cũng đã bận tâm vấn đề Danh Xưng thực sự của Chúa. Bên bụi gai cháy một cách lạ lùng, Maisen đã cả dám hỏi đích danh Chúa : Thiên Chúa của Cha ông chúng, nhưng chúng hỏi tên Ngài là gì? (Xh 3,13) Và Chúa đã trả lời bằng một kiểu nói mà sau đã trở thành Tên riêng của Chúa (Xh 3,14). Chúa nói : “Ta là Ta”, “Ta là Đấng Ta đang là” (nguyên văn Do Thái là : “Ehyéh asher éhyéh”) ; và vì động từ dùng trong câu đó có hai nghĩa : “là” hay “có”, nên có thể dịch : “Ta là đấng có” ; khuynh hướng triết học dịch là : “Ta là Đấng vốn có, bản tính là có”, vì thế có thể dịch “Ta là Đấng Tự Hữu” ; nhưng theo ý nghĩa Thánh Kinh : “Ta là Đấng có” phải hiểu là : “Ta là Đấng có thật” chứ không như các “hư thần” không có thật, chỉ là đá, gỗ do tay loài người làm ra…(Gr 2,27 ; 10,1-6 ; Is 40,19-20…).
         Chữ “Giavê” (Yahveh, hay “YHVH”) là động từ “là” hay “có” ở câu trên, nhưng phiên sang ngôi thứ ba, và có nghĩa : “Đấng là”, “Đấng có”.
        Như thế, Danh Xưng mà Maisen đã hỏi Chúa và Chúa đã trả lời, Danh Xưng đó có thể hiểu theo hai nghĩa:
        Nghĩa thứ nhất, Chúa không có Danh Xưng : vì cách trả lời : “Ta là Ta”, tức là từ chối không nói tên của mình ra.
       Lý do Chúa không nói tên Chúa có thể vì Chúa không muốn để Dân Chúa xử dụng tên Chúa, theo kiểu nhiều thổ dân ở miền đó, để bắt chẹt Chúa. Nhưng cũng là vì lý do đơn sơ là Chúa không có tên ! Không có tên, vì Ngài là Đấng duy nhất có, ngoài Ngài tất cả đều hư vô (Is 45,6 ; Ga 1,3). Như vậy, “Ta là Ta” có nghĩa : Có ai như Ta đâu ! Ta có thể tự diễn tả bằng gì được, ngoài ra bằng chính Ta !… Qua kiểu nói đó chúng ta có thể ý thức được tính cách siêu việt tuyệt đối của Vị Chúa thật.
Nghĩa thứ hai và theo khuynh hướng Triết Học, Chúa có thể có một tên, đó là “Đấng Tự Hữu” (như nhiều khi ngày nay chúng ta dùng). Nhưng tên đó diễn tả đặc tính của Chúa hơn là tên thật. Theo khuynh hướng Thánh Kinh, như đã nói ở trên, Chúa quả quyết : Ngài là Chúa có thật, Chúa thực sự, chứ không phải hư thần !
         Tóm lại, dựa vào Thánh Kinh, ta thấy vấn đề tên Chúa vẫn còn y nguyên. Tuy nhiên, điều đó vẫn không cản trở Dân Do Thái coi chữ “YAHVEH” (YHVH) là “Bốn chữ” cực thánh, đến nỗi không dám đọc đúng, mà phải đọc trại là : “Giêhôvah” ! Nhưng đồng thời cũng không cản trở các Thánh Ký sau khi đi đày về ; đặc biệt là một hai thế kỷ trước Chúa Giêsu, đã bỏ chữ “Chúa Giavê” có vẻ quá riêng tư cho Dân Do Thái, để dùng những chữ khác có thể diễn tả được ý tưởng phổ quát cho mọi dân tộc : vì Chúa thật là Chúa muôn dân chứ đâu có phải chỉ là Chúa dân Do Thái, mặc dù Ngài đã trao cho dân Do Thái một sứ mệnh đặc biệt !
         Đấy cũng là lý do để Tân Ước (ví dụ : Kinh Lạy Cha), và Giáo Hội ngày nay không nhất thiết phải dùng chữ “Yahveh” để chỉ Chúa thật, Chúa của Đạo Công Giáo. Tuy nhiên với ý thức dần dần sau cuộc Phục Sinh lên Trời của Chúa Giêsu, và việc Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội Công Giáo đã có được một Tên đặc biệt nhất không thể lầm lẫn với bất cứ Chúa nào : Đó là “Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Sau này Thần Học gọi chung một danh từ : “Chúa Ba Ngôi”.
        Kết luận, các Danh Xưng trong ngôn ngữ các Dân Tộc ngày nay, cũng như Danh Xưng đặc biệt nhất trong Thánh Kinh, “Chúa Giavê”, cũng đều có tính cách tương đối : đó không phải là Tên Chúa theo nghĩa thông thường về tên gọi, nhưng chỉ là những danh từ loài người ước định với nhau dùng để chỉ Vị Chúa thật thôi.
       Điều đó vẫn không cản trở việc ta phải tuân giữ Giới Răn II : Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ ! Vì danh từ nào cũng vẫn chỉ là một tiếng kêu ước định của loài người ; nhưng nếu là tiếng kêu chúng ta đã ấn định dành cho Chúa thật, thì ta phải kính trọng tiếng kêu đó, cũng như ta kính trọng chính Chúa.
       Trái lại, với tên “Giêsu”, thì sự thể lại khác : đó là tên Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Thần đã nói rõ ràng cho Thánh Giuse : phải đặt tên đó cho Con trẻ (Mt 1,21). Tên đó có sức cứu thoát mọi người (Cv 4,12) nên người Kitô hữu được rửa tội nhân danh Giêsu (Cv 2,38).
Điều nhận định sau hết, và cũng là trở lại vấn đề tên “Đức Chúa Trời”, hay chữ nho “Thiên Chúa” rất am hợp với kiểu diễn tả của Phúc Âm : “Đấng ngự trên Trời” (Mt 5,16.48 ; 6,9).

     Đề tài trao đổi
    Chúa của chúng ta có tên và không có tên như thế nào ? Bạn hãy trình bày rõ ràng như bạn hiểu.


Lm. An tôn Trần văn Trường 
(nguồn : giaolyductin.net)

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG MÀ THIẾU THỢ GẶT




Sứ mạng của người môn đệ (Chúa Nhật 14 Thường Niên C)


          Đức Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian để thực thi sứ vụ loan báo về Nước Trời và mời gọi mọi người tin để được cứu độ. Vì thế, đây chính là mối bận tâm hàng đầu của Ngài. Mối ưu tư đó được thể hiện rất rõ qua bài Tin Mừng hôm nay, khi thầy trò đang đi qua cánh đồng; “tức cảnh sinh tình”, Ngài nhìn các môn đệ và chỉ ra đồng lúa đã chín vàng rồi cất tiếng nói: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về.” (Lc 10,2). 
          Ngay sau đó, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi rao giảng Tin Mừng.





Jos.Vinc. Ngọc Biển



1. Sứ mạng tông đồ


        Trong thời Cựu Ước, sứ mạng này thuộc về các ngôn sứ, thủ lãnh và các vua chúa. Các ngài là những trung gian để nói lời của Thiên Chúa cho dân; đồng thời cũng là những người chuyển cầu lên Chúa những nhu cầu của dân…


       Thật vậy, Bài đọc I hôm nay cho chúng ta thấy: Tiên tri Isaia loan báo cho dân về một giai đoạn tự do. Dân không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa, bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó...! Biết được sự trăn trở của họ, Tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người. Cuối cùng là lời hứa cho những ai đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa, họ sẽ được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.


         Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô nêu lên cốt lõi của niềm tin và lời rao giảng nơi người môn đệ chính là Mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô. 


         Nếu thành Giêrusalem trong thời Cựu Ước là niềm hy vọng, là sự bình an của dân Israel, thì sang thời Tân Ước, chính thập giá của Đức Kitô mới đem lại ơn cứu độ thực sự cho dân Ngài. 


          Thật vậy, Thánh Phaolô đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp).” (1 Cr 1,22-23).


Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô.”


        Như vậy, nội dung của lời rao giảng nơi Thánh Phaolô chính là Thập giá Đức Kitô. Lời loan báo này đi ngược lại với lối hiểu và niềm hy vọng của con người, cho nên khi thi hành sứ mạng ấy, người môn đệ không thể nào tránh khỏi những cám dỗ về quyền hành, tiền bạc và danh vọng; đồng thời những khó khăn về địa lý, về tâm thức, cũng như bị chống đối vì hiểu lầm, bị bắt bớ và đe doạ cả đến tính mạng là điều luôn luôn xảy ra đối với đời sống tông đồ. Người môn đệ Đức Kitô muốn thoát ra khỏi những thứ đó để vẫn rao giảng cách trung thành và toàn diện về một Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất thì phải có một tinh thần tông đồ sâu sắc.

2. Tinh thần tông đồ


        Sang bài Tin Mừng, khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ loan báo Tin Mừng qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, trước hết, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch cho Ngài. Ngài sai “cứ từng hai người” một. Khi sai các môn đệ đi từng hai người một, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, thì trước tiên phải có sự hiệp thông; mặt khác, khi sai các ông đi từng cặp như vậy, Đức Giêsu trang bị cho các ông một điểm tựa, điểm tựa ấy là sự thật, bởi vì lời chứng của hai người là sự thật.


         Khi đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một lời nói, cùng chia sẻ với nhau trong cùng một nội dung của lời giảng, người môn đệ đem lại cho con người niềm hy vọng. Niềm hy vọng này bắt nguồn từ truyền thống của dân Israel thời Cựu Ước. 


        Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói.” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác được vào và khi ấy họ sẽ tìm cách triệt hạ những người được mời gọi. Chiên thì hiền lành mà sói thì hung dữ. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong. Khi đưa ra hình ảnh của “chiên” và “sói”, Đức Giêsu muốn dạy cho người môn đệ bài học về sự kiên trì, chịu đựng, và trong mọi hoàn cảnh họ phải sống đúng bản chất của mình là “chiên” chứ không phải là “sói”, để yêu thương ngay cả kẻ thù của mình nữa.


          Tiếp theo, tinh thần siêu thoát nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Trên hành trình ấy, Đức Giêsu không chấp nhận người môn đệ mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người môn đệ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành củ tỏi”.  Vì thế, Ngài nói:“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...”.  Các môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới, mới dám chấp nhận tất cả vì sứ mạng. 


        Hơn nữa, loan báo về Nước Trời phải là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng “đừng chào hỏi ai dọc đường”. Ngài sai các ông lên đường với một mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Khi truyền cho các ông như thế, Đức Giêsu muốn dạy các ông rằng: khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.


         Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nói: ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…? Rồi biết bao những chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn nữa… Vì vậy, Ngài nói: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…”. Chúa muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội. 


          Như vậy, Đức Giêsu căn dặn, cảnh báo cho các ông tất cả những đức tính cần phải có nơi người môn đệ, đồng thời những khó khăn các ông sẽ gặp trên hành trình loan báo ấy, rồi đến lượt chúng ta, chúng ta loan báo bằng cách nào?


3. Sứ mạng tông đồ của mỗi chúng ta


       Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Nói như Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng.” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu - “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” - phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an. 

4. Cách thức loan báo Tin Mừng 


        Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin của họ đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải trở nên ánh sáng cho trần gian và muối ướp cho đời.


        Nếu muối có tác dụng làm tăng vị cho thức ăn, ướp cho khỏi hư thối, thì người Kitô hữu cũng phải có bổn phận trở nên chứng nhân của sự thật, một sự thật sẵn sàng sống chết để bảo vệ cho chân lý. 


        Nếu ánh sáng để soi sáng cho người ta đi đường và giúp tìm ra những thứ ở trong bóng tối thế nào, thì người Kitô hữu truyền giáo cũng phải trở nên ánh sáng, gương mẫu cho mọi người như vậy. 


          Sứ mạng truyền giáo ấy khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…


         Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ. 


         Có thế, chúng ta mới được coi là xứng đáng đón nhận phần thưởng của Chúa trao ban cho những ai đã cùng Ngài để quy tụ muôn dân về một mối là Nước Trời: “Hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi Trên Trời.”


      Lạy Chúa, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao nhiêu con chiên lạc chưa được đưa về đàn. Xin Chúa ban cho những người con của Chúa luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một đàn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen. 

(nguồn : baoconggiao.com)

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

TIN KÍNH




GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 5: TIN KÍNH


             Trong Kinh Tin Kính, chúng ta nói : “Tin Kính”, chứ không nói : “tin có”. Đạo Công Giáo không phải chỉ là “Đạo Hữu Thần” (tin có Thiên Chúa…), nhưng còn là “Đạo Kính Thần” (Thờ Kính Thiên Chúa) đúng mức.
           Có những người, những lý thuyết chủ trương có Thần, có Chúa, nhưng ông Chúa ông Thần đó không để tâm gì đến loài người chúng ta, chẳng cần gì loài người ; nên loài người chỉ cần sống “đạo làm người” là đủ !
           Đạo Công Giáo tuyên xưng niềm tin khác hẳn : “Tôi tin Kính”. Nghĩa là tôi tin và tôi tôn kính Chúa ! Thờ phượng Chúa ! Kính yêu Chúa! Sẵn sàng làm theo ý Chúa!
            1. Tại sao Đạo Công Giáo lại có niềm Tin như vậy ?
             Vì Đức Tin Công Giáo đâu có dựa vào suy luận của trí khôn hay khám phá của con người ! Đức Tin Công Giáo dựa vào Mạc Khải của Thiên Chúa trong lịch sử. Nên khi nói lên niềm tin, người Công Giáo không chỉ nói lên sự tin vào thực hữu của Thiên Chúa (có Chúa hay không ?). Nhưng là nói lên niềm tin của mình đối với tất cả những điều Thiên Chúa tỏ ra cho loài người qua trung gian Chúa Giêsu Kitô.
           Chính vì thế, Đức Tin Công Giáo không phải để trả lời câu : Đạo Công Giáo hữu thần hay vô thần ?!… Vì như ta thấy, cả Kinh Tin Kính đều bao gồm những sự kiện lịch sử, y như Chúa đã tỏ ra dần dần trong thời gian : đời sống Chúa Giêsu Kitô, sự nghiệp biến cố trong đời Ngài, Giáo Hội Ngài lập, lời hứa đời sống vĩnh cữu…
          Niềm tin Công Giáo kèm theo ngay một thái độ rõ ràng : “Tôi tin Kính” !
          2. Thái độ đó thế nào ?
          Thánh Kinh đã lên án gắt gao những người tin, biết Thiên Chúa, mà không có thái độ tương xứng.
          Rm 1,21: lên án “những người biết Chúa, mà không dành cho Chúa vinh danh và lời cảm tạ xứng đáng”.
          Chính Chúa Giêsu trong Phúc Âm cũng lên án :
“Nếu Ta không đến, nếu Ta không nói với chúng, thì chúng không có tội ; nhưng bây giờ thì chúng không thể chữa mình được nữa”(Ga 15,22).
Đức Tin phải kèm theo thái độ !
          Thái độ của người Công Giáo gói ghém trong chữ “Kính” đặt sau chữ “tin”, có thể diễn tả ra bằng 2 cách : Sống phụng vụ và sống hành động.
         Sống phụng vụ: lòng tin kính Thiên Chúa được diễn tả bằng lời ca ngợi Thiên Chúa cực thánh, cực hoàn hảo, toàn năng, toàn ái…, và đối với loài người, dựa theo tất cả những điều Thiên Chúa đã ban bố trong chương trình tạo dựng và cứu chuộc, lòng tin kính sẽ diễn ra trong sự nhìn nhận quyền tuyệt đối của Thiên Chúa và sự biết ơn, lòng thần phục và trông cậy tuyệt đối của con người vào Thiên Chúa.
         Sống hoạt động: lòng tin kính Thiên Chúa sẽ được diễn tả trong sự chấp nhận và tận hiến đời mình để thực thi ý Thiên Chúa như Ngài đã tỏ cho biết.
         Nói cách khác, nếu niềm tin Công Giáo là niềm tin vào Mạc Khải của Thiên Chúa trong lịch sử, thì niềm tin đó có những tính cách của các sự kiện được mạc khải.
        Mạc khải của Chúa trong lịch sử là mạc khải một chương trình hạnh phúc cho nhân loại do tình yêu vô biên của Thiên Chúa thực hiện và hứa hẹn bảo đảm trong Chúa Kitô. Vậy Niềm Tin vào Mạc Khải đó nhất định là đi đôi với sự vui mừng, ngợi khen, cảm mến Thiên Chúa để rồi diễn tả bằng sự sẵn sàng sống theo như ý Thiên Chúa.
        Đức Tin Công Giáo luôn đi kèm với Đức Cậy, Đức Mến là vì thế !

Đề tài trao đổi

Người ngoài Kitô giáo tin Trời và người Kitô giáo tin Thiên Chúa, khác nhau thế nào ?
Tại sao Đức Tin, Cậy, Mến lại luôn đi với nhau ?


Lm. Anton Trần Văn Trường
(nguồn : giaolyductin.net)




Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

TÔI TIN



GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 1: TÔI TIN


       1. Tại sao nói “Tôi tin” ?
        Không nói : “chúng tôi tin”, như trong các kinh Phụng Vụ mà lại nói “tôi tin”, vì đây là lời tuyên xưng Đức Tin của người có đủ trí khôn.
        Đức Tin chân chính, thực sự, phải là Đức Tin của chính mình, của cá nhân mình, không thể ai tin thay cho mình được. Thánh Kinh thuật lại nhiều câu truyện chứng tỏ Đức Tin như thế.
        Như những người ở Samaria, sau khi nhờ người đàn bà ra lấy nước ở giếng Jacob…, giới thiệu Chúa Giêsu và được nghe chính Chúa giảng dạy, họ đã nói với bà :
         “Bây giờ không phải vì bà nói mà chúng tôi tin nữa ; chính chúng tôi đã được nghe Ngài nói và bây giờ chúng tôi biết Ngài chính là Đấng Cứu Thế !” (Ga 4,42).
          Các tông đồ cũng vậy, sau 3 năm theo Chúa, nghe Chúa giảng dạy, chứng kiến mọi việc Chúa làm, các ngài đã được như Chúa Giêsu nhận định :
         “Con đã tỏ danh Cha cho những người mà Cha đã trao cho con… Bây giờ thì chúng biết rằng mọi sự Cha ban cho Con đều là do Cha…, chúng thực sự đã xác nhận là Con bởi Cha mà ra và chúng đã tin là Cha đã sai con”(Ga 17,6-8).
         Thánh Phaolô cũng đã đạt tới niềm tin như vậy, khi ngài viết cho môn đệ Timôtê của ngài :
         “Tôi biết tôi tin vào ai, và tôi xác tín rằng Đấng ấy có đủ quyền năng để bảo tồn kho tàng của tôi cho tới Ngày đó” (2 Tm 1,12).
         Qua ba đoạn Thánh Kinh trên, chúng ta có thể ghi nhận điều này : Đức Tin Công Giáo chính là “Tôi tin”!
         “Tôi” : chứ không phải ai khác thay tôi !
         “Tôi” : một chủ thể độc lập sáng suốt, sẵn sàng lãnh mọi trách nhiệm, mọi hậu quả về lập trường, về hạnh kiểm của tôi, chứ không phải sống dựa, sống gửi !
         “Tôi” : sẵn sàng hoạt động truyền bá niềm xác tín nơi Sự Thật, Sự Thiện mà tôi đã gặp được ! Sẵn sàng hành động để cải tạo, xoay chiều mọi sự theo chiều hướng Sự Thật mà tôi biết rõ đó là Sự Thật duy nhất và cho mọi người !
         “Tin” là “biết”, là “xác nhận”, là “xác tín” đấy chính là Sự Thật ! “Thật” cho trí khôn nhận định, suy nghĩ ; “Thật” cho tâm hôn khát vọng, tìm kiếm, vui hưởng, an nghỉ ; “Thật” cho đời sống thực tế của con người với bao ngả đường quyến rũ, với trăm hình vạn trạng, với khả năng tiến bộ gần như vô biên ! Vì Đấng tôi tin là “Sự Sung Mãn” (Cl 1,19), “mọi vật hữu hình, vô hình, mọi Uy Quyền, Vương Chức, Bá Chủ, Quyền Năng : tất cả đều đã được dựng nên bởi Ngài và cho Ngài” (Cl 1,16) “đời này hay đời sau”(Ep 1,21) “trên Trời hay dưới đất” (Ep 1,10).
         Con người “tin” là con người nắm chắc sự Thật và là sự Thật hoàn toàn đầy đủ, nên không bị như gió cuốn chạy theo các tư tưởng, các lý thuyết, các dụ dỗ (Ep 4,14 ; Cl 2,8) dù là cho thần thánh trên trời xuống nói (Gl 1,8). Trái lại, con người đó “đi trong ánh sáng” (Ga 8,12) và sống vui an hưởng  “mạch nước trong mát phát xuất tự trong tâm hồn” vững một niềm tin (Ga 7,37).
        Chúng ta học Giáo lý, chúng ta được những người đại diện Giáo Hội, nhân danh Giáo Hội dẫn chúng ta  tìm gặp Lời Chúa trong Thánh Kinh : chính chúng ta  nghe chính Chúa nói, chúng ta biết việc chính Chúa làm!
        Chúng ta phải cố gắng suy nghĩ, nhận định như những người lớn, “trưởng thành”, để làm sao chúng ta  có thể nói như các người ở thành Samaria trên kia : Bây giờ, không phải Ba Má, người đỡ đầu nói tin thay tôi như lúc nhỏ…, nhưng là chính tôi đã nghe Chúa nói trong Thánh Kinh, và tôi tin, tôi biết, tôi xác nhận, tôi xác tín!

        2. Tôi tin gì ?
        Nếu tìm lại trong Thánh Kinh từ đầu với Ông Tổ của Đức Tin là Abraham, thì chúng ta thấy những “người tin” đã tin khác nhau, tuỳ như Chúa mạc khải cho họ !
        Abraham tin Chúa có thể thực hiện lời hứa bất chấp mọi trái ngược bề ngoài, trong vụ tế lễ Isaac (St 15,6).
        Maisen tin Chúa trợ giúp để lướt thắng mọi trở ngại trong việc đưa dân Chúa ra khỏi Ai Cập (Xh 3,12).
        Dân Israel tin Chúa bênh vực mình như Dân riêng của Chúa (Đnl 26,5-9).
        Các Tiên Tri là những người nhắc nhủ cho Dân Chúa luôn giữ một niềm tin vững chắc vào một mình Chúa là Đấng có thể cứu được Dân Chúa mà thôi ; mọi hư thần khác đều bất lực ! Lòng tin tưởng vào Chúa che chở bênh vực này tạo nên lòng kính yêu Chúa, khát khao Chúa, và sự an vui sống với Chúa (Thánh vịnh).
         Các người suy nghĩ và hoạt động thì tin vào Chúa thưởng phạt đời này và nhất là đời sau(Khôn ngoan, Macabê).
          Bước sang Tân Ước, niềm tin Cựu Ước được bổ túc bằng những mạc khải do Chúa Giêsu : về thân thế Đức Kitô Đấng Thiên Chúa sai đến, Đấng Cứu Thế là chính Ngài, và về Chúa Ba Ngôi Cha, Con và Thánh Thần trong Chương Trình Cứu Độ.
          Đức Tin các Tông Đồ, các giáo hữu tiên khởi và cũng là của cả Giáo Hội cho đến ngày nay, chính là Đức Tin của  Cựu Ước được hoàn bị do Chúa Giêsu.
          Các bản tuyên xưng Đức Tin, các bản Kinh Tin Kính có trong Giáo Hội từ đầu cho tới nay đều phản ảnh Đức Tin đó.
Đức Tin gồm 2 phần :
-       Tin Thiên Chúa Ba Ngôi.
-       Và tin Đấng Thiên Chúa sai là Đức Kitô (Ga 17,3)
Hai phần này được quảng diễn nhiều hay ít, nhấn mạnh phương diện này hay phương diện khác, đó là những yếu tố tạo thành vô số những bản tuyên xưng Đức Tin và Kinh Tin Kính.
Trong số các Kinh Tin Kính, có 3 bản ngày nay được dùng đến nhiều. Đó là : Kinh Tin Kính quen gọi là của các Tông Đồ, Kinh Tin Kính của công đồng Nicée-Constantinople đọc trong Thánh Lễ, bản thề chống Tân Phái do Đức Giáo Hoàng Piô X đặt ra mà các Tân Linh Mục, Giám Mục, các Giáo Sư Chủng Viện, Đại Học của Giáo Hội… phải đọc trước khi chịu chức hay nhận chức.
Chương trình giáo lý này quảng diễn Kinh Tin Kính các Thánh Tông Đồ sẽ giúp ta hiểu rõ : Tôi tin gì ?

Đề tài trao đổi
Phải làm gì để có một Đức Tin cá nhân thật ?
Nếu tin thật, ta sẽ phải sống thế nào ?

Lm. An tôn  Trần văn Trường 
(nguồn : giaolyductin.net)

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

NỀN TẢNG ĐỨC TIN CÔNG GIÁO

                                                 

Tại sao tôi tin theo đạo Công Giáo ?

          1. Ý thức về lý do Đức Tin :
           Rất thường khi tiếp xúc với người ngoài Công Giáo, chúng ta mới có ý thức rõ ràng về lý do Đức Tin của chúng ta.
          Vì sinh trưởng trong một gia đình Công Giáo, được rửa tội từ khi còn nhỏ ; lớn lên, bầu không khí đạo giáo trong gia đình như thấm nhập vào con người một cách vô ý thức, chúng ta như “tự nhiên có đạo”. Đến tuổi dậy thì, óc ương ngạnh ưa chống đối để đòi lấy quyền tự lập của một nhân phẩm đang thành hình, đôi khi cũng có đặt những nghi vấn tôn giáo. Thế nhưng nếp sống gia đình, nếp sống xứ đạo lại dần dần phủ lấp và tiêu tan luôn những gì gọi là chống đối hay đi ngược, đi ngoài nếp sống đó ! Thế là ta lại trở về với thứ đạo giáo gần như “hồn nhiên” ! Nhất là khi đến lúc mà nghề nghiệp sinh kế chiếm trọn óc suy tư, tìm tòi, sáng kiến của ta, khoảng từ 40 tuổi trở lên : con người lúc đó như suy nghĩ hết mọi sự trừ ra đạo giáo ! Sinh hoạt tôn giáo, lễ lạy kinh kệ…, lúc đó làm là vì khung cảnh xã hội đưa đẩy, vì thói quen nề nếp trong con người, vì một thứ nhu cầu tôn giáo lúc mạnh lúc yếu…
        Thế nhưng giả sử có những lần gặp người ngoại Đạo nói trái Đạo của mình, thì rất thường lại chỉ phản ứng tự vệ dựa vào tâm tình hơn là sự thật : tâm tình tức giận vì nói xấu Đạo, hay tâm tình bao dung hỉ xả : đạo ai nấy giữ, đạo nào cũng tốt v.v…
        Thiết tưởng phải là một tâm hồn truyền giáo thực sự, là “men sống”, là “muối mặn”, một tâm hồn luôn nhớ lời Chúa dạy :
         “Ai không đi với Ta là chống Ta, ai không xây dựng với Ta là phá hoại” (Lc 11,23).
         Hoặc một tâm hồn không cầu an thứ bình an “ru ngủ”trong nguy hại, trong tầm thường, một tâm hồn luôn gây thức tỉnh bằng hành động, bằng chống đối (Lc 12,51-53 ; Mt 10,34-36), tâm hồn đó kèm theo một tình yêu tha nhân tha thiết, mong cho mọi người tiến bộ phát triển về phương diện tôn giáo, tâm hồn đó mới thực sự luôn ý thức rõ ràng về lý do Đức Tin của mình.
          Vì lý do tại sao tin, không phải chỉ để cho đời sống đạo của riêng mình được phát triển tâm linh, mà còn là sức thúc đẩy tôi đến với anh em để giúp họ thấy nếu chưa thấy, thấy rõ hơn nếu còn mơ hồ !

          2. Lý do Đức Tin Công Giáo :
         Có thể phân chia thành 2 loại hợp với 2 giai đoạn tiến bộ của con người tìm kiếm.
-          Giai đoạn hướng về Đức Tin Công Giáo.
-          Giai đoạn tìm hiểu để có Đức Tin Công Giáo.
(trong ngôn ngữ Truyền Giáo gọi là : giai đoạn Tiền Rao Giảng và Rao Giảng, và giai đoạn Dự Tòng).
         Loại lý do Đức Tin Công Giáo thuộc giai đoạn thứ nhất thường rất gần với Đạo Tự Nhiên Độc Thần do trí khôn suy luận nhận định về những biến cố trong đời sống, hoặc về hiện hữu của vạn vật (Rm 1,20 ; Kn 13,1-9).
         Loại lý do thuộc giai đoạn thứ hai mới trực tiếp và đặc biệt thuộc Đức Tin Công Giáo. Đạo Công Giáo không phải là Đạo Tự Nhiên, do trí khôn suy luận theo cách lập luận trừu tượng. Đạo Công Giáo khởi đầu từ công việc Chúa can thiệp vào lịch sử một cách dứt khoát và mạnh mẽ bằng cách cho chính Con Một của Ngài, cũng làThiên Chúa như Ngài, là một với Ngài, xuống thế trở thành loài người sống trong lịch sử loài người và vạn vật. Chính việc Thiên Chúa can thiệp mạnh mẽ  vào lịch sử này tạo nên một trật tự mới, một cách nhìn mới: Đấng Tạo Hoá không còn là đối tượng của Đạo Tự Nhiên, nhưng là Chúa Cha, Cha Chúa Giêsu và Cha chúng ta ; trật tự và vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên không còn là một môi trường hoạt động của khoa siêu hình học, nhưng là gia tài của Cha ta ban cho ta mà ta vui hưởng với tất cả tình cảm mến của người con yêu đối với người Cha nhân từ ; và sau hết, lịch sử cùng với muôn vật trong đó sẽ không còn nằm trong trật tự tự nhiên, nhưng là được hướng về cùng đích mới do sức mạnh của việc Chúa Nhập Thể, đó là “Trời mới Đất mới”.
        Lý do đưa đến niềm tin như thế, Niềm Tin là Đức Tin Công Giáo, không thể dựa vào suy luận của lý trí, của triết học ! Nhưng là dựa hoàn toàn vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống thế.
         Chúa Giêsu chính là căn bản Đức Tin Công Giáo.
        Chấp nhận Chúa Giêsu chính là nhận được Đức Tin Công Giáo, từ chối hay không biết Chúa Giêsu, sẽ không thể có được Đức Tin Công Giáo.
         Vậy những lý do nào đưa ta đến việc chấp nhận Chúa Giêsu ? (và đấy cũng là lý do để có Đức Tin).
         Sách Công Vụ Tông Đồ cho ta lý do thứ nhất, đó là lý do chứng nhân (Cv 1,8 ; 1,21-22 ; 2,32). Chứng nhân đầy đủ, đứng đắn, trong đời sống thường ngày cũng như trong trường hợp tố tụng, chính là lý do để ta tin. Đời sống xã hội con người dựa vào “chứng nhân”…
          Sách Phúc Âm nhất lãm thường hay đối chiếu việc Chúa Giêsu làm với Cựu Ước, gợi cho ta một lý do khác đó là lý do được Thánh Kinh báo trước. Điều gì xẩy ra đúng như đã báo trước, đó là một lý do để tin : một nhân vật đến theo như ngày giờ và thể thức loan báo và chuẩn bị, thì tôi có lý để tiếp nhận nhân vật đó !
          Nhưng đặc biệt nhất là Phúc Âm thứ tư, Phúc Âm Đức Tin, Thánh Gioan đã nói rõ ràng về lý chứng Thánh Kinh trên (Xem Ga 5, 39.45-47) và còn thêm lý chứng của Chúa Cha đó là các phép lạ Chúa Giêsu làm        (Ga 6,27 ; 5,3-6 ; 10,37-38) ; lý chứng của Thánh Gioan Tẩy Giả , vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước (Ga 5,31-35) ; và sau hết là lý do do chính lời Chúa Giêsu giảng dạy : Chúa Giêsu quả quyết rất nhiều lần Ngài là : Đấng Thiên Chúa sai đến (Ga 10,36 ; 17,8…) ; là một với Chúa Cha (Ga 7,28-29 ; 10,30.38…) Nếu sự thật không đúng như lời Ngài nói, thì Ngài quả một tên lừa bịp, phạm thượng, lộng ngôn…, hay là một người mất trí điên khùng… Nhưng như vậy thì làm sao hợp với lòng đạo đức sâu đậm, sự đứng đắn lạ thường, và một trí khôn sáng suốt bình tĩnh có một không hai của Ngài !?
          Trên đây là những lý do của Đức Tin Công Giáo. Và cũng là những lý do để biện hộ cho Đức Tin Công Giáo mà những tác giả các sách hộ giáo vẫn trình bày từ xưa đến nay.
          Những lý do đó chính Chúa Giêsu cũng đã dùng để khuất phục người ta chấp nhận Chúa, và ai không chấp nhận thì hết đường chối cãi và bản án luận phạt kể là đãy án rồi (Ga 9,39-40 ; 8,24). “Con người Giêsu” quả thực đã trở thành “hòn đá vấp phạm”, “hòn đá góc tường” không thể trốn tránh được : nhận Ngài thì được cứu thoát, không nhận Ngài thì sẽ bị luận phạt (Lc 20,18; 2,34), tan tành cả sự khôn ngoan thông thái (1 Cr 1,19-25).

Đề tài trao đổi
1. Tại sao lại nói : Chúa Giêsu là nền tảng Đức Tin Công Giáo ?
2. Đạo Công Giáo khác với Đạo tự nhiên thế nào?
3. Tại sao chúng ta buộc phải tin theo Chúa Giêsu?

Lm. Antôn Trần Văn Trường
(nguồn : giaolyductin.net)