Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

THƯ DÃN



CÁI LỢI CỦA BIẾT NGOẠI NGỮ 






Có câu chuyện ngụ ngôn kể về lũ chuột biết mèo đang rình nên cứ nằm im không chịu ra khỏi hang. Mèo nghĩ ra kế, rướn cổ rồi sủa: “Gâu…gâu”. 
Cho rằng mèo đã bị chó đuổi đi nên lũ chuột kéo ra kiếm ăn. Mèo lập tức vồ lấy một chú. 
Vừa ăn, mèo vừa gật gù tâm đắc: “Biết ngoại ngữ có hơn”!


    

Mèo này không biết ngoại ngữ nên bị Chuột đè đầu ,cưỡi cổ . Thấy chưa !



Chó này chắc cũng không biết ngoại ngữ    !!!

Nhân tiện mời các bạn đọc vài truyện cổ tích về mèo và chuột để ..... ngẫm nghĩ ???


Truyện cổ tích: Mèo và Chuột

Đời xưa, chuột vốn là một giống linh thiêng ở trên Trời. Trời giao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trời. Nhưng chuột không phải là một loài đáng tin cẩn, nhận được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúa.

Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để sai giữ chìa khóa lẫm thóc của nhân gian.

Nhưng chứng nào tật ấy, chuột lại rủ nhau vào lẫm thóc của người rả rích ăn no nê. Đến nỗi người phải có câu than rằng:

"Chuột kia xưa ở nơi nào ?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này ?"

Người lấy làm chua xót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trời và tâu rằng:

- Chuột này vốn chuột của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới ?

Trời nói:

- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới ấy.

Vua Bếp tâu:

- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm,chúng con thiết nghĩ: lúa của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên trên Trời là phải.

Trời nghe tâu, phán rằng:

- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lại lên đây nữa. Thôi bây giờ có một cách: Ta có một con mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì chú bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: "Nghèo, nghèo, nghèo", thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.

Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem chuột và cả mèo xuống hạ giới. Rồi cứ theo như lời dạy mà làm.

Thành thử bây giờ khi nào mèo rình bắt được chuột, rồi mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ" và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu: "nghèo, nghèo, nghèo, nghèo"...

Nhưng lúc ấy, mèo ngồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp để phóng uế.





Mèo làm thân với chuột 

Mèo làm thân với chuột - Truyện cổ tích
Mèo làm thân với chuột. Mèo kể lể tâm tình tha thiết, chuột nghe bùi tai đồng ý ăn ở chung với mèo. Mèo bảo:

- Ta phải đề phòng mùa rét kẻo rồi bị đói. Chú mày chớ có đi lại liều lĩnh kẻo rồi mắc bẫy đấy.

Chuột nghe lời. Chúng đi mua một niêu mỡ nhưng không biết cất đâu. Suy nghĩ mãi, mèo bảo:

"Anh thấy chẳng còn nơi nào cất tốt bằng ở nhà thờ vì ở đấy không ai dám lấy gì đi. Cánh ta đem cất niêu dưới gầm bàn thờ, chưa cần mỡ thì ta nhất định không rờ đến". Thế là chúng cất niêu thật kỹ. Nhưng chẳng bao lâu mèo ta thèm mỡ, nói với chuột:

- Chú chuột ạ, anh muốn nói với chú điều này. Anh có người chị họ mời đến làm bố đỡ đầu cho cháu. Chị ấy sinh được con trai, lông trắng đốm nâu, anh phải đi dự lễ đỡ đầu. Hôm nay anh đi, chú ở nhà trông coi nhà cửa một mình nhé.

Chuột đáp:

- Vâng vâng, lạy Chúa ban phước lành cho anh đi, có miếng ngon, anh nhớ lấy phần về cho em nhé. Em ao ước được nhắp rượu vang đỏ ngọt.

Nhưng tất cả những điều mèo nói đều sai cả. Mèo chẳng có chị em họ nào, mà cũng chẳng có ai mời đến làm lễ đỡ đầu. Nó đến thẳng nhà thờ, lén đến niêu mỡ, ăn xong liếm lông cho sạch mỡ. Rồi nó dạo chơi trên mái nhà thành phố, nhìn quanh quẩn, nằm ườn sưởi nắng, mỗi lần nhớ đến niêu mỡ lại chùi mép. Mãi đến chiều nó mới về nhà. Chuột nói:

- Thế nào, anh đã về đấy à? Chắc là cả ngày nhởn nhơ vui thú lắm nhỉ?

- Ừ thú lắm.

Chuột hỏi:

- Đứa trẻ đặt tên đỡ đầu là gì?

Mèo đáp gọn lỏn:

- "Liếm sạch lông".

Chuột reo lên:

- Sao lại là "Liếm sạch lông". Thật là một cái tên lạ lùng, hiếm có. Trong họ anh, tên ấy có thông thường không?

Mèo nói:

- Có gì lạ đâu! Tên ấy cũng không có gì xấu hơn tên "Ăn cắp vặt" là tên đỡ đầu của chú?

Cách đó ít lâu, mèo lại nổi cơn thèm, nói với chuột:

- Chú làm ơn giúp anh nhé. Nhờ chú trông nom nhà cửa một mình chuyến nữa. Anh lại có người mời đi làm bố đỡ đầu lần thứ hai. Đứa trẻ có vòng lông trắng quanh cổ, anh không tiện từ chối.

Chuột tốt bụng, nhận lời. Mèo kín đáo đi đến nhà thờ ăn thêm một nửa niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Không gì ngon hơn là ăn một mình", và lấy làm thú vị về việc làm ngày hôm đó. Khi về nhà, chuột hỏi:

- Thế nào anh, tên đỡ đầu của đứa trẻ là gì?

Mèo đáp:

- "Hết một nửa"

- Sao lại "Hết một nửa"? Anh nói gì thế? Từ thủa cha sinh mẹ đẻ, em chưa nghe thấy tên ấy bao giờ. Em cuộc là tên ấy không có ở trong lịch sử.

Sau đó ít lâu, nghĩ đến mỡ, mèo lại thèm nhỏ dãi. Nó liền bảo chuột:

- Quá tam ba bận. Anh lại phải đứng ra làm bố đỡ đầu. Đứa trẻ đen tuyền. Trừ chân trắng, không có một sợi lông trắng nào trên người, thật là mấy năm mới có một lận sinh thế. Chú mày để anh đi nhé!

Chuột đáp:

- "Liếm sạch lông", "Hết một nửa", tên gì mà quỉ quái thế, em cứ suy nghĩ mãi đấy.

Mèo nói:

- Chú cứ ru rú xó nhà với cái áo lông màu xám thẫm và cái đuôi dài mà nghĩ lẩn thẩn. Ấy chẳng qua là tại cả ngày không chịu đi ra ngoài đấy thôi!

Trong khi mèo đi vắng, chuột dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp. Mèo háu ăn chén sạch niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Chỉ chén kỳ hết mới yên tâm". Mãi đến đêm, nó mới về nhà, no nứt bụng. Chuột hỏi luôn tên đứa trẻ được rửa tội là gì. Mèo đáp:

- Chắc là chú không vừa lòng đâu! Tên nó là "Hết sạch".

Chuột kêu:

- "Hết sạch", thật là một tên lạ lùng. Em chưa đọc thấy tên ấy bao giờ. "Hết sạch" thế là nghĩa lý gì nhỉ?

Nó lắc đầu, nằm cuộn tròn người lại ngủ. Từ đó trở đi, chẳng có ai đến mời mèo đi làm bố đỡ đầu nữa. Nhưng khi mùa đông tới, ra ngoài đồng không kiếm được gì ăn nữa, chuột mới nghĩ đến thức ăn để dành:

- Anh mèo ạ, ta đi tìm niêu mỡ để dành đi, chắc là ngon lắm đấy.

Mèo đáp:

- Được. Hẳn chú sẽ thấy ngon lắm, ngon như thể lưỡi liếm không khí ấy mà!

Chúng ra đi, tới nơi thì thấy niêu vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ có niêu không.
Chuột bảo:

- Thì ra thế, bây giờ tôi mới hiểu các việc đã xảy ra. Bây giờ mới rõ anh thật là bạn tốt. Anh đã đánh chén hết. Anh làm cha đỡ đầu như thế đấy: Lần đầu "Liếm sạch lông", lần sau "Hết một nửa", rồi...

Mèo hét lên:

- Câm mồm ngay. Mày còn nói tiếng nữa là tao ăn thịt mày đấy.

Tội nghiệp con chuột không kềm được tiếng: "Hết sạch". Vừa nói buông miệng thì mèo đã vồ nó nuốt chửng.

Bạn xem đấy, tình đời là thế đấy!

Các em có những suy nghĩ gì về câu chuyện này? Mèo xấu tính, tán tận lương tâm hay chuột khờ dại? Nói thế nào cũng đều đúng cả. Ai đời chuột lại chơi với mèo. Các em có bao giờ nghe câu nói: “Chọn bạn mà chơi chưa"? Trong cuộc đời có nhiều người tốt nhưng
cũng lắm kẻ xấu. Nếu các em kết bạn với kẻ xấu thì các em sẽ nhận được hậu quả như con chuột trong truyện đấy!

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

KINH TIN KÍNH CỦA TÊN TRỘM



Kinh Tin Kính Ca Tên Trm
Lm. Nguyễn Tầm Thường sj


Nhiều người thường nghĩ, trước giờ chết, xưng tội xong thì chết lên thiên đàng ngay. Họ lý luận đơn giản là Chúa tha tội, hết tội là ta được lên thiên đàng. Tôi đã đặt vấn đề trong bài suy niệm về nhân quả. Thí dụ, tôi xưng tội nói xấu, tội tôi được tha. Nhưng hậu quả của việc nói xấu là cả cộng đoàn cứ đinh ninh người đó xấu, họ dè bỉu, họ coi thường, khinh chê, tránh xa người ấy. Bí tích Giải Tội tha tội cho tôi nhưng không có năng lực thay đổi lối suy nghĩ của cộng đoàn về người tôi gây bất công. Như thế hậu quả tội tôi gây ra vẫn còn.
Nếu Chúa nhận việc đền tội bằng mấy kinh tôi đọc, cho tôi lên thiên đàng rồi cứ để người khác chịu oan ức thì đâu là vẻ đẹp của bí tích Giải Tội. Tội thì giải mà không giải được hậu quả của tội thì tôi định nghĩa thế nào về cách tôi nhận ơn sủng của bí tích này. Một lý luận đơn sơ, một người ăn cắp của tôi hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha! Rồi tôi lại đi lấy cắp của người khác hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha! Ai dám khẳng định giáo lý của Chúa là như thế?
Tôi đã đưa thí dụ. Một người không chịu học hành, ăn gian nói dối, trộm cắp, xì ke ma túy, bệnh hoạn, vào tù. Khi được tha tù, họ sám hối, mọi người tha tội cho anh ta. Tội anh ta không còn. Nhưng vì không học nên vẫn dốt, hết tội không có nghĩa là tự động thông minh. Hậu quả vẫn còn. Anh ta phải đi học lại. Tha tội không có nghĩa là anh ta hết bệnh hoạn. Anh ta phải uống thuốc, phải tập thể thao. Tội thì hết nhưng hậu quả không hết.
Tôi được tha tội, nhưng tôi phải “học” mới lấy lại được kiến thức nơi học đường. Tôi được tha tội, nhưng tôi phải “tập dượt” mới lấy lại được sức khỏe. Vì có như vậy thì các “việc lành” mới có giá trị hiện hữu.
Người trộm lành
Có thể có người đặt vấn đề. Thế còn người trộm chết bên Chúa thì sao. Anh ta đâu có đền tội mà cũng được tha, chết lên thiên đàng ngay! Trong lối suy nghĩ ấy, nhiều người cổ súy một nền tu đức “mì ăn liền”. Chỉ cần tích tắc xưng tội là Chúa cho lên thiên đàng ngay. Ta hãy nghe lại những gì xảy ra ở vùng đất Jerusalem hai nghìn năm xưa theo Phúc Âm:
Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do Thái”.
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng (Lc 23, 34-43).
Phúc Âm cho thấy toàn cảnh bấy giờ như sau:
- Dân chúng đứng nhìn.
- Thủ lãnh buông lời cười nhạo.
- Lính tráng chế giễu.
- Một tên trộm nhục mạ.
Trong ba năm, Chúa chữa biết bao nhiêu người bệnh tật. Những người này bây giờ ở đâu. Không ai lên tiếng bênh vực Chúa.
Tôi xin đặt vấn đề. Anh ta là tên trộm, tại sao không nói như người trộm bên cạnh: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Trái lại anh ta mắng ngược lại tên trộm kia: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Qua cuộc đối thoại này ta thấy hai tên trộm không nói cùng một ngôn ngữ của kẻ trộm:
- Một người biết kính sợ Thiên Chúa, một người không.
- Một người biết chịu hình phạt là đích đáng, một người không.
- Một người biết cuộc đời của Chúa không làm gì sai trái, một người không.
- Một người biết Chúa Giêsu bị đóng đinh là sự bất công, một người không.
- Một người lội ngược dòng với đám đông, một người ùa theo.
Tâm đức người trộm lành
Sự khác biệt lớn lao là một người trộm có “tâm đức”, một người không. Cái tâm đức này không phải bây giờ anh ta mới có. Nó phải là lòng thao thức từ lâu. Những ngày đi ăn trộm anh ta phải biết về Đức Kitô rồi, nên mới xác định được là “Ông này đâu có làm điều gì trái”. Ăn trộm mà biết về Chúa rõ như thế sao? Ăn trộm mà còn lương tâm nhận là mình đáng tội, có nghĩa là lúc ăn trộm, lương tâm anh ta cũng đã ngời sáng rất rõ ràng. Một người như thế không có “tâm” sao. Bởi đó, ta mới có truyền thống gọi anh ta là người “trộm lành”. Trong lối sống “trộm lành” này rất có thể anh ta không ăn trộm chuyên nghiệp. Biết đâu bị bắt ăn trộm trong lúc quá túng nghèo của một sa cơ? Và biết đâu trong lối sống đó anh ta đã làm nhiều việc lành đền tội rồi.
Lời chứng trong bão tố
Nguyên việc trước công chúng mà anh ta dám xác nhận Đức Kitô vô tội thì anh cũng đáng bị người Do Thái đánh gẫy ống chân. Trong khi Phêrô chạy trốn, bao nhiêu người được Chúa chữa lành, được Chúa thi ơn không dám bênh Chúa còn anh ta có được hưởng ơn gì của Chúa đâu mà dám bênh Chúa? Việc tuyên xưng Chúa vô tội trên thập giá của một tên trộm lại là lời tuyên xưng duy nhất của nhân loại. Toàn thể bấy giờ im lặng. Tất cả thế lực tôn giáo, chính quyền đều chảy xuôi một chiều là nhạo báng Chúa.
Người tuyên xưng Chúa duy nhất lại là tên trộm. Sự tuyên xưng này mang một ý nghĩa rất sâu là anh xác tín vào đời sau. Như thế có nghĩa là tất cả xã hội kia đang đánh mất ân sủng của mình. Toàn thể đám đông kết án Chúa là sai. Anh ta đi ngược lại đám đông, người trộm này dám xưng mình tin Chúa là Đấng vô tội. Một người bình thường không thể tuyên xưng như thế. Chúa đang chết rất nhục nhã, bởi đó người ta mới cười: “Nó đã cứu người khác thì tự cứu mình đi”. Lời đó đối với con mắt người thường là đúng thôi. Vậy tại sao tên trộm lại không tin như thế. Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sẽ vào Nước Thiên Chúa? Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sống lại? Ai dạy anh ta có sự sống đời sau? Ai dạy anh ta tin rằng Chúa đang chết kia là Thiên Chúa thật? Người khôn ngoan thì đến với kẻ quyền năng chứ đến với một người cũng chết như mình thì được gì?
Cái sám hối của anh không đến từ một “tâm đức nhất thời” mà nó phải có căn tính bằng cả một cuộc sống của quá khứ. Anh phải biết về lời rao giảng của Chúa lúc đương thời. Anh phải theo Chúa trong tâm đức của anh từ lâu lắm rồi. Giáo lý và niềm tin không thể đến bất ưng không vun trồng. Cuộc trở về của tên trộm tương tự như quá khứ tìm kiếm lề luật của người thu thuế Giakêu.
Tư cách thay cả nhân loại tuyên xưng Chúa vô tội. Tư cách xin chấp nhận bị đóng đinh vì xứng với tội của mình để làm tương phản đảo lộn việc đóng đinh Chúa là sai trái, không là bài giảng hùng hồn nhất giữa trời đất trước mặt toàn quyền thượng tế và chính quyền hay sao? Đấy không phải là cách đền trả công lý của anh sao?
Đền trả là tuyên xưng đức tin
Hậu quả tội lỗi của anh có đó chứ. Nhưng anh đã đền. Không phải một tích tắc ăn năn, Chúa tha tội là lên thiên đàng. Anh ta đã đền. Cái đền anh dũng trên thập giá của anh cho tôi tin rằng anh cũng đã nhiều lần đền trong lương tâm của một thời quá khứ băn khoăn thao thức. Vấn đề đặt ra ở đây không phải là anh ta không đền. Anh ta đã đền. Cuộc tuyên xưng này không những là đền trả bây giờ mà thôi nhưng nó là kết quả của những trăn trở trong quá khứ rồi. Chỉ có vấn nạn là, đền như thế mà đủ sao? Lỗi đức công bình sao anh không đền trả cho người? “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải? Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra tòa, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan tòa, quan tòa lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục”. Tôi bảo cho anh biết: Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng” (Lc 12, 58-59). Phải trả đến đồng kẽm cuối cùng. Theo mạch văn thì không phải là trả cho Thiên Chúa mà cho đối phương. Ta cũng nên lưu ý một suy nghĩ, đây là ý tưởng Phúc Âm Luca. Phúc Âm Luca được mệnh danh là Phúc Âm của lòng thương xót. Luca luôn luôn đề cao lòng thương xót. Tại sao ở đây Luca viết bằng ngôn ngữ mạnh như thế.
Tất cả hậu quả của tội đều phải đền. Chỉ có vấn nạn là đền ít hay nhiều, đền bao nhiêu mới đủ, đền không đủ thì sao, làm cách nào đền. Tôi sẽ đề cập tới đền như thế nào mới đủ trong đề tài Chúa làm phép bánh hóa ra nhiều ở biển hồ Galilê.
Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng”. Lời cầu xin của anh ta là:
- Anh tin có Nước Thiên Chúa và sự sống đời sau.
- Anh tin người ta sẽ sống lại.
- Anh không là người vô thần. Anh kính sợ Thiên Chúa.
- Anh tin Đức Kitô là Thiên Chúa, có sự sống nơi Chúa.
- Anh tin vào Đấng Cứu Độ. Đức Kitô là Đấng có thể cứu anh.
- Anh tin có sự cứu chuộc. Con người cần được cứu chuộc.
- Anh tin vào luân lý có đúng, có sai.
- Anh tin những người kết án Chúa, họ là kẻ là sai lầm.
- Anh tin Thiên Chúa có thể sửa sai. Anh tin một niềm hy vọng.
Sự tuyên xưng này anh phải trả giá vì nó đi ngược lại những người đang kết án Chúa. Đây không là lời tuyên xưng dễ dãi biếng nhác. Sự đền trả của người trộm ở đây mang một ý nghĩa khác nữa. Nó làm trọn Lời rao giảng của Đức Kitô: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10, 32).
Hành trình thiêng liêng
“Tên trộm”, mà hôm nay người ta thường gọi danh xưng như thế đã là nhân chứng của niềm tin giữa giờ vô cùng bão tố. Bão tố nhất. Ta có thể nói, trước khi có Kinh Tin Kính thì anh trộm đã tuyên xưng trước chúng ta rồi. Một lời tuyên xưng công khai trước toàn thể quyền thế nhân loại. Lời tuyên xưng sau cùng trước khi Chúa giã từ trần gian. Trong lúc cả nhân loại im tiếng thì một người duy nhất tuyên xưng lại là anh. Hành trình thiêng liêng của người trộm này không là tích tắc được Chúa cho vào Nước Chúa, nhưng là một hành trình đã chuẩn bị từ tháng ngày trong quá khứ.
Ta nên nhìn con đường trưởng thành thiêng liêng của người trộm không đến từ ngẫu hứng “mì ăn liền”. Không nên dễ dãi kết luận, chỉ cần tích tắc nói với Chúa vài câu là được lên thiên đàng. Ta nên nhìn con đường trưởng thành thiêng liêng của người trộm này trong cái nhìn tìm hiểu đoạn Kinh Thánh tường thuật về anh. Có thể nói cách khác, chính lời tuyên xưng của “tên trộm” viết thành lời đoạn Kinh Thánh này ?

(Trích tập suy niệm KẺ ĐI TÌM, 2010).


Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

MỘT THOÁNG DỐC MƠ


 

Trên đường từ Saigon  Đàl-lạt ngang qua  ngã 3 Dầu Giây  khoảng 10 kilômét, nhìn về 2 bên đường

chúng ta nhận tháy khá nhiều ngôi thánh đường có tháp nhô lên bầu trời cao xanh

Một trong các ngôi thánh đường đã được xây dựng cách nay trên 30 năm, phải kể trong dó thánh đường

Giáo xứ Dốc Mơ, Thánh đường này được xây trước năm 1975 và trài qua nhiều đời các Cha chính xứ


Đa số giáo dân trước 1975 là thành phần nông dân, lao động sản xuất trực tiếp tại nương dẫy của mình


tại các khu bìa rừng  gần giáo xứ và sàn xuất hoa mầu, cây ăn trái ở ngay thửa đất của mình cư ngụ


Ngoài ra cũng có các hộ chuyên ngành chăn nuôi gia súc, heo gà và có ao thả cá, một số ít làm nghề 


Giao thông vận chuyển, cuôc sinh hoạt bình dị chân quê. Nhưng từ sau ngày đất nước thống nhất thì đa số


đã có nhiều biến chuyên thay đổi về ngành nghề và có khả năng tiến sâu vào sản xuất quy mô và trên đường phát triển


kinh tế phồn vinh, một số các gia đình có người đi nước ngoài tiếp tế về để bắt tay vào việc xây dựng quê hương 
đất  nước, nên quang cảnh xung quanh các thánh đường cũng được chỉnh trang cảnh trí phù hợp với các


công trình kiến trúc mà trước đây chỉ có thể hoàn chỉnh phần thánh đường chính, chưa có điều kiện cho việc 
thực hiện các công trình phụ bên ngoài. Đế đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đông đảo bà con giáo dân hiện tại
  trong ngoài giáo xứ, quý Cha chính, phó xứ đã cùng quý vị HĐMV các giáo xứ địa phương hoạch định xây dụng
  thêm các công trình phụ như nhà sinh hoạt, nhà dạy giáo lý,  và các khu vườn hoa, cây cảnh, đặc biệt
  khu nhà sinh hoạt cộng đồng  cho bà con mỗi khi có các công việc quy tụ đông đảo cộng đoàn như
 cưới xin, giỗ chạp, hội đoàn, ma chay có đủ chỗ để đáp ứng cho nhu cầu của đông đảo bà con giáo dân


Chúng tôi lâu lắm mới có dịp trở lại tham quan và gặp gỡ  vị linh mục chính xứ mà cách nay khoảng  20 năm


Phải kể lai lịch những người xưa Cha mới nhận ra và Ngài rất lấy làm quý mến vô cùng, bởi chính Ngài cũng được nhiều ơn riêng nên ngần ấy năm trời Ngài vẵn được bình an và làm việc tại giáo xứ như khi xưa tôi gặp


Tham dự thánh lễ hôn phối cho các cháu song, chúng tôi vào trong sảnh sinh hoạt để tiếp tục mừng  cho
  đôi tân hôn, chúng tôi lại càng ngạc nhiên hơn nữa vì tại nơi xa xôi thành phố mà phong cảnh, tiện nghi
  nhất là bầu khí khoáng đạt đã hấp dẫn chúng tôi và cho một cảm giác là mình ở thành phố mà còn kém xa
  những nơi mà  ngày trước mình cho là nhà quê, thì bây giờ trổi bật và tiện nghi hơn thành phố, nhất là về không gian


khoáng đạt  và cộng đồng bà con đa phần là những người có tín ngưỡng, mà gần hết là đồng bào Công Giáo
  Tuy nhiên cũng có những bà con thuộc tôn giáo bạn, nhung nếp sống văn hóa hòa nhập của truyền thống


quê hương dân tộc Việt Nam là luôn gắn bó, yêu thương trong tình nghĩa đồng bào ruột thịt và tôn trọng
  lẫn nhau , loại trừ mọi manh nha của nền văn hóa sự chết, và xây dựng, kiến tạo cho nền văn minh tình thuong
 theo tinh thần của Giáo lý Công Giáo kết hợp với các thuần phong mỹ tục của Tổ tiên, Cha Ông lưu truyền
  Các lễ nghi, phong tục tập quán luôn gìn giữ và phát huy không những trong nước mà còn ảnh hưởng đến 
những người đã đi xa, nhung vẫn lưu luyến và chờ có dịp về quê hương để tổ chức việc trăm năm cho các con cháu

Chúng tôi được Cha chính xứ dành nhiều ưu ái và cho nhiều kỷniệm thật quý giá và êm đềm

trong dịp chúng tôi về giáo xứ Dốc Mơ do Ngài làm  chính xứ hằng 30 năm nay với bao 
tinh thần và sức lưc để cùng chung lưng, chung lòng với cộng đồng bà con lương giáo, kiến tạo cho bộ mặt
 và nhất là cả phần bên trong  tâm linh của vùng xứ đạo Dốc Mơ, để có được  thay đổi mới mẻ lạ lùng và  ít ai
có thể ngờ rằng một vị Lm. bình thường như mọi Lm  mà lại cải tạo được  cả 2 mặt của một cộng đồng
lớn lao và đa dạng như cộng đồng bà con vùng này
Là những người có sẵn niềm tin, chúng tôi thầm nghĩ, Cha đã được thật nhiều ơn Chúa soi sáng
và cộng đoàn cũng đã nhất tâm, nhất trí trao phó niềm tin nơi Cha, cầu nguyện và xin Chúa thêm sức cho Cha nhiều
để ngày hôm nay, chúng ta nhận được từ Thiên Chúa ban cho những  kết quả trông thấy hằng ngày như  thấy một khu vườn có suối nước trong xanh, có trái ngọt thơm lành cả về mặt thể chất và mặt thiêng liêng mà chúng ta đã mơ ước từ lâu,nay đã hành hiện thưc . Lời Chúa phán dậy : Xem quả thì biết cây, cây tốt sinh quả tốt. cây xấu sinh quả xấu. . . . . .Cả Cha , Con cùng gieo trồng, cùng vun tưới và đã được Thiên Chúa cho lớn lên . Càng ngày càng lớn lên và càng vững mạnh .Cả Dốc Mơ và các vùng lân cận ,và ai đó, có đi đâu cũng nhớ về nguồn

Đi xa gấp mấy cũng luôn nhớ nhà

Đan Thụy

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

PHÙ VÂN - MỌI SỰ ĐỀU LÀ PHÙ VÂN


Vanitas vanitatum !
       (Phù vân mọi sự đều là phù vân )


Bài Giảng Chúa Nhật XVIII Thường Niên C
Của cải vật chất là những phương tiện cần thiết cho cuộc sống của mỗi người, nhưng đồng thời, nó cũng là phương tiện để chúng ta thực hành lòng bác ái yêu thương. Của cải chỉ trở nên xấu xa bất chính khi vì nó mà người ta chà đạp, bóc lột kẻ khác, hay khi người ta sử dụng nó một cách ích kỷ, không đem chia sẻ cho những kẻ khó nghèo.

Một ông già nghèo ngồi bên cửa sổ lo lắng cho tương lai. Một người lạ mặt ôm một con ngỗng đến tặng ông già và nói : “Ông hãy chăm sóc con ngỗng này chu đáo thì nó sẽ giúp ích cho ông”. Rồi người đó đi mất. Ông già nghèo đem con ngỗng vào nhà, cho nó ăn, cho nó uống, ban đêm cho nó ngủ trong một cái lồng sạch sẽ. Sáng hôm sau khi nhín vào chiếc lồng ông vui mừng thấy một quả trứng ngỗng bằng vàng. Ông mang quả trứng ra tiệm bán được một số tiền lớn, mua được đủ mọi thứ cần thiết cho cuộc sống. Hôm sau ông được thêm một trứng ngỗng vàng nữa. Hôm sau nữa cũng vậy. Cứ thế mỗi ngày ông nhặt được một quả trứng vàng. Từ đó ông không còn nghèo nữa, ông sống rất thoải mái. Nhưng dần dần ông trở thành tham lam. Ông không chịu mỗi ngày chỉ có một trứng, ông không thể chờ cho tới hết tuần mới có được 7 trứng. Ông muốn có ngay một lúc tất cả những trứng vàng của con ngỗng. Thế là ông mổ bụng con ngỗng ra. Nhưng ông chẳng thấy quả trứng nào trong đó cả. Ông vội may bụng ngỗng lại mong nó đừng chết. Nhưng vô ích. Khi đó người lạ mặt kia trở lại, và nói : “Trước đây tôi đã chẳng bảo với ông rằng nếu ông chăm sóc con ngỗng tử tế thì nó sẽ giúp ích cho ông sao ? Bây giờ cả ông lẫn tôi đều đã mất tất cả” (Aesop).
***
Nhà tu đức học nổi tiếng người Ấn Độ là cha Anthony de Mello đã nói: “Không có niềm vui nào lớn hơn là khi không có một lý do nào để buồn phiền và không có một của cải nào lớn hơn là khi bằng lòng với điều mình đang có”.
Vâng, bằng lòng với những gì mình đang có là bí quyết để có thể sống hạnh phúc, thế nhưng trong thực tế, khi càng giàu có, con người lại càng muốn có nhiều hơn và đó chính là giềng mối của mọi thứ bất hạnh của con người. Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã giúp chúng chúng ta có cái nhìn đúng đắn về của cải qua dụ ngôn “người phú hộ giàu có”.
Thái độ của Chúa Giêsu đối với của cải.
Tại sao Chúa lại lên án ông phú hộ ? Phải chăng là vì ông ta quá giàu?
Trước tiên, chúng ta phải khẳng định rằng: Giàu có không phải là tội. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa không hề muốn con người phải sống trong cảnh nghèo nàn và lạc hậu, trái lại, Ngài ước mong cho chúng ta được sống và sống một cách dồi dào sung mãn, như lời Đức Giêsu đã khẳng định: “Ta đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Thứ đến, Chúa Giêsu không hề khinh ghét của cải, bởi vì chính Ngài cũng đã lao động để làm ra của cải. Nhưng điểm khác biệt là ở chỗ, Ngài không bao giờ để cho của cải chi phối, thống trị mình. Ngài đã từ chối không làm phép lạ hoá đá thành bánh khi bị ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, nhưng lại không do dự làm cho bánh hoá nhiều để nuôi dân chúng.
Trong cuộc đời công khai, Chúa Giêsu luôn tỏ ra thương xót những kẻ nghèo hèn và cùng khốn, tuy nhiên, Ngài cũng có những người giàu ở bên cạnh, chẳng hạn như Giakêu, như Giuse Arimathia. Ngài cũng đã vào nhà ông Simon - một người biệt phái giàu có…
Vậy đâu là lý do Chúa Giêsu lên án ông nhà giàu này ? Thưa là bởi vì ông ta là một người ích kỷ, chỉ lo cho chính bản thân mình mà không hề nghĩ đến người khác.
Có lẽ không dụ ngôn nào nhiều chữ "mình" như trong dụ ngôn này: "Hoa màu của mình, kho lẫm của mình, thóc lúa và của cải của mình, linh hồn của mình" - Đó là những chữ mà người ích kỷ hay dùng đến. Ông nhà giàu không hề nhìn xa hơn thế giới của mình. Mọi chương trình của ông chỉ luẩn quẩn trong thế giới riêng của ông ta. Ông coi tiền của như mục đích duy nhất của đời sống. Đối với ông, tiền bạc chính là vật bảo đảm vững bền những khát vọng của con người. Thế nhưng ông không hiểu được rằng: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì chẳng được ích lợi gì."(x.Lc 12,21).
Cũng một ý tưởng như vậy, tác giả Thánh vịnh 49 cho hay: "Chúng cậy vào của cải, lại vênh vang bởi lắm bạc tiền, nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình, và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa. Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời …" (49,7-9). Giàu có mà keo kiệt, mà ích kỷ thì cũng chẳng giúp ích gì cho cuộc sống mai hậu của họ, bởi vì: “Ba tấc đất mới thật là nhà. Nơi họ ở muôn đời muôn kiếp”
Mọi sự phù hoa rồi cũng sẽ qua, chỉ tình yêu thương mà con người dành cho nhau là luôn còn mãi. Đó cũng là thông điệp mà tác giả sách Giảng Viên trong bài đọc thứ nhất cho chúng ta hay: Phù vân quả là phù vân. Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ”. (Gv 1, 2,21-22).
Vậy đâu là thái độ của chúng ta đối với của cải ?
Châm ngôn Lamã có câu: "Tiền bạc khác nào nước biển, ai càng uống nó thì càng khát thêm”. Của cải vật chất là những phương tiện cần thiết cho cuộc sống của mỗi người, nhưng đồng thời, nó cũng là phương tiện để chúng ta thực hành lòng bác ái yêu thương. Của cải chỉ trở nên xấu xa bất chính khi vì nó mà người ta chà đạp, bóc lột kẻ khác, hay khi người ta sử dụng nó một cách ích kỷ, không đem chia sẻ cho những kẻ khó nghèo.
Vậy để tránh được những hấp dẫn làm cho ta nên mù quáng bởi của cải, chúng ta cần phải biết khôn ngoan. Khôn ngoan để biết rằng: Mình không phải là chủ vĩnh viễn của của cải, vì một ngày nào đó, mình sẽ phải ra đi với hai bàn tay trắng. Khôn ngoan để không cho của cải làm chủ được mình, bởi vì hạnh phúc đích thực của con người không do tiền của mang lại mà do chính ở thái độ làm chủ của con người đối với của cải. Và sau cùng, khôn ngoan để luôn ý thức rằng: Của cải trần thế không phải là cứu cánh của đời người, mà Thiên Chúa mới là phần gia nghiệp đích thực của cuộc đời ta.
***
Lạy Chúa, xin dạy con đừng chỉ thu tích của cải cho riêng mình, nhưng biết mở rộng tâm hồn để trao ban cho người khác. Xin cho chúng con niềm vui khi được chia sẻ vì biết rằng: chỉ tích trữ những kho tàng nơi Thiên Chúa, kho tàng ấy sẽ không bao giờ mất được. Amen.
Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên
(giaophanthaibinh.org)