Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

MẸ TERESA CALCUTTA HẾT LÒNG GẮN BÓ VỚI VIỆT NAM


Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta sinh ngày 26.08.1910,tại Skopje nước Albanie. Tên thánh Rửa tội và tên gọi là Agnes Gonxha Bojaxhiu.

TeresaCalcutta-7.jpg

          Nhân dịp kỷ niệm 3 năm Mẹ Teresa Calcutta được phong chân phước - ngày 19.10.2003 - chúng tôi muốn được chia sẻ một vài nét về Mẹ trong những lần Mẹ đến Việt Nam mà chúng tôi được gặp gỡ.
- Vào tháng 6 năm 1973, Mẹ Teresa và Cha Andrew gửi 7 thầy Thừa Sai Bác Ái từ Ấn Ðộ đến Việt Nam. Ðức Tổng PhaolôNguyễn Văn Bình đã mua 2 căn nhà tại đường Cống Quỳnh cho các thầy ở và làm việc. Các thầy rước các người vô gia cư về chăm sóc, nhưng chỉ được vài năm thì biến cố 1975 các thầy đã phải tản cư sang Hongkong và Campuchia.

             Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình rất yêu thích linh đạo của Mẹ Teresa. Trong hoàn cảnh mới giao thời của năm 1975, khó khăn nhiều mặt, nhất là khan hiếm về thuốc men mà bệnh tật lại nhiều và người vùng quê tỉnh lẻ không dễ dàng nhập các bệnh viện tại Sài Gòn để điều trị.

             Trước nhu cầu của những bệnh nhân nghèo, Ðức Tổng Bình đã mời gọi một số bác sĩ y tá người công giáo họp thành một nhóm để có thể tiếp cận chữa bệnh miễn phí và chia sẻ thuốc men cần kíp cho bệnh nhân nghèo, hoặc rước Mình Thánh Chúa cho họ. Sau này nhóm còn lại vài bác sĩ, một số y tá và các thành viên thường xuyên lui tới bệnh viện; tất cả những người này độc thân nên có nhiều thì giờ tham gia sinh hoạt. Nhóm này mỗi tháng1 lần lên gặp Ðức Tổng để được người chia sẻ Lời Chúa và huấn đức, cũng như trình cho ngài biết những sinh hoạt hoặc những khó khăn.

Từ năm 1991 tới ngày 20.12.1995, Mẹ đã đến Việt Nam 5 lần:

(1) Lần thứ nhất là đầu tháng 9 năm 1991, Mẹ Teresa đến Hà nội gặp Chính phủ Việt Nam.

(2) Lần thứ hai, ngày 05.11.1993 Mẹ đi từ Calcutta đến thành phố Sàigòn
. Cùng đi với Mẹ là Soeur Nirmala - nay là Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa - và có cô bác sĩ tên Jannet, cô cũng là thành viên của Tu hội đời của Mẹ. Chỉ có ông lãnh sứ quán Ấn Ðộ và cô Thanh Nga ra phi trường đón Mẹ bởi vì vợ của ông lãnh sứ quán từ Calcutta gọi điện và báo về cho ông rằng: "Mẹ đến Việt Nam", (cô ấy là người công giáo, là thư ký của ông). Theo lời của cô thư ký nói lại với chúng tôi, vừa lên xe ông lãnh sứ quán, Mẹ đã đưa cho ông ấy tên và địa chỉ của Chị Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - vì có thư của tôi gửi cho Mẹ và thư của Ðức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã giới thiệu tôi và một số chị em cho Mẹ - Vì thế tôi và một vài chị em lên gặp Mẹ tại khách sạn Ðộc lập. Sau đó Mẹ nói tôi gọi điện qua Toà Giám Mục để xin hẹn được gặp chào Ðức Tổng Phaolô - Ðức Tổng đang nghỉ dưỡng bệnh tại Bãi Dâu Vũng Tàu - Ngài hẹn gặp Mẹ vào 2 giờ chiều ngày thứ Bảy mồng 6.11.1993. Mẹ đã ở lại Sài Gòn một tuần lễ và mỗi ngày Mẹ đến chia sẻ với chị em chúng tôi tại 428 Huỳnh Văn Bánh, F. 14, Phú Nhuận, giáo xứ Tân Hoà.

(3) Vào tháng 4 năm 1994, Mẹ sang Việt Nam lần thứ 3. Mẹ được Bộ Thương binh Xã hội mời 8 nữ tu của Mẹ qua Việt Nam làm việc: 4 nữ tu chăm sóc các em cô nhi tại 38 Tú Xương, Q.3, Tp. Sàigòn; và 4 nữ tu chăm sóc các em khuyết tật tại trung tâm Thụy An, Ba Vì, Hưng Hoá. Ðồng thời Mẹ Teresa làm đơn gửi Chính phủ Trung ương Hà Nội xin mở nhà dòng tại Việt Nam; Mẹ có đề cập tới 20 chị em chúng tôi xin gia nhập Dòng và xin bảo lãnh 7 người chúng tôi qua Ấn Ðộ để được huấn luyện.

             Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, tôi chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa cho một Linh mục bà con đang nằm tại bệnh viện Chợ Rẫy, ngài là Cha Gioan Hồ Hán Thanh, thuộc giáo phận Ban Mê Thuột - ngài bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức - ngài phải nằm điều trị tại lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy. Ngài và một vị Ðảng viên cộng sản (40 năm tuổi Ðảng) đã về hưu cùng nằm chung một phòng.

         Tôi và một chị khác đang chuẩn bị đi thì gặp Mẹ Teresa và Soeur Nirmala đi tắc-xi tới - Lần này Mẹ tới không báo trước - Khi tôi cho Mẹ biết là tôi rước Mình Thánh Chúa và đi thăm Cha Gioan Thanh bà con của tôi, Mẹ cũng muốn cùng hai chị em chúng tôi đi thăm Cha. Khi tới trước cửa phòng của Cha Thanh, tôi đã nói nhỏ với Mẹ và chỉ cho Mẹ biết giường nào là của Cha Gioan Thanh và giường nào là của ông Ðảng viên.

             Mẹ bước vào phòng, đi thẳng tới giường ông Ðảng viên hỏi thăm ông và khi biết ông ấy bị đau tim, Mẹ Á Thánh Teresa đã đặt bàn tay lên ngực của ông và cầu nguyện vài phút. Sau đó Mẹ lấy một ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trong giỏ vải xách tay của Mẹ, Mẹ đã hôn ảnh trước khi đưa cho ông Ðảng viên và nói: "Xin Ðức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục". Tiếp đó Mẹ mới qua giường Cha Gioan Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của Cha cầu nguyện và Cha Thanh rước Mình Thánh Chúa. Vài ngày sau, tôi tới thăm cha Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là tôi nhìn thấy ông Ðảng viên đeo mẫu ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trên túi áo ông ấy mặc.

              Mẹ chia sẻ với chúng tôi: "Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình hạnh phúc - chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười - hãy mỉm cười ít là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào! Xin hãy làm điều đó vì hoà bình! Ngày nay trên thế giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều! Những đau khổ về vật chất như: đau khổ vì đói, đau khổ vì không nhà cửa, đau khổ vì bệnh tật... Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là cô đơn! Bị bỏ rơi, không ai yêu thương là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai đều cảm nhận được".

           Trong thời đại văn minh và phát triển ngày nay, cả thế giới ai cũng vội vã và hối hả, nhưng cũng có những người quỵ ngã trên đường và không còn đủ sức để đứng lên mà đi. Ðó là những người mà chúng ta phải quan tâm.

(4) Ðầu tháng 9 năm 1994, Mẹ lại qua thăm các con cái của Mẹ ở Hà Nội và Thành phố Sàigòn. Sau đó Mẹ Teresa gặp chính quyền về vấn đề bảo lãnh của chúng tôi, nhưng Mẹ vẫn chưa nhận được câu trả lời...! Lần này Mẹ ở lại Việt Nam10 ngày.

(5) Ngày 20.12.1995, Mẹ và Soeur Nirmala lại sang Hà Nội
. Lần này Mẹ sang để xin cho các soeurs được gia hạn - vì Chính phủ Việt Nam không cho phép các soeurs gia hạn tiếp - Mẹ đã xin gặp chính quyền để xin cho các soeurs tiếp tục làm việc. Nhưng ngày 22.12.1995, Mẹ Teresa nhận được lệnh: các soeurs phải rời Việt Nam vào ngày 23.12.1995. Mẹ Teresa rất buồn về điều ấy. Mẹ ôm tôi và nói: "Chúng ta hãy nhận thánh ý Chúa, tìm hiểu thánh ý Ngài muốn chúng ta làm gì". Ước ao của Mẹ Teresa là được mở nhà tại Việt Nam.

            Sau khi các soeurs rời Việt Nam, Mẹ Teresa thấy chưa được phép mở nhà tại Việt Nam cũng như chưa bảo lãnh các chị em qua Ấn Ðộ nên Mẹ đã viết thư cho Ðức cha Giám quản Tông toà Ðịa phận Sài Gòn - Ðức cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi - xin ngài cho phép chúng tôi được thành lập Hội dòng mang tên Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô; và sống theo hiến luật, linh đạo của Dòng Mẹ Teresa - Ðức Giám quản Nicolas đã chấp thuận. Mẹ Teresa nói với chúng tôi: "Khi nào Dòng Mẹ được trở lại ViệtNam, nếu các con muốn sát nhập vào Dòng Mẹ, Dòng luôn mở rộng đón các con.

              Năm 1995, Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô lúc đó có 30 chị em, nay đã hơn 120 chị em gồm 58 khấn; 23 tập sinh và trên 40 thỉnh sinh. Dòng đã và đang phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo qua việc: đón nhận những cụ già neo đơn bị bỏ rơi, các cô gái lầm lỡ, chăm sóc bệnh nhân AIDS. v.v...

* Ngày 23.12 1995 Mẹ bị sốt nặng, phải rời Hà Nội bay qua Singapor và Mẹ phải vào nằm trong bệnh viện. Còn các soeurs thì bay qua Hongkong.

             Từ khi rời Việt Nam lần cuối sức khoẻ Mẹ cũng yếu nhiều, nên lần đó trở đi Mẹ không còn có dịp sang Việt Nam vì sức khoẻ không cho phép.

             Ðức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình giới thiệu chúng tôi cho Mẹ, để được huấn luyện trở thành nữ tu của Mẹ và trở về phục vụ người nghèo tại Việt Nam. Vì thế mà những lần sang Việt Nam Mẹ thường đến tham dự thánh lễ, Chầu Thánh Thể và chia sẻ cho chúng tôi.

             Mẹ Teresa đã chia sẻ và để lại cho chúng tôi rất nhiều bài học. Trong những lần Mẹ ở Việt Nam chúng tôi được tiếp xúc, sinh hoạt với Mẹ, lúc ở trên xe, khi ăn cơm hoăc trong giờ chia sẻ...

Tôi xin kể vài sự việc nho nhỏ về Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta:

            Mẹ còn chia sẻ với chúng tôi: "Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Nếu bạn đối diện với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ nói với bạn". Ðể thực hành sự thinh lặng bên trong thực sự, cần theo các bước sau:

- Thinh lặng của mắt: bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và sự tốt lành của Thiên Chúa ở mọi nơi; và đóng lại trước những sai lỗi của người khác, trước những tội lỗi và tất cả những gì có thể gây rối loạn cho tâm hồn.

- Thinh lặng của tai: bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa, tiếng kêu than thống thiết của người nghèo, người túng quẫn; và đóng lại trước những lời nói thiếu bác ái, nói chuyện không tốt của người khác.

- Thinh lặng nơi lưỡi: bằng cách luôn ca ngợi Chúa và nói những lời mang lại sự sống của Người; kiềm chế hãm lại những sự tự vệ và tất cả những lời nói gây ra sự tối tăm, rối loạn, đau khổ và chết chóc.

- Thinh lặng trong trí: bằng cách mở ra trước sự thật và sự hiểu biết về Chúa trong sự cầu nguyện và chiêm niệm; và đóng lại trước những sự giả dối, điên cuồng, những ý nghĩ phá đổ, phán đoán bừa bãi, những hoài nghi sai lầm về người khác và những ý nghĩ cùng ước muốn trả thù.

- Thinh lặng trong trái tim: bằng cách yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương họ; tránh tất cả những sự ích kỷ, hận thù, tham vọng, ghen ghét và tham lam".

           Mẹ còn đề cao giá trị của tình yêu: "Mỗi hành động của tình yêu, cho dù nhỏ bé đến đâu, đều là một công việc của hoà bình". Có thể chỉ là một nụ cười, một sự viếng thăm ngắn ngủi, thắp một cây đèn dầu, viết giùm một lá thư cho một người mù, xách giúp một thùng than, tặng cho ai đó một đôi giày, hay đọc giùm một tờ báo... những việc thật nhỏ - rất nhỏ mọn - nhưng trong thực tế là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện trong hành động.

"Tại Ðại chủng viện ơ Bangalore, một tu sĩ lần kia nói với tôi rằng: 'Thưa Mẹ Teresa, Mẹ đang làm hư những người nghèo bằng việc cứ cho họ mọi thứ cách nhưng không. Họ đang mất dần phẩm cách của họ'.

              Khi mọi người thinh lặng, Mẹ điềm tĩnh nói: "Không ai làm hư con người bằng chính Thiên Chúa. Hãy xem tất cả những ân huệ tuyệt vời Chúa đã ban cho chúng ta cách nhưng không. Tất cả các bạn ở đây đều có thể nhìn thấy cả. Nếu Thiên Chúa bắt các bạn trả tiền mới được nhìn thấy cảnh vật chung quanh thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta đang tiếp tục thở và sống trong bầu khí oxy mà chúng ta không hề trả đồng nào. Và điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa nói: 'Nếu các con làm việc bốn tiếng thì các con sẽ được hưởng ánh mặt trời trong hai tiếng?' Nếu vậy thì có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ sống sót?"

              Sau đó Mẹ cũng nói với họ rằng: "Ðã có rất nhiều hội dòng làm hư người giàu, thì cũng tốt thôi nếu có một Hội dòng nhândanh người nghèo để làm hư người nghèo". (Trích trong In The Heart of The World)

            Những lời nói và việc làm của Mẹ không thể kể hết được ở đây. Nhưng tựu chung những hành động yêu thương và những bài nói chuyện của Mẹ đều phát xuất từ một linh đạo đặc biệt.

             Theo linh đạo của Dòng Mẹ, sứ mạng của Hội Dòng là chầu Chúa Giêsu Thánh Thể và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trong đa dạng: nghiện ngập, ma tuý, chăm sóc người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi không được ai biết tới,...

Sau Ðây Là Những Sự Kiện Chính Trong Tiểu Sử Của Mẹ Teresa:

1928 : Mẹ vào dòng Ðức Mẹ Loretto ở Ái Nhỉ Lan và vào nhà tập ở Darjeeling, Ấn Ðộ.

1929 - 1948 : Mẹ làm giáo viên dạy địa lý và lịch sử ở trường trung học St. Mary tại Calcutta trong nhiều năm, làm hiệu trưởng của trường.

1948 : Mẹ đựơc phép của Toà thánh để sống ngoài tu viện và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trên các đường phố của Calcutta.

1949 : Mẹ nhận quyền công dân Ấn Ðộ.

1950 : Dòng các soeurs Thừa Sai Bác Ái được Hội thánh Công giáo công nhận, thành lập tại Calcutta.

1952 : Thiết lập nhà đầu tiên tại Ấn Ðộ - nhà mang tên Nirmal Hriday - bổn mạng là Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.

1953 : Di chuyển nhà Mẹ đến đường Lower Circular, Calcutta.

1965 : Dòng Thừa Sai Bác Ái trở thành dòng thuộc Quyền Giáo hoàng tại Roma. Nhà đầu tiên được mở ngoài Ấn Ðộ là ở Coconote, nước Venezuela.

1966 : Dòng nam dòng Thừa Sai Bác Ái được thành lập.

1969 : Hiệp hội Thiện nguyện quốc tế được thành lập. Mở các nhà tại Úc và bắt đầu lan tràn tại nhiều nước.

1973 : Các thầy Thừa Sai Bác Ái mở nhà đầu tiên ngoài Ấn Ðộ tại Việt Nam.

1976 : Mẹ lập ngành chiêm niệm các soeurs Thừa Sai Bác Ái gọi là " Sisters of the Word".

1979 : Mẹ Teresa lãnh giải thưởng Nobel Hoà bình.

1980 : Từ năm nay, nhiều nhà được mở cho các bệnh nhân cai nghiện, các cô gái lỡ lầm và những người phụ nữ bị hành hung trên khắp thế giới. Vận động chống lại việc phá thai bằng cách khuyến khích nhận con nuôi; xây dựng cô nhi viện và các trường học cho trẻ em nghèo.

1985 : Thiết lập trung tâm cho những bệnh nhân AIDS tại New York.

1986 : Thành lập Tu hội đời Thừa Sai Bác Ái.

1988 : Mẹ gởi các soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Nga. - Mở một nhà cho bệnh nhân AIDS tại San Francisco ở Mỹ.

- Ngày 24.09. 1991: Mẹ đến Hà Nội, Việt Nam.

- Ngày 05.11.1993 : Mẹ đến thành phố Sàigòn.

- Ngày 01.04.1994 : Mẹ gởi 8 soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Việt Nam: 4 soeurs làm việc tại trung tâm Thuỵ An, Ba Vì, Hà Nội; và 4 soeurs làm việc tại 38 Tú Xương, Q.3, TP Sàigòn.

Hiện nay, Dòng Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta có 759 nhà tại 136 nước trên thế giới với gần 4,500 nữ tu.

- Ðầu tháng 4.2006 Dòng đã gởi 4 nữ tu sang Thượng Hải theo lời mời của Ðức Giám mục Thượng Hải.

- Ngày 06.06.2006, Soeur Nirmala (BT Tổng quyền- kế vị Mẹ Teresa) cùng Soeur Lysa (phó BT Tổng quyền) và Soeur Leon (Giám Tỉnh Hongkong) đã đến Việt Nam, có Soeur BT Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh ra đón tại Hà Nội. Và ngày 09.06.2006, Soeur Marie Francoise cùng với phái đoàn các Soeurs lên gặp Ban Tôn giáo Chính phủ. Ban Tôn giáo đã tiếp đón vui vẻ và sẵn sàng mời các Soeurs sang làm việc từ thiện tại Việt Nam.

Ban Tôn giáo Chính phủ và TP. Sàigòn đã cho phép Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô tại TP. Sàigòn - 428 Huỳnh Văn Bánh, F.14, Phú Nhuận - được tiếp đón các Soeurs trong tu viện của Dòng 01 tháng, nhưng các soeurs có chương trình nên chỉ ở 01 tuần lễ. Trong thời gian này các soeurs đi thăm tất cả các cộng đoàn của Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Soeur Nirmala nhận định: "Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều cởi mở so với cách đây 10 năm".

Dòng của Mẹ gồm 8 ngành:
1. Ngành hoạt động nữ.
2. Ngành chiêm niệm nữ.
3. Ngành hoạt động nam.
4. Ngành chiêm niệm nam.
5. Ngành các cha Thừa sai.
6. Tu hội đời Thừa sai.
7. Hiệp hội những người thiện nguyện.
8. Hiệp hội những bệnh nhân và những người đau khổ.



Sr. Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh – MCC.
Tổng phụ trách Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô
(Kỷ niệm 3 năm phong chân phước Mẹ Têrêsa, ngày 19/10/2003-19/10/2006
(Veritas Radio – Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu )

Nguồn : Continchuaoi.com


TeresaCalcutta-6.jpg

TeresaCalcutta-5.jpg

TeresaCalcutta-4.jpg

TeresaCalcutta-3.jpg

TeresaCalcutta-2.jpg

TeresaCalcutta-1.jpg

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

HÌNH ẢNH MẸ TÊRÊXA ĐỐI VỚI TÔI



"Một suy nghĩ hướng đến tha nhân.  Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động.  Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình."  Mẹ Têrêxa.

            Ngày 5 tháng 9 năm 1997, một vĩ nhân đã ra đi..... Vâng, Mẹ Têrêxa thành Calcutta đúng là vĩ nhân của thế kỷ XX nếu ta nhớ lại rằng Mẹ đã nhận được Giải Nobel Hoà Bình năm 1979, và ngày qua đời Mẹ được một vinh dự mà chưa một vĩ nhân nào có được: ba nước trên thế giới chịu quốc tang, đó là Ấn Độ, Anbani và Hoa Kỳ.

            Mẹ có dịp qua Việt nam hai lần, năm 1994 và năm 1995, và hai lần đó, tôi được may mắn tiếp kiến mỗi lần gần một giờ.  Lạ lùng thay, hình ảnh Mẹ để lại trong tôi không có gì là của một vĩ nhân cả, mà của một người khiêm nhường đến độ quên đi bản thân mình.  Tôi không còn nhớ Mẹ đã nói gì với tôi, nhưng Mẹ để lại hai hình ảnh vẫn còn theo tôi cho đến ngày hôm nay.

            Điểm đầu tiên gây ấn tượng là cảm thức về Thiên Chúa nơi Mẹ.  Khi đến Việt nam, Mẹ tạm trú trên lầu 3, tại 38 Tú Xương.  Người ta dành một phòng cho Mẹ và một phòng cho ba nữ tu theo Mẹ (trong số đó có vị Bề Trên tổng quyền hiện nay là Sr Nirmala Joshi).  Thế nhưng Mẹ đã biến phòng của mình thành nhà nguyện với sự hiện diện của Mình Thánh Chúa, rồi cùng chia sẻ với ba chị em phòng còn lại.  Mẹ đã hẹn anh chị Soi và tôi đến gặp Mẹ lúc 11 giờ trưa.



            Đúng hẹn, chúng tôi lên lầu 3.  Vì không có chỗ tiếp khách, Sr. Nirmala mời chúng tôi ngồi ở hành lang và Mẹ ra tiếp chúng tôi tại đấy.  Sau nụ cười chào đáp, Mẹ chỉ ngay vào nhà nguyện và bảo: "Chúa kìa", với một thái độ tự nhiên giống như một bà mẹ bảo con mình chào ông ngoại khi đi đâu về.  Mẹ vào quì trước Thánh Thể với chúng tôi một vài phút trước khi bắt đầu câu chuyện.  Và cuối buổi nói chuyện, Mẹ cũng chỉ vào nhà nguyện bảo chúng tôi chào Chúa trước khi ra về.  Thái độ mẹ đơn sơ như thể Chúa luôn có mặt bằng xương bằng thịt ở bên Mẹ.  Cái cảm thức về Chúa nơi Mẹ rõ rệt đến độ tôi có cảm giác rằng nó hùng biện hơn bất cứ bài giảng nào của bất cứ ai nói về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể.

            Điểm thứ hai gây ấn tượng là cách nói chuyện của Mẹ.  Mẹ không nói chuyện với ba người, mà nói với từng người một.  Mẹ cúi mình xuống và nhìn lên với cái nhìn thật trân trọng, cứ như là Mẹ muốn tiếp thu một bài học nào đó từ người đối thoại mà quên mất mình là ai.  Nói chuyện với Mẹ mà trong đầu tôi cứ lờn vờn hình ảnh của Chúa Giêsu quì xuống rửa chân cho môn đệ mình.  Qua thái độ lắng nghe và ánh mắt, Mẹ đã cho người đối thoại thấy rằng mình vô cùng giá trị...  Có những cái nhìn đè bẹp người người đối thoại và làm cho họ trở nên nhỏ bé và đầy mặc cảm; có những cái nhìn làm cho người đối diện lớn lên và tự hào về giá trị của mình: Mẹ Têrêxa là người có cái nhìn thứ hai đó.

            Mẹ Têrêxa thành Calcutta! Một danh xưng đem tự hào về cho Giáo Hội, cho các quốc gia của Mẹ, cho toàn thể nhân loại.  Thế nhưng qua hai lần gặp gỡ, tôi không bị choáng ngộp vì một vĩ nhân, mà chỉ đọc được nơi Mẹ một Kitô hữu điển hình: một người "đã hóa mình ra không" trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh chị em nhân loại, dù cho người ấy có thấp hèn đến đâu.

            Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước.  Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội: vỏn vẹn 6 năm sau ngày qua đời.  Tuy nhiên, Giáo Hội chỉ chính thức hóa một điều mà mọi người gặp Mẹ đã công nhận từ lâu:  Mẹ quả là hình ảnh sống động của Chúa Kitô trên thế gian này.

            Giờ này Mẹ đã về bên Chúa, tôi bỗng nghĩ đến 4690 nữ tu Thừa Sai Bác Ái đang tiếp tục sống đời sống ,"Kitô hữu mẫu mực" của Mẹ tại 710 nhà trong 132 nước trên thế giới.  Bất giác tôi nhớ lại lời Mẹ dặn: "Con hãy cảm tạ Chúa cùng với Mẹ, vì Việt Nam là nước thứ 100 mà các Thừa Sai Bác Ái hoạt động và nhà tại Việt Nam là nhà thứ 500 của họ".  Tôi không biết sau 2 năm hiện diện tại Việt Nam, các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêxa có được gia hạn giấy phép hoạt động hay không.  Nếu không được thì kể cũng xót xa cho Giáo Hội tại Việt Nam đấy.  Nhưng dù các con của Mẹ có hoạt động công khai hay âm thầm, thì Mẹ vẫn còn sống mãi trong họ để tiếp tục khẳng định cho mọi người mà họ gặp gỡ: Chúa đang sống cạnh bạn và Ngài tôn trọng bạn với trọn vẹn trái tim yêu thương của Ngài.

            Để kết thúc những cảm nhận này, tôi ghi lại đây một chuyện nhỏ.  Khi trao đổi danh thiếp với nhau, Mẹ cho biết rằng mình không bao giờ có danh thiếp.

            Sr. Nirmala trình cho Mẹ 'danh thiếp' sau đây với những lời vàng ngọc của Mẹ.  Mẹ cầm bút viết lời chúc phúc, rồi trao cho tôi như một kỷ vật:

(1) Ghi chú: Trên "danh thiếp" có hàng chữ viết tay God Bless you (Xin Chúa chúc lành cho con) và chữ ký của Mẹ.  Tác giả cũng đã dịch những hàng chữ trên ra tiếng Việt như sau:

The fruit of SILENCE is Prayer
The fruit of PRAYER is Faith
The fruit of FAITH is Love
The fruit of LOVE is Service
The fruit of SERVICE is Peace.
( Hoa quả của THINH LẶNG là Cầu Nguyện
Hoa quả của CẦU NGUYỆN là Ðức Tin
Hoa quả của ÐỨC TIN là Tình Yêu
Hoa quả của TÌNH YÊU là Phục Vụ
Hoa quả của PHỤC VỤ là Bình An )
(Kỷ niệm 6 năm ngày Mẹ Têrêxa Calcutta về thiên quốc)

Trần Duy Nhiên

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

GIÁO DỤC CON CÁI

Có con cái ư?
Hãy dạy dỗ và uốn nắn chúng ngay thuở còn thơ.
(Hc 7,23)
Hạnh phúc của cha mẹ là được thấy con cái nên người. Ngược lại, nếu con cái hư hỏng sẽ là một nỗi đắng cay phiền muộn. Kết quả đáng mừng hay đáng tủi ấy tuỳ vào sự bận tâm giáo dục của cha mẹ ngay từ đầu.
Giáo dục con cái không phải chỉ là một bổn phận quan trọng, mà còn là một vinh dự lớn lao của bậc làm cha làm mẹ, bởi vì được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Đó là việc trồng người. Không chỉ trồng nên những người hữu ích cho xã hội, cho Hội Thánh mà còn trồng nên những vị thánh. Vì thế, giáo dục con cái không phải là một việc tuỳ hứng, nhưng cần có một đường hướng, một kế hoạch và những phương pháp.

1. Quyền và bổn phận giáo dục con cái

Quyền và bổn phận giáo dục con cái là cái cốt lõi của việc làm cha làm mẹ, bởi vì nó liên quan đến việc lưu truyền sự sống. So với những người khác, thì vai trò giáo dục của cha mẹ là khởi nguồn và là cơ bản vì tương quan yêu thương độc nhất vô nhị giữa cha mẹ và con cái. Vai trò giáo dục của cha mẹ không ai thay thế được và cũng không nhường cho ai được, nên không thể nào khoán trắng cho người khác hoặc để người khác chiếm đoạt.
Yếu tố nền tảng cơ bản nhất đánh dấu vai trò giáo dục của cha mẹ là tình phụ tử và mẫu tử. Chính tình yêu thương này, như nguồn mạch xuất phát, trở thành linh hồn và quy tắc để gợi ra những sáng kiến và hướng dẫn cho mọi hoạt động giáo dục cụ thể, làm cho chúng thấm đượm những giá trị của sự dịu dàng, kiên nhẫn, nhân hậu, phục vụ, vô vị lợi, hy sinh, là những hoa trái quý giá nhất của tình yêu[1].

2. Phải dạy từ lúc nào?

 Công đồng Vaticanô II ngỏ lời với các bậc làm cha làm mẹ: “Vì đã lãnh nhận ân sủng cũng như bổn phận của bí tích hôn phối nên cha mẹ phải dạy dỗ con cái ngay từ nhỏ[2]“. Cha ông chúng ta cũng thường nói:
Uốn cây từ thưở còn non,
Dạy con từ thưở con còn đương thơ.
“Còn đương thơ” hay “ngay từ nhỏ” ở đây có nghĩa là ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ. Khoa học ngày nay cho thấy: Người mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khoẻ của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Việc giáo dục này được gọi là thai giáo. Trong thời gian này, các tâm tình và thái độ ứng xử của cha mẹ sẽ ghi dấu sâu đậm trên tâm tính đứa con sắp chào đời. Do đó, những bậc cha mẹ thương con sẽ hết sức lưu ý, để trong thời gian mang thai sống thật lành mạnh về luân lý và tâm linh.
 Tuy nhiên, thời gian thuận tiện nhất để trực tiếp giáo dục con cái, đó là khi đứa con bắt đầu có trí khôn, bắt đầu nhận biết về những điều cha mẹ dạy bảo. Lúc bấy giờ gia đình sẽ trở nên mái trường đầu tiên dạy cho đứa bé những bài học làm người. Trong mái trường đó, cha mẹ chính là những “thày cô” được tín nhiệm và yêu thương hơn cả, vì cha mẹ là những người sống gần con cái, hiểu biết con cái và yêu thương con cái hơn hết.

3. Phải dạy những gì?

Mục tiêu của của việc giáo dục Kitô giáo là giúp con cái trở thành người và trở thành người con Thiên Chúa. Khuôn mẫu của con người hoàn hảo đó là Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa đã hạ sinh làm người để nên mẫu mực cho chúng ta noi theo[3].
Trong việc giáo dục con cái, phải để ý đến mặt nhân bản cũng như mặt đức tin.
3.1. Giáo dục nhân bản
 Nền giáo dục nhân bản phải bao gồm cả ba phương diện: đức, trí và thể dục.
-                      Thể dục: dạy con vệ sinh sạch sẽ, giữ gìn sức khoẻ.
-                      Trí dục: trau dồi cho chúng về học vấn, về nghề nghiệp, để chúng có thể sống tự lập, xây dựng tương lai cuộc đời mình, góp phần xây dựng xã hội.
Đức dục: trừ khử những thói hư tật xấu và tập luyện những tính tốt. Nhất là bốn nhân đức cột trụ làm nền tảng cho những nhân đức khác: khôn ngoan, công bằng, tiết độ và dũng cảm.
Khôn ngoan: biết khiêm nhường lắng nghe và mau mắn vâng lời; biết suy nghĩ cân nhắc trước khi làm và khi làm xong sẽ dừng lại một chút để kiểm điểm và rút kinh nghiệm; biết xem xét và chuẩn bị kỹ để chu toàn mọi bổn phận thật chu đáo cũng như để ứng xử đúng trước những tình thế mới.
. Công bằng: Chăm chỉ làm tròn bổn phận; yêu thương mọi người, tôn trọng của cải và quyền lợi của họ; tôn trọng của chung và biết lo cho công ích; luôn thành thật trong lời nói và việc làm; không bao giờ gian lận.
Tiết độ: Có kỷ luật, đúng giờ giấc và chừng mực trong những điều nhỏ mọn hằng ngày, trong ăn uống cũng như giải trí; tập cân nhắc đúng bậc thang giá trị theo tinh thần Kitô giáo và biết chọn lựa cách ý thức. Biết tiết kiệm. Dạy cho con cái biết giá trị của lao động cũng như giá trị thực sự của của cải vật chất. Hướng dẫn con cái chọn thú vui giải trí cũng như bè bạn
Dũng cảm: Biết can đảm đứng vững trong điều tốt; biết chấp nhận những sai lỗi của mình, tự tin và tự lập, biết lãnh nhận trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm.
Đối với người Việt Nam, những đức tính ấy được diễn tả qua khái niệm “trung dung”, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Những đức tính này giúp ta biết yêu thương, có lòng biết ơn, cộng tác và nâng đỡ người khác, nói năng cũng như cư xử lễ độ và tế nhị, biết suy nghĩ cân nhắc và biết tạo nên sự tin cậy lẫn nhau.
Riêng đối với nữ giới cần thêm: Công, dung, ngôn, hạnh.
Giáo dục giới tính: Ngoài ra, trong việc giáo dục nhân bản cũng phải để ý đến việc giáo dục giới tính, hướng dẫn con cái về phái tính và tính dục. Việc giáo dục này nhằm mục đích giúp con cái có một sự hiểu biết về tính dục phù hợp với lứa tuổi và tầm nhận thức, để chúng sống trong sạch, trưởng thành, xứng đáng là người nam, người nữ như ý Chúa. Trong việc giáo dục này, cũng cần dạy cho con cái biết sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông, đặc biệt về phim ảnh, internet.
 Nền giáo dục nhân bản này là điều hết sức cần thiết. Đức Thánh Cha nói: “Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: giá trị của con người là do cái mình làm, hơn là do cái mình có.”[4]
 Xem đó chúng ta thấy: Để trở thành một người Kitô hữu, thì tiên vàn phải là một người cho đúng nghĩa của nó. Hay nói một cách khác: Phải là người trước đã, rồi sau đó mới có thể là người Kitô hữu.
3.2. Giáo dục đức tin
 Là người có đạo, ngoài nền giáo dục nhân bản, cha mẹ còn phải cho con cái nền giáo dục Công giáo, nghĩa là ngay từ hồi còn tấm bé, đã phải dạy cho con cái biết mến Chúa yêu người, biết tuân giữ những giới luật của Chúa, biết tham dự những công việc đạo đức, biết siêng năng lãnh nhận các bí tích, nhờ đó con cái sẽ trở thành những Kitô hữu đích thực, nghĩa là những người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống, cũng như trở thành những người tín hữu đích thực, nghĩa là những người có đức tin và sống đức tin của mình giữa lòng cuộc đời.
Công đồng Vaticanô II nói: “Vợ chồng đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha mẹ, sẽ chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này liên hệ đến họ trước[5]“.
 Công đồng Vaticanô II cũng xác định nội dung của việc giáo dục Kitô giáo như sau: “Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành, nhưng chính là nhằm giúp những người đã được rửa tội, để nhờ hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm cứu rỗi, thì càng ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh, biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4, 23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Ep 4,22-24), và nhờ vậy họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn đạt tới sự sung mãn của Đức Kitô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm thể được tăng trưởng[6].
Trong việc giáo dục đức tin, cũng cần để ý tới việc giúp con cái nhận ra ơn gọi của chúng và giúp chúng đáp lại ơn gọi đó.
Khi con cái bắt đầu học giáo lý, cha mẹ nên quan tâm tìm hiểu hệ thống các lớp giáo lý trong giáo xứ mình. Ngay cả khi con cái chưa đi học, nếu được, họ cũng nên tham gia giảng dạy hoặc hỗ trợ cho các lớp giáo lý, bởi đó là cách đơn giản để nâng cao nhận thức giáo lý của mình và tự trang bị khả năng đào tạo đức tin cho con cái. Một số nơi, vì giới phụ huynh ít tham gia, việc giảng dạy giáo lý được giao cho lớp trẻ và nói tới Giáo lý viên là người ta dễ nghĩ tới những anh chị chưa lập gia đình. Thật ra, đội ngũ Giáo lý viên phải là những người có bề dày kinh nghiệm sống, cho nên Hội Thánh rất ước mong các đôi bạn quảng đại chia sẻ sứ mạng này.

4. Để việc giáo dục đạt kết quả tốt

4.1. Đồng tâm nhất trí
Cha mẹ phải nhất trí với nhau trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái: Tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái và phải biết dùng những phương pháp thích hợp để giúp chúng đạt được mục đích. Công đồng xác quyết :
“Gia đình là một trường học phát triển nhân tính, nhưng để gia đình có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mệnh mình, cần phải biết hòa hợp tâm hồn: vợ chồng phải cùng nhau bàn định, cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái[7]“.
Ngoài việc đồng tâm nhất trí với nhau, cha mẹ còn phải biết cộng tác với những nhà giáo dục khác, đặc biệt là các thầy cô và các Giáo lý viên.
4.2. Làm gương sáng
Kể từ lễ đính hôn, bình thường người ta chỉ còn hơn một năm để trở thành nhà giáo dục. Cách hữu hiệu nhất để biến mình thành nhà giáo dục là cương quyết sống những gì mình muốn truyền đạt cho con cái. Khi cha mẹ thăng tiến chính bản thân, nêu gương đời sống tốt đẹp về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác, con cái sẽ noi theo. Đúng như người xưa vẫn nói:
- Cha nào con nấy,
 - Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
Thật vậy, đứa bé, nhất là khi còn nhỏ, chưa có đủ trí khôn để phân biệt điều phải và điều trái, điều tốt và điều xấu. Nó thường bắt chước những gì cụ thể đập vào mắt nó. Thấy người lớn nói và làm thế nào, nó sẽ bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, gương sáng của cha mẹ là điều rất cần thiết trong việc giáo dục con cái. Cha ông ta thường nói:
Lời nói như gió lung lay,
Việc làm như tay lôi kéo.
Công đồng cũng xác quyết: “Được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn[8]“.
4.3. Tạo bầu khí gia đình đầm ấm
Cần tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, hoà thuận, lạc quan và biết tín nhiệm nhau. Trong Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo, Công đồng Vaticanô II nói: “Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện con cái trong đời sống cá nhân và xã hội trở nên dễ dàng. Do đó Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể[9]“.
Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 nơi số 12 viết: “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa”.
4.4. Tìm hiểu con cái
 Giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ luôn có một khoảng cách. Nếu không chịu tìm hiểu con cái, công việc giáo dục của cha mẹ sẽ không đạt được những kết quả mong muốn đã đành, mà còn gây nên những bực bội và oán trách. Quả thật, giữa cha mẹ và con cái luôn có một bức tường ngăn cách. Bức tường này chính là tuổi tác. Vì tuổi tác chênh lệch, nên thời gian và không gian của hai thế hệ già và trẻ cũng khác biệt, để rồi từ môi trường sống ấy đã phát sinh những dị biệt, những bất đồng.
Giáo dục có nghĩa là hướng dẫn, uốn nắn và làm cho tốt đẹp hơn. Vì thế, việc đầu tiên cần thực hiện ngay, đó là phải tìm hiểu con cái, phải biết con cái nghĩ gì, muốn gì, nói gì và làm gì thì mới có thể hướng dẫn chúng một cách hữu hiệu.
 Điều gì tốt nơi con cái, cần biết duy trì và cổ võ để được liên tục phát triển, còn điều gì xấu, lo nhắc bảo và sửa sai bằng những lời lẽ ôn tồn và tế nhị, thành thực và yêu thương.
 Có tìm hiểu con cái, cha mẹ mới cảm thông và xích lại gần con cái hơn, nhờ đó lấp đầy được hố sâu ngăn cách giữa già và trẻ, một hố sâu muôn thuở trong gia đình cũng như ngoài xã hội, đã tạo nên những mối bất bình sâu xa giữa cha mẹ và con cái.
4.5. Kiên nhẫn trong việc giáo dục
Uốn cây, cần phải kiên nhẫn, bằng không nó sẽ gãy. Vì thế, người xưa đã từng khuyên: Dục tốc bất đạt. Vội vã sẽ không thành.
 Trẻ con thường ham chơi và mau quên. Cho nên nói một lần mà thôi chưa đủ, chúng ta phải nói lần nữa và lần nữa. Chúng ta phải nhắc đi nhắc lại để những lời khuyên nhủ được thấm dần vào đầu óc của chúng.
 Đừng bao giờ thất vọng và nản chí trong việc uốn nắn sửa dạy con cái, bởi vì đó là một ơn gọi, một thiên chức cao cả mà Chúa đã dành cho chúng ta, những bậc làm cha và làm mẹ.
4.6. Cầu nguyện cho con cái
 Một trong những điều mà bậc làm cha làm mẹ cần nhớ, đó là ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa: cộng tác trong việc vun trồng sự sống, cộng tác trong việc truyền sinh cũng như trong việc giáo dục con cái. Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái[10]. Bởi vậy, trong việc giáo dục con cái, hai vợ chồng cần chạy đến với Chúa, bởi vì “Không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 5). Đến với Chúa để xin Ngài soi sáng và hướng dẫn cách thức dạy dỗ. Cầu nguyện cho con cái, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển khó khăn của chúng.
Sau cùng và hết sức quan trọng, để biết dạy dỗ con em, ta cần biết đến với vị Thầy tối cao của nhân loại là Chúa Giêsu Kitô: “Hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho ta để ta học được sự hiền lành và khiêm nhường cần có.

(Nguồn : simonhoadalat.com)


Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH - ĐIỀU KIỆN ĐỂ CON CÁI TRƯỞNG THÀNH



Tuân Tử đã nói "Nhân chi sơ tính bản thiện". Con người sinh ra vốn mang tính thiện. Mỗi một con người như một tờ giấy trắng. Những nét đầu tiên viết lên trang giấy có thể sẽ quyết định cả cuộc đời mỗi con người.

         Con người sinh ra, bản thân chưa hình thành tính cách rõ rệt. Song, môi trường đầu tiên mà mỗi đứa trẻ tiếp xúc - là gia đình - sẽ là những ảnh hưởng đầu tiên, quan trọng nhất đến việc hình thành tính cách, nhân cách và định hướng sống của mỗi người. Bởi vậy, cách giáo dục và môi trường sống trong mỗi gia đình đóng vai trò quyết định, ảnh hưởng đến việc đứa trẻ lớn lên như thế nào và sống ra sao!
 
        Một người trưởng thành, tất nhiên chịu ảnh hưởng của nhiều môi trường sống: gia đình, nhà trường, bạn bè, nơi làm việc… Từng môi trường có tác động khác nhau, vào từng "góc" tiếp thu của con người. Song, môi trường gia đình giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong việc hình thành tính cách, nhân cách, lối sống của mỗi người. Vì vậy, hãy chú ý đến cách giáo dục trong gia đình. Muốn con cái trưởng thành, hãy tự xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, phù hợp và hiệu quả trong mỗi mái nhà.
 
           Hãy biết cách giáo dục con, hãy tạo điều kiện để con mình phát triển toàn diện, không phải bằng cách ép buộc, gia trưởng … hay bất cứ hình thức nào gây ức chế đến tâm lý con cái. Nếu dạy con không đúng cách, sớm hay muộn, con cái cũng sẽ đi "chệch hướng" yêu cầu của cha mẹ, thậm chí còn phản tác dụng, gây tâm lý chống đối và căng thẳng từ con cái.
 
            Mỗi gia đình có hoàn cảnh khác nhau, thói quen khác nhau, cách sinh hoạt khác nhau và phương pháp giáo dục con khác nhau. Song, khi cha mẹ giữ vai trò là người đặt ra các nguyên tắc giáo dục trong gia đình, hãy chọn cách giáo dục phù hợp để không chỉ uốn nắn con theo ý mình và còn tạo nền móng để con cái phát triển toàn diện và trưởng thành theo đúng nghĩa.
  
           Các bậc cha mẹ có thể tham khảo một vài qui tắc chính trong việc giáo dục con cái để giúp con trưởng thành toàn diện:
 
Không cầu toàn
 
           Con người không ai toàn diện. Bất cứ ai cũng có thể có mặt tốt, xấu, thiếu sót. Đó là lý do không nên quá cầu toàn trong việc dạy con, đánh giá con cái và trong cả việc giáo dục con cái.
 
           Hãy tìm hiểu tính cách của con mình, phân tích xem nên phát huy mặt gì mạnh, khắc phục mặt yếu nào của con. Khi dạy con, đừng đòi hỏi con phải làm gì đó thật tốt, thật xuất sắc, mà hãy dạy con biết tiết chế những mặt yếu để phát huy mặt mạnh của mình. Điều đó sẽ giúp con bạn nhận thức đúng đắn về bản thân, đồng thời cũng giúp con không có tâm lý quá cầu toàn trong cuộc sống, để trên đường đời, con bạn không bị những cú "sốc" về những điều còn hạn chế của xã hội.
          Rất nhiều gia đình quá cầu toàn trong cách dạy con, ép con thực hiện việc gì cũng phải hoàn toàn tốt, tuyệt đối xuất sắc, vô hình chung làm cho con cái cũng đánh giá mọi sự vật, hiện tượng xung quanh qua lăng kính cầu toàn, chúng đòi hỏi mọi việc lúc nào cũng phải tốt đẹp, toàn diện, không chấp nhận những mặt trái của xã hội, của con người. Điều đó dễ gây bất mãn, mất niềm tin vào mọi điều xung quanh.
 
Đừng kỳ vọng quá mức
 
           Nếu đặt kỳ vọng quá mức vào con, bạn đã gây áp lực lớn cho con mình. Như thế, con bạn lúc nào cũng sống trong trạng thái căng thẳng, luôn lo lắng mình làm như thế này đã đúng yêu cầu của bố mẹ chưa. Dù còn nhỏ hay đã trưởng thành, con cái cũng không muốn bố mẹ đặt quá nhiều kỳ vọng vào mình. Bởi đó là một trách nhiệm nặng nề mà không phải lúc nào cũng thực hiện được. Nếu đặt hi vọng quá lớn vào con, khi con bạn không thực hiện được ước muốn của cha mẹ, lúc đó, bản thân cha mẹ sẽ bị thất vọng nặng nề, gây tác động xấu đến chính con cái mình.
 
           Hãy đánh giá con cái đúng khả năng vốn có. Hãy chịu khó và cố gắng tìm hiểu xem con mình có sở trường, sở đoản gì. Hãy chấp nhận rằng không phải tất cả mọi người đều thông minh, nhanh nhẹn, dễ tiếp thu, có năng lực… Quả là may mắn nếu con bạn là một trong những người như thế. Nhưng cũng hãy biết đối diện với sự thật, nếu con bạn không là một trong những "ngôi sao sáng". Ở trường hợp này, hãy hướng nghiệp cho con đúng với khả năng của con. Như thế bạn đã làm một việc đúng đắn để phát huy khả năng của con người.
 
           Hiện nay, "cuộc chiến" đi săn tìm các trường học chất lượng cao là một ví dụ về sự kỳ vọng quá mức vào con cái. Sẽ là phù hợp, nếu con bạn có năng lực, khi theo học trong những lớp "chất lượng cao". Song sẽ là gánh nặng, thậm chí còn kéo con "thụt lùi" nếu bạn cứ ép con mình vào một môi trường quá khả năng của nó. Hãy biết đánh giá đúng về con cái!
  
Thống nhất trong cách giáo dục
 
          Đây cũng là điều mà ít gia đình làm được. Bởi lẽ, giữa hai vợ chồng, nhiều khi quan điểm giáo dục trái ngược nhau. Nhiều khi, bố dạy một đằng, mẹ dạy một nẻo làm cho con cái không biết "đường nào mà lần". Cuối cùng, hẳn chúng sẽ làm theo ý riêng của mình.
 
 
          Hai vợ chồng hãy thống nhất về phương pháp dạy con. Tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèm thổi ngược. Một người cha nghiêm khắc sẽ không thể nào dạy được con nếu bà mẹ chiều con quá mức hoặc ngược lại. Tốt nhất, cha mẹ hãy bàn bạc trước khi đưa ra một vấn đề với con. Điều đó tạo sự đồng thuận không chỉ giữa cha mẹ mà còn giữa cả cha mẹ và con cái.
 
Gương mẫu
 
           Con cái bạn sẽ vượt đèn đỏ nếu thấy bố mẹ chúng làm thế.
 
           Việc gương mẫu để làm gương cho con cái là một việc cực kỳ quan trọng trong việc dạy dỗ con. Con cái phải tâm phục, khẩu phục. Có như thế tiếng nói của cha mẹ mới có "sức nặng". Bạn hãy "chấn chỉnh" mình trước rồi dạy con. Điều mà các ông bố bà mẹ nên tâm niệm là "mình là tấm gương cho con".
 
          Những điều bạn dạy con bằng lời có ảnh hưởng 10 phần, thì những điều bạn thể hiện bằng hành động sẽ ảnh hưởng đến con bạn gấp 10 lần đấy.
 
Đối thoại
 
         Thông tin một chiều không bao giờ có hiệu quả bằng thông tin hai chiều. Thay vì bạn ra lệnh: con phải làm việc này, con phải làm việc kia… , bạn hãy đối thoại, trao đổi với con. Chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn hẳn.
 
           Khi đối thoại, các bậc cha mẹ hãy coi mình như người bạn của con, bạn sẽ khám phá ra nhiều điều từ con mình, từ tính cách, sở thích, suy nghĩ và rất nhiều thông tin quan trọng. Bạn đừng áp đặt suy nghĩ của mình cho con và bắt chúng làm theo. Đôi khi sẽ tạo phản ứng ngầm trong suy nghĩ của con bạn.
 
           Đừng quan niệm rằng mình là cha mẹ, mình có quyền bắt con cái làm theo những gì bạn muốn. Hãy cho con được thể hiện suy nghĩ và quan điểm của chúng. Đối thoại là một cách để hiểu về con mình.
 
Tôn trọng con cái
 
          Mặc dù là con, nhưng con cái cũng đòi hỏi mình được tôn trọng. Tôn trọng tính cách, sở thích và quan điểm của con là một cách để gần gũi và hiểu con hơn. Bạn có thể đưa ra một vấn đề và đề nghị con bạn đưa ra quan điểm riêng. Như thế sẽ khuyến khích tính tự lập và thói quen phản ứng nhanh nhạy trước một vấn đề nào đó của con bạn.
 
          Nếu con bạn mắc lỗi, đừng mắng chửi, lên án, mà hãy nói chuyện một cách nghiêm túc để con bạn nhận ra vấn đề. Không ai có thể luôn luôn làm điều đúng đắn. Con cái bạn cũng như thế.
 
        Ngay cả đời sống riêng tư của con, cha mẹ cũng tránh không nên xâm phạm thái quá. Đừng nghĩ đọc trộm nhật ký là giải pháp đúng để kiểm tra suy nghĩ của con. Hãy tôn trọng tính cách, thói quen, đời sống riêng của con và hãy tìm hiểu bằng cách trao đổi và tôn trọng ý kiến của con. Đó là cách giúp con bạn trưởng thành hơn.
 
Tin tưởng
 
           Có rất nhiều bậc cha mẹ sai lầm khi cho rằng "trứng" không "khôn hơn vịt" được. Đừng "cổ hủ" như thế mà hãy tin tưởng vào con cái, khuyến khích con đánh giá các vấn đề và đưa ra ý kiến. Cha mẹ đặt niềm tin vào con sẽ giúp con cái tự tin hơn để đối diện với các vấn đề trong cuộc sống.
 
           Cha mẹ nào cũng muốn con cái trưởng thành và thành đạt. Nhưng nếu không tin tưởng ở con, thì con bạn khó có thể trưởng thành trong mắt cha mẹ. Có nhiều trường hợp khi ra ngoài xã hội, có rất nhiều người tự tin, thành đạt, nhưng khi trở về gia đình, vẫn bị cha mẹ coi như trẻ thơ.
 
           Trong cuộc sống, môi trường giáo dục gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người từ khi sinh ra đến tận lúc trưởng thành. Nếu gia đình nào có tác động tích cực đến con cái thì phần lớn con cái đều trưởng thành và tự tin trong cuộc sống. Ngược lại, có những cách giáo dục sai lầm làm cho con cái trì trệ, dựa dẫm và không thể tự "đứng" trên đôi chân của chính mình, thậm chí còn làm hư hỏng con cái mình.
 
          Giáo dục trong gia đình đúng cách sẽ "cung cấp" cho xã hội nhiều con người "tích cực". Hãy góp phần xây dựng một xã hội phát triển từ chính gia đình mình. Bởi gia đình là tế bào của xã hội.
Thủy Linh

(Nguồn : conggiao.info)|

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI


...........
         Đa số gia đình Việt hiện nay là gia đình hạt nhân, hình ảnh gia đình truyền thống “tam đại đồng đường” xưa kia giờ đã vắng bóng. Đó là điều đáng ngại trong mối quan hệ gia đình hiện nay, nhất là đối với các gia đình Kitô giáo. Ông bà ta thường nói: “Đức tin thấm nhập từ máu huyết của cha mẹ”. 
         Thật vậy, ông bà ta sống và giữ đạo tốt là nhờ đức tin mạnh mẽ được nuôi dưỡng từ gia đình. Hình ảnh ông bà cha mẹ, con cái quây quần bên bàn thờ đọc kinh mỗi tối là một sợi dây nối kết yêu thương và hiệp nhất gia đình, không thử thách, sóng gió nào của cuộc sống có thể cắt đứt được. 
          Thế nhưng ngày nay, phương tiện giải trí hiện đại phong phú và phát triển như " nấm mọc sau mưa", nhất là mô hình gia đình hạt nhân đã vô tình làm mai một đi đức tin vốn đã rất mong manh trong thế hệ trẻ hôm nay. 
          Trong quyển sách "Mái Ấm gia đình" cuả tác giả Sương Mai, một người mẹ đã dùng hình thức viết thư để truyền đạt kinh nghiệm sống đức tin và giáo dục con cái cho vợ chồng của con gái mình như sau: Với thiên chức làm cha mẹ, hai con phải đón nhận con cái với tâm hồn hân hoan, quảng đại, âu yếm và biết ơn. Hai con phải có bổn phận yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc con cái, để nhờ đó chúng được phát triển mọi phương diện như: sức khỏe, tài năng, học hành, tình cảm, tâm linh...Hai con phải giáo dục, hướng dẫn để chúng trở nên những Kitô hữu tốt lành và thánh thiện". 
          Còn trong Tông Huấn Familiaris consortio của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II số 26 đã nói về quyền lợi của những đứa con trong gia đình như sau: "Giữa lòng gia đình như một cộng đồng các ngôi vị, cần phải dành một sự chú ý đặc biệt cho đứa con, bằng cách phát huy lòng quí chuộng sâu xa đối với phẩm giá ngôi vị của nó, cũng như phát huy sự kính trọng thật to lớn đối với những quyền lợi của nó, những quyền lợi mà người ta phải phục vụ một cách quảng đại. Đó là điều phải dành cho tất cả mọi đứa con, mà quan trọng nhất là đứa con nhỏ tuổi hơn, đang cần đủ mọi thứ, hoặc đối với một đứa con bị đau yếu, đau khổ hay tàn tật." 
           Chúa Giêsu đã từng nói trong Phúc âm: " Cây nào sinh trái đó" ( Mt 7,17).

           Như thế, muốn đóng góp cho Giáo Hội và xã hội những đứa con ngoan ngoãn, tài năng, tốt lành, cha mẹ phải tạo được một mái ấm gia đình lành mạnh, biết hy sinh thời gian và công sức trong việc giáo dục con cái, nhất là trong việc giáo dục đức tin. Vì khuôn khổ bài viết có hạn, chỉ xin được đưa ra 2 mặt cần giáo dục:

1. Giáo dục nhân bản:
            Đó là nền tảng căn bản của một con người, vì thế mà tại các trường học thường ghi câu :" Tiên học lễ, hậu học văn" nghĩa là trước hết phải học lễ nghĩa rồi sau mới học chữ. Từ nhỏ hãy dạy trẻ biết nói cám ơn, xin lỗi, khi ai đưa cho cái gì thì phải biết lấy bằng hai tay, biết chào hỏi khi gặp người lớn, biết yêu thương người nghèo khổ, biết giúp đỡ bạn bè, vâng lời và kính trọng thầy cô nơi trường học...khi trẻ làm sai phải biết sửa dạy ngay không được nuông chiều theo thói xấu của trẻ, đó mới là tình thương thật sự, vì ông bà mình đã dạy rằng: "Thương con cho roi cho vọt". Đừng nghĩ rằng trẻ còn nhỏ nên để từ từ hãy dạy, đó là một sai lầm đáng tiếc, vì tâm hồn trẻ thơ rất trong trắng nên cần được sửa dạy kịp thời thì mới hy vọng có được những đứa con ngoan ngoãn.

2. Giáo dục đức tin:

           Muốn giáo dục đức tin cho trẻ thì chính cha mẹ phải thấm nhuần đức tin, vì : "Không ai cho cái mà mình không có". Chính cha mẹ phải là tấm gương sáng về đời sống đức tin trong gia đình. Vì nếu thân xác cần được nuôi dưỡng để phát triển khỏe mạnh thì đời sống đức tin cũng cần phải được nuôi dưỡng như vậy. 
          Tôi nhớ khi còn rất nhỏ, đêm nào cha tôi cũng ngồi cạnh tôi trước bàn thờ và dạy tôi đọc kinh tối, buổi sáng thì dạy tôi đọc kinh dâng ngày cho Chúa. Và dẫu bây giờ tôi đã là nữ tu, nhưng tôi vẫn còn đọc kinh hôm, kinh mai mà cha tôi đã dạy cho tôi khi còn nhỏ. Và bây giờ, cha tôi cũng làm như thế với đứa cháu nội chưa tròn 1 tuổi của mình. Như thế mới thấy tầm quan trọng cuả cha mẹ trong việc giáo dục đức tin cho con cái như thế nào. Do đó, ngay từ khi con còn nhỏ, cha mẹ hãy đem con lại trước bàn thờ và dạy bé ạ Chúa, ạ Đức Mẹ, các thánh. Khi con lớn hơn một chút thì cha mẹ đọc trước, bé đọc sau. Khi ăn một cái bánh,viên kẹo cũng dạy bé biết cám ơn Chúa. Trong gia đình, cha mẹ nên duy trì việc đọc kinh chung với nhau, vì Chúa đã nói: " Ở đâu có hai hay ba người họp lại vì danh Ta thì có Ta ở giữa họ". Nhờ có Chúa ở giữa, gia đình sẽ bình an và hạnh phúc, sẽ có đủ nghị lực và niềm tin để cùng nhau vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.

          Cuối cùng, xin được mượn lời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong Tông Huấn Familiaris consortio để kết thúc bài viết này: "Sự tiếp đón, tình yêu thương, sự quí chuộng, việc phục vụ nhiều mặt nhưng thống nhất về vật chất, tình cảm, giáo dục, siêu nhiên đối với mọi trẻ em sinh ra trên thế giới ... Tất cả những điều ấy phải luôn luôn là một đặc điểm nổi bật, không thể tước đoạt được của người Ki-tô hữu, và cách riêng của các gia đình Ki-tô hữu. Như thế các trẻ em có thể lớn lên "về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta", chúng sẽ mang lại sự đóng góp quý báu của chúng cho việc xây dựng cộng đồng gia đình và ngay cả cho việc thánh hoá cha mẹ".

Sr. Ter.Trúc Băng


(Nguồn :conggiao.info)