Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

QUỐC ĐIỂU

5 LOÀI CHIM THÚ VỊ ĐƯỢC CHỌN LÀM QUỐC ĐIỂU 


Biểu tượng quốc gia là thứ đặc trưng nhất về một đất nước, thể hiện được quan điểm của nước đó trong quan hệ với bạn bè quốc tế. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có ít nhất một biểu tượng đại diện cho mình, từ các loài động vật, cây cối, đến các đồ vật hay danh lam thắng cảnh. 

1. Chim oanh châu Âu - Anh


Chim oanh châu Âu là loài chim nhỏ ăn côn trùng, sống ở vùng Tây Siberia, Bắc Phi và châu Âu (đặc biệt là nước Anh). Loài chim này rất dễ bị “nhận dạng” bởi chiếc yếm màu cam nổi bật trên bộ lông màu nâu xám. Truyền thuyết kể rằng, khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá, một chú chim oanh đã bay đến cạnh Chúa, hót khẽ bên tai để xoa dịu nỗi đau của Người. Máu của Chúa đã nhuốm đỏ phần ức chú chim. Từ đó trở đi, các chú chim oanh sinh ra đều mang dấu vết thiêng liêng ấy trên mình.


Theo truyền thuyết, chiếc yếm màu cam của loài chim này chính là dấu máu của Chúa Giê-su.

Chim oanh châu Âu có khả năng thích nghi rất tốt với môi trường sống. Chúng thích làm tổ trong những vật dụng bỏ đi như ấm nước, xô cũ... và rất thích lại gần khi người ta đang đào đất để kiếm giun. Đến với Anh quốc, ta có thể bắt gặp hình dáng nhỏ bé xinh xắn của chúng ở bất cứ đâu từ các khu rừng, nông trại, đến vườn nhà và công viên. Theo ước tính, chỉ riêng ở nước Anh đã có tới hơn 4 triệu cặp chim oanh thuộc loài này. Chúng được người Anh chọn làm loài chim biểu tượng của quốc gia sau một cuộc bình chọn (không chính thức) vào những năm 60.


Các loài chim oanh thường sống rất gần gũi với con người.

2. Chim thiên đường - Papua New Guinea

Chắc hẳn, chúng ta không còn xa lạ gì với đất nước Papua New Guinea – quốc đảo xinh đẹp phía Tây Bắc châu Úc với hệ động thực vật vô cùng phong phú, đặc biệt là giống chim thiên đường. 

Chim thiên đường là một trong những loài chim xinh đẹp nhất trên Trái Đất.

Chim thiên đường ưa sống trong các khu rừng nhiệt đới vì ở đó có rất nhiều món “khoái khẩu” của chúng như các loài sâu bọ, động vật chân khớp và trái cây chín mọng. Khoác trên mình bộ cánh với đủ sắc màu sặc sỡ của vùng xích đạo: đỏ, cam, vàng, hồng, xanh dương, xanh lục... cùng chiếc đuôi dài thướt tha, những chú chim thiên đường trống đắm mình trong các “vũ điệu kết đôi” đầy quyến rũ để thu hút chim mái. 



Những điệu múa mê hoặc của chim thiên đường.

Ở Papua New Guinea, chim thiên đường đã trở thành một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động văn hóa, đặc biệt là tôn giáo. Từ hàng ngàn năm trước, các thổ dân nơi đây đã sử dụng lông và da của chim thiên đường làm đồ trang sức, phục vụ các nghi thức tế lễ. Ngày nay, các lễ hội thi hát, nhảy múa giống chim, trang điểm bằng lông chim hay ngắm chim nhảy múa... vẫn được tổ chức đều đặn mỗi năm. 


Papua New Guinea quả là xứ sở của chim thiên đường khi nơi đây sở hữu tới ba phần tư số loài chim thiên đường hiện có trên Trái Đất.









3. Hồng hạc Ca-ri-bê – Bahamas

Bahamas – quốc đảo ở vùng biển Ca-ri-bê với khí hậu nhiệt đới vô cùng dễ chịu đã được loài hồng hạc chọn làm bến đỗ. Chúng sống thành các đàn rất lớn, nhiều khi lên tới hàng chục ngàn con ở những nơi nước nông có nhiều loại tảo, động vật thân mềm như hồ, phá, đầm lầy. 

Hồng hạc có bộ lông đỏ cực nổi bật với nhiều sắc độ khác nhau, từ hồng nhạt tới đỏ son. Tuy nhiên, đây không phải màu lông bẩm sinh mà do một loại tảo xanh chúng ăn, có khả năng chuyển hóa lông thành màu hồng trong quá trình tiêu hóa.

Sắc tố carotenoid có trong loại tảo ưa thích của hồng hạc khiến lông của chúng có màu hồng.



Hồng hạc rất thích đứng trên một chân, có thể do tư thế này giúp chúng giảm sự tiêu hao thân nhiệt khi đứng trong nước, hoặc đơn giản đứng như vậy khiến chúng cảm thấy thư giãn và được nghỉ ngơi. 

Không chỉ có bộ lông rực rỡ, hồng hạc còn sở hữu đôi chân dài thanh mảnh và lối bước đi “lững thững” - cực kỳ chậm rãi, nhẹ nhàng. Chúng sống ôn hòa, không có kẻ thù và gần như không bị săn đuổi. Loài chim duyên dáng, hiền hòa này đã được chọn làm biểu tượng của quốc đảo Bahamas, tượng trưng cho chính con người nơi đây.


Hình ảnh hồng hạc trên đồng tiền xu Bahamas.


4. Đại bàng đầu trắng – Mỹ

Trái với hồng hạc, đại bàng đầu trắng Bắc Mỹ lại có vẻ ngoài hùng dũng đầy sức mạnh với sải cánh dài hơn 2m, cặp mắt sắc bén và đôi vuốt cực khỏe. Bằng khả năng tấn công chính xác và những cú bổ nhào sấm sét với tốc độ lên tới 160km/h, chúng trở thành kẻ săn mồi thống trị vùng thung lũng. 

Đại bàng đầu trắng.

Đại bàng đầu trắng sống đơn độc trên các đỉnh núi cao chót vót, tự do sải rộng đôi cánh lướt xuống thung lũng bên dưới hoặc vút lên bầu trời bát ngát phía trên. Một con đại bàng đầu trắng có thể sống tới 30 năm - tuổi thọ dài hơn nhiều so với các loài chim khác.

Đại bàng đầu trắng với cuộc sống tự do không giới hạn giữa thiên nhiên.

Những đặc tính đầy dũng mãnh trên đã khiến đại bàng đầu trắng trở thành biểu tượng lý tưởng cho sức mạnh và tự do của nước Mỹ – cường quốc hàng đầu thế giới, một đất nước mà mỗi công dân đều đòi hỏi quyền tự do từ tư tưởng đến lời nói, hành động. Hình ảnh đại bàng đầu trắng xuất hiện trên đồng đô la, quốc huy nước Mỹ, huy hiệu của Tổng thống và nhiều cơ quan liên bang khác như Quốc hội, Thượng – Hạ viện, Pháp viện tối cao...

Đại bàng đầu trắng – biểu tượng cho sức mạnh và tự do của nước Mỹ.


5. Đà điểu châu Úc – Úc

Tuy nhỏ hơn một chút so với người họ hàng châu Phi, nhưng đà điểu châu Úc (hay Emu) cũng có thể cao tới 2m và nặng 60kg. Chúng không thể bay lượn như những loài chim khác do cánh ngắn và xương ức yếu. Tuy nhiên, nhờ cặp giò cao, chắc khỏe, chúng lại trở thành những vận động viên ma-ra-tông cừ khôi của vùng đồng cỏ và sa mạc với vận tốc lên tới 50km/h. Nhưng bạn biết không, loài “chim chạy” này còn có khả năng bơi khá tốt nữa đấy!

Đà điểu - vận động viên ma-ra-tông cừ khôi của vùng sa mạc.

Đà điểu Úc cũng nổi tiếng bởi tính tò mò và… dễ dụ. Chúng rất dễ bị thu hút bởi những âm thanh lạ hay các vật thể chuyển động vui mắt. Lợi dụng đặc điểm này, thổ dân châu Úc chỉ cần huýt sáo, hoặc buộc một chiếc khăn tay nhiều màu vào cây gậy rồi để nó bay phấp phới trong gió, là các chú đà điểu hiếu kỳ ngay lập tức sập bẫy.

Những chú đà điểu hiếu kỳ trước ống kính.

Kanguru và đà điểu là hai loài động vật luôn chạy hướng về phía trước, chỉ biết tiến chứ không biết đi lùi. Bởi vậy, người Úc đã chọn chúng làm biểu tượng quốc gia, đại diện cho sự tiến bộ và phát triển vươn lên của đất nước. 

Hình ảnh Kanguru, đà điểu Emu trên quốc huy nước Úc.

HUỲNH LỆ NGUYÊN (Sưu tầm)

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

LỬA THIÊNG

          Trong những năm đầu phát triển Phong Trào Hùng Tâm Dũng Chí ở Quảng Nam , Đà Nẵng  (1963-1975), LM Nguyễn Trung Thành  đã là một người Thầy , người Anh của các huynh trưởng và đoàn viên HTDC .  Hiện nay  Cha Thành đã lớn tuổi , nhưng vẫn một lòng miệt mài với những hoài bão phát triển mạnh mẽ PT HTDC trong giới trẻ . 
           Chúng tôi xin phép  trích giới thiệu tập LỬA THIÊNG  ( LỬA TRẠI ) , một tập hợp những  bản nhạc sáng tác vào thời kỳ 1965-1975 của Ngài như :  Đà Nẵng Linh Thiệng , Hội An , Ai Bảo Người Đã Chết , Tim Môi Nhắc Nhớ ... và Lạy Mẹ Trà Kiệu  ....ngoài những sáng tác cho sinh hoạt phong trào như Cầu Lửa , Mừng Lửa .... đã được in lại vào tháng 11/2005  như một cách nhớ ơn những người khai phá . 
                                                                                              cuuhuynhtruong 











MỞ ĐẦU

Tôi đã đến mang Lửa xuống thế gian và ước gì Lửa bùng cháy

       Với chiều hướng đưa Thánh Kinh vào cuộc chơi đời trẻ và tìm về Dân Tộc , chúng tôi xin gửi đến bạn tập Lửa Thiêng .
       Bạn biết Lửa trong Thánh Kinh không chỉ là vật chất , nhưng tượng trưng cho một thực tại siêu việt :
-                                                       Lửa Maisen thấy trong bụi gai .
-                                                     Cột lửa dẫn lối dân Do Thái .
-                                                      Lửa trên đầu các tông đồ trong ngày hiện xuống .
-                                                      Lửa phục sinh .

-                        Và bạn sẽ hiểu rõ hơn khi tìm hiểu ý nghĩa từ : ánh sáng , tối tăm , ngày , đêm như trong Ga 1 .
        Để lột được những ý nghĩa linh thiêng ấy ; hình thức lửa thiêng lồng trong khung cảnh đêm Phục Sinh  và diễn tả qua các cử điệu Phụng vụ Giáo hội và Dân tộc . Đồng thời , dùng các danh xưng : cầu lửa , mừng lửa , đem lửa cho đời , thay cho gọi lửa, nhảy lửa , lửa tàn .

       Tuy nhiên trong bước đầu tìm kiếm còn nhiều thiếu sót, xin các bạn chỉ giáo .
       Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của các bạn .

                                   Huế , những ngày cuối niên học 1970-1971
                                               Nguyễn Trung Thành
                                                      Đà Nẵng





CỬ ĐIỆU


SỬA SOẠN VẬT DỤNG

       Mỗi khán giả đi mang theo một cây đuốc hay nến .
       Mỗi trại sinh một cây đuốc , hình thức tiện lợi nhất là một thanh củi dài độ 50 cm , đầu quấn giẻ buộc bằng dây thép để khi cháy giẻ không bị tuột  và bao bằng nylon cho dầu khỏi thấm qua áo . Giắt đuốc sau lưng . Một cây đuốc lớn nếu dùng thay đống củi . Tùy tiện hóa trang .              Muốn tăng thêm rùng rợn thì nên cắm  thêm  vài cành lá rừng lên đầu, lưng , chân …..
       Một bộ chiêng trống . Nếu không có thì dùng thùng thiếc . Riêng mỗi người kiếm lấy một vật gì để khuya vang (lon sữa , hộp nhựa ….)



MỜI DỰ LỬA .

         Sau khi sửa soạn đầy đủ , trại sinh hóa trang đàng hoàng , quản trò đi mời quan khách . Quan khách gần tới , quản ca hú , rú và chiêng trống nổi lên đánh hiệu báo động .
         Quan khách tới nơi quản ca lên tiếng cầu cứu . Không dùng kiểu gọi mời đội …… ra dự lửa trại , nhưng gọi , hú theo tên đội, tiếng gọi của đội . Khi nghe gọi thì từng đội khuya vang , xếp thành , xếp thành hàng 1 cúi mình chạy tới . Trống chiêng thúc dục  kèm theo tiếng hú , tiếng gõ sẽ tạo một bầu khí hãi hùng như muốn nói đêm đã về tất cả phải họp nhau lại khỏi thú dữ và sương lạnh . Tới nơi các đội vất khí cụ , xếp vòng tròn cầu lửa . Chiêng trống bớt thôi thúc , thỉnh thoảng điểm vài cái như chuông cầu hồn .



CẦU LỬA

1-    Quỳ sấp mình xuống đất, tay vòng lại đầu tì lên (tư thế than van diễn tả con người cầu mong thoát khỏi thương đau ).
2-    “Thét gào “ vừa dứt thì chiêng trống dập liên hồi .
3-     Như 1 .
4-    Đầu hơi nghiêng lên, hai tay duỗi thẳng ra đằng trước từ từ ngả về bên trái .
5-    Bên phải .
6-    Trở lại hai bên .
7-    Hai tay ngửa ra đặt trên đất như van xin .
8-    Từ từ nâng hai tay và người lên , tay ngang hông .
9-    Tay cao ngang vai .
10- Quỳ hẳn lên , ngửa tay giơ cao lên trời .

Hết : sấp mình xuống đất , hai tay ôm đầu .










            LỬA ĐẾN


        Quản trò mời vị quan khách nào đó , Cha tuyên úy chẳng hạn, ra giữa vòng tròn đốt lửa . Qủan trò giới thiệu : “ TRỜI THƯƠNG NHẬN LỜI CẦU CỦA CHÚNG TA SAI CHA TUYÊN ÚY  ….. ĐEM LỬA ĐẾN ĐỂ XUA TAN MÀN ĐÊM VÀ SƯỞI ẤM LÒNG NGƯỜI “. Tất cả quỳ thẳng lên , chắp tay đặt ngang trán hướng về Cha …… , cúi đầu chào .
        Quản trò quẹt lửa giúp Cha ….. đốt đuốc . Đuốc do quản trò cầm quỳ  một gối đầu hơi cúi . Đuốc vừa bùng cháy ( có trái sáng lúc đó thì tuyệt vời ) , tất cả đứng dậy  A!A!A!A!.......thật dài , mặt tươi vui, hai tay đưa lên trời rung rung chào mừng . Chiêng trống cũng nổi liên hồi mừng reo .



              MỪNG LỬA

          Xin bạn đừng quên hình thức Lửa Thiêng này lồng trong khung cảnh Đêm Phục Sinh , nên bạn hãy tưởng tượng bạn đang tham dự đêm huy hoàng ấy . Tất cả những phần vừa qua diễn tả nghi  thức cầu nguyện đốt lửa ở hiên Thánh đường và bây giờ đến phần rước lửa và ca Exsultet (Hãy vui lên ) .

1-    Đứng vòng tròn , nắm tay nhau vừa nhảy vừa tiến về phía bên phải :

                Hồng     :     Chân trái
                Cháy     :     Chân phải
                (Hai lần như nhau )
Để vòng tròn khỏi hẹp , nhảy xéo chân ra ngoài một chút .

2-    Và  
3-    Vung tay lên cao và hạ xuống
4-    Giơ cao tay lên trời , rung nhè nhẹ .
5-    Như 1 nhưng quay ngược sang trái .

        Lửa      :    chân phải
        Soi       :     chân trái
        Giới      :    chân phải
        Lửa      :     chân phải
        Ấm       :     chân phải

6-    Đứng quay mặt vào trong , bỏ tay , lùi lại nới rộng vòng ra .
7-    Quản trò cầm đuốcnhảy múa điều khiển trong vòng , giơ cao ngọn đuốc hò .
8-    Tất cả :ơi “ thật to .
9-    Quản trò giơ cao đuốc hò
10- Tất cả lập lại tay phải vung lên .
11- Như 9
12- Lập lại vung tay trái .
13- Trong khi quản trò hò , tất cả lấy đuốc giát sau lưng  ra .
14- Tất cả lập lại nhưng một số ít người hai tay cầm đuốc bước tới chỗ quản trò hay đống lửa , bước chân phải trước .

                                Ta                :              chân phải
                                To                :              chân trái
                                Sáng           :              chân phải
                   Liệu sao bước tới chữ “ sáng “  thì đến nơi và châm lửa .

15-  Quản trò vừa chuyển lửa vừa hò .
16- Tất cả lập lại và một số người đốt xong đi giật lùi ra , chân phải trước .
              
                     Ta                   :          chân phải
                     To                   :          chân trái
                     Hết                  :         chân phải
                     Hận                 :          chân trái
                     Thù                  :          tới chỗ cũ

Cứ hát đi hát lại từ  9 – 16 cho tới khi tất cả đuốc đã cháy . Đứng tại chỗ chuyển lửa cho nhau không cần  làm những cử điệu 14 – 16 ,. Những ai đuốc đã cháy thì mỗi lần đến số  14 thì  giơ đuốc lên cao và đến số  16 thì quơ sang trái như xua đuổi .

17-  Hai tay cầm đuốc cao ngang trán , đi vòng tròn bên phải trước , dậm chân trái rồi tới chân phải như 1 .
18-  Đứng lại quay vào giơ  cao đuốc rồi hạ xuống .
19-  Như 18
20-  Giơ cao đuốc và rung rung
21-  Trở lại phía trái như 5
22-  Đứng lại giơ cao đuốc ngang trán cúi đầu chào . Đuốc vất vào đống lửa hoặc cắm vòng quanh .






ĐEM LỬA CHO ĐỜI

        Đứng vòng tròn đọc một kinh hay một lời nguyện cám ơn Chúa .
       Tiếp đến cầu nguyện bên lửa ( không thể thiếu ý tưởng : hãy đem lửa , đem tình thương Chúa vừa lãnh nhận đến cho mọi người ) .
       Rồi tất cả , kể cả khán giả , quỳ xuống lãnh phép lành của các Cha (nếu có ) . Các Ngài đến đặt tay lên đầu từng người . Trong khi đó tất cả hát bài kính Đức Mẹ .
Xong Cha trở về chỗ cũ và cất cao giọng : ANH CHỊ EM ĐI BẰNG AN  và tất cả đứng lên hát bài : “ ĐEM LỬA CHO ĐỜI “
1-    Một người xướng , tất cả đứng lên lặp lại , xếp thành hàng đi vòng tròn 1 lần rồi dần dần đi về lều , về nhà ….
2-    Hai ba người đứng khác chỗ thay nhau hò . Tất cả đứng lại hướng về người hò và đốt đuốc . Sau khi đuốc đã cháy thì tất cả hò  “ CHIẾU SOI“  thay  “ ĐỐT LÊN “ .


                         






                                                            LM  NGUYỄN TRUNG THÀNH 
              



Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU



LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU

Hà Tam làm nghề lái xe chở hàng hóa. Hôm nay, xe đang bon bon chạy trên đường bỗng nhiên "khực" một cái rồi dừng lại. Hỏng rồi! Hà Tam xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe. Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Hà Tam lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp.
Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to: "Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!". Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Hà Tam đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy. Hà Tam toét miệng cười, nói do vội đi nên quên mất. Nói vậy song anh ta vẫn cố ý nhấn ga cho xe chạy.

Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to: "Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ? Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta…"
Những lời trách cứ của ông lão chăn bò bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hà Tam cười thầm trong bụng: Lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân?
Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Hà Tam hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Hà Tam thừ người ra: Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy? Cẩn thận nhớ lại, Hà Tam mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Hà Tam vội vã vẫy taxi quay lại chỗ sửa xe
Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Hà Tam tìm khắp nơi không thấy cái ví cũng không thấy ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo: "Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi".
Ôi mẹ ơi! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Hà Tam kêu to lên: "Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!".
Khi Hà Tam vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ: "Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi". Hà Tam tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Hà Tam cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Hà Tam đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên
Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Hà Tam vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Hà Tam vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Hà Tam vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi. 
Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu. 
Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết: 
"Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi. Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý: 

" Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không
được để mất lương tâm".


                                                                               CHÂU NGÂN LÊ (Kể)

XIN CỨU GIÚP CON MỌI NƠI , MỌI LÚC




XIN MẸ CỨU GIÚP CON MỌI NƠI MỌI LÚC, NHẤT LÀ TRONG GIỜ CHẾT! 


.... Câu chuyện xảy ra tại thành phố Hal nằm dọc theo kênh đào Charleroi. Hal chỉ cách Bruxelles - thủ đô vương quốc Bỉ - khoảng vài cây số. Tại đây có nhà thờ Công Giáo kiểu gô-tích tôn kính bức tượng ”Đức Mẹ Đen”. Bức tượng tạc từ thế kỷ XIII và nổi tiếng vì làm nhiều phép lạ.

Tại thành phố Hal cạnh con kênh Charleroi đã xảy ra tai nạn thảm thương. Một bà mẹ góa sống với đứa con trai duy nhất. Một ngày, cậu bé chơi với bạn cạnh con kênh. Không hiểu hai cậu bé rượt đuổi nhau thế nào mà cậu trai con bà góa trượt chân rớt xuống kênh. Cậu bạn hoảng hốt chỉ biết gào lên kêu cấp cứu. Bà mẹ càng hoảng hốt hơn và cũng chỉ biết hét lên những lời kêu cứu thảm thiết.

May mắn vào ngay lúc đó có một thanh niên đi về hướng này. Nghe tiếng kêu chàng đoán ngay sự việc. Chàng tức tốc nhảy xuống kênh và lặn sâu dưới dòng nước. Mấy phút sau chàng vớt được cậu bé và mang lên bờ, trước đôi mắt đẫm lệ của bà mẹ. Người ta xúm lại cấp cứu cậu bé. Cậu từ từ hồi tỉnh. Cậu thoát chết nhờ hành động mau mắn và dũng cảm của người thanh niên lạ mặt.

Trước công ơn to tát như thế làm sao cám ơn cho đủ người đã cứu mạng sống con mình??? Bà mẹ góa lại quá nghèo! Nghĩ lui nghĩ tới bà thấy không gì quý hơn là tặng chàng trai ảnh đeo có hình Đức Mẹ Đen của nhà thờ gô-tích thành phố Hal. Bà đưa tặng chàng và nói:
- Chắc chắn Đức Mẹ MARIA nghe lời tôi cầu cứu nên đưa đẩy cậu đến và cứu vớt kịp thời con trai tôi bị nạn.
Chàng thanh niên lúng túng trả lời:
- Tôi không biết là có đúng như thế không, bởi vì, thú thật với bà, tôi là người không tin!

Tuy nói thế nhưng trước cái nhìn khẩn thiết của bà mẹ chàng chấp nhận ảnh thánh Đức Mẹ MARIA. Chàng cũng hứa sẽ mang ảnh như lời bà xin để ghi nhớ cuộc gặp gỡ với cậu bé con bà ..

Gần mấy chục năm trôi qua .. chàng thanh niên dũng cảm năm xưa, nay là người đàn ông lớn tuổi. Ông bị bệnh nặng và được điều trị tại một nhà thương bên Thụy Sĩ. Nhà thương do các nữ tu điều khiển. Cùng vào thời kỳ đó, tại vùng này, có vị Linh Mục người Bỉ về đây nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng Cha đến thăm viếng các bệnh nhân theo lời xin của các nữ tu. Một ngày, Cha đang trên đường gần nhà thương thì thấy một nữ tu chạy đến xin Cha tới giúp một bệnh nhân đang hấp hối. Chị nói:
- Xin Cha đến mau! Ông ta đang mê sảng!

Khi vị Linh Mục đến bên giường Cha hiểu rằng người bệnh nói tiếng Flamand. Ông muốn bịt tai và xua đuổi tất cả những gì có liên hệ đến tôn giáo. Bằng tiếng Flamand vị Linh Mục nói vào tai người bệnh:
- Xin ông an tâm, không ai dám làm trái ý ông! Chúng tôi chỉ cầu nguyện cho ông thôi!

Nói xong vị Linh Mục thoáng thấy nơi cổ bệnh nhân có lấp lánh ảnh đeo Đức Mẹ MARIA. Không giữ được bình tĩnh Cha ngạc nhiên nói:
- Ông mang một ảnh đẹp như vậy mà ông lại không muốn tôi nói với ông về Đức Chúa GIÊSU KITÔ và về Đức MARIA, Mẹ của Ngài và cũng là Mẹ của chúng ta sao???

Người hấp hối bỗng chốc như hồi tỉnh. Bằng từng câu rời rạc, ông kể lại câu chuyện vớt một cậu bé và lời hứa với bà mẹ cậu bé là sẽ mang ảnh Đức Mẹ MARIA suốt đời để ghi dấu cuộc gặp gỡ. Và ông đã giữ lời hứa. Vị Linh Mục thật cảm động. Ngài cúi xuống cầm tay người bệnh và nói:
- Chú bé mà ông cứu sống chính là tôi! Mẹ tôi vẫn kể lại câu chuyện ấy và nhắc tôi nhớ đến ông luôn. Chúng tôi suốt đời ghi ơn ông .. Và ông không thấy là chính Đức Mẹ MARIA đưa tôi đến đây gặp lại ông để giúp ông trong giây phút trọng đại cuối đời sao?

Người bệnh cũng cảm động không kém vị Linh Mục. Ông bỗng trở nên an bình hơn. Ông chấp nhận xưng tội và xin rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU làm của ăn đàng. Sau đó, ông nhắm mắt an nghỉ trong vòng tay trìu mến ghi ơn của vị Linh Mục.

... Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Lạy Rất Thánh Đồng Trinh MARIA, Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp, cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng, thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương, cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội, và khi gặp các sự khốn khó trong đời con, và nhất là trong giờ chết. Lạy Mẹ hay thương, xin cho con siêng năng chạy đến cùng Mẹ luôn luôn. Con tin rằng, con siêng năng chạy đến cùng Mẹ, thì làm cho Mẹ càng sẵn lòng nghe lời con. Xin Mẹ ban cho con ơn trọng này, là siêng năng cầu xin Mẹ, và được lòng trông cậy Mẹ như con thảo, ngỏ cho Mẹ nghe lời con hằng cầu xin, mà hằng cứu giúp con, và ban cho con được ơn bền đỗ đến cùng. Lạy Mẹ yêu dấu hay thương giúp, xin Mẹ ban phúc lành cho con, và cầu bàu cho con khi này và trong giờ lâm tử. AMEN.

Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin che chở mọi kẻ thuộc về con, ban ơn phù hộ cho Đức Thánh Cha, cho Hội Thánh, cho nước Việt Nam con, cho gia đình con, cho kẻ thân nghĩa, kẻ thù nghịch và hết mọi kẻ khốn khó. Sau hết cho các Linh Hồn đáng thương trong Lửa Luyện Ngục.

Thánh MARIA, lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cầu bàu cho con. Lạy Thánh Anphongxô là quan thầy bào chữa con, xin giúp đỡ con trong những khi khó ngặt thiếu thốn biết chạy đến cùng Đức Bà MARIA.

Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cầu cho chúng con.
Lạy Thánh Anphongxô, cầu cho chúng con.

(Albert Pfleger, ”FIORETTI DE LA VIERGE MARIE”, Mambré Éditeur 1992, trang 57-58)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
                                             

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

TÌNH HÌNH CÁC ĐOÀN HTDC TRƯỚC 1975




(Trích lại trong Tuyển Tập Những Bài Hát Sinh Hoạt -  18-07-2004  
của Liên Đoàn Thánh Linh Thanh Đức )