Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

TẢN MẠN VỀ CHUYỆN ĐỌC



Câu hỏi mà chúng tôi, những người làm nghề dạy học, thường nghe là sách nào cần đọc; mượn ở đâu hoặc giá cả như thế nào? Tuyệt nhiên không có bất kỳ sinh viên nào hỏi thầy cô cách thức đọc cuốn sách đó. Hình như việc đọc là chuyện đương nhiên của những người biết chữ. Nhưng nếu như biết chữ rồi mà không biết đọc thì học chữ để làm gì?
Thực ra, chỉ nói riêng chuyện “vui chơi”, ngay cả Nguyễn Du cũng phải lắc đầu vì nó “lắm công phu”. Vậy thì sự học dĩ nhiên phải khó gấp vạn lần.
Từ khi biết đọc, bàn tay tôi đã tập cách để giở khá nhiều trang sách. Nhưng để giở đúng và hiểu đủ là việc không dễ dàng.
Có những cuốn sách làm ta thất vọng, nặng trĩu cảm giác hao hụt mà không hề có một chút thỏa mãn nào. Ngược lại, có rất nhiều cuốn cho ta hạnh phúc dù phải thao thức suốt đêm vì nó. Vậy thì vì sao con người lại lãng phí nhiều thời gian đến thế cho những điều vô bổ?
Câu trả lời chỉ đến sau khi đi hết cuộc đời. Có lẽ bởi vậy nên tôi mạo muội viết ra đây những lời tâm huyết với mong muốn duy nhất là những người đến sau không phải đi qua những khúc quanh không đáng có. Tất nhiên sẽ có rất nhiều điều tôi viết không còn là những chuyện mới.
           1. Công việc đầu tiên nhất định phải biết là việc chọn sách. Chúng ta không thể đọc tất cả những điều cần biết, nhưng có thể có đủ thời gian để đọc những điều cần thiết.
Sự mênh mông và đa dạng của tri thức nhân loại là người dẫn đường tồi cho những người ham hiểu biết. Hãy nhớ rằng phải ưu tiên cho những cuốn sách mà thầy giáo buộc phải đọc. Chưa hẳn thầy giáo đã đúng nhưng kinh nghiệm của thầy là cơ sở đáng để tin cậy.
Còn những người đã rời ghế nhà trường rồi thì sao? Hãy đọc những gì mình thích. Một nguyên lý của muôn đời là chúng ta không chỉ thích những gì mình thiếu.
           2. Những cuốn sách hay hoặc một bài báo hay trước hết phải có một cái tên hay. Tôi ít thấy điều ngược lại. Những tên sách như Cuốn theo chiều gió, Đứng trước biển tự nó đã thông báo nhiều vấn đề dù chúng ta chưa đọc.
Trong báo chí cũng vậy. Những cái tít tương tự như Mua danh ba vạn bán danh… ba hào, Ông Mê Man cuốn hút người đọc nhiều gấp bội lượng con chữ mà bài báo đem đến.
Phần lớn các tên sách hoặc tên một bài báo đã là điểm trọng tâm – điều cơ bản mà người viết muốn chuyển tải đến người đọc.
        3. Nguyên tắc đầu tiên của việc đọc là nhất thiết phải gắn liền với việc ghi chép. Nằm dài trên giường để đọc một cuốn sách hay là một trong những điều thú vị tuyệt vời. Nhất là khi ngoài trời có tí tách hạt mưa, có một nỗi niềm cần phải quên.
Tuy nhiên đó là cách tốt nhất để làm cho việc đọc trở thành sự lãng phí tuyệt vời. Cảm giác thích rồi… quên. Thói quen ghi chép buộc chúng ta, từ vô thức, có trách nhiệm với điều mình đọc. Nói cách khác, buộc tư duy không thể lười biếng.
Hơn nữa, việc ghi chép sẽ làm cho quá trình mã hóa tri thức để chuyển vào bộ nhớ trở nên dễ dàng hơn, hiệu quả hơn. Việc thường xuyên ghi chép còn tạo nên lợi thế không gì so sánh nổi: luyện tập khả năng hệ thống hóa và phân loại tư liệu.
Việc ghi chép còn có ý nghĩa rất lớn trong tương lai – những mảnh rời rạc của tri thức luôn luôn rất có thể cần thiết cho một ý tưởng mới mà sự mù mờ của hiểu biết chưa thể xác định được. Câu hỏi đặt ra là ghi như thế nào? Điều cần ghi nằm trong những tiêu chuẩn sau:
- Đó là những điều tạo nên sự hứng thú mà ta chưa gặp bao giờ.
- Kiến thức đó có vấn đề (hoặc nhiều vấn đề) liên hệ đến chuyên môn mà chúng ta quan tâm.
- Một ý tưởng khác lạ – thậm chí sai trầm trọng so với các quan niệm truyền thống. Cần nhớ là trong khoa học, một nhận xét càng gai góc bao nhiêu thì càng đáng để ghi chép bấy nhiêu.
- Một chân lý hiển nhiên (châm ngôn, cách ngôn…)
- Một nguyên tắc của lý thuyết nào đó.
            4. Sau khi đọc xong một chương, một phần hay cả cuốn sách cần phải hệ thống sơ bộ kiến thức thu nhận được. Từ đó cho phép người đọc hiểu rõ những luận điểm cơ bản nhất. F. Anghen luôn nhấn mạnh rằng “Khoa học bắt đầu từ việc so sánh”.
           5. Nếu có thể, hãy trao đổi ngay vấn đề mình vừa đọc với người khác. Thật là tuyệt vời khi người ấy đã hoặc đang đọc cuốn sách, bài báo ấy.
Còn ngược lại thì hãy tìm một đồng nghiệp, bạn học để trao đổi. Kinh nghiệm cho thấy chúng ta sẽ khó có khả năng quên điều đã trải qua, thử thách thật sự là tính nghiêm túc của tranh cãi.
            6. Đến đây sẽ có câu hỏi đặt ra: khi gặp phải một cuốn sách ta nghĩ là cần thiết nhưng khó đọc vì khó hiểu thì làm thế nào? Một câu hỏi nan giải.
Những tác phẩm loại này thường là sách triết học hoặc chính trị. Trước hết phải tập cách để “bóc” lớp vỏ ngôn từ – mà các triết gia và các nhà chính trị thì ngày càng viết và nói một cách đầy khó hiểu. Chẳng hạn, để mỉa mai việc Pháp quên quá nhanh công lao Mỹ giải phóng nước Pháp, viện trợ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Tổng thống Mỹ G. Bush nói rằng “Người Pháp có thói quen chỉ thích nghĩ đến hiện tại”!
Bước thứ hai là sau mỗi chương, nhất thiết phải tóm tắt nội dung mà mình lĩnh hội. Đấy là cách hiểu ngắn để từ đó chúng ta đạt đến khả năng hiểu nhiều.
           7. Cho đến “công đoạn” này, quá trình tri thức hóa của chúng ta vẫn chỉ giới hạn ở mức độ “bắt chước” (immitation). Cái đọc được chỉ thành cái có được khi ta biết cách “tiêu hóa” nó (Indigennization). Từ indigennization có tài liệu dịch là “bản địa hóa”; nhưng theo tôi, diễn đạt như thế là kém chính xác.
Cách dịch một đoạn văn, cũng như cách hiểu đối với một cuốn sách, đôi khi giống với cách hiểu về phụ nữ: chung thuỷ thì thường là ít đẹp; ngược lại, những người đàn bà đẹp thường là không chung thủy – hơn 100 năm trước, một người Pháp đã nói như thế.
Việc “tiêu hóa” tri thức sẽ chấm dứt khi mỗi người bước sang giai đoạn 3: sáng tạo (innovation). Chắc chắn sẽ có người hỏi: “Làm sao có thể sáng tạo được?” Xin trả lời rằng chỉ trừ một số kẻ ngu dốt bẩm sinh còn thì bất kể ai, bất kể trình độ nào cũng có thể tìm ra một cái gì đó mới mẻ. Hãy tự tin và đừng cúi đầu trước bất kỳ tượng đài nào.
           8. Để cho việc đọc không bị gián đoạn, cần phải có kế hoạch cụ thể. Chẳng hạn, hãy đọc thật tập trung trong một giờ – vừa đọc vừa ghi chép, 30 hay 40 trang sách sau đó buộc mình trong một buổi phải đọc 120 trang hoặc 150. Chưa xong chưa rời khỏi bàn.
Đây là cách mà nhờ nó, suốt bốn năm rưỡi thử thách độ chai bền của những chiếc ghế, tôi đã đọc được khá nhiều những cuốn sách khó…
           9. Đừng nên đọc mãi một loại sách. Đây là cách nghỉ ngơi bằng công việc. Tất nhiên cách này sẽ làm gián đoạn quá trình tư duy nhưng cần thiết.
          10. Lớp trẻ ngày nay khó đọc hơn. Đây là một tất yếu vì chúng ta đang sống trong thời đại của máy tính, truyền hình. Nhưng chắc chắn là không có một phương tiện nghe nhìn nào có thể thay thế việc đọc.
Người Nga hoàn toàn có quyền tự hào họ là dân tộc đọc nhiều nhất trên thế giới: chỉ riêng thành phố Mátxcơva đã có đến 1.500 thư viện. Rõ ràng tri thức và tình yêu là hai điều không thể mua được, nhưng mỗi chúng ta phải liên tục trả giá cho nó, từng ngày. Sự hiểu biết – văn hóa là “công việc” di truyền khó khăn nhất của con người.
Hãy tập cách giữ gìn mỗi cuốn sách mà ta có và, hơn nữa nhất thiết phải cố để hiểu cho bằng được cách thức sử dụng chúng một cách tốt nhất. Sách không phải để trưng bày, càng không phải sinh ra cho bụi bặm của thời gian và mạng nhện của cuộc đời giăng kín.
Muốn thế, phải rèn cho được thói quen đọc mỗi ngày. Tôi biết chắc những người ngày nào cũng đọc hầu hết đều là những người có thể đứng ngang hàng với sự hiểu biết.
Dù nhiều năm đã trôi qua, nhưng bao giờ tôi cũng có cảm giác khó tả khi đọc câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du: “Cảo thơm lần giở trước đèn…” Một người như Nguyễn mà phải lần để giở những trang sách hay đủ chứng tỏ việc đọc sách khó đến mức nào!
Hà Văn Thịnh - Báo Quốc tế
(Nguồn : Xem chi tiết: http://www.tgm.vn/tan-man-ve-chuyen-doc/)



CHIẾC GIẦY ĐÁNH RƠI CỦA GANDHI



Mahatma Gandhi đã có một hành động thật cao quý bởi trong sự mất mát của bản thân như thế, ông vẫn có thể nghĩ đến người khác...

Mint
(Dịch từ Indiachild)

         Xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Gandhi nhảy vội lên tàu. Một chiếc giày của ông rơi xuống. Gandhi không thể nào nhảy xuống để nhặt nó trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Trước sự sững sờ của mọi người, Gandhi đã tháo luôn chiếc giày còn lại và ném về phía chiếc giày kia.
          Hành khách trên tàu lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông. Gandhi mỉm cười và giải thích: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc thứ nhất, họ có thể tìm thấy chiếc thứ hai và sẽ xài được đôi giày của tôi”.

shoes1-2335-1403166647.jpg

           Chúng ta thường ít nghĩ đến người khác mà chỉ nghĩ về bản thân mình. Khi chúng ta bị mất mát, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Chúng ta mất quá nhiều thì giờ cho sự tiếc nuối, than thở, chán nản, thậm chí trở nên cáu gắt và bực bội vì những rủi ro xảy ra. Gandhi đã có một hành động thật cao quý bởi trong sự mất mát của bản thân như thế, ông vẫn có thể nghĩ đến người khác.
           Hành động của Gandhi chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tư tưởng và nguyên tắc sống của ông. Nếu trong những lúc bình an và thành công mà chúng ta còn không quan tâm lo lắng cho những kẻ bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp khó khăn, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không?
          Xung quanh ta có biết bao nhiêu người khó khăn. Họ đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ thiếu thốn không phải lúc nào cũng là vật chất, mà đôi lúc chỉ là một lời động viên an ủi. Thế giới của chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi người không chỉ chăm lo về lợi ích riêng của mình mà còn chăm lo về lợi ích của người khác nữa.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

TÔNG ĐỒ


SUY NIỆM  
LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ 

(Tđcv 12, 1-11; 2Tm 4, 6-8.17-18; Mt 16, 13-19).


          Thánh Phêrô và thánh Phaolô là hai cột trụ kiên vững tiên phong của Giáo Hội Công Giáo. Thánh Phêrô là tông đồ cả trong số 12 tông đồ của Chúa Giêsu. Phêrô thường được gọi là Simon Phêrô. Tên thật là Simon, thân phụ tên là Gioan, Chúa Giêsu đã đặt tên ông là Phêrô. Ông sinh tại Bethsaida, thuộc miền Galilêa, gần vùng biển Tibêria. Phêrô đã lập gia đình. Trong Kinh Thánh có nói đến người mẹ vợ bị bệnh và đã được Chúa Giêsu chữa lành. Phêrô là anh em với ông Anrê. Hai anh em làm nghề đánh cá tại Capharnaum, trên hồ Galilêa. Phêrô đã gặp Chúa Giêsu qua sự giới thiệu của ông Anrê. Ông thuộc vào số những môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu mời gọi cùng với Anrê, Gioan và Giacôbê. Trong danh sách các tông đồ, tên Phêrô luôn đứng đầu.
           Phêrô đã đồng hành và sống sát gần với Chúa Giêsu trong khi Chúa đi giảng dậy. Đặc biệt Phêrô cùng với Gioan và Giacôbê được chứng kiến những biến cố quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu: Như khi Chúa cho con gái ông Giairô chết sống lại, sự biến hình của Chúa trên núi và cơn hấp hối của Chúa trong vườn Cây Dầu. Ông Phêrô là người có tính khí, nhiệt thành và thẳng thắn. Khi được Chúa Giêsu hỏi các tông đồ rằng các con nói Thầy là ai?Simon Phêrô đại diện các tông đồ và thưa rằngThầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16, 16). Trong hành trình theo Chúa, có những lúc ông cũng yếu đuối và yếu lòng tin, như khi đi trên mặt nước, vì sợ hãi thì ông bắt đầu chìm và ông đã xin Chúa cứu. Khi Chúa Giêsu nói về của ăn hằng sống là Thịt và Máu Chúa, một số môn đồ nghe thế, thấy chói tai và đã bỏ đi. Phêrô đã nhân danh các tông đồ còn lại biểu lộ lòng trung thành với Chúa Giêsu, ông đã thưa: Thưa Thầy, bỏ Thầy, chúng con biết theo ai? Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.
          Tại bữa tiệc ly, khi Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, lúc đầu Phêrô đã từ chối, nhưng sau đó đã để cho Thầy rửa chân và xin rửa cả người. Trước cuộc tử nạn, Phêrô cam đoan sống chết với Thầy, nhưng khi Thầy đã bị bắt, trong cơn hoảng sợ, ông đã chối Thầy ba lần. Sau khi đã an táng xác Chúa trong mồ, Phêrô và các bạn buồn sầu trở về nhà canh thức. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria báo tin là xác Chúa đã bị mất, Phêrô và môn đệ mà Chúa yêu đã chạy ra mộ. Ông đã chứng kiến cảnh mồ trống và nhìn thấy các khăn liệm của Chúa còn đó, ông đã tin. Sau khi Chúa Kitô phục sinh, Phêrô đã dẫn đầu các tông đồ trong các cuộc tụ họp cầu nguyện. Chúa Giêsu đã trao quyền cho ông chăn dắt các chiên con, chiên mẹ, đã trao chìa khóa Nước Trời và Chúa hứa sẽ xây Hội Thánh của Chúa trên Phêrô: Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và cửa địa ngục sẽ không thắng được (Mt 16, 18).
          Sách Tông đồ Công Vụ đã thuật lại thuở Giáo Hội sơ khai, Phêrô giữ vai trò lãnh đạo: Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước trời. “Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”(Mt 16, 19)Phêrô thi hành chức vụ và chủ tọa việc bầu chọn một tông đồ thay thế Giuđa Iscariôt. Chủ tọa công đồng đầu tiên tại Giêrusalem. Khi đi rao giảng, Phêrô đã hăng say và nhiệt tình. Ông đã làm nhiều phép lạ nhân danh Chúa Kitô Phục sinh. Phêrô đã cai quản Hội Thánh trong khoảng 25 năm đầu. Theo truyền thống Công Giáo, Phêrô là Giám mục Rôma và là vị Giáo hoàng đầu tiên cai quản Giáo Hội.
         Theo tương truyền, khi Hoàng đế Nero bách hại giáo hữu, Phêrô quyết định đi khỏi Roma tìm nơi trú ẩn. Trên đường đi Appia, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thánh giá đi vào thành. Phêrô hỏi: Lạy Thầy, Thầy đi đâu? Chúa đáp: Thầy vào thành để chịu đóng đinh một lần nữa. Phêrô hiểu ý đã trở về thành để tiếp tục sứ mệnh làm nhân chứng cho Chúa. Sau cùng, ông đã bị bắt và tống ngục. Khi bị giam trong ngục, một thiên sứ đã cứu ông ra khỏi ngục, nhưng rồi các nhà lãnh đạo lại bắt giam trở lại. Vì thấy không xứng đáng được chết như Thầy, ông xin được đóng đinh ngược đầu vào thập giá. Sau khi chết, thi hài của Phêrô được chôn táng trong một nghĩa trang gần đó và tin rằng chính nơi đây, Giáo hội đã xây Đền Thánh Phêrô trên đồi Vatican.
          Thánh Phaolô là người Do-thái, có tên là Saolô. Ông được sinh ra và lớn lên ở Tarsus, ngày nay là miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Saolô lớn lên và được giáo dục ở Giêrusalem với Thầy cả Gamaliel, thuộc nhóm Biệt Phái và có quốc tịch Rôma. Saolô rất nhiệt tâm và trung thành với đạo Do-thái Giáo. Muốn triệt hại đạo Kitô, Saolô đã xin tình nguyện lên đường đi truy nã và ruồng bắt những Kitô hữu đã tin theo Chúa Giêsu. Một hôm trên đường từ Giêrusalem tới Đamas để bắt bớ các Kitô hữu, ông đã bị một luồng sáng đánh ngã. Sau này, chính Phaolô đã thuật lại, khi ông bị ngã ngựa, thì có tiếng nói: Saolô, Saolô, sao người bắt bớ Ta? Tôi thưa lại: Ông là ai? Ta là Giêsu Nazareth ngươi đang tầm nã bắt bớ. Tôi hỏi: Bây giờ tôi phải làm gì?Ông chỗi dậy và người ta đã dẫn ông vào thành và được ông Anania cầu nguyện và mở mắt cho ông. Sau đó, Saolô đã lãnh chịu phép rửa tội và trở về Giêrusalem trong một con người mới hoàn toàn. Tên Saolô được đổi thành Phaolô.
         Phaolô là một tông đồ sinh sau đẻ muộn. Chúa Giêsu đã chọn Phaolô để sai ngài đi rao giảng Tin mừng cho dân ngoại. Cùng với Barnabê, Phaolô đến gặp thánh Phêrô và xin Giáo Hội cử phái đoàn đi rao giảng Tin mừng trong các miền phụ cận. Phaolô được ủy thác việc truyền giáo cho các dân ngoại. Ông đã cộng tác với Barnabê, Sila, Timôtêô, Titô và Luca trong các cuộc truyền giáo. Sách Tông Đồ Công Vụ đã tường thuật những bước đầu của Phaolô cùng với các cộng sự viên. Phaolô đã viết 12 thơ gởi cho các Giáo Đoàn và cá nhân. Một thơ gởi cho cộng đoàn Galata, một thơ gởi cho cộng đoàn Rôma, hai thơ gởi cho cộng đoàn Corintô và hai thơ gởi cho cộng đoàn Thessalônica. Có bốn thơ viết trong tù gởi cho các cộng đoàn: Colossê, Philipphê, Ephêsô và ông Philêmon. Ba thư riêng về mục vụ: Hai thơ viết cho giám mục Timôtêô và một thơ viết cho Titô.
         Người Do-thái thù ghét Phaolô vì nghe biết các việc truyền giáo ông đã thực hiện. Họ tìm cách loại trừ và triệt hạ ngài. Khi Phaolô về tới Giêrusalem, người ta đã bắt trói và tống ngục tại Xêsarê. Phaolô đã nại đến quyền công dân Rôma để được giải về Rôma xét xử. Tại Rôma, ông đã bị giam giữ và rồi được thả tự do. Phaolô rất can đảm làm nhân chứng cho Chúa Kitô, Ngài viết: Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin (2Tm 4, 7)Khoảng năm 64, khi Hoàng Đế Nerô bách hại đạo, Phaolô đã cùng chịu chung số phận với các Kitô hữu. Phaolô đã bị bắt, chịu gông cùm và chịu chém đầu. Xác ngài được an táng gần địa điểm hiện nay là Vương Cung Thánh Đường thánh Phaolô Ngoại Thành.
           Mừng lễ kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta nhận thấy mỗi vị có ơn gọi riêng. Các ngài đều là những con người yếu đuối và phạm lỗi, nhưng với lòng trung tín, các ngài đã bù đắp những sự thiếu sót bằng chính cuộc sống gương mẫu và chịu đựng gian khổ vì danh Chúa cho đến chết. Các ngài là mẫu gương thực sự cho mỗi người chúng ta. Các ngài có yếu đuối, có lầm lỡ, nhưng đã biết ăn năn sám hối, quyết tâm sửa đổi và canh tân. Với ơn sủng của Chúa, hai ngài đã rao giảng Tin mừng một cách can đảm và không mệt mỏi hay chùn bước. Hai ngài đã trung kiên cho đến cùng và giữ vững đức tin.
          Thánh Phêrô và Phaolô là hai trụ cột kiên cố của Giáo Hội Công Giáo. Tại tòa thánh Vatican, trước điện có đặt hai tượng thánh Phêrô và thánh Phaolô. Qua bao nhiêu sóng gió, con thuyền Giáo Hội vẫn vững vàng trước các thử thách của trần đời. Phêrô tông đồ cả và Phaolô tông đồ dân ngoại, hai vị thánh đã bổ túc cho nhau để làm cho Hội Thánh sống động nhờ lời rao giảng của các ngài. Với tấm gương hy sinh và lòng nhiệt thành của các ngài, Giáo Hội có một nền móng vững chắc như xây trên đá tảng.

         Lạy Chúa, chúng con mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Xin cho chúng con được hiệp nhất nên một trong Chúa Kitô, để cùng mang tin mừng của Chúa đến cho mọi người.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

BẠN CÓ MUỐN BIẾT BẠN CÒN SỐNG ĐƯỢC BAO NHIÊU NĂM NỮA ?


Cũng theo ông Araujo rất nhiều người sau khi qua phương pháp thử nghiệm đã cố gắng thay đổi cách sinh hoạt qua việc ăn uống, vận động và tập luyện trong chừng mực của mình để gia tăng sự dẻo dai và sức mạnh nhằm kéo dài tuổi thọ hơn.
 Cali Today News - Nếu có một điều ai cũng muốn biết là mình sẽ sống được bao nhiêu lâu nữa, thường thì khó có câu trả lời. Tuy nhiên, một bác sĩ người Brazil là ông Claudio Gil Araujo đã khám phá ra một phương pháp thực nghiệm cách ngồi, đứng rất đơn giản và rất dễ dàng để nhanh chóng giúp cho mỗi người có thể đoán một cách khá chính xác số năm tháng còn lại của mình trên đời này. 

Phương pháp của ông Araujo dựa vào sự dẻo dai của cơ bắp, sự cân bằng tư thế và sự mạnh mẽ của cơ thể sau nhiều lần quan sát những bệnh nhân của ông, nhất là những người lớn tuổi gặp khó khăn khi đứng lên ngồi xuống hay khi phải cúi nhặt đồ vật rơi dưới đất. 

Vấn đề này không những nguy hiểm vì có thể gây té ngã mà còn liên quan đến sự tuần hoàn tim mạch. 
Từ nhận xét này ông Araujo cùng một số đồng nghiệp có sáng kiến thiết lập ra một thử nghiệm đơn giản không cần máy móc mà mọi người trên 50 tuổi đều có thể thực hành ở bất cứ nơi nào cùng với bạn bè hay tự mình, phương pháp này gọi là SRT (sitting-rise test). 

Bước đầu tiên là đứng thẳng giữa phòng và từ từ ngồi xuống một cách thoải mái trong tư thế tréo chân lại nhau mà không dùng đến đôi tay. Sau đó lại tự đứng thẳng lên mà không dùng tay vịn hoặc chống theo như trong hình kèm theo bài. Thang điểm để cho bài tập này là 10 điểm. 5 điểm cho phần ngồi xuống và 5 điểm cho phần đứng lên. Cứ mỗi khi phải dùng sử dụng đến đôi tay thì bị trừ một điểm và mỗi khi xiêu vẹo mất thăng bằng thì bị trừ nửa điểm. Bác sĩ Araujo áp dụng bài tập trên đối với 2,000 người trong độ tuổi từ 51 đến 80 và kết quả cho thấy đa số những người có điểm dưới 8 chỉ sống thêm khoảng 6 năm, người có điểm dưới 3 thì qua đời chẳng lâu sau đó. 

Nói chung cứ mỗi điểm đạt được qua thử nghiệm ngồi đứng tượng trưng cho 21% cơ hội giảm thiểu tính tử vong.

Tuy bài tập ứng dụng chính xác nhất đối với người ngoài 50 nhưng những người trẻ hơn cũng có thể tập qua để chắc chắn là mình đạt điểm tối đa đúng với độ tuổi của mình. 

Cũng theo ông Araujo rất nhiều người sau khi qua phương pháp thử nghiệm đã cố gắng thay đổi cách sinh hoạt qua việc ăn uống, vận động và tập luyện trong chừng mực của mình để gia tăng sự dẻo dai và sức mạnh nhằm kéo dài tuổi thọ hơn. 

Ông Araujo nói rằng bài tập này có tính cách thuyết phục các bệnh nhân của ông nhiều hơn là họ chỉ nghe ông khuyên bảo suông về việc tập thể dục và ăn uống lành mạnh. 

Phước An
(Theo Mother Nature Network)


Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI PHÁP


          Một người sành ăn uống rất nổi tiếng tên Brillat-Savarin nói: “Chỉ có người lịch sự tao nhã mới biết cách thưởng thức trong vấn đề ăn uống mà thôi” Nghĩa là: Ý thức và đánh giá đúng mức chất lượng và cách trình bày trên bàn ăn.
          Niềm vui được họp mặt với nhau là góp phần làm cho bữa ăn trở thành đặc biệt, cho dù là buổi ăn thường hay là buổi ăn tiếp tân. Trong bữa ăn thân mật giữa bạn bè trong gia đình người Pháp, bàn ăn của họ luôn luôn được trải khăn bàn. Khi họ xếp ly, đĩa, dao, nĩa trên bàn, mỗi người ngồi chiếm khoảng 60 cm.



         Trên bàn để lọ muối, tiêu, nhỏ, và bình nước, nhưng không bao giờ để chai dầu, dấm và tăm xỉa răng. Trong bữa ăn trịnh trọng những lọ tiêu, muối, bình nước, bánh mì được để trên một cái bàn đẩy nhỏ có bánh xe để kế bên.  
         Trước  khi ăn phải rửa tay. Khăn nhỏ của khách dùng trong bữa ăn, xếp lại hình tam giác để trong đĩa, hoặc hình chữ nhật để bên trái, không bao giờ người Pháp xếp khăn hình cánh quạt để trong ly. Trên bàn trang trí một bình hoa đơn giản tránh có mùi thơm.
          Người Pháp trong lúc ăn rất kỵ nhai có tiếng kêu, và họ rất ý tứ không bẻ bánh mì chấm trực tiếp vào “sốt” bằng tay, mà chỉ dùng bằng nĩa mới đúng cách ăn. Bánh mì được bẻ ra từng miếng nhỏ trước khi đưa lên miệng (ăn tới đâu bẻ tới đó) không cắn, bứt ra bằng miệng (họ cũng không bẻ sẵn ba, bốn miếng nhỏ để đó) cũng không cắt nhỏ bằng dao, bánh mì là món ăn phụ trong buổi ăn chính. Các bạn đến Paris vào nhà hàng Tây, thói thường, hầu bàn đem ra đĩa bánh mì trước, bạn lỡ đói bụng cũng không nên lấy bánh mì ăn trước mà hãy chờ món chính dọn ra. 
          Điều cấm kỵ của dân Pháp là sau khi ăn xong, xỉa răng và ợ trước mặt người khác. 


          Trong bữa ăn thân mật, có vài thông lệ đơn giản của người Pháp. 
           Nhập tiệc, chủ nhà ngồi trước rồi mời nữ giới, bắt đầu bằng những người lớn tuổi hay là người có chức vụ, rồi mới đến nam giới. Người đàn bà có gia đình ưu tiên hơn người đàn bà độc thân, trừ khi người này lớn tuổi, ngòai ra người con dâu được ưu tiên hơn con gái ruột. Những đứa trẻ được phục vụ sau cùng. Khi họ ngồi trọn vẹn trong ghế dựa, tư thế thẳng, tự nhiên rất thoải mái, không bao giờ họ ngồi trên ghế trong tư thế một nửa. Trong bàn ăn, hai bàn tay họ đặt kế bên đĩa, ngồi thẳng lưng, họ không dựa hai cùi cỏ trên bàn, cũng không khoanh tay để trên bàn. Khăn lau miệng đặt trên đầu gối chỉ mở phân nửa. Không bao giờ quấn khăn vào cổ.
             Uống nước người Pháp cũng điệu lắm ! Trước khi họ uống nước, bạn để ý họ chùi môi một cách tế nhị cũng như sau vài miếng ăn, điều cấm kỵ của họ là chùi miệng bằng lưng bàn tay. 
             Lúc cầm dao, nĩa, muỗng,  cầm giữa cán và không bao giờ cầm thẳng đứng đầu nhọn chĩa lên trời ( cầm ngang). 
            Cầm dao luôn luôn bằng tay mặt, và nĩa cầm tay trái. Không bao giờ lấy dao ghim thịt đưa trực tiếp lên miệng. 
           Cầm ly, hoặc cầm đĩa, họ cũng tránh ngón tay út để vểnh lên trời (tây cho đó là một cử chỉ trưởng gỉa học làm sang) 
           Tập tục ăn uống của người Pháp với dao, nĩa, muỗng, đĩa, ly cá nhân có từ giữa thế kỷ 16, vì trước đó, nhiều người ăn chung trong một tô lớn, không có muỗng, nĩa, chỉ có dao thôi, mỗi người lại ăn phải mang theo con dao của mình, và trước khi ăn tráng miệng phải rửa tay.
           Trong trường hợp thức ăn khó ghim, nĩa có thể được chuyển qua tay mặt. Khi còn lại ít súp trong đĩa, họ không bao giờ nghiêng đĩa để múc cho hết những muỗng chót. 
           Khi ăn các loại nghêu, sò, trừ trường hợp thân mật trong nhà, còn ăn ở tiệm họ không đưa con sò lên miệng đẻ hút nước cốt sò, chỉ nên dùng nĩa ghim một mẫu bánh mì nhỏ để thấm nước cốt. 
           Khi uống rượu, người Pháp cũng không bao giờ cạn ly một hơi (100%) mà nhâm nhi từ từ để thưởng thức hương vị của rượu. 
           Bạn để ý, người sành điệu họ không cầm dưới chân ly, mà cũng không cầm đầu ly mà chỉ cầm giữa ly. 
          Thông lệ thì người phụ nữ không nên tự rót rượu cho mình mà để người đàn ông ngồi kế lo chuyện đó. Đây là một tục lệ của ngày xưa, nhưng bây giờ trong những buổi ăn bình thường và thân mật, người phụ nữ có thể tự rót nước và rượu cho mình. 
          Khi ăn xong, tất cả dao, nĩa, muỗng gom lại để song song trong đĩa, mũi nhọn chĩa xuống phía thấp của đĩa, lưỡi dao để vào trong phía mình, không bao giờ để dao nĩa chéo nhau. 
          Khăn nhỏ dùng lau miệng, ăn xong để bên phải, không nên thắt nút cũng không nên xếp lại (nhắc lại là : trước khi ăn, khăn nhỏ để bên trái, sau khi ăn, khăn để lại bên phải) 
          Là khách mời, nếu họ xếp khăn lại như cũ, điều này có nghĩa là muốn gợi ý để được mời vào bữa ăn kế tiếp. 

           Món tráng miệng của người Pháp thường là món “phó mát” được dọn ra trên một khay bằng gỗ, bằng mây đan hay bằng thủy tinh với một con dao, đầu mũi dao nhọn cong xuống để ghim lấy miếng “phó mát” khi được cắt xong. Thường thuờng trên khay “phó mát” ít khi người Pháp để chung bơ vào, nhưng cũng không phải là điều cấm kỵ, đôi khi vẫn có người để miếng bơ chung với “phó mát”. Vì là một loại tráng miệng nên khay “phó mát” có đủ loại xuất hiện vào phút chót. 
          Cuối bữa ăn, tách cà phê không bao giờ được dọn lên bàn ăn, mà chỉ dọn ra nơi phòng khách. Chủ nhà mời cà phê khách, cũng không bao giờ để muỗng sẵn trong ly cà phê. Khi cầm tách cà phê, người khách được mời, cầm đĩa ở dưới với tay trái, tách cà phê tay phải. Sau màn cà phê, nước trái cây được đem ra, đó là dấu hiệu cho biết đến lúc chuẩn bị để chia tay . 

         Còn bữa ăn tiếp tân của những nhân vật quan trọng thì sao?  Nó cũng tương tự nhưng hơi khác một tí về sự đòi hỏi thêm của chiếc khăn nhỏ phù hợp màu sắc của khăn bàn. Một bữa ăn trang trọng đòi hỏi như hồi xa xưa, khăn trải bàn trắng và những khăn nhỏ cho khách cũng màu trắng. Trong những bữa ăn quan trọng của các chính khách, khăn bàn chỉ được dùng một lần nên không cần đồ gác dao, nĩa. (truyền thống này được giữ). 
           Trong bàn có ba lọai dĩa: Lọai đĩa thứ nhất lõm nhiều, dùng để ăn súp, loại đĩa thứ nhì bằng phẳng, dùng để ăn món khai vị và những món chính, loại đĩa thứ ba cũng bằng phẳng nhưng nhỏ hơn, dùng để ăn phó mát và thức ăn tráng miệng. Thường thường những đĩa này hình tròn, nhưng bây giờ người ta có những hình dáng khác biệt, mới hơn. Đĩa lõm ăn món súp luôn luôn để trên đĩa bằng. Đối với bữa ăn tiếp tân quan trọng, không bao giờ để chồng lên nhau quá ba đĩa . 
            Trong những bữa ăn trịnh trọng cần tối thiểu một đến hai người hầu bàn. Người hầu bàn phải ăn mặc sạch sẽ. Phụ nữ mang yếm trắng, váy đen, chemise trắng, còn đàn ông mặc áo veste trắng, quần đen, họ phải giữ im lặng lúc hầu bàn. Tay mặt để sau lưng, họ xử dụng tay trái đem đĩa thức ăn trên một cái khăn, đến phía bên trái của mỗi thực khách, nhưng lúc dọn dẹp dao, nĩa trên bàn thì phía bên tay phải khách, cho nên người sành điệu ăn uống, họ biết người hầu bàn sắp đến bên trái hoặc bên phải của họ tùy lúc đem đĩa đến hay dọn đĩa đi. Món ăn nóng được dọn trên những đĩa được hấp nóng trước. Chai rượu chát khi mời khách, anh hầu bàn phải cầm ngay ở giữa chai để rót, không bao giờ cầm đầu chai hoặc đáy chai. Rót rượu một cách chậm rãi, nhẹ nhàng không tiếng động, và miệng chai phải kề gần sát ly; ly rượu không bao giờ được đổ đầy (để ly rượu được tỏa hương). Khi rót xong, anh ta xoay chai rượu một vòng với cổ tay để tránh giọt rượu cuối rơi xuống khăn bàn, và nếu là rượu qúi, anh ta sẽ thì thầm bên tai người thực khách tên rượu và năm tuổi của rượu, để cho người thực khách ý thức hơn khi thưởng thức. (nên nhớ hầu bàn chỉ phục vụ rượu, còn nước uống khách phải tự rót lấy) Trước khi uống rượu đỏ, mở nút chai rượu ra trước khoảng 30 phút để hòa nhiệt độ rượu với nhiệt độ không khí thì lúc đó rượu mới tỏa ra tất cả hương vị của nó. Nhiệt độ lúc mở giữa 15 và 18 độ C,  tránh để rượu đỏ bên lò sưởi lúc mở ra. Rượu nho trắng thường được uống lạnh. Còn những chai rượu chát đỏ ngon, có tuổi già, phải mở nút hai giờ trước khi uống.  Không bao giờ pha nước hoặc bỏ nước đá cục vào ly rượu chát đỏ. 
              Trong những bữa ăn trịnh trọng, ly nước được rót trước khi khách vào ngồi. Người sành điệu dùng mỗi món ăn, một loại rượu chát đỏ khác nhau. Nói chung rượu chát đỏ, chẳng hạn như Bordeaux thường dùng kèm với thịt đỏ, tùy theo loại thịt mà dùng rượu với nồng độ khác nhau. Không bao giờ uống rượu đỏ với artichaut hay với nghêu, sò. Họ không uống rượu trắng có vị ngọt (doux) (vin blanc liqueur) khi dùng món cá và đồ biển mà phải uống rượu chát trắng loại không ngọt (sec) rất lạnh (giữ lạnh giữa 5 và 8 độ C). Trong khi dùng món caviar (trứng cá) hay cá saumon xấy khô bằng khói thì được dùng với rượu vodka (rượu đế của Nga cũng mạnh như rượu đế VN) . Còn champgne được uống lúc khai vị dùng cho tất cả trong các buổi tiệc, và phải được ướp lạnh trong một sô đá cục chung quanh, cổ chai được quấn một khăn trắng. Bạn có biết tại sao không ? Để thấm những giọt rượu dư khỏi rơi xuống bàn.                      Khách không cầm ly để người hầu bàn rót rượu, mà phải để ly trên bàn, khi rót xong mới cầm lên. Người Pháp rất lịch sự không bao giờ rời bàn với ly rượu còn đầy hoặc còn phân nửa. 
          Thực đơn và bảng ghi tên những thực khách tham dự chỉ dành cho những buổi ăn quan trọng mà thôi. Bảng ghi tên từng thực khách được để gần các ly. Ly để dùng trong bàn tiệc, tối thiểu hai ly cho một người, một để uống rượu và một để uống nước. Còn buổi tiệc quan trọng thì ba ly. Ly được đặt theo thứ tự, từ trái qua phải, từ lớn đến nhỏ (ly để uống nước lớn hơn ly rượu đỏ, ly rượu đỏ lớn hơn ly rượu trắng) Ly nước đặt đầu tiên, kế đến là ly rượu chát đỏ, sau đó là ly rượu chát trắng, uống rượu champagne là một ly khác nữa(nếu có) thì để sau cùng….Có những loại nĩa để dùng khi ăn  cá hay thịt. Lọai nĩa nhỏ hơn dùng để ăn món cá, chỉ có ba răng cưa thôi, nằm bên trái hàng đầu, loại nĩa bình thường dùng để ăn thịt cũng nằm bên tay trái kế bên cạnh đĩa, còn dao để cắt cá, lưỡi dao mỏng bề ngang dẹp, nhưng ngắn hơn lọai dao bình thường luôn luôn cùng với muỗng nằm bên tay mặt. 
           Để đạt được phong cách như một người Pháp sành điệu trong vấn đề ăn uống là cả một nghệ thuật. 

Bích Xuân

(Nguồn : vanhoaphap.com)

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

KHÁM PHÁ NHỮNG QUY TẮC TRÊN BÀN ĂN CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á

                              Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 1
             Ẩm thực không chỉ bao gồm các món ngon vật lạ cùng kĩ thuật nấu nướng khéo léo tinh tế. Thế giới ẩm thực còn tồn tại một mảng, thường ít được chú ý hơn, nhưng kì thực rất quan trọng, đó chính là các quy tắc trên bàn ăn. Các nước Châu Á dù có nhiều điểm tương đồng trong món ăn, nhưng ở mỗi nước, cách thưởng thức món ăn lại ẩn chứa những thông điệp và ý nghĩa vô cùng khác biệt.

Ấn Độ

           Dù nằm trong Châu Á, nhưng thực chất Ấn Độ với nguồn gốc Nam Á của mình lại sở hữu một nền văn hóa ẩm thực rất khác lạ so với Việt Nam và các quốc gia Đông Bắc Á khác. Một trong những điều lạ và điển hình nhất của ẩm thực Ấn chính là thói quen ăn bốc. Người Ấn không sử dụng dao, nĩa, thìa hay dụng cụ đặc trưng của các nước Châu Á là đũa, họ để thức ăn lên đĩa, cầm đĩa bằng tay trái và bốc ăn bằng tay phải. Quy tắc hai bàn tay này là quy tắc nghiêm ngặt trong ẩm thực Ấn, tới mức người thuận tay trái khi ăn cũng sẽ dùng tay phải, và cả những món có dạng lỏng như cà ri cũng sẽ ăn bằng tay.

            Tại sao lại có phong tục kì lạ đó? Bỏ qua những nhận xét chủ quan rằng tục ăn bốc là sự mất vệ sinh, kém văn minh,... thói quen này của người Ấn cần phải được nhìn nhận trên chính phong nền văn hóa của riêng họ. Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo chính là Phật giáo cùng Hồi giáo, người Ấn hình thành quan niệm sùng bái tự nhiên và cho rằng thức ăn - đồ uống do đấng tối cao trao cho - phải được đón lấy bằng tay trần, như một cách thể hiện sự thành kính. Bản thân những đất nước có nguồn gốc Hồi giáo như Indonesia cũng có tục ăn bốc này. Và quan niệm "vệ sinh" của người Ấn cũng khác hẳn chúng ta: Ăn bằng tay vẫn được coi là sạch sẽ, song cầm thức ăn bằng tay trái là điều cấm kị, bởi tay trái là đại diện cho "cái ác" gồm những yếu tố tiêu cực, xấu xa và nhơ bẩn, còn tay phải đại diện cho "cái thiện" với tính chất đúng đắn, công lý và cao khiết.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 2
Tới Ấn Độ, bạn nhớ phải ăn bằng tay phải nhé!

Trung Quốc

            Là cái nôi của văn hóa Hán tự, khởi nguồn cho toàn bộ nền văn hóa Đông Bắc Á và cũng là một trong những nền ẩm thực lớn nhất thế giới, ẩm thực Trung Hoa bao hàm cả những phép tắc quả thực không đơn giản chút nào. Ở Trung Quốc, bữa ăn luôn được chia ra thành nhiều hình thức khác nhau: điểm tâm (dimsum), tiệc trà, tiệc bàn tròn,... Tuy nhiên, các bữa ăn này vẫn chia sẻ với nhau một điểm chung đó chính là cách bày trí bát đĩa "Lazy Susan", hay còn gọi là bàn xoay.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 3
             Đây là kiểu bố trí bát đĩa phổ biến được áp dụng hầu hết mọi bữa ăn và trong mọi hoàn cảnh: Ở giữa bàn thường có một bộ trà nhỏ, xung quanh là bát sứ với đũa đặt bên phải, và tuyệt nhiên phải có đồ kê đũa cũng bằng sứ. Thức ăn được đặt trên một mặt phẳng hình tròn có trục xoay ở giữa, người ăn chung qua chỉ cần xoay nhẹ tay là món ăn mình muốn đã hiện ra trước mặt. Ý tưởng này vốn phát sinh từ những bộ tiệc xa hoa, hoành tráng đậm chất cung đình, giúp thực khách có thể dễ dàng thưởng thức các đĩa thức ăn dù chúng ở xa hay gần.Ngoài việc làm quen với bàn ăn tròn, khi tới Trung Quốc , bạn còn cần bỏ túi không ít những quy tắc ăn uống khác: Trừ món súp hoặc canh, các món ăn khác luôn luôn phải được ăn bằng đũa; tuyệt đối không hút thuốc trong bàn ăn; chỗ ngồi trong bữa ăn phải dựa vào sắp xếp của gia chủ, khách không được ngồi tùy tiện,... Như vậy mới biết để thưởng thức một trong những nền ẩm thực vĩ đại nhất thế giới quả không dễ chút nào nhỉ!

Nhật Bản

           So với Trung Quốc, ẩm thực Nhật Bản tuy không khoác lên mình vẻ ngoài rực rỡ và xa hoa, song cũng rất đặc biệt nhờ vẻ tinh tế, tỉ mỉ, cùng tính thẩm mĩ cao. Để thưởng thức món ăn Nhật đúng chuẩn, thực khách cần phải chú ý tới từng chi tiết nhỏ. Thứ nhất, bạn đừng ngạc nhiên nếu thức ăn trên đĩa thường rất ít, bởi người Nhật quan niệm không có gì là chính là phụ, mọi thứ đều tương liên và cân bằng với nhau. Do đó, không chỉ có món ăn đẹp mắt mà chính những họa tiết trang trí trên bát đĩa cũng phải được hiển lộ, bằng việc không để đầy thực phẩm lên trên.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 4
            Thứ hai, trong bữa ăn không thể quên lời mời "Itadakimasu" trước khi ăn và "Gochiso sama deshita" sau khi ăn (cả 2 đều mang ý nghĩa cảm ơn vì bữa ăn ngon). Thứ ba, người Nhật rất trọng "không gian riêng" trong bữa ăn. Mỗi người đều tự cầm bát và luôn hướng đũa về phía mình, không để bát hay tựa cùi chỏ lên bàn tức "không gian chung". Với món ăn "quốc hồn quốc túy" là sushi, danh sách những quy tắc cần phải nhớ lại càng dài thêm: Không gỡ nhân ra khỏi cơm, không chấm phần cơm vào xì dầu và wasabi mà chỉ chấm phần cá hoặc tôm. Thậm chí, ở một số nhà hàng sushi cao cấp, đầu bếp sẽ tự phết một lượng vừa đủ wasabi lên sushi cho bạn và bạn không được "tự ý" nêm nếm gì thêm sau đó.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 5
Ăn sushi cũng rất mệt đó nha!

Hàn Quốc

           Một trong những đặc điểm lớn nhất của văn hóa Hàn Quốc chính là phép tắc trên dưới. Người Hàn cực kì coi trọng thứ bậc trong xã hội, và cũng giống như việc coi trọng kính ngữ, một khi đã ngồi vào bàn ăn của người Hàn thì bạn phải nhớ một loạt những quy tắc "kinh trên nhường dưới". Như việc rót đồ uống, bạn phải tuân thủ các điều sau: Người ta thường chuyền tay nhau cùng thưởng thức chung một ly rượu, nếu ai đó đưa bạn ly rượu không, bạn cũng đừng ngạc nhiên mà phải chờ họ rót đầy lại cho bạn. Người trẻ tuổi luôn phải mời rượu người lớn tuổi trước, và khi người lớn tuổi chuyền ly cho người trẻ tuổi, họ phải nhận bằng hai tay và quay mặt đi chỗ khác để uống. Điều này được coi là phép lịch sự và lễ độ cơ bản nhất trong ăn uống ở Hàn.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 6
              Ngoài ra, một bữa ăn của người Hàn thường rất đa dạng về chủng loại: bữa ăn bao gồm các món hấp, món nướng, món xào, món khô, món nước,... Vì thế, bạn phải nhớ cách ăn đúng chuẩn cho từng loại, như thìa chỉ dành riêng để ăn cơm và đũa để ăn các món khác. Hãy chú ý tới việc cùng chia sẻ thức ăn với người khác thông qua những chiếc nồi lớn đặt giữa bàn, bởi người Hàn tin rằng việc san sẻ này sẽ giúp mọi người xích lại gần nhau hơn.

Việt Nam

            Ở Việt Nam, các quy tắc bàn ăn trở thành một đề tài cực kì thú vị. Bởi nó có thể vừa phức tạp rắc rối, lại vừa đơn giản đến mức "qua loa". Việt Nam là đất nước đã tiếp thu nhiều nền văn hóa khác nhau, vì thế phong cách bàn ăn ở nước ta cũng rất đa dạng phong phú: Có những món ăn vẫn phải cầm tay như gỏi, cuốn,...và có những món ăn phải dùng thìa, đũa, dao, nĩa, có những địa phương vẫn duy trì tục mời cơm theo thứ tự trên dưới như miền Bắc, có những nơi lại ăn uống thoải mái như miền Nam.
Khám phá những quy tắc trên bàn ăn của các nước Châu Á 7
               Tuy nhiên, không phải phong cách thưởng thức ẩm thực của Việt Nam chỉ là sự góp nhặt mà thiếu đi cá tính riêng. Chính trong bữa ăn hàng ngày của người Việt đã thể hiện một lối ăn uống giản dị mà tinh tế, đơn sơ mà ý nghĩa. Trên bàn ăn Việt Nam, nguồn tinh bột quan trọng nhất là cơm sẽ luôn được đặt đầu bàn, nơi người lớn tuổi nhất trong nhà vẫn ngồi (và thường là phụ nữ như bà hoặc mẹ), thể hiện dấu ấn rõ nét của chế độ mẫu hệ đặc trưng ở nước ta. Mọi người thường quay quần bên mâm cơm chung như một quy tắc bất di bất dịch, và khác với Nhật Bản chú trọng sự riêng tư và kín đáo trong bữa ăn, người Việt ưa chuyện trò và trao đổi về mọi thứ diễn ra trong ngày trên chính bàn ăn của mình. Tính chất cởi mở, phóng khoáng và nồng hậu của vùng văn minh lúa nước đều thể hiện rõ qua những bữa ăn giản dị ngày nào cũng có như vậy.
            Đúng như câu nói: "Khi ở Rome, phải làm theo người Rome", phép cư xử nói chung và cung cách ẩm thực nói riêng không phải là một giá trị bất biến. Ở mỗi vùng đất khác nhau, đi cùng với phông nền văn hóa đặc trưng lại có những chuẩn mực, nguyên tắc riêng trong việc ăn uống. Tìm hiểu và học theo những nguyên tắc này không chỉ giúp ích cho bạn khi du lịch hay học tập ở nước ngoài, mà trên hết, nó giúp chúng ta học tập và hiểu biết thêm về những tập tục văn hóa của các nền ẩm thực trên thế giới.
(Nguồn: tapchi.guy.vn)

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

VĂN HÓA DÙNG ĐŨA CỦA NGƯỜI NHẬT

Văn hóa dùng đũa của người Nhật Bản

Người phương Tây dùng dao dĩa, người phương Đông dùng đũa. Nhật Bản cũng là một trong những nước dùng đũa trong bữa ăn. Cùng tìm hiểu những nét đặc trưng trong văn hóa dùng đũa của người Nhật Bản nhé!

Nhận xét về văn hoá ăn, có nhà nghiên cứu đã nói: Phương Đông ăn kiểu chim, phương Tây ăn kiểu thú”. Ấy là nói về việc đa số người Phương Tây sử dụng dao, thìa, dĩa… để cắt xé thức ăn (giống như các loài thú thường hay dùng móng vuốt để xé nhỏ con mồi) trong khi đó người Phương Đông thường sử dụng đũa để gắp và và thức ăn (giống như các loài chim dùng mỏ của nó). Vì thế trong ăn uống, người Phương Tây có văn hoá dùng thìa dĩa thì người Phương Đông có văn hoá dùng đũa.
Như các nước thuộc nền văn hoá Phương Đông, người Nhật Bản cũng thường sử dụng đũa để và và gắp thức ăn trong các bữa ăn hàng ngày. Tuy vậy ở mỗi nước văn hoá dùng đũa lại có những nét chung và riêng. Ở Nhật Bản, đũa cũng có thể làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như tre, gỗ, sừng, sắt…nhưng ở mỗi chất liệu, đôi đũa lại mang trong mình một giá trị khác.
Xa xưa, đôi đũa bằng ngà voi chắc chắn có giá trị hơn so với đôi đũa gỗ, tre… đôi đũa sắt chỉ là sản phẩm xuất hiện khi trình độ kỹ thuật của con người có một bước “nhảy vọt” đáng kể. Trong quá trình giao lưu văn hóa với người Trung Quốc, các nhà buôn, các sư sãi đã du nhập đũa vào Nhật Bản. Người Nhật bắt đầu sử dụng đũa trong cung đình sau đó lan ra các gia đình quan lại giàu có vào khoảng thời gian từ năm 710 đến 794 (Thời kỳ Nara trong lịch sử Nhật Bản). Đũa trong cung đình Nhật Bản lúc đó có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng. Đũa của vua và những người thuộc hoàng tộc thì ngắn. Đũa của các quan lại dài hơn. Khoảng thời gian từ 1185 trở đi, đũa được dùng phổ biến trong đời sống nhân dân Nhật Bản nhưng quan niệm đũa dài, ngắn trong dân gian thì ngược lại với cung đình. Đũa của cha mẹ phải dài hơn đũa của con cái. Đũa của chồng dài hơn đũa của vợ đũa của anh dài hơn đũa của em.
Thời xưa muốn chứng tỏ mình thuộc tầng lớp “quyền quý”, vua, quan và những người giàu có thường dùng đũa một lần sau đó đem vứt đi và dần dần tục lệ này cũng trở nên phổ biến trong đời sống người thường dân. Cũng từ 1185 trở đi, mỗi năm vào thời điểm cấy lúa (mùa xuân) và dịp thu hoạch lúa (mùa thu) người dân Nhật lại có phong tục thay đũa mới. Họ quyết định lấy ngày 4- 8 làm “ngày hội đũa” trên toàn quốc. Số 4 trong tiếng Nhật phát âm là Si (Shi), số 8 phát âm là Hachi (Hachi) mà HaShi lại là đôi đũa nên ngày 4-8 được gọi là ngày hội đũa. Ngày nay, ở Nhật Bản trưng bày rất nhiều loại đũa bằng các chất liệu, màu sắc khác nhau. Ở không ít gia đình có tục lệ thay đổi đũa mới trong ngày hội đũa.
So với đũa Trung Quốc, Việt Nam… đũa Nhật Bản làm bằng gỗ, ngắn hơn và dễ sử dụng hơn. Theo quan điểm của Richard Bowring (người Anh), một nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nhật Bản cho rằng: “Đũa Trung Quốc dài và hơi to quá nên khó sử dụng”. Dưới con mắt người Nhật, đôi đũa có giá trị hơn khi nó trở thành chủ đề thẩm mỹ học gắn nhiều với phong tục, tập quán. Ở Nhật Bản, một món ăn truyền thống, nổi tiếng là món Sashimi sẽ dễ bị hỏng nếu như người Nhật sử dụng các dụng cụ ăn bằng kim loại như dao, dĩa… theo kiểu người phương Tây.
Trên bàn ăn người Nhật dùng một đôi đũa chung để gắp thức ăn vào bát của riêng mình. Nếu không có đôi đũa chung, họ phải trở đầu đũa ăn của mình để gắp thức ăn sau đó trở lại đầu đũa cũ để ăn. Đây không đơn thuần là vấn đề vệ sinh mà còn gắn với phong tục: trong tang lễ Nhật Bản, người thân phải dùng đũa gắp xương ngừơi đã khuất sau khi hỏa táng và chuyền cho nhau.
Ngoài ra, họ còn tránh dùng đũa gắp thức ăn đã bị rơi, không cắm đũa vào bát cơm vì nó gợi lên hình ảnh chết chóc. Điều thú vị hơn cả là người đi cắm trại, đi picnic nhất thiết không được quên tục lệ: đôi đũa dùng xong phải bẻ đôi tránh ma quỷ tận dụng những đôi đũa đó làm điều xấu, điều ác.
Người Nhật ngày nay cũng như người Trung Quốc, người Việt Nam ăn xong sẽ rửa sạch đũa để dùng lại. Ở mỗi gia đình, mỗi ngừơi có một đôi đũa riêng, khách đến nhà sau khi dùng xong bữa thì đũa của họ ăn gia chủ sẽ vứt đi – biểu hiển sự trong sạch của người dân xứ sở Mặt trời mọc.
Người Nhật Bản rất cầu kỳ trong ăn uống, trong việc chế biến, nấu nướng các món ăn cũng như sử dụng các vật dụng ăn uống. Nếu bạn thực sự muốn tìm hiểu nét văn hoá đặc sắc này của Nhật thì bạn có thể đến các nhà hàng Nhật Bản, nơi đó có những món ăn đẹp mắt, độc đáo đựng trong những chiếc bát, chiếc đĩa… rất xinh xắn có nguồn gốc “made in Japan” đấy.
 (Nguồn : gaolut.vn)