Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

LỄ KÍNH MẸ THÁNH TÊRÊSA CALCUTTA


Sinh tại Thủ đô nước Albani                                 26-08-1910
Lập Dòng Thừa Sai Bác Ái tại Ấn Độ                   07-10-1950
Qua đời tại Tp Calcutta (Ấn Độ )                          05-09-1997
Tấn phong Chân Phước tại ROMA                       09-10-2003
Lập Tượng Đài Mẹ tại Linh Địa 
TERESA CALCUTTA THANH ĐA (SG ,VN)     14-05-2008 

LỄ KÍNH MẸ THÁNH HẰNG NĂM   05-09 


KINH PHỤC VỤ 
( Được dùng trong Phụng Vụ )

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn sống  
"PHỤC VỤ TRONG YÊU THƯƠNG "                                                      (Mt 20,28)
Nơi cộng đoàn, biết tâm đầu ý hợp,                                                              (PI 2,2)
Trong gia đình, biết mặn mà dễ thương                                                       ( CI 4,6)
Ngoài xã hội, biết đối xử tốt và thương xót ,                                             (Ep 4,6)
Với mọi người biết nhân nhượng và tôn kính nhau,                                   (Rm 12,10)
Trong mọi sự, biết tha thứ, chịu đựng và tin tưởng,                                  (1Cr 13,7)
Ở mọi nơi, luôn chiếu tỏa lòng Chúa hiền hậu và khiêm nhường          (Mt 11,29)
Trước cám dỗ, luôn chiến thắng để bền đỗ trong Ơn Thánh,                 (Kh 3,21)
Nhờ đó , chúng con trở nên Tông đồ được Chúa sai đi                          (Ga 20,21)
Để xây dựng Hòa bình mà làm chứng về Chúa cho mọi người .           (Cv 1, 8)
Amen 


                   
                    
                            MẸ TERESA CALCUTTA TẠI NHÀ THỜ  THANH ĐA SÀI GÒN 








NHỮNG LUẬT LỆ NGẦM Ở NHẬT BẢN



1. Sau khi ăn xong. Không dùng tăm ở nơi công cộng. Nếu dùng thì phải kín đáo hay vào nhà vệ sinh .
2. Vào nhà hàng không dùng khăn nóng lau mặt, chỉ để lau tay thôi
3. Người cùng giới đi ngoài đường không choàng vai bá cổ nhau
4. Không dùng ngón tay chỉ vào người khác
5. Không rung đùi
6. Dùng chén, đũa đúng
7. Không hỏi tuổi người đang nói chuyện với mình
8. Ngoài người yêu, vợ, chồng, con ra, không bao giờ động chạm vào người đang nói chuyện với mình kể cả lúc thân mật cũng như lúc giận dữ/cải cọ
9. Không nhổ nước bọt, ngoáy mũi ngoài chổ công cộng
10. Không nói chuyện ồn ào làm phiền hàng xóm
11. Lên tàu điện giữ trật tự, không nói chuyện ồn ào làm phiền người xung quanh
12. Lên tàu điện, lúc nghe nhạc không để âm thanh quá lớn
13. Không ăn uống trên tàu điện
14. Không vắt chân khi ngồi trong tàu điện
15. Không chen lấn, xô đẩy
16. Xếp hàng, không chen ngang
17. Không vứt rác bừa bãi, rác mình thải ra có thể mang về về nhà bỏ khi cần
18. Không để ý soi mói người xung quanh/hàng xóm
19. Không trộm cắp
20. Không cải, đánh lộn
21. Không gây ồn làm phiền người khác khi ở nhà
22. Không liếc ngang, liếc dọc khi đối thoại
23. Khi làm việc, không sờ vào những thứ chưa biết
24. Đi vào nhà Nhật, hay ăn kiểu Nhật không mang giầy lên sàn, phải cởi giày để ở dưới đất.
25. Đi lên sàn có chiếu tatami, mang vớ đừng cỡi
26. Không gắp thức ăn cho người khác.
27. Không hỏi lương của người khác.
28. Không hỏi cân nặng cũng như bình luận về hình thể người đang nói chuyện với mình. Ở VN đối với người thân quen việc khen tròn trịa có thể là điều tốt. Còn tại Nhật nói... ốm OK, nói mập... kỵ lắm ah'!!
29. Không chở nhau bằng xe đạp. Xe đạp chỉ dành cho 1 người. Cảnh sát sẽ hỏi thăm nếu thấy mình đi xe đạp mà chở thêm 1 người nữa.
30. Không lái xe lúc uống bia rượu. Sẽ bị phạt rất nặng nếu bị phát hiện
31. Không vừa đi vừa hút thuốc, không bỏ tàn thuốc bừa bãi
32. Không khoanh tay trước mặt, không đút 2 tay vào túi quần khi nói chuyện
33. Không cho số điện thoại, địa chỉ của người này cho người khác khi chưa có sự đồng ý.

34. Không nói chuyện điện thoại tại chỗ đông người (bữa ăn, buổi nói chuyện...).

(Nguồn: http://vietyo.com/forum/khoa-hoc-lich-su)

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM VỀ HẠNH PHÚC






     Một phút bạn tức giận - sáu mươi giây bạn mất đi hạnh phúc - Ralph Waldo Emerson.
Haley(Dịch từ Goodreader)
1- Đừng khóc với những gì đã qua, hãy mỉm cười vì nó đã xảy ra. - Dr. Seuss
2- Hãy đếm số tuổi của bạn bằng bạn bè, không phải bằng năm. Hãy đếm cuộc sống của bạn bằng nụ cười, không phải bằng nước mắt - John Lennon
3- Hạnh phúc có được phụ thuộc vào chính bản thân chúng ta - Aristotle
4- Hạnh phúc là ý nghĩa, là mục đích của cuộc sống, là sự cố gắng và kết thúc của một đời người - Aristotle
5 - Hạnh phúc của cuộc đời phụ thuộc vào những suy nghĩ tích cực của chúng ta - Marcus Aurelius
6 - Bất cứ ai hạnh phúc, sẽ làm người khác hạnh phúc - Anne Frank



7 - Hạnh phúc không phải từ những điều mà ta nhận được, mà từ những điều mà ta cho đi - Ben Carson
8 - Một phút bạn tức giận - sáu mươi giây bạn mất đi hạnh phúc - Ralph Waldo Emerson
9 - Hạnh phúc không phải là ở việc sở hữu một số lượng lớn tiền bạc, mà là ở trong niềm vui về thành công, trong sự hồi hộp của nỗ lực sáng tạo! - Franklin D. Roosevelt



10 - Hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời là có thể tin chắc rằng chúng ta được yêu thương - yêu vì chính bản thân ta, hay đúng hơn, đó là yêu bất kể bản thân ta - Victor Hugo
11 - Hãy hạnh phúc với chính bản thân bạn, với những việc bạn làm và những việc bạn muốn làm! - Steve Maraboli 
12 - Quy luật của hạnh phúc: một việc nào đó để làm, một người nào đó để yêu và một điều nào đó để hy vọng - Immanuel Kant
13 - Khi bạn nuôi dưỡng cay đắng, hạnh phúc sẽ cập bến ở một nơi khác - Andy Rooney
14 - Hạnh phúc chỉ tồn tại khi chúng ta biết cách chia sẻ nó - Christopher McCandless



15 - Hạnh phúc mà bạn nhận được tỷ lệ thuận với yêu thương bạn cho đi - Oprah Winfrey
16 - Hiểu hơn về giá trị bản thân, có nghĩa là: chiến đấu để có được hạnh phúc - Ayn Rand
17 - Hạnh phúc không phải là một mục tiêu.... Đó là sản phẩm của một cuộc sống tươi đẹp - Eleanor Roosevelt
18 - Với tất cả những sự giả dối, đau khổ và cả những giấc mơ tan vỡ, thì thế giới này vẫn luôn tươi đẹp. Hãy vui lên. Hãy đấu tranh để giành lấy hạnh phúc - Max Ehrmann
19 - Ngày hôm qua đã tàn, ngày mai vẫn chưa tới. Nhưng tôi vẫn có một ngày hôm nay... Ngày mà tôi sẽ hạnh phúc! - Groucho Marx
                                                               
                                                            (sưu tầm)


NGOẠI ĐẠO


       Lạy Chúa, con là người ngoại đạo Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.
      Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao? Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi. Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.
    Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo. Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo. Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông. Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay. Áo lụa cũng phơi bên sân hiền nhà ai. Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về. Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác. Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.
     Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa. Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta. Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon. Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình. Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm. Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là "chợt mát", là ơn cứu độ.
      Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình. Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi "trong địa đàng" nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng. Như thế, "tôi ở trong địa đàng" vẫn là thống khổ, chỉ khi "địa đàng ở trong tôi", lúc đó tôi mới "có địa đàng", bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.
      Nói về có đạo và vào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.
Một người ngoại đạo
    Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ. Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không? Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi. Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở. Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ. Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).
Một người ngoại giáo nữa
      Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:
     Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: "Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ dằn." Ngài nói: "Ta phải đến chữa nó?" Viên bách quản thưa lại: "Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi. Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: "Ði đi!" là nó đi; và bảo người khác: "Ðến!" là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: "Làm cái này" là nó làm". Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel" (Mt. 8:5-10).
Lại một người ngoại giáo nữa
      Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin. Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.
     Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài. Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: "Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!" Thấy vậy, Ngài bảo họ: "Hãy đi trình diện với hàng tư tế." Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch. Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn. Người ấy là một người Samari. Ðức Yêsu cất tiếng nói: "Không phải là cả mười người được sạch cả sao? Chín người kia đâu? Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?" (Lc. 17:11-18).
Rồi lại một người nữa ngoại giáo
     Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: "Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi. Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi. Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thầy thấy người ấy song cũng tránh một bên mà đi. Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).
        Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo. Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo. Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.
Rồi những người ngoại giáo nữa
     Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ. Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.
Lạy Chúa,
- Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.
- Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.
- Nói về lòng biết ơn thì ít quá. Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.
- Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.
Băn khoăn một chút thế nào là "người bên ngoài", thế nào là "người bên trong", thế nào là "ngoại đạo" và "có đạo", con thấy một lần Chúa nói: "Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm" (Mt. 8:11-12).
Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài. Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn. Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì. Con phải băn khoăn thế nào là "vào đạo" và thế nào là "có đạo". Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ. ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được. Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người "ngoại đạo".
Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:
Lạy Chúa, con là người ngoại đạo Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Nguyễn Tầm Thường 
(Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)


Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

AI HẠ MÌNH XUỐNG , SẼ ĐƯỢC NÂNG LÊN

XIN MỘT CHỖ NHẤT TRONG ĐẤT THÁNH 

(SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN C)


E-mailPrintPDF








Một tờ di chúc ghi rằng:
“Các con biết đó, ba đã làm ông Chánh Trương ở Giáo Xứ  này liên tiếp 5 nhiệm kỳ 4 năm, tức là 20 năm rồi. Ba đã hy sinh cho Nhà Thờ Nhà Thánh này quá nhiều rồi. Vì vậy ba dặn các con mấy việc cần làm lúc ba ra đi:
      Một là xin một chỗ trong Đất Thánh gần bàn thờ nhất.
      Hai là xin Cha sở cho làm Lễ đồng tế.
      Ba là báo tin, mời các cha N, cha Đ và cha C về làm Lễ đồng tế.
      Bốn là mời Đội Kèn TX về thổi hai ngày. Đừng mời Đội Kèn XL vừa xa, vừa dở, lại tốn kém.
      Năm là không nhận tiền phúng điếu, nhưng vòng hoa càng nhiều càng tốt...”

      Có người ngoài gia đình đọc được tờ di chúc, nhận định:
      “Khi sống, đòi làm cho được ông kia bà nọ để cưỡi đầu cưỡi cổ người ta, đòi ăn trên ngồi trốc, đòi một chỗ danh dự trong Nhà Thờ, trong hội nghị, trong đám tiệc... đã đành, đến lúc chết, lại đòi phải an táng trọng thể, Lễ đồng tế, kèn trống, vòng hoa, xe và người tiễn đưa thật đông... và nhất là phải xin cho được một chỗ trong Đất Thánh gần bàn thờ nhất…thì đúng là “chứng nào tật ấy” !
      Thật là uổng phí thời gian khi phải bận tâm, lo toan chuẩn bị cho cái chết của mình thật chu đáo theo kiểu của người ở đâu cũng đòi làm ông lớn ! Chết mà cũng đòi làm lớn ! Ngán ngẫm thật !”
       Tôi không biết cách nào bào chữa cho người quá cố hơn là: “Thông cảm đi mà... Có thể là cụ nghĩ mình tội lỗi, nên xin được nhiều Thánh Lễ, nhiều lời cầu nguyện để được Chúa sớm thứ tha”.
       Có người lại nhắc câu chuyện về anh Hai Dung, người trông coi nghĩa trang Giáo Xứ của chúng tôi. Đêm ấy, anh Hai ngủ rồi ra đi luôn. Mọi người thương tiếc lắm. Đám tang đông. Trước khi hạ huyệt, một thân nhân đọc lời cảm tạ, có câu: “Xin cảm ơn quí vị đã thương đưa ông, anh… chúng tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng”. Một người nhắc lại câu nói rất hay của anh Hai Dung lúc còn đang xây các kim tĩnh ở nghĩa trang: “Biết đâu là nơi an nghỉ cuối cùng ? Nó mà qui hoạch thì lo mà hốt xác, bốc mộ. Chỉ có Chúa mới là nơi an nghỉ cuối cùng mà thôi”.
       Một chỗ trọng vọng nơi trần thế này, một lễ an táng trọng thể… liệu có phải là bảo đảm cho một chỗ trong nước Thiên Chúa không?
       Nếu việc cử hành trọng thể Lễ An Táng là bằng chứng được Ơn Cứu Rỗi của một người, thì cái chết của những người nghèo hèn bé nhỏ kia, không kèn không trống, chẳng có cái vòng hoa nào, không mấy người khóc thương đưa tiễn, may ra con chó thương chủ buồn bã lẽo đẽo theo sau chiếc quan tài… lại là cái chết hẩm hiu xấu số và phải mất phần linh hồn đời đời sao ?
       Con mắt, cái nhìn, cái suy nghĩ của người trần gian lúc nào cũng dừng lại ở chỗ quí chuộng những sự sang trọng bên ngoài, mà không vượt qua và tiến tới chỗ siêu nhiên hơn được sao ?
        Tôi không dám phê phán hay chê bai cách tổ chức Lễ An Táng thế nào, nhưng xin lấy Lời Chúa hôm nay mà cảm thấy tiếc cho chính tôi, cho bạn, cho tất cả những ai bận tâm về việc hậu sự của chính mình. Một mối bận tâm vô ích ! Đổi lại, nên bận tâm đến cách sống hôm nay thế nào cho đẹp lòng tha nhân, cho đẹp lòng Chúa.
        Quả thực, Lời Chúa hôm nay Chúa Nhật 22 TN C cảnh tỉnh chúng ta phải biết bỏ cho dứt cái thói kiêu căng cao ngạo, tránh cho xa mọi thủ đoạn tiềm tàng trong lòng mình xúi giục mình tôn vinh chính mình quá đáng.
      Lời Chúa hôm nay trong khung cảnh một đám cưới ở đời. Thấy khách dự tiệc tranh nhau tìm một chỗ ngồi cho ra vẻ mình là người quan trọng, người giàu có, quyền thế uy tín, Chúa Giêsu đã dùng cơ hội này ngay để mở lòng cho con người biết về sự quyết liệt của Thiên Chúa: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống. Và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”.
      Phải bỏ cho dứt cái kiêu ngạo, vì kiêu ngạo chính là bản tính của ma quỷ luôn sống trong sự hận thù, bất an, bản tính của thế lực đối lập chống lại Thiên Chúa khiêm nhường, đầy tình yêu thương nhân hậu và bình an.
      Vì kiêu ngạo là bản tính của ma quỷ, nên kiêu ngạo luôn có nhiều chiêu thức khôn ranh đáng sợ. Nó có phép tàng hình hoặc ẩn nấp sâu trong cõi lòng mình mà chính mình cũng chẳng nhận ra. Nó đang ru ta ngủ trong cái khiêm tốn ảo tưởng, giả dối. Kẻ giàu người nghèo, người có học hay kẻ mù chữ, đấng có Chức Thánh cao trọng hay người Giáo Dân bần cùng thấp bé… không ai tránh khỏi lưới dò của ma quỷ về sự kiêu ngạo.
       Chúa Giêsu quyết liệt với sự kiêu ngạo là vì bản tính của Thiên Chúa là khiêm cung. Và chỉ có khiêm cung mới có tình yêu, lòng khoan dung, nhân hậu.
        Ngài cũng mở cho chúng ta biết về Bữa Tiệc Cưới trong Nước Thiên Chúa dành cho những ai khiêm nhượng, nghèo hèn: “Khi đãi khách, hãy mời những người nghèo khó”. Người nghèo khó không có chi đáp đền. Bữa tiệc của Thiên Chúa là một tình thương cho đi một cách nhưng-không, không giống như bữa tiệc đời chỉ toàn chuyện có vay có trả.
       Trong số các bài thơ của Thi Ca Cầu Nguyện số 129, có bài “Xuống” của Hương Nam, xin được trích đoạn sau đây:
Chỉ khiêm cung mới chịu mình sụp đổ
Để dựng xây trời đất mới vinh quang
Chỉ khiêm cung mới kéo cả Thiên Đàng
Xuống trần giới ban bình an muôn thuở
       Lạy Chúa Giêsu, Đấng đã mạc khải cho chúng con một Thiên Chúa Khiêm Nhường và Yêu Thương, Đấng mời chúng con học bài “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”, xin cho chúng con biết liên kết với Chúa để nên khiêm nhượng và yêu thương, để xứng đáng dự Tiệc trong Nước Chúa, Nước của những kẻ hiền lành và khiêm nhượng thật sự. Amen.

 PM. Cao Huy Hoàng
(menchuayeunguoi.com)



Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

XƯNG HÔ TRONG ĐẠO




Một lần về quê giúp lễ, sau khi chia sẻ Lời Chúa với cộng đoàn, một cụ ông thuộc hàng cao niên nhất trong làng (gọi là trưởng làng) lại là người trong họ hàng bà con nói với tôi rằng: “Cháu đừng gọi tất cả cộng đoàn là anh chị em, vì trong đó còn có các cụ đáng kính ngồi dưới. Nghe khó chịu lắm. Mà cháu chỉ là bậc con cháu. Ngay các cha về đây dâng lễ cũng phải thưa đầy đủ là “kính thưa quý cụ ông, cụ bà và toàn thể anh chị em”. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Thực ra thì không phải là mình không biết điều ấy. Song chỉ vì muốn cho việc thưa gửi được gọn gàng mà thôi. Không ngờ lại đụng chạm tới tính tự ái của các cụ cao tuổi. Nhưng dù sao lời nhắc nhở ấy cũng là một bài học đầu đời để rút kinh nghiệm về sau.
Nhân khi đọc bài “Chúa ở  cùng anh chị em” của Cha Đỗ Xuân Quế trong tài liệu Thánh Nhạc và Phụng Vụ “Hát Lên Mừng Chúa” số 88, tôi liền mở sách lễ Rôma và các sách phụng vụ thì thấy đúng là Giáo hội không có câu chào nào khác ngoài câu “Chúa ở cùng anh chị em”. Mà cũng chẳng có dự trù  công thức nào khác nữa. Vì thế, xưa nay người ta chỉ dám phổ nhạc câu này mà thôi, chứ chưa ai dám phổ nhạc câu “Chúa ở cùng quý cụ ông, cụ bà và anh chị em…” hay “Chúa ở cùng cộng đoàn”. Có lẽ những câu xưng hô này mới được áp dụng gần đây, nên Giáo hội còn đang phải cân nhắc chăng hoặc chỉ nói “anh chị em” là đầy đủ nghĩa rồi. Tuy nhiên thực tế thì xảy ra vấn đề như vừa nói trên. Chắc còn nhiều điều thắc mắc khác nữa trong vấn đề này.
Theo cá nhân tôi nghĩ thì có lẽ cũng do lòng tự trọng của mỗi người hoặc do kiến thức giáo lý, phụng vụ và thần học nên người giáo dân của ta hay thắc mắc xem ra có vẻ như là mình đòi hỏi điều gì thì Giáo hội phải làm theo ý muốn của mình. Lại nữa, tuổi tác là điều khá quan trọng đối với các cụ nên không được… vơ đũa cả nắm! Vì vậy, việc xưng hô trong khi cử hành phụng vụ bây giờ xem ra cũng là để tự do tùy vị chủ tế sao cho phù hợp với tương quan với cộng đoàn. Chẳng hạn, thánh lễ toàn thiếu nhi mà Cha cứ thưa là “anh chị em thân mến” thì cũng không phù hợp hay lại cứ thưa một cách máy móc gồm cả quý cụ ông, cụ bà và toàn thể anh chị em thì tức cười lắm! Hoặc thánh lễ an táng mà linh mục chủ tế chẳng có câu thưa nào với tang gia thì…. lơ là quá! Tôi hiểu thêm rằng ngoài ý nghĩa thần học của chữ “anh chị em” dùng trong phụng vụ nó còn bị ảnh hưởng bởi văn hóa của Tây nữa. Vì tiếng nước ngoài không có kiểu xưng hô rắc rối như của ta. Trong khi đó, công thức phụng vụ là của Rôma áp dụng cho toàn thể Giáo hội.
Tôi đi tham dự những thánh lễ lớn thấy vị chủ tế nhiều khi thưa phải nói đầy đủ “Kính thưa các cha bề trên, các cha quản hạt, các cha xứ,… các chủng sinh, các nam nữ tu sĩ và toàn thể anh chị em thân mến”. Câu này dài quá. Nếu một thánh lễ vị chủ tế chỉ cần thưa 3 lần như thế là giáo dân đã đủ mệt rồi! Tuy nhiên có lúc không thể bỏ hoàn toàn kiểu thưa như vậy. Nhưng làm sao đừng máy móc rập khuôn quá. Điều ấy còn dễ tạo ra trong ý thức của cộng đoàn một sự phân biệt tầng lớp trong Giáo hội nói chung và khi cử hành phụng vụ nói riêng. Bởi vậy, nếu vị chủ tế lỡ miệng nói sai trật tự thứ cấp là người  giáo dân cười hoặc xì xèo ngay. Cách riêng trong phụng vụ thì thôi tốt nhất là đơn giản hóa bao nhiêu có thể. Vì trong thánh lễ sau đó chúng ta cùng nhau đọc kinh Lạy Cha và xưng hô với Chúa là ‘Lạy Cha chúng con,…’ Chúng ta là con Chúa cả với nhau thì phải là anh chị em với nhau. Còn cứ theo nghĩa của tiếng Việt: cụ, ông, bà là cấp trên cha! Nhưng nếu mình có cầu nguyện riêng tư mà xưng hô cho đầy đủ vai vế thì đâu có sao. Chẳng hạn ta cầu xin Chúa cho cụ nội, cụ ngoại, bố mẹ con, cha xứ của con, v.v… thì lại là điều tốt quá.
Rồi trong thực tế cuộc sống hằng ngày nhiều khi cũng lắm chuyện rắc rối từ vấn đề xưng hô theo kiểu nhà đạo của ta. Làm linh mục rồi nhưng người ta không biết nên cứ gọi là thầy thì cũng tự ái, không vui; nhiều khi còn mất cảm tình hoặc cáu gắt với người ta. Khấn dòng rồi mà người ta không biết nên cứ gọi là đệ tử thì cũng buồn, xem như mình bị hạ thấp phẩm giá! Là Cha bề trên tổng quyền, cha Quản hạt, Cha tuyên úy, Cha văn phòng, Cha quản lý, Cha cố rồi mà người ta chỉ gọi là Cha không thì nhiều khi cũng bị đánh giá là không tế nhị; có khi bị Cha… không trả lời! Cho nên trong phụng vụ chúng ta cũng chỉ đáp “Và ở cùng Cha” sau tiếng “Chúa ở cùng anh chị em” dù chủ tế có là Đức Thánh Cha, Đức Hồng Y, Đức Giám Mục, Cha bề trên,… đi nữa. Chính vị chủ tế đại diện cho Chúa Kitô mà cũng không đòi phải thưa rườm rà, thế thì đâu có cần phải thưa với cộng đoàn phụng vụ một cách đầy đủ vai vế, tuổi tác? Vì nếu phải thưa đầy đủ vai vế, chức vị của cộng đoàn thì còn nhiều, như là: giáo sư, bác sỹ, kỹ sư, tiến sĩ, cử nhân, giám đốc,… Mà điều này khi cử hành phụng vụ đã có vị chủ tế nào thưa cho đầy đủ đâu, có phải là thiếu sót không?
Hầu như quan niệm của chúng ta vẫn còn đặt nặng vào việc xưng hô thế nào cho lễ phép do ảnh hưởng lâu của thời đại phong kiến. Từ cái quan niệm ấy làm cho thái độ của ta cũng vậy mà nhiều khi lệch lạc nữa. Như là quen khúm núm sợ sệt trước mặt các đấng các bậc trong hội thánh; ví dụ: hễ Cha mà kiệu Mình Thánh Chúa đi ngang qua thì giáo dân thinh lặng quỳ rạp xuống đất thờ lậy; còn khi thừa tác viên bình thường cũng kiệu Mình Thánh Chúa đi qua, có giúp lễ rung chuông hẳn hoi mà người ta cứ tỉnh bơ! Trong nhà thờ, thiếu nhi sợ Cha xứ hơn sợ Chúa!
Đổi mới một quan niệm khó lắm, nhất nữa là quan niệm ấy đã ăn sâu vào ý thức của ta. Chúa Giêsu dạy ta rằng: “Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa” (Ga 13, 13).
Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn
Gp. Bùi Chu

Nguồn: 
 http://www.conggiaovietnam.net

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

KIỆT TÁC TỪ CÂY CẢNH

Ngỡ ngàng kiệt tác từ cây cảnh

Tới thăm triển lãm Mosaiculture, du khách được mãn nhãn với những tác phẩm từ cây cảnh.
Được đánh giá là lễ hội uy tín nhất thế giới để tôn vinh nghệ thuật làm vườn, triển lãm Mosaiculture 2013 vừa khai mạc tuần qua tại vườn bách thảo Montreal, Quebec, Canada.

Hơn 3 triệu bông hoa tươi tắn đã được trồng trong các nhà kính trên khắp vùng đất Quebec và được đưa tới vườn bách thảo vào tháng 5. Từ thời điểm này, các bậc thày về nghệ thuật làm vườn mới dùng các khung thép để uốn hoa và tỉa cành, biến chúng thành các tác phẩm nghệ thuật sống động.

Các tượng điêu khắc từ cây cỏ này được tạo ra nhờ các khung thép hoặc nhôm, đổ đầy đất bên trong để nuôi sống các loài hoa, cỏ và giữ cho màu sắc của chúng luôn tươi tắn. Một hệ thống tưới nước ngầm đã được lắp đặt để các bông hoa có thể tươi được qua mua hè, tới tận ngày kết thúc triển lãm vào 29.9.

Trên chiều dài 2,2 km của triển lãm, khoảng hơn 50 tác phẩm nghệ thuật độc đáo đã được tạo dựng. Chủ đề của năm nay là “Miền đất hy vọng”. Hơn 200 nghệ nhân làm vườn tài năng nhất thế giới, đến từ 20 quốc gia đã được mời về tham gia triển lãm.

Các tác phẩm điêu khắc được thực hiện từ hơn 22.000 giống cây cảnh và được bố trí trong 30 vườn ngoài trời và 10 nhà kính trồng hoa trong khuôn viên vườn bách thảo.

Mosaiculture là một ý tưởng về làm vườn, ra đời ở Montreal từ năm 2000 và cứ ba năm lại được tổ chức một lần tại một thành phố khác. Ba năm trước, lễ hội được tổ chức ở Thượng Hải và đến năm nay lại được tổ chức rầm rộ ở chính quê hương Montreal.

Theo Tri Thức Thời Đại



    và Muà Hè Hoa thật rực rỡ .




 (tinmung.net)