Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

THẰNG KHÙNG


(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)

(Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)


"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng.
Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi: - Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN. Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí. Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán… 

Phùng Quán 

________
 

Ghi Chú: 
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.


Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH, 
Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).




Tấm gương can trường.

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*



Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges .
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa - Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”
Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết. Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.
Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.
Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.
Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này à!”
Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:
“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”
Ngài đáp:
“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một...
Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”.
Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.
Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.


TGP Hà Nội 
BBT (Theo HĐGMVN)
 

Trần Văn Giang sưu tầm.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

NẾU CÓ ĐỨC TIN BẰNG HẠT CẢI

                                      (Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
          Tại một cộng hoà thuộc Liên Xô cũ, trong một cuộc mít tinh nọ, một giáo sư muốn chứng minh cho cử tọa thấy rằng Chúa Giêsu chỉ là một tên phù thủy lừa bịp. Ông lấy một ly nước, đổ vào đó một ít bột, nước liền đổi ra màu đỏ. Ông tuyên bố với cử tọa như sau:
         “Thưa quý vị, tôi vừa mới làm một phép lạ. Ngày xưa Ông Giêsu cũng chỉ làm như tôi vừa làm mà thôi. Ông Giêsu đã biến nước thành rượu theo cách thế tôi vừa làm đó. Nhưng quý vị hãy xem tôi còn làm được điều ngoạn mục hơn nữa”. Nói xong, ông lấy một thứ bột khác cho vào nước. Nước từ từ đổi màu, rồi trở lại nguyên trạng.
         Trong đám cử tọa, một người đứng lên phát biểu: “Thưa ông, ông quả thực là người tài ba nhưng liệu ông có dám uống thử thứ rượu mà ông vừa chế biến hay không?” Quả thực, ông giáo sư biết mình đang làm trò bịp. Nước mà ông đã cho đổi màu ấy chỉ là một hóa chất độc hại. Thấy ông giáo sư chần chừ, người vừa lên tiếng phát biểu mới quay xuống đám đông và bình tĩnh giải thích như sau:
        “Thưa quý vị, đây là sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và ông giáosư nầy: với rượu nho của Ngài, Chúa Giêsu đã rót cho chúng tôi hai ngàn năm hoan lạc rồi. Còn với thứ rượu mà vị giáo sư nầy chế biến, nhân loại hẳn sẽ bị đầu độc”.
          Anh chị em thân mến,
       Hai ngàn năm qua, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục làm phép lạ trong cuộc sống của mọi con người, đặc biệt là trong cuộc sống của những ai tin vào Chúa. Mỗi cuộc đời Kitô hữu là một phép lạ phi thường của Chúa Giêsu. Trong phép lạ lớn lao ấy còn hàm ẩn biết bao phép lạ khác nữa. Chúa Giêsu hôm nay đã nói: “Nếu anh em có lòng tin nhỏ xíu bằng hạt cải thôi, anh em có thể truyền lệnh cho cây dâu nầy bật gốc lên, xuống mọc dưới biển kia cũng được”. Nói như thế, Chúa Giêsu không muốn nói rằng đức tin có khả năng làm phép lạ như một sức mạnh phù phép, bùa chú, hiểu theo nghĩa đen là “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển”. Nhưng Ngài muốn nói: đức tin là một động lực thúc đẩy chúng ta dám nghĩ, dám làm những việc to lớn, phi thường mà nếu không có lòng tin, chúng ta không dám hành động. Bởi vì, người có lòng tin thì hành động bằng quyền năng của Thiên Chúa, chứ không phải bằng khả năng giới hạn của mình. Do đó, người có lòng tin có thể làm được những việc mà chỉ có quyền năng vô biên của Thiên Chúa mới làm được. Thực ra, không phải là người ấy hành động nữa mà là chính Thiên Chúa hành động trong người ấy và qua người ấy.
         Nhờ đức tin thúc đẩy, chúng ta dám khởi công bắt ta vào việc xây dựng cuộc sống cho mình, cho anh chị em mình, rồi Chúa sẽ tiếp tay giúp sức chúng ta bằng quyền năng vô biên của Ngài, để hướng dẫn và biến đổi công việc nhỏ bé của chúng ta trở thành công trình to lớn, vĩ đại, phi thường. Nếu chúng ta không bắt tay vào việc là dấu chứng tỏ chúng ta chưa tin, hoặc không tin. Có tin, chúng ta mới dám làm, chưa làm hay không làm là vì chưa tin hay không tin. Đức tin đòi phải có hành động. Thánh Giacôbê tông đồ đã nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin đã chết rồi” (Gc 2,17). Ngài lấy ví dụ: “Nào có ích gì, nếu người nào rêu rao mình có đức tin trong khi chẳng chịu làm gì cả? Nếu có anh chị em nào thiếu ăn thiếu mặc mà một người nào trong anh chị em lại nói với họ: ‘chúc anh chị em đi bình an, ăn no mặc ấm’, mà không cho họ những gì cần thiết để ăn mặc, thì nào có ích gì? Đức tin đó có cứu được người ấy không? Cũng vậy, đức tin không có việc làm là đức tin đã chết mất rồi” (Gc 2,14-17). Bởi vì đức tin sống bằng đức ái. Đức tin phải được biểu lộ trong sự thông cảm, tha thứ, chia sẻ cho nhau cái ăn cái mặc, và nhất là biểu hiện trong sự phục vụ, làm tôi tớ lẫn nhau một cách vô điều kiện.
             Thưa anh chị em,
         Sống đức tin là sống phục vụ. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng một câu chuyện bình dân trong chế độ xã hội phong kiến ở thời đại Ngài mà dạy chúng ta bài học phục vụ. Chế độ phong kiến là chế độ có chủ có tớ, có địa chủ và nông nô. Tớ phải hầu hạ chủ như là chuyện đương nhiên. Chủ không bao giờ mang ơn tớ, cũng là chuyện coi như đương nhiên. Nhưng Chúa Giêsu công bố một đạo lý Tin Mừng khác hẳn quan điểm phong kiến đó. Chính Ngài đã “đến không phải để được hầu hạ, nhưng để làm tôi tớ mọi người” (Mt 20,28), và Ngài đòi hỏi: “Ai lớn nhất trong anh em phải làm tôi tớ mọi người” (Mc 9,35). Tin Chúa, theo Chúa là đem cả cuộc đời mình hiến thân phục vụ anh em như một chuyện đương nhiên, không đòi hỏi được đền ơn, đáp nghĩa, được biểu dương hay khen thưởng. Tin Chúa, theo Chúa không để chi lo cho phận riêng mình cách ích kỷ, không chạy theo lợi lộc, không tìm thăng quan tiến chức, nhưng để phục vụ mọi người như lẽ sống đời mình. Thái độ phục vụ không kể công, không vụ lợi là một yếu tố quan trọng đối với đời sống cộng đồng Giáo Hội cũng như xã hội. Sự đòi hỏi người khác biết ơn và đền ơn, đó là hành động của ước muốn thống trị và là bước đầu đưa tới thống trị trên người khác. Muốn cho tương quan trong cộng đồng xã hội mãi mãi trong sáng là tương quan huynh đệ, Chúa Giêsu đã dạy cách phục vụ không vụ lợi, không kể công. Có làm được điều gì tốt lành thì đó là việc phải làm chứ chẳng có gì để mà vênh vang tự đắc, nghĩa là mình có quyền đòi Chúa hay mọi người biết ơn. Do đó, mỗi khi hoàn thành nhiệm vụ, mỗi người phải khiêm tốn tự nhận mình chỉ là “người tôi tớ tầm thường, vì đã làm việc bổn phận đấy thôi.”
          Anh chị em thân mến,
        Nếu nhờ đức tin, mọi người đều lấy mình làm tôi tớ lẫn nhau thì chắc chắn đức tin ấy sẽ làm được những việc phi thường. Đó là phép lạ của đức tin có hành động. Và cũng chính hành động nầy sẽ kiểm tra chất lượng đức tin của chúng ta xem nó bằng bao nhiêu sánh với hạt cải bé nhỏ. Vì nếu chúng ta có được lòng tin nhỏ bé bằng hạt cải thôi, chúng ta có thể “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển” cũng được. Đức tin có một sức bật kỳ diệu như vậy. Nhà vật lý Archimède đã nói: “Nếu có thể tìm được một điểm tựa bên ngoài vũ trụ, thì với một đòn bẫy, người ta có thể nâng bổng cả vũ trụ lên”. Và văn hào Kierkegaard đã nói: “Điểm tựa ấy chính là đức tin”. Đức tin có cả một sức bật như vậy, nó có khả năng biến đổi cả xã hội, cả thế giới đầy những bất công, bạo lực, chia rẽ, chiến tranh nầy thành một vương quốc của tình yêu, thành một “Trời Mới Đất Mới” trong ngày Cánh Chung.

                                                                                                                      (tgpsaigon.net)

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

LẦN HẠT KINH MÂN CÔI THẾ NÀO CHO ĐÚNG CÁCH ?




Cách Lần Hạt Mân Côi:
  1. (bắt đầu) Làm dấu Thánh Giá và đọc Kinh Tin Kính
  2. Đọc Kinh Lạy Cha
  3. Đọc 3 Kinh Kính Mừng
  4. Đọc Kinh Sáng Danh
     
  5. Đọc Mầu Nhiệm thứ nhất và Kinh Lạy Cha
  6. Đọc 10 Kinh Kính Mừng, và suy gẫm về mầu nhiệm này
  7. Đọc Kinh Sáng Danh và lời nguyện Mân Côi
  8. Đọc mầu nhiệm thứ hai, rồi đọc Kinh Lạy Cha
  9. Lập lại mục 6 và 7 => và tiếp tục cho đến hết các mầu nhiệm thứ 3, 4 và 5
     
  10. Đọc Kinh Lạy Nữ Vương, Kinh Trông Cậy và Các Câu Lạy
  11. Làm dấu Thánh Giá
  12. Hôn Thánh Giá Chúa với tâm hồn kính mến. (hết)

Lần hạt kinh Mân Côi thế nào cho đúng cách? Khi lần 

hạt, chúng ta có cần suy niệm không?


          Thánh Louise De Montfort nói:  Không phải do đọc kinh nhiều, nhưng do lòng sốt sắng cầu nguyện, mà ta làm vui lòng Chúa và được Ngài yêu thương. Chỉ đọc một kinh Kính Mừng cho sốt sắng, sẽ có công phúc hơn là đọc một trăm năm mươi kinh cách hững hờ. Hầu hết các người Công Giáo đều có lần chuỗi Mân Côi một trăm năm chục, hoặc chuỗi năm chục, hoặc ít ra vài chục kinh Kính Mừng. Vậy tại sao có ít người sửa mình, bỏ đàng tội lỗi và tấn tới về các nhân đức, phải chăng vì họ đã không đọc kinh Mân Côi đúng cách?
         Vậy ta hãy xem thế nào là cách lần chuỗi Mân Côi đẹp lòng Chúa và có sức giúp ta nên thánh thiện hơn. Trước hết, người đọc kinh Mân Côi phải ở trong tình trạng có ân sủng, hoặc ít là có quyết tâm muốn ra khỏi đàng tội lỗi. “Theo đó sách Huấn ca có lời rằng: “Lời tôn vinh Thiên Chúa không phát ra từ miệng kẻ tội lỗi” (Hc 15,9). Lời chào của Thiên Thần cũng như lời kinh của Chúa Giêsu không thể đẹp lòng Chúa, khi phát ra từ miệng người tội lỗi không thống hối. Chúa Kitô đã nói: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng nó thì ở xa Ta” (Mt 7,6)
        Chúng ta cầu nguyện bằng kinh Mân Côi là cách cầu nguyện tuyệt hảo nhất. Điều đó tốt, nhưng chưa đủ, còn cần phải đem hết tâm trí vào việc cầu nguyện của chúng ta, vì Thiên Chúa lắng nghe tiếng lòng của ta hơn là tiếng ngoài miệng ta. Đọc kinh cầu nguyện mà để mình chiều theo những sự lo ra là một điều bất kính đối với Thiên Chúa và Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi như thế không ích lợi gì mà còn mang tội vào mình. Làm sao chúng ta dám xin Chúa nghe chúng ta, khi chính bản thân chúng ta không nghe mình, không chú ý những gì miệng mình đọc? “Vô phúc cho kẻ làm công việc của Chúa cách lơ đãng” (Gr 48,10)
           Thật là đáng buồn khi xem nhiều người lần chuỗi Mân Côi! Họ đọc lẹ hết sức, đọc không kịp thở và ăn vần nuốt chữ nhiều chổ trong lời kinh. Thử nghĩ xem, ăn nói với một người thường, ta cũng không nói liến láu như vậy, thì làm sao có thể coi đó là cách tôn vinh Chúa và Đức Mẹ? Cho nên chúng ta đừng ngạc nhiên, khi thấy những lời kinh rất thánh thiện của Kitô giáo không mang lại hoa trái nào cho người ta, và sau khi đọc từng ngàn chuỗi Mân Côi, người ta đã không trở nên thánh thiện hơn.
            Để tránh bị lo ra, bạn hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong mỗi mầu nhiệm của mỗi chục kinh Mân Côi. Hãy dùng trí tưởng tượng để suy ngắm các nhân đức của Chúa và Mẹ Maria nơi mỗi mầu nhiệm đó.
          Trong thư của nữ tu Lucia (thị nhân tại Fatima) gửi cho Cộng Đoàn Thánh Mẫu, cho ta biết thêm sự huyền nhiệm khi lần hạt kinh Mân Côi như sau: “Xin anh chị em ghi nhớ rằng không phải chỉ riêng tôi góp lời cầu nguyện với anh chị em mà còn có toàn thể triều thần thiên quốc cùng hợp chung tiếng hát hòa điệu với các tràng kinh Mân Côi nhịp nhàng anh chị em đọc. Thêm vào đó cũng có các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội kết hợp lời nguyện xin tha thiết của các vị với lời khẩn cầu của anh chị em.
          Ngoài ra, ngay mỗi khi bàn tay anh chị em mân mê tràng chuỗi Mân Côi và bắt đầu lần hạt Mân Côi thì tức khắc các Thánh Thiên Thần và các Thánh Nam Nữ cũng hòa nhịp với anh chị em trong lời kinh.
          Chính vì các lý do trên đây mà tôi khuyến khích anh chị em hãy sốt sắng lần hạt Mân Côi. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm tình với Đức Tin và cùng lúc hãy suy gẫm ý nghĩa các mầu nhiệm của kinh Mân Côi”.
          Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã nói trong tông thư Rosarium Virginis Mariae, như sau: “Kinh mân côi, chính bởi vì nó phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Maria, là một lời kinh chiêm niệm sâu sắc. Không có chiều kích chiêm niệm ấy, kinh mân côi sẽ như một cái xác không hồn, …”
           Thánh Louise De Montfort nói tiếp: Mẹ Maria cũng đã dạy chân phước Alanô, Mẹ bảo ngài rằng: “Đây (kinh Mân Côi – tác giả) là một lời cầu nguyện rất hữu ích. Nguyên việc đọc một trăm năm mươi kinh Kính Mừng (nay là hai trăm kinh – tác giả) đã là việc rất đẹp lòng Mẹ, nhưng họ sẽ làm tốt hơn nếu cùng với việc đọc các kinh Kính Mừng như thế, họ suy ngắm về cuộc đời, về cuộc khổ nạn và về sự vinh hiển của Chúa Giêsu (và Mẹ Thánh Ngài – tác giả), bởi vì sự suy ngắm này là linh hồn của kinh Mân Côi”. … Sự suy ngắm các mầu nhiệm là cái làm cho kinh Mân Côi khác biệt các việc sùng kính khác.
         Thánh Lễ có sức tôn kính Chúa Ba Ngôi một cách vô cùng, bởi vì Thánh Lễ diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Chúng ta dâng lên Chúa Cha những công nghiệp của đức vâng lời, những đau khổ và máu thánh Chúa Kitô. … Vậy mà kinh Mân Côi ta đọc để suy ngắm các mầu nhiệm thánh cũng là một hy lễ ngợi khen dâng lên Thiên Chúa, để cảm tạ Chúa vì ơn cứu chuộc chúng ta. Kinh Mân Côi cũng là một sự sùng mộ kính nhớ những đau khổ, cái chết và vinh quang của Chúa Giêsu Kitô.
          Những Kitô hữu không suy ngắm các mầu nhiệm Mân Côi tỏ ra rất vô ơn bạc nghĩa với Chúa Giêsu Kitô, không mấy qúi trọng tất cả những gì Chúa Cứu Thế đã chịu vì ơn cứu độ loài người. Cách hành xử của họ cho thấy họ không hiểu biết gì về cuộc đời Chúa Giêsu, họ ít bận tâm tìm hiểu những gì Chúa đã làm và đã phải chịu để cứu chuộc chúng ta. Những Kitô hữu đó nên lo sợ rằng: Vì họ đã không biết đến Chúa Giêsu, hoặc vì đã bỏ quên Ngài, cho nên Ngài sẽ xua đuổi họ trong ngày phán xét, với lời quở trách: “Ta bảo thật các ngươi, Ta không biết các ngươi” (Mt 25, 12). Vậy chúng ta hãy suy gẫm về cuộc đời và những đau khổ của Chúa Cứu Thế nhờ kinh Mân Côi.
          Nếu bạn cảm thấy lương tâm bị đè nặng bởi tội lỗi, bạn hãy cầm lấy chuỗi Mân Côi, hãy đọc kinh và suy ngắm để kính nhớ một vài mầu nhiệm của cuộc đời, những đau khổ của cuộc khổ nạn và vinh quang của Chúa Giêsu Kitô. Bạn hãy tin chắc rằng trong khi bạn đang suy gẫm và kính nhớ các mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, Ngài sẽ xin Cha Ngài nhìn xem các thương tích của Ngài, xin Cha Ngài ban cho bạn được ơn thống hối và được ơn tha thứ mọi tội lỗi.
           Thánh Augustinô qủa quyết không có việc đạo đức nào sinh nhiều hoa trái và hữu ích cho ơn cứu độ bằng năng suy gẫm về những đau khổ của Chúa trong cuộc khổ nạn.
Một hôm, Đức Mẹ đã mặc khải cho chân phước Alanô rằng: Sau việc cử hành Thánh Lễ là tưởng niệm số một và sống động của cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, thì không có việc đạo đức nào trọng hơn và nhiều công hơn cho bằng kinh Mân Côi, vì kinh Mân Côi là tưởng niệm thứ hai, diễn lại cuộc đời và cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô (khi đọc kinh Mân Côi có kết hợp suy niệm mầu nhiệm Mân Côi – tác giả).
           Đức Mẹ nói với chân phước Alanô rằng: “Mặc dầu đã có rất nhiều ân xá dành cho những người lần chuỗi Mân Côi, nhưng Mẹ sẽ thêm nhiều ân xá cho những ai quỳ gối lần chuỗi năm chục, cách sốt sắng và trong tình trạng không mắc tội trọng, và những ai trung thành đọc kinh Mân Côi và suy gẫm các mầu nhiệm sẽ được Mẹ trọng thưởng, là được ơn tha các hình phạt về mọi tội lỗi của họ vào lúc cuối đời họ. Con đừng coi đó là điều khó tin. Mẹ dễ dàng làm điều đó, vì Mẹ là Mẹ của Vua trời đất, chính Ngài đã gọi Mẹ là đấng đầy ơn phúc. Thật Mẹ là Mẹ đầy ơn phúc và Mẹ sẽ đổ tràn ơn phúc xuống trên các con yêu dấu của Mẹ”.

Giuse Hoàng Trung Chính

(nguồn : memaria.org)

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

CHUYỆN VỀ THIÊN THẦN BẢN MỆNH



Một Câu Chuyện Có Thật Về Thiên Thần Bản Mệnh

            Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột. Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường. Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Xức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.


             20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố. Một lần nọ, ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù. Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ hẳn vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.

           Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu. Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi: Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ. Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng giả trang trốn đi nơi khác. Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau...

         Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự. Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù. Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui...



Sưu tấm của cha TIẾN LỘC
( nguồn : ngonluanho.net )







Một bà kia đang thong thả đi dạo trên hè phố, bỗng dưng nghe tiếng thét : "Đứng lại !".
Bà vừa dừng chân thì một viên gạch từ trên mái nhà rơi ngay xuống trước mặt. Suýt chết ! Vài phút sau, tới ngã tư, bà ta đang định qua đường, thì lại nghe một tiếng thét nữa : "Đứng lại !".
Chưa đầy 15 giây thì một chiếc xe tải phóng ngang, bất chấp đèn đỏ. Bà ta hú hồn, bèn lên tiếng hỏi : "Ai đấy ?".
Tiếng đó trả lời : "Ta là thiên thần hộ thủ của con. Chắc là con có điều gì muốn nói với ta phải không ?".
Bà thưa : "Chắc rồi. sao Ngài không thét dừng lại lúc con sắp đi lấy chồng ?"
--------- o0o --------
  

Cha Tâm nhận được cú điện thoại kêu đến bệnh viện gấp rút. Cha vội lên xe phóng một mạch để đi ban các bí tích cho người lâm tử. Dọc đường một nữ tu vẫy tay xin quá giang, rồi đến một chủng sinh cũng xin đi ké. Tuy vội vàng, nhưng cha cũng bình tĩnh mở cửa rước họ lên. Nhưng ngồi trên xe chưa bao lâu, chị nữ tu thấy chóng mặt vì cha xứ lái xe quá nhanh, với những pha ngoằn nghèo lách ngang lách dọc, cho nên sợ quá bèn kiếm cớ :
"Thưa cha, con quên tràng hạt ở nhà, xin cha cho con xuống để về lấy chuỗi đọc kinh".
Anh chủng sinh cũng kiếm cớ để đi ra :
"Cha cho phép con xuống để mua cuốn sách bán ở tiệm gần đây bên cạnh".
Cha Tâm thấy nhẹ nhõm và có thể nhấn ga đi nhanh hơn. Bỗng dưng, cha cảm thấy một bàn tay vỗ lên vai với giọng khẩn khoản :
"Cha cho tôi xuống".
 Cha cảm thấy rợn người, không dám quay đầu lại, chỉ ấp úng thưa :
 "Ông là ai vậy ?"
Tiếng ấy trả lời : "Tôi là thiên thần bản mệnh của cha".



(nguồn: http://www.webnode.com)







Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

THIÊN THẦN BẢN MỆNH ĐÌNH CÔNG




Lễ Kính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh
Ngày 2 tháng 10
Thiên Chúa đã trao ban cho hết thảy mọi người chúng ta một thiên thần bản mệnh để bảo vệ và hướng dẫn chúng ta.
Thiên thần bản mệnh thúc giục chúng ta làm lành tránh dữ và tuân theo điều Chúa dạy.

Lạy Thiên Thần Chúa, người được Chúa thương giao phó con cho ngài coi sóc, xin ở bên con mỗi ngày, để soi sáng, giữ gìn, dìu dắt và cai quản con. 
Amen.





CÁC THIÊN THẦN BẢN MỆNH ĐÌNH CÔNG TRÊN THIÊN ĐÀNG 

        Chúa Giêsu cất giọng: “Hãy yên lặng, Micae tối nay con hãy mau họp tất cả các thiên thần bản mệnh ở đây.  Chúng ta sẽ lắng nghe những than phiền của họ.”  Buổi tối, thánh Micae xếp đặt các ngôi sao trong bầu trời theo một trình tự từ nhỏ đến lớn: các thiên thần bản mệnh được gọi về trời, hướng Tây, vào lúc trăng bắt đầu mọc.

          Các thiên thần bản mệnh đã lên gặp Chúa.  Khi tất cả ngồi trên các tầng mây, tạo thành một số lượng lớn không đếm xuể.

           Chúa Giêsu tiến lên giữa họ: “Hỡi các thiên thần, Ta biết các con muốn đình công.  Điều đó thực sự không hợp lý.  Vậy có điều gì không hay?”

          Họ la lên: “Chúng con thấy chán nản về công việc bạc bẽo của chúng con!  Chúng con không thể làm được nữa! Chúng con muốn trở về thiên đàng!  Trên trần gian chúng con quá cô đơn!”

          Chúa Giêsu ngạc nhiên hỏi: “Cô đơn trên trần gian ư?  Nhưng các con đã làm gì cho nhân loại?  Mỗi người các con không có một người bạn mà chúng con gắn bó ngày đêm sao?”

         Một tổng thần vừa đứng dậy vừa nói: “Lạy Chúa! Điều làm chúng con bị cô đơn là loài người không biết đến chúng con.”

           Một thiên thần khác thêm vào: “Quả thật, nhân loại đã lôi kéo nhau vào trong những cuộc rộn ràng điên rồ mà không bao giờ có lấy một chút quan tâm đến chúng con. Có ai nghĩ rằng có một thiên thần luôn theo sát bước chân của họ không?”

          Đến lượt một thiên thần Sêraphim tóc hoe, đứng lên nói: “Chính con, con là thiên thần bản mệnh của Gioan, người ta luôn thấy chú bé nghịch ngợm, và đứng trên bờ tường sắp đổ nát, hoặc trên một sà lúp sửa soạn lật đổ, hay trên một cành cây mỏng manh.  Tuy nhiên, nhờ con mà nó chưa gặp một điều bất trách.  Một ngày kia, nó bị ngã xuống nước, chính con đã ra tay để nó móc vào rễ cây.  Có ngày nó bị lao đầu từ trên cây táo xuống, con đã trải áo của con xuống đất để làm giảm bớt sự va chạm.  Chú bé Gioan đã đứng dạy không bị sao cả.  Chúa nghĩ rằng nó sẽ cảm ơn con ư?...  Nó không hề nghĩ tới con.”




             Khi thiên thần Sêraphim im lặng, một thiên thần áo trắng, thắt lưng vàng phát biểu.  Ngài nói:“Con có sứ vụ bảo vệ Lisa, một cô bé khờ khạo luôn băng qua đường mà không nhìn phải trái.  20 lần con đã kéo tay áo nó lại lúc mà một chiếc xe điện hoặc xe hơi sắp cán nát nó.  Người ta hỏi nó: nhờ phép lạ nào mà nó được đưa ra đúng lúc, vậy mà không bao giờ có ai nghĩ rằng con đã ở bên nó trong sự việc ấy.”

            Một thiên thần mặc áo choàng xanh da trời đã thở than một cách chán nản: “Ôi! các trẻ em đều phụ bạc!”

            Một thiên thần khác buồn rầu chậm rãi nói: “Chúng cũng không nhận ra giọng nói của chúng con trong lúc chúng con thì thầm bên tai chúng lời khuyên tốt lành.”

         Thiên thần Kêrubin nói: “Đối với con, còn tệ hại hơn nữa, Loulou bạn đồng hành của con cũng không biết có con không.  Mẹ nó chưa bao giờ nói điều đó cho nó biết.”

         Những phàn nàn vẫn tiếp tục kéo dài, với giọng điệu dai dảng đó.  Bỗng nhiên, thấy một nhóm thiên thần tỏ ra buồn bã, mệt mỏi hơn các thiên thần kia, Chúa Giêsu hỏi họ:“Còn các con hỡi các thiên thần, các con muốn nói gì?”

          Các thiên thần đáng thương trả lời với một giọng trầm khàn: “Ôi lạy Chúa!  Nỗi bất hạnh của chúng con còn vượt quá những điều mà Chúa vừa nghe thấy!  Chúng con là những thiên thần bản mệnh của người lớn.”

         Vua vũ trụ trở lên căng thẳng.  Người xoáy bộ râu cằm lộ vẻ bối rối.  Một sự trầm lặng nặng nề trên cõi thiên đàng.  Cuối cùng, sau một lúc lâu, Chúa Giêsu nói: “Hỡi các thiên thần, điều các con nói cho Ta đủ làm Ta chán nản.  Cha đã sai các con đến với các thụ tạo yếu hèn để giúp đỡ chúng trong cuộc hành hương ngắn ngủi ở trần gian.  Nhưng sự việc tỏ ra quá đau buồn.  Ta không còn tâm tư để buộc các con làm việc đó quá lâu nữa.  Vậy các con có thể trở về thiên đàng.”

         Qua câu nói vừa rồi vui mừng bọc lộ vang ra từ muôn đôi cánh, và các tầng trời thiên đàng đang rung lên.  Nhưng bỗng Đức Thánh Trinh Nữ xuất hiện giữa đám đông: “Tới phiên ta, ta muốn nói.”

         Như ai cũng biết, Chúa Giêsu, Đấng không bao giờ từ chối Mẹ, Ngài nói:“Vâng, thưa Mẹ.”

       Quay hướng về các thiên thần bản mệnh, Mẹ nói với họ: “Hỡi các thiên thần bản mệnh, còn hơn cả con Ta nữa, ta thấy chán nản về cuộc đình công mà các con dự định.  (Đức Trinh Nữ đã biết rõ rằng các trẻ em ở trần gian sẽ bị mất, không còn các thiên thần bản mệnh nữa!)  Ta muốn các con, vì đặc ân cuối cùng, các con trở lại nhiệm sở của các con trọn một ngày nữa.  Trong thời gian này chúng ta sẽ tổ chức một cuộc bỏ phiếu, và tối mai các con hãy trở về để bỏ phiếu thuận hay chống lại cuộc đình công bi thảm này, nếu đa số thì thắng.”

       Lập tức các thiên thần bản mệnh, quỳ rạp trước nhan Chúa Giêsu và Mẹ Người mà xin bay về trần gian lần nữa.

         Đêm đó Nữ Vương các tầng trời đã rời thiên đàng và thực hiện một cuộc kinh lý lạ thường.  Âm thầm vào từ nhà này sang nhà khác, vì duy chỉ có Thần Ánh Sáng mới biết được việc này.  Mẹ cúi xuống từng giường của các trẻ em đang ngủ và thì thầm vào tai chúng điều gì đó.  Mẹ thích chọn những em bé, những người lớn thì 'nặng tai' hơn.  Mẹ đã làm như thế cho đến hết vòng trần gian.

        Sáng hôm sau, khi thức dậy, các trẻ em trần gian biết rằng chúng có một giấc mơ!  Giấc mơ nào?... không ai nhớ đúng cả.  Nhưng bỗng chúng biết rằng mỗi người trong chúng đều có bên cạnh một thiên thần, họ sẽ buồn rầu, chán nản và ra đi nếu như người ta không có lấy một chút yêu mến họ.  



       Thế là các trẻ em trần gian bắt đầu chắp tay lại và nói: 
“Hỡi thiên thần bản mệnh của con, xin đừng đi!  Con yêu mến Ngài, vì Ngài đã cứu con thoát khỏi nhiều thảm họa.  Con xin Ngài luôn mãi phù hộ con.”

       Tối hôm đó có nhiều cuộc đi lại giữa thiên đàng và trần gian.  Các thiên thần bản mệnh hôm trước quá sa sút, quá mệt mỏi; bây giờ với vẻ mặt rạng rỡ họ đã bỏ lá phiếu của họ vào thùng và trở lại trần gian với tiếng vỗ cánh vui tươi.  Lúc đến mở thùng phiếu, ông Chủ Vũ Trụ đã ngạc nhiên!  Hôm trước các thiên thần đã bằng mọi giá bỏ mặc trần gian, thì bây giờ, tất cả đã tuyên bố chống lại cuộc đình công.

        Đó là phương cách mà Đức Trinh Nữ Maria đã dùng để hơn một lần cứu thoát nhân loại bất hạnh. 

       Hỡi các bạn nhỏ, chuyện này có xảy ra vào thời của các con không?  Các con có nhận ra sự viếng thăm của Đức Trinh Nữ trong giấc ngủ của các con không?...  Có lẽ không.  Nhưng hãy coi chừng!  Thiên thần bản mệnh của các con cũng sẽ rất buồn và sẽ muốn rời xa các con nếu các con quên họ.

Trích từ “L’Oratoire kỷ yếu về thánh Giuse ở Mont royal, Montréal”

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

THÁNG MÂN CÔI




Tháng Mân Côi

        Hằng năm, Giáo hội Công giáo dành Tháng Mười để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi. Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*). Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ bảo thánh Đa Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác.
         Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội. Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời.
      Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi. Chân phước GH Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi khi ngài đi bách bộ. Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi. Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi.
      Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng thánh GH Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571. Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary confraternities) tại Rôma và những nơi khác. Do đó, thánh GH Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó.
Năm 1573, ĐGH Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Năm 1671, ĐGH Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha. Chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary). Do đó, ĐGH Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội.
         Lm. William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống Chúng ta” (Mary in Our Lives): “Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ. Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”.
         Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không vì mong được lợi cho mình mà vì lòng yêu mến chân thành. Người Việt Nam có câu: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Cứ hành động bằng tất cả niềm tin, cậy, mến thì chúng ta không bao giờ phải thất vọng.

                                                    

       Chúng con xin trao phó mọi sự cho Thiên Chúa và Đức Mẹ, xin quan phòng và lo liệu cho chúng con hôm nay và mãi mãi. Amen.

                                                                               Trầm Thiên Thu chuyển ngữ 
                                                                                                               (lamhong.org)

(*) Albigensianism: Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII, có đặc tính của thuyết nhị nguyên (đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện và Ác). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo (Inquisition).
Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia phái tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

TERESA : THÁNH NỮ CỦA TÌNH YÊU

Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu 

§ Lm Anton Nguyen Van Thang
Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
  • Ngài là Thánh Trinh nữ và là Thánh Tiến sĩ tình yêu.
  • Sinh 1873 tại Alençon nước Pháp.
  • Lúc nhỏ, xin vào đan viện Cát-Minh ở Lisieux.
  • Khám phá lối sống Tin Mừng khiêm tốn, mở ra một linh đạo nên Thánh mới mẻ: con đường thơ ấu thiêng liêng.
  • Qua đời: 30.09.1897 (24 tuổi).
  • Ước ao dâng mạng sống, cuộc đời, sự đau khổ, hiểu lầm để các linh hồn được cứu và để Hội Thánh phát triển.
  • 10.1997 (100 năm sau) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong chị là Thánh Tiến sĩ tình yêu.
  • Lúc bé thơ, thánh nữ nhìn lên trời chiêm ngắm những vì sao, và cô sung sướng nhìn thấy có các ngôi sao dệt nên chữ chữ T xinh đẹp. Ôi! Tên của mình đã được Chúa khắc ghi trên trời. Ngài ước ao nên thánh…


Giảng

Vì sao Têrêxa bé nhỏ được nhiều người khắc sâu hình ảnh?
Vì sao thánh nữ được nhiều người tưởng nhớ, mến thương?
Có phải vì tuổi đời còn quá trẻ (24 tuổi), mà người trẻ thì thường khiến cho mọi người dậy lên niềm cảm xúc? Hay là do nét thanh tú, dễ thương trên khuôn mặt hiền hòa, vì cái đẹp bao giờ cũng lay động lòng người? Hay vì nẻo đường nên thánh đơn sơ, khiến cho chúng ta dễ bắt chước, và cảm thấy Thiên Chúa là Đấng gần gũi?
Có thể là tất cả, nhưng hình như vẫn chưa phải là câu trả lời đủ và trọn nghĩa.
Nàng muốn làm linh mục để tế lễ, nàng muốn trở thành sứ đồ đi rao giảng Tin Mừng, mà không phải một nơi mà khắp nơi, cũng không phải chỉ một thời, mà mọi thời: từ thuở tạo thiên lập địa đến ngày tận thế, nàng còn muốn là kẻ tử vì đạo với mọi hình khổ: đóng đinh, vào vạc nước sôi, lên giàn hỏa thiêu, chịu chém bay đầu..., Khiếp, người đâu mà tham thế.
Thế nhưng nghĩ cho cùng, không tham sao được, khi người tình của chị là Chúa Tể càn khôn, bao trùm vũ trụ và lịch sử, vì thế, tình yêu của chị cũng bao trùm cả lịch sử lẫn vũ trụ. Trong thư, chị viết: “Em hiểu rằng, Hội Thánh có một trái tim, và trái tim ấy rực sáng Tình Yêu. Em hiểu rằng chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể trong Hội Thánh hoạt động. Nếu Tình Yêu nguội tắt, thì các sứ đồ không ai đi rao giảng Tin Mừng, nếu Tình Yêu đã tắt, thì các vị tử vì đạo sẽ từ chối việc đổ máu đào. Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi, Tình Yêu là tất cả, Tình Yêu ôm gọn không gian lẫn thời gian. Tắt một lời: Tình Yêu là Vĩnh Cửu”.


Đức cố Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận viết về Thánh nữ như sau:
Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị Thánh lớn nhất của thế kỷ XX, bổn mạng các xứ truyền giáo, là vị Thánh chẳng làm việc gì có giá trị vĩ đại bên ngoài: không giảng thuyết, không đi truyền giáo, không viết sách thần học, không làm phép lạ, không chịu các cực hình như bao vị thánh tử đạo xưa nay. Chị chỉ sống kết hiệp với Chúa từng giây phút qua mọi công việc tầm thường của đời một nữ tu Dòng Kín Carmel. 
Chị viết: “Tôi muốn có một quả tim bao la để yêu mến Thiên Chúa, để ôm ấp tất cả nhu cầu của Giáo Hội…, tôi muốn hy sinh cả cuộc sống tôi để cầu nguyện cho việc truyền giáo” (Lữ hành Hy vọng, tr. 36).
Têrêxa đọc hạnh các thánh và đã thấy có nhiều vị thánh vĩ đại, thánh nữ muốn bắt chước. Có lần Thánh nữ mang cây thánh giá nặng với nhiều gai nhọn, nhưng đau quá, nàng đành phải tháo ra và than: “Con bắt chước không được”. Thế là nàng mở cuốn Phúc âm, và đọc thấy còn đường nên thánh dễ hơn, vừa tầm mình: sống như người bé con trước Thiên Chúa là Cha.
Tâm tư sâu lắng của Têrêxa là thế đó. Chính nhờ đó mà chị đạt đến nét thuần túy nhất của Tin Mừng. Cũng như chính thế đó, mà chị trở thành điểm thu hút của bao nhiêu người. Hằng năm, người ta tìm đến kính viếng xác Thánh đến 80.000 lượt người.
Con người vốn được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng, mỗi con người được gắn liền với Đấng yêu thương ngay từ ngày đầu tiên hiện hữu trên cõi đời.
Khát vọng Tình Yêu hoài còn đó, nhưng xem ra cuộc sống thiếu vắng hơn bao giờ hết. Vì lẽ đó người đời càng ngưỡng vọng những ai dám hiến trọn đời mình cho Tình Yêu.

      

Chuyện:
Hôm ấy, vào dịp lễ Thánh Têrêxa Avila, một nhà Dòng Kín nọ mở cổng cho giáo dân và bà con vào tham quan. Có một người khách hiếu kỳ không hiểu được lý do cuộc sống khắc khổ nhiệm nhặt của các nữ tu này, bèn nghĩ bụng: “Chỉ những người không đủ cơm ăn áo mặc, nghèo khổ xấu số mới liều mình dấn thân vào một nơi kinh khủng như thế này!”.
Ông gặp một nữ tu tại hành lang và hỏi: “Này Chị, giả như Chị có một tòa nhà sang trọng như tòa nhà ở ngoài cổng kia kìa, đối diện với Nhà Dòng Chị đây, thì Chị có thể hy sinh chôn mình vào trong 4 bức tường đóng kín này chăng?”
Chị nữ tu vui vẻ trả lời: “Thưa ông, ngôi nhà ấy chính là nhà của tôi!”.
Quả vậy, đó là tòa nhà của Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng, người nữ tu mà ông khách hiếu kỳ vừa chất vấn. Bố của Chị, ông Louis Martin đã xây nên để được ở gần con (Lữ hành Hy vọng, tr. 172).
Tình yêu làm nên muôn việc diệu kỳ. Đời sống tu trì là dại, là khó, là uổng… đối với người đời, nhưng với lòng yêu mến Chúa, thì điều này đã hiện thực trong Hội Thánh suốt 20 thế kỷ qua.
Chị Chiara Lubich đã kinh nghiệm: “Ai kết hiệp với Đức Kikô, người ấy có thể làm được những điều bất khả”.
Thánh nữ Têrê xa đã nói: “Với lòng kính mến Chúa, thì dù cúi xuống nhặt một cái kim nhỏ, ta cũng cứu được một linh hồn” (Một tâm hồn).

Cần lưu ý:

Tình yêu thì làm nên, và làm được muôn điều kỳ diệu.
Còn có khoáng vật ngăn lối tình yêu, đó là ích kỷ.
Thánh Phaolô có viết một câu khiến chúng ta khó hiểu, thắc mắc: “Giả như tôi đem cả tư gia, vốn liếng mà bố thí, nhưng không có lòng mến thì ích gì?”
Bán cả gia tài, giúp đỡ kẻ nghèo, chẳng phải là hành vi bác ái sao?, sao mà bảo không có lòng mến?
Thưa, vì có khi chỉ là để củng cố cái tôi. Người nghèo được giúp đỡ không vì chính họ, mà chỉ là phương tiện để quay về với chính tôi. La Rochefoucauld cũng có lý khi nói: ”Mọi dòng sông bác ái cuối cùng cũng đỏ về biển cả của ích kỷ”.
Trong Giáo Hội, có những tu sĩ, có nhiều nữ tu chịu giam mình trong 4 bức tường tu viện, trong căn phòng chật chội, nhưng tâm hồn họ mở ra với cả thế giới với các chiều dài rộng và sâu của suốt dòng lịch sử nhân sinh.
Ngược lại, ngày sống của nhiều người lấp đầy bằng những chuyện trò huyên náo, rỗng tuyếch, những gặp gỡ đổi trao, kể cả những nồng nàn say đắm, mà thật ra vẫn chỉ là vòng quay của cái tôi ích kỷ. Trong cuộc sống như vậy có hai hướng đi: Tình yêu và Ích kỷ.
Lạy Chúa, Tình yêu làm nên tất cả, còn Ích kỷ đục khoét tất cả. Amen.
Lm Anton Nguyen Van Thang