Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

CHÚC MỪNG CỦA CHA GIUSE ĐINH CÔNG HẠNH

Đôi lời tâm tình!
          Nhận được tin báo trên trang web của cựu huynh trưởng HTDC và lời mời của anh Trần Thế Châu. Tôi rất muốn đến tham dự nhưng bị trở ngại, xin vui lòng thông cảm. Vậy tôi xin chúc mừng ngày họp mặt cựu học sinh Gioan XXIII An Hòa Đà Nẵng để:
          + Kỉ niệm 50 năm thành lập trường 1964 – 2014.
          + Mừng tân hiển Thánh nhị vị Giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II.
          Nhân dịp này xin kính gửi đến quí thầy cô, quí cựu học sinh trường Trung Tiểu học tư thục Gioan XXIII lời chào thân ái và lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh, Đấng đầy lòng thương xót.
          Nhìn lại 50 năm qua, để thấy được công khó của cha cố Antôn Bùi Hữu Ngạn, người sáng lập trường Gioan XXIII. Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta hành trang cần thiết nhất định để sống, phục vụ Hội Thánh và tha nhân.
          Mừng tân hiển Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII để thấy tầm nhìn của cha cố Antôn đã chọn cho chúng ta một vị bổn mạng khai mạc công đồng Vaticanô thứ 2, công đồng của thời đại và nay là vị hiển Thánh để cầu bầu cho chúng ta.
          Ước mong những nhân đức khiêm nhường và hiền lành, vâng lời và bình an, tinh thần cầu tiến của Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII luôn sống mãi trong lòng mỗi người chúng ta.
          Hi vọng đây chỉ là khởi đầu để tinh thần của cha cố Antôn vẫn còn được tiếp tục mãi mãi.
          Cám ơn những người có sáng kiến và tổ chức ngày gặp mặt đáng nhớ này. Nguyện tân hiển Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII gìn giữ chúng ta luôn sống trong tình thương xót vô bờ của Chúa Phục Sinh.
          Chào thân ái!
                                                           Đà Nẵng, 24 tháng 4 năm 2014
                                                            LM. Giuse Đinh Công Hạnh

                                                Nghĩa tử cha cố Antôn Bùi Hữu Ngạn

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Đức Gioan XXIII với tám thành tựu của một triều đại giáo hoàng cách mạng


Tác giả: 
 Jos. Tú Nạc, NMS

Sau khi được bầu chọn vào ngôi vị giáo hoàng, Đức Gioan XXIII nhanh chóng trở thành vị giáo hoàng được gọi là “Đức Giáo hoàng Nhân hậu bởi các Kitô hữu làm việc sát cánh với ngài và biết cá nhân ngài. Phần lớn được nhận biết về việc triệu tập Công đồng Vatican II, Đức Gioan XXIII cũng còn được biết đến với đức ái đơn giản của ngài kéo dài trong suốt triều đại giáo hoàng và đã có ảnh hưởng lâu dài đối với Giáo Hội.

Lịch sử đổi mới

Đức Giáo hoàng Nhân hậu đã tạo những thay đổi đơn giản nhưng quan trọng. Ngài thành lập truyền thống đọc kinh Truyền Tin chung từ cửa sổ của Điện Tông vào ngày Chúa Nhật và đem đến cho khách hành hương một giáo lý ngắn.

Cá nhân

Với tư cách là Đức Giáo hoàng và Giám mục, Đức Gioan XXIII luôn luôn muốn được gần gũi với các tín hữu. Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên rời khỏi bức tường Vatican đến thăm các giáo xứ, các bệnh viện và khám đường xung quanh Rome. Có những lúc ngài thậm chí lẻn qua Cảnh vệ Thụy Sĩ để một mình dạo quanh thành phố.

Độc nhất

Đức Gioan XXIII đã can đảm chọn tên của một người chống giáo hoàng từ thế kỷ 15, và bằng cách làm như vậy, đã chuộc lại điều đó. Đức Hồng y Roncalli không hề sợ hãi để lấy tên của một kẻ mạo danh, đã lẩn tránh được 500 năm.

Hòa bình

Trong triều đại giáo hoàng của mình, Đức Gioan XXIII đã chứng kiến ​​hai cuộc chiến tranh thế giới, chia thế giới thành hai thể chế chính trị đối lập. Ngài nhận ra sự cần thiết phải xây dựng những nhịp cầu hòa bình và thậm chí còn trao đổi thư từ với các nhà lãnh đạo thế giới như Khrushchev, nhà lãnh đạo của Liên Xô.

Thông điệp

Lần đầu tiên trong lịch sử, Đức Gioan XXIII đã quan tâm, không chỉ với người Công Giáo, mà còn với  “tất cả những người thiện chí” trong Tông thư “Pacem in Terris” của ngài. Tông thư đã mạnh mẽ lập luận chống lại việc sử dụng các xung đột vũ trang như một phương tiện để giành công lý.

Cải tổ

Chỉ vài tháng sau khi được bầu chọn vào ngôi vị giáo hoàng, Đức Gioan XXIII công bố một hội nghị công giáo để bầu chín tân hồng y, hơn một nửa trong số đó không phải là người Ý. Ngài đã bổ nhiệm hồng y từ Nhật Bản, Phi châu, Phi Luật Tân và Venezuela, mang đến sự đại diện lớn hơn trong Giáo triều.

Công Đồng Vatican II

Chắc chắn, công việc chủ yếu của Đức Gioan XXIII là triệu tập Công đồng Vatican II, một cuộc diện ngộ của tất cả các giám mục từ khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thảo luận về tình hình của Giáo Hội. Một vị giáo hoàng cao niên, được coi là một vị Giáo hoàng quá độ, thực hiện một trong những thay đổi sâu sắc nhất của Giáo Hội trong thời kỳ hiện đại.

Hiệp nhất Kitô giáo

Đức Gioan XXIII đã làm việc để tăng cường đối thoại giữa Kitô hữu và tất cả các giáo phái khác, thậm chí mời người Hồi giáo, người Da Đỏ, và các thành viên của giáo phái Kitô giáo khác nhau là quan sát viên tham dự Công đồng Vatican II. Ngài cũng thành lập một Thánh bộ Vatican đầu tiên để thúc đẩy sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu.

Ngay lúc ngài qua đời, đám đông hô vang “phong thánh ngay bây giờ” như họ muốn ngỏ lòng kính trọng cuối cùng của họ, một cử chỉ cũng được nhìn thấy một lần nữa những năm sau sự từ trần của Đức Gioan Phaolô II. Cả hai vị Giáo hoàng sẽ tiếp tục lịch sử chung của mình khi được tôn lên hàng Hiển thánh cùng vào Chúa Nhật, 27 tháng 4 năm 2014 này.
                                                                     (Nguồn : thanhlinh.net)



Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

video: THÁNH GIÁO HÒANG GIOAN XXIII


THÁNH GIÁO HÒANG GIOAN XXIII
(xin bấm vào hàng chữ trên )

           Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ phong thánh cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II vào ngày 27 Tháng 4 tới đây.

          Việc chọn phong thánh cho hai vị cùng một ngày thật là đầy ý nghĩa. Cả hai vị đại Giáo Hoàng đều có những ảnh hưởng sâu đậm không những trên Giáo Hội mà còn cả trên vận mệnh của thế giới đương đại.

         Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881. Ngài là người con thứ tư trong gia đình có mười bốn đứa con. Cha mẹ ngài là những tá điền sống trong một ngôi làng ở Lombardy, Italia. 

        Ngài được thụ phong linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 và đảm trách nhiều chức vụ khác nhau như sứ thần Tòa Thánh tại Pháp, Bulgaria và Hy Lạp. 

        Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tấn phong Hồng Y cho ngài ngày 12 Tháng Giêng năm 1953 và đặt ngài làm Thượng Phụ Thành Venice cũng như Hồng Y đẳng linh mục hiệu tòa Santa Prisca.

        Đức Roncalli được bầu làm giáo hoàng vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở tuổi 76 sau mười một vòng bỏ phiếu. Những nhà bình luận thời ấy thường xem ngài như một vị Giáo Hoàng tạm thời. Tuy nhiên, Đức Gioan XXIII đã làm kinh ngạc họ với những dấu ấn ngài để lại cho Giáo Hội và thế giới.

          Ngài đã triệu tập Công Đồng Vatican II lịch sử với phiên khai mạc đầu tiên vào ngày 11 tháng 10 năm 1962 và kéo dài cho đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 năm 1965.

          Ngày 14 tháng 10 năm 1962, tức là ba ngày sau khi Đức Thánh Cha Gioan XXIII khai mạc Công Đồng, máy bay do thám Mỹ phát hiện ra Cuba và Liên Xô đã bắt đầu xây dựng các dàn phóng tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung và tầm xa có khả năng tấn công hầu hết tất cả các thành phố trên nước Mỹ. 

         Tổng thống Kennedy đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng chiến tranh, ráo riết triển khai các dàn phóng tên lửa hướng về Mạc Tư Khoa và Havana, phong toả Cuba, trong khi buộc Liên Sô và Cuba phải tháo gỡ các tên lửa. Bí thư đảng cộng sản Liên xô là Nikita Khrushchev không nhượng bộ còn đưa thêm tàu chiến áp sát Cuba và cho phép các tư lệnh chiến trường phóng các vũ khí hạt nhân chiến thuật, nếu Cuba bị Mỹ xâm lược. 

          Thế giới tiến gần đến gần ngày tận thế hơn bao giờ hết. Hàng triệu người theo dõi các cuộc thách thức trên truyền hình. Hai phía dường như không còn có con đường nào để thoát ra khỏi một cuộc chiến được dự đoán là không thể tránh khỏi.

           Trước tình trạng mây đen chiến tranh đang tụ dần, che kín chân trời thế giới, ngày 25 tháng 10 năm 1962, trên radio Vatican, Đức Thánh Cha Gioan XXIII, đọc một diễn văn quan trọng bằng tiếng Pháp gởi tất cả các nhà lãnh đạo trên thế giới.

Ngài nói:

“Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại. Họ cần phải làm tất cả những điều có thể trong thẩm quyền của mình để cứu vãn hòa bình. Như thế, họ sẽ tránh cho thế giới khỏi các nỗi kinh hoàng của một cuộc chiến tranh, mà hậu quả đáng sợ của nó không ai có thể dự đoán được. Họ cần tiếp tục các cuộc thương thảo, vì lối cư xử thành thật và cởi mở này có giá trị to lớn như một chứng tá cho lương tâm của mọi người, và trước lịch sử. Cổ vũ, ủng hộ, chấp nhận các cuộc đối thoại, ở mọi cấp và bất kỳ lúc nào, là một quy luật của sự khôn ngoan và thận trọng, đem lại những ơn lành của trời và đất”.

          Ngày hôm sau, thông điệp của Đức Giáo Hoàng xuất hiện trên các tờ báo trên khắp thế giới, trong đó có tờ Pravda (Sự thật), tờ báo chính thức của đảng Cộng sản Liên Xô. Nhan đề trong bài báo là: "Chúng tôi xin tất cả các chính phủ đừng giả điếc với tiếng kêu than của nhân loại”.

        Với lời nài xin của mình, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã cho thủ tướng Khrushchev một lối thoát trong danh dự. Bằng cách rút lui ngay lúc ấy, ông có thể được xem như là một con người của hòa bình, chứ không phải là một kẻ hèn nhát. Hai ngày sau, ông Khrushchev, một người vô thần, lãnh tụ của một đất nước luôn hăng máu hủy diệt tôn giáo, luôn cố gắng nuôi dưỡng một cuộc chiến tranh tuyên truyền không mệt mỏi chống Vatican, đã đồng ý rút các tên lửa. Đổi lại, Kennedy cũng đã bí mật đồng ý rút các tên lửa của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ.

        Có một việc công chúng thời đó ít người biết là vào ngày 23 tháng 9 năm 1962, chỉ một tháng trước khi khai mạc Công Đồng Vatican II và giúp thế giới thoát khỏi bờ vực chiến tranh, kết quả việc chụp X-quang cho Đức Thánh Cha Gioan XXIII biết là ngài bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Ngài biết là mình sắp từ giã cõi đời này. Trong lúc bi đát như thế, ngài vẫn tiếp tục cống hiến hết sức mình cho Giáo Hội và thế giới. 

          Ngài được Chúa gọi về ngày 3 tháng 6 năm 1963. 

          Những người thời đó đều lưu giữ một ký ức sống động về cảm xúc lan toả trong những ngày ấy. Quảng trường thánh Phêrô lúc đó trở thành một đền thánh ngoài trời, đón tiếp cả ngày lẫn đêm các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, lo lắng và cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Giáo Hoàng. Toàn thể thế giới đã nhìn nhận Giáo Hoàng Gioan là một vị mục tử và một người cha của nhân loại. Điều gì đã làm nên con người ngài như thế? Làm thế nào mà ngài có thể chạm đến trái tim của của những con người quá khác biệt nhau như thế, thậm chí ngay cả những người không phải là Kitô hữu nữa? 

         Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể liên tưởng đến khẩu hiệu Giám mục của ngài: oboedienta et pax: vâng phục và bình an. "Những từ này," –Giám mục Roncalli đã ghi lại trước ngày thụ phong trong cuốn “Nhật Ký Một Linh hồn, tĩnh tâm để chuẩn bị thụ phong giám mục, 13-17 tháng 3 năm 1925”. 

        Bình an là khía cạnh rõ ràng nhất người ta dễ dàng nhận thấy nơi Đức Angelo Roncalli : bình an tự nhiên, thanh thản và thân ái. Đây rõ ràng là một nét đặc biệt về nhân cách của ngài, giúp ngài xây dựng tình huynh đệ bền chặt ở khắp mọi nơi, chẳng hạn trong thừa tác vụ là Đại Diện Tòa Thánh. Ngài đảm nhận cương vị này gần 3 thập niên, thường tiếp xúc với những môi trường và thế giới cách xa Thế Giới Công Giáo, nơi ngài được sinh ra và lớn lên. Chính trong những môi trường này mà ngài tỏ ra là người thợ dệt hữu hiệu các mối quan hệ và một người vô địch của tinh thần hiệp nhất, cả trong cộng đoàn Hội Thánh lẫn bên ngoài. Hơn thế nữa, ngài mở ra cuộc đối thoại với các Ki- hữu thuộc các Giáo Hội khác, với những người đại diện của Do thái giáo và thế giới Hồi giáo, và với nhiều người thiện chí khác. 

          Đức Giáo Hoàng Gioan đã chuyển ban bình an đến với những ai tiếp xúc với ngài bởi vì tâm hồn ngài chìm ngập trong bình an: ngài đã để cho Chúa Thánh Thần tạo nên bình an trong tâm hồn. Và tâm hồn ấy tràn ngập bình an là hoa trái của một công trình lâu dài và thách thức trên chính bản thân ngài, mà những dấu vết phong phú đã để lại trong cuốn “Nhật Ký của một Tâm Hồn”. Trong đó chúng ta có thể thấy Roncalli - người chủng sinh, linh mục, giám mục – bám chặt vào tiến trình tiệm tiến là thanh tẩy tâm hồn. Chúng ta thấy ngài, ngày qua ngày, nỗ lực nhận ra và loại trừ những ước muốn bắt nguồn từ tính ích kỷ của bản thân và biện phân những soi sáng của Chúa, để mình được hướng dẫn bởi những vị linh hướng khôn ngoan và được truyền cảm hứng từ những bậc thầy như thánh Phanxicô đệ Salê và thánh Carolo Boromeo. Đọc những bài viết đó, chúng ta thực sự thấy được một linh hồn đang được hình thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đang hoạt động trong Hội Thánh Người, trong các tâm hồn; chính Chúa Thánh Thần, cùng với những xu hướng tốt đó, đã đem lại bình an cho tâm hồn Roncalli. 

          Giờ đây chúng ta hãy đề cập đến với từ thứ hai và có tính quyết định, đó là từ: "Vâng phục". Cho dù bình an là nét bên ngoài, thì thiên hướng bên trong của Roncalli hệ tại là vâng phục. Quả thế, vâng phục là phương tiện để đạt được bình an. 

         Trước tiên, nó có một ý nghĩa rất đơn sơ và thực dụng: chu toàn trong Hội Thánh một việc phục vụ mà các bề trên của ngài yêu cầu, bằng cách không hề tìm kiếm bất kỳ điều gì cho bản thân, không trốn tránh bất kỳ điều gì được đòi hỏi, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải rời bỏ quê hương để đối diện với những thế giới mà mình không biết và sống nhiều năm ở những nơi có rất ít người Công Giáo và ở xa nhau. Đó là tinh thần sẵn sàng để được dẫn dắt như một đứa trẻ, tinh thần này đã tôi luyện đời hoạt động của ngài như một linh mục, như các bạn đã biết rất rõ; thư ký của Giám Mục Radini Tedeschi và đồng thời giáo sư và cha linh hướng trong đại chủng viện của giáo phận; Đại Diện Tòa Thánh ở Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Pháp; Thượng Phụ Giáo Chủ Venice và cuối cùng, Giám Mục Rôma. Tuy nhiên, qua sự vâng phục này, Roncalli, trong tư cách linh mục rồi Giám mục, cũng đã sống một sự trung thành sâu xa, mà ta có thể gọi là, như ngài đã từng nói, sự phó thác vào Thiên Chúa Quan Phòng. Ngài luôn nhìn nhận trong đức tin rằng qua lối sống theo cách này, dường như được dẫn dắt bởi người khác chứ không theo sở thích hoặc dựa trên sự nhạy cảm thiêng liêng của chính mình, Thiên Chúa đang phác hoạ một kế hoạch của riêng Người. Ngài là con người quản trị, người lãnh đạo. Nhưng ngài là một nhà lãnh đạo được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, bởi sự vâng phục. 

          Qua sự phó thác hàng ngày cho thánh ý Chúa, Giáo Hoàng Gioan tương lai đã sống ngày càng sâu xa hơn một cuộc thanh tẩy cho phép ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình và bám chặt vào Đức Kitô. Chính theo cách này mà ngài làm cho sự thánh thiện toả sáng, sự thánh thiện mà Hội Thánh sau này đã chính thức nhìn nhận. Đức Giêsu nói với chúng ta: "Bất cứ ai mất mạng sống mình vì thầy thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9, 24) Đây là nguồn mạch đích thực của sự tốt lành của Đức Giáo Hoàng Gioan, của sự bình an mà ngài đã gieo vãi trên khắp thế giới. Chính nơi đây mà cội rễ của sự thánh thiện của ngài được tìm thấy: trong sự vâng phục theo tin mừng của ngài.

          Đó là bài học cho mỗi một người chúng ta, nhưng cũng cho Hội Thánh trong thời đại chúng ta: Nếu chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta có thể chết đi cho tính ích kỷ để dọn chỗ cho tình yêu Chúa và Thánh ý Người, chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an, chúng ta sẽ là những người xây dựng bình an và sẽ lan toả bình an chung quanh chúng ta. Nửa thế kỷ sau cái chết của ngài, sự hướng dẫn khôn ngoan và đầy tình phụ tử của Đức Giáo Hoàng Gioan, tình yêu của ngài đối với truyền thống của Hội Thánh và ý thức về nhu cầu đổi mới không ngừng, trực giác tiên tri khi triệu tập công đồng Vatican II và sự dâng hiến cuộc sống của ngài cho sự thành công của công đồng, có giá trị như là cột mốc trong lịch sử Hội Thánh của thế kỷ hai mươi; và như là ngọn đuốc sáng cho hành trình đi về phía trước.

(Nguồn : vietcatholic )

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

XÁC THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII KHÔNG HƯ NÁT

Thi hài của ĐTC John XXIII được đặt ngay bên dưới chân bàn thờ chính của Đền thờ thánh Phêrô hiện nay để dân chúng chiêm ngắm

        Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Đấng triệu tập Thánh Công Đồng Chung Vatican II năm 1962). Ngài qua đời ngày 03/06/1963 khi Công Đồng vẫn đang diễn ra, và sau đó Đức Hồng Y Montini lên ngôi với hiệu triều Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp tục Thánh Công Đồng.

        38 Năm sau ngày ngài băng hà, Ṭòa Thánh tiến hành các thủ tục tôn phong Chân Phước cho ngài, khi mở quan tài để kiểm tra th́ì phát hiện xác của ngài không hề mảy may hư nát và thối rữa. Thời gian sau, ngài được tôn phong Chân Phước (Beautification).

        Hiện nay, thi hài của ĐTC Gioan XXIII đă được đưa lên đặt trong 1 quan tài bằng pha lê bên dưới bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô để dân chúng có thể kính viếng và chiêm ngắm. Nét mặt ngài vẫn giữ nguyên sức sống và cơ thể không hề bị tẩm ướp bằng bất cứ loại hóa chất nào. Hầm mộ cũ trước đây nơi đặt quan tài của ngài bây giờ đă được thế chỗ bằng quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

       Các tài liệu tôn giáo ghi nhận nhiều trường hợp các vị thánh “nhục thân bất hoại”. Thánh Jean Marie Baptiste Vieanney [Gioan Maria Vianê] (1786-1859) được khai quật năm 1904, xác cũng c̣òn nguyên vẹn. Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê] (1506-1552) được chôn cất tại một đảo ở Trung Quốc trong quan tài bằng gỗ. Khoảng 2 tháng rưỡi sau, người ta khai quật mộ ngài để di chuyển, thấy thánh thể vẫn như lúc sống. Hiện nay di hài 400 năm tuổi của ngài vẫn c̣òn nguyên và được lưu giữ tại thành Goa (Ấn Độ).

      Các tài liệu tôn giáo nh́ìn chung đều cho rằng hiện tượng các vị thánh đạt tới nhục thân bất hoại là do sức mạnh siêu nhiên của Thiên Chúa, hoặc tu luyện đến độ gột rửa sạch mình đến mức cơ thể không thể bị phân hủy.

      Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hiện tượng này, nhưng theo một hướng khác tuy nhiên vẫn chưa có lời giải. Một giả thiết được đưa ra là trong những điều kiện môi trường, vật chất khá đặc biệt (như nhiệt độ, độ ẩm, yếm khí), vi khuẩn bị tiêu diệt làm quá trình phân rã theo tự nhiên không thể thực hiện. Nhưng xem ra giả thiết này không phù hợp, v́ì khi họ đưa xác các Thánh ra điều kiện môi trường b́ình thường, nó cũng không bị hư nát.



Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

THƠ MỪNG CHÚA PHỤC SINH



          Xin giới thiệu với các bạn một nhà thơ lão thành, thi sĩ NGUYỄN THẾ KIÊN , năm nay ông đã ngòai chín mươi, nhưng vẫn làm thơ, và gửi qua internet cho các con cháu , trong số con cháu của thi sĩ có Mai Nương. 
          Ông làm rất nhiều thơ, và thơ rất phong phú về mọi thể lọai,   ý thơ hòan tòan hướng về Chúa, về Kinh Thánh .
         Trước đây, có một thời gian ông đã làm Giám Thị của Trường Trung Tiểu Học Gioan XXIII , An Hòa , Đà Nẵng , và ông là tác giả của bài hát :" Thánh Micae Bổn mạng đòan Hùng Tâm Dũng Chí An Hòa " .
        Cám ơn Chúa đã ban cho Mai Nương một người chú rất tuyệt vời ....
        Xin mời các bạn thưởng thức một vài bài thơ của nhà thơ lão thành Nguyễn thế Kiên , để chúng ta cùng chia sẻ Niềm Vui Phục Sinh với thi sĩ . 
       Chúc các bạn một mùa Phục Sinh tràn đầy Hồng Ân Chúa .
       Thân ái ,
       Mai Nương .


Từ núi Sọ đến Mồ Đá mở…
                
 ******

Người tín hữu ngắm nhìn lên Thánh Giá
Nỡ lòng nào nguội lạnh- quá vô tâm…
Hãy nấc lên một tiếng trong âm thầm
Và thinh lặng nghe lời: Ôi! Ta khát!!!

***
Con biết xác Chúa không thể hư nát,
Con tin rằng tảng đá đóng cửa mồ,
Nó chỉ là vật dụng rất thô sơ
Sao ngăn cản được phép Cha biến hoá…

***
Tin mầu nhiệm Phục Sinh là trọn hảo 
Thánh Phao Lô đã dạy thật rõ ràng
Thiên Chúa ta,Đấng cao cả quyền năng
Mạch hằng sống đời đời- không niên kỷ

***
Con tin kính Chúa ngự trong Thánh Thể
Suốt ngày đêm luôn  ở với chúng con.
Chúa Phục Sinh nuôi dưỡng mọi linh hồn
Ơn Cứu độ không bao giờ cạn kiệt…

***
Như các thánh Tông Đồ xưa tha thiết,
Nhận hồng ân và chia sẻ hồng ân
Đem Tin Mừng rao giảng tới muôn dân,
Và đã nhận phúc Anh Hùng Tử Đạo…
Amen Halleluia!Halleluia  
                               
                                  Thế Kiên Dominic



MỪNG LỄ PHỤC SINH
       (Suy niệm từ Ga 20. 1-9)

Để mừng Chúa Phục Sinh,
Phải vượt qua thương khó.
Vậy ai đang đau khổ,
Sẽ tới ngày hiển vinh…
            
                 ***
        Chúa sống lại như lời đã phán hứa!
Khắp nhân gian mừng rỡ cất tiếng ca :
Halleluia! Halleluia!!!
Nay sự chết  không còn đáng sợ nữa.
                  ***
Nay sự chết chỉ còn là cánh cửa 
Để Ki Tô hữu mạnh dạn bước vào;
Với xác hồn trong sạch và thanh cao,
Vượt cửa Tử có thiên thần đón rước.
                   ***
Ôi! Thiên Chúa quyền năng ai suy được ?
Tự giáng trần, hiến mạng rồi phục sinh,
         Chuộc tự do cho hết thảy chúng sinh,
Và đưa họ về hưởng Nhan Thánh Chúa.
Halleluia! Halleluia!!!
                                       Thế Kiên Dominic


         Mầu Nhiệm Phục Sinh
               ********
 Mầu nhiệm Phục Sinh thật diệu huyền
Ba ngày nằm mộ, dậy bằng yên.
Hy sinh chịu chết thay nhân loại,
Sống lại ban ơn giải tội khiên.
Phổ biến Tin Mừng: vui kết hiệp,
Rộng ban ân sủng: sống nhân hiền.
Trao quyền Giáo Hội cai dân thánh,
Nước Chúa Ki Tô mãi tiếp liên…
                                 Thế Kiên Dominic





Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

PHỤC SINH VỚI CHÚA



           Người ta nói “chết là một phần tất yếu của cuộc sống” . Cái chết không loại trừ bất cứ ai. Từ đông sang tây không một ai hiện hữu mà không một lần phải đối diện với cái chết, dù đó có là Tần Thủy Hoàng hay Alexsander Đại đế. Tài giỏi. Quyền uy. Tất cả cũng đi vào dĩ vãng của dòng đời, đôi khi chẳng để lại cho đời một chút luyến tiếc, nhớ thương.
          Sinh lão bệnh tử là quy luật lẽ thường của đời người. Con người từ khi sinh ra đã tập chia tay. Chia tay từng tuổi đời để tiến đến tuổi trưởng thành hơn hay già đi và chết đi. Chia tay những con người đang sống với chúng ta trong thời gian ngắn, dài hay vĩnh viễn. Và trong số họ cũng có không ít người là thân nhân, là bạn bè của chúng ta.
         Một điều mà nhân loại vẫn thao thức qua qua mọi thời đại là chết rồi đi đâu? Mặc dù cũng có rất nhiều câu chuyện được kể từ những người chết rồi bất thần sống lại. Mỗi người kể mỗi khác về những gì họ thấy được trong thời gian chết ấy. Cõi chết mà họ bước vào như thế nào? Phong cảnh, sự vật, màu sắc, âm thanh thế nào? Nơi ấy con người ra sao? Sinh vật nào hiện diện và sự sinh hoạt nơi ấy diễn ra có giống với thế giới mà ta gọi là dương thế hay dương gian hay không?Tuy nhiên, cho đến nay, những tường thuật của những người đã chết sống lại kể ra thì chẳng mấy ai chịu tin nhất là trong thời đại văn minh này. Vì nó vẫn vượt lên trên sự suy nghĩ của con người. Có lẽ con người sẽ không bao giờ lý giải được về cái chết. Cái chết vẫn là ẩn số mà các nhà khoa học không bao giờ tìm được câu trả lời thỏa đáng.
           Người ky-tô hữu chúng ta chỉ biết được cái chết một cách trọn vẹn trong ánh sáng Phục Sinh của Chúa Ky-tô. Sự sống lại của Chúa là lời mạc khải về sự sống đời sau. Cái chết là hậu quả của tội lỗi con người như thánh Phao-lô đã quả quyết: “Vì một người mà tội lỗi đã vào thế gian, và tội lỗi gây nên sự chết, như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì một người đã phạm tội” (Rm 5, 12). Thế nhưng, sự sống lại trường sinh lại là hồng phúc mà Thiên Chúa ban cho nhân loại qua cái chết của Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa.
           Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa không tạo dựng con người để chết mà là để sống, cho dù tội lỗi có phá hủy chương trình của Chúa thì Ngài cũng tìm mọi cách để khôi phục lại sự sống đời đời cho con người. Đức Ky-tô khi xuống thế làm người đã phục hồi lại những gì đã tan vỡ. Chính Ngài đã lãnh lấy sự chết loài người và đã chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh. Qua sự phục sinh của Ngài đã khai mở một mùa xuân hy vọng cho con người nếu cùng chịu chết với Người thì cũng sẽ được sống lại với Người.
           Sự phục sinh của Chúa Giê-su được Phúc Âm ghi lại qua những lần Chúa hiện ra với các môn đệ, với những người thân tín của Chúa. Sự Phục sinh của Chúa còn được ghi dấu ấn qua ngôi mộ trống. Một nơi đã chôn cất xác Chúa nhưng ngày thứ ba dù quân lính canh gác, dù tảng đá nặng trĩu vẫn không còn xác Chúa. Nơi nấm mồ ấy không còn là dấu chỉ sự chết mà là dấu chỉ của sự sống. Vì Chúa đã sống lại và ra khỏi mồ.
           Sự Phục sinh của Chúa cho chúng ta một niềm vui mừng và hy vọng cho kiếp người chúng ta. Kiếp người chúng ta không có tận cùng. Kiếp người chúng ta sẽ được sống mãi trong sự sung mãn của Chúa. Cái chết chỉ là một chuyển tiếp để được sống mãi bên Chúa nếu chúng ta cùng chết với Đức Ky-tô.
           Cùng chết với Đức Ky-tô nghĩa là cùng chết đi con người cũ với những tính hư nết xấu để sống lại con người mới là con cái Thiên Chúa. Con người cũng phải chôn đi những tính xác thịt yếu đuối để từ khước những danh lợi thú mau qua. Nhất là con người cũng phải biết chết đi ý riêng của mình để ý Chúa được thục hiện trong cuộc đời chúng ta. Ý Chúa vẫn là tiếng mời gọi làm việc lành tránh điều dữ. Ý Chúa vẫn mời gọi chúng ta sống có ích cho tha nhân qua tinh thần bác ái, dấn thân phục vụ.
          Ước gì đời sống ky-tô hữu chúng ta luôn biết chết đi con người cũ để được sống lại với Chúa trong vinh quang phục sinh. Xin cho chúng ta đừng vì những đam mê lầm lạc mà đánh mất Nước Trời mai sau. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền