Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

TRUYỆN ĐAU KHỔ TRONG GIA ĐÌNH

 Vì thiếu tìm hiểu, cảm thông...


In
Sống trong gia đình, nên săn sóc cho nhau và tìm hiểu cặn kẽ, đừng vội trách móc, giận hờn.
Thiếu hiểu biết săn sóc kịp thời, là vô tình mình đẩy người mình thương vào cõi chết sớm hơn, do thiếu tìm hiểu, cảm thông và chăm sóc muộn màng.

Truyện: Bộ quần áo cũ của ông bố chồng tôi
          Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh, là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội..., ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.
Hôm nay, đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa, ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách, mang từ Việt Nam sang.
Tôi nhẹ nhàng:
- “Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.”
- “Nhưng bố thích mặc bộ này!”
Tôi bắt đầu cau có:
- “Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.”
Ông già buồn rầu, lập lại:
- “Bố thích bộ quần áo này lắm.”
Tôi cũng cương quyết:
- “Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.”
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
- “Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.”
Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.
Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan, không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.

Truyện: Vợ tôi bệnh và lười!
Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường, xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:
- “Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm, nhưng không ngủ được, nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.”
Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này, ai nghe cho được.
Tui định bụng hôm nay về, mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt.
Về nhà, quả nhiên cơm canh không có. Đứa con nhỏ hoảng hốt:
- “Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi. Má bị xỉu, phải cấp cứu.”
Tui vội vã vào nhà thương.
Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay, nó đau nhức, than thở, mà tui nghĩ nó giả bộ, nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.
Bệnh ung thư phát mạnh quá.
Sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương thì không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua, phải ngửi mùi thuốc lá tui hút.
Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp, tay gối bao nhiều năm, mà nó đau đớn, bịnh nặng, tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về, mới nằm liệt ra thôi.
Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện, khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui cóOK không. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm, nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry”, rồi đi ra.
Tui trở vào phòng thăm vợ.
Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:
- “Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cầy mà anh thích đó.”
Tui vỗ về:
- “Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm.”
Tui ráng nấu mấy món ngon, đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc.
Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la mắng vợ con mỗi ngày, uy quyền lắm, mà bây giờ, mít ướt quá sức …
(internet)

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA DO THÁI GIÁO VÀ HỒI GIÁO





Do Thái giáo có trước Kitô giáo và Hồi giáo, chúng ta không thể xác định nước Hồi giáo nào có số tín đồ nhiều nhất thế giới. Đây là 10 điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo:

1. TÔN THỜ CÙNG MỘT Thiên Chúa

Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều là độc thần giáo, đạo chỉ thờ một thần, đó là Thiên Chúa. Nhiều người hiểu rằng các tín đồ Do Thái giáo và các Kitô hữu cùng tôn thờ một Chúa. Tuy nhiên, có thể họ không biết rằng các tín đồ Hồi giáo cũng tôn thờ một Chúa như họ.

Đức Allah không là tên riêng như một số thần linh khác (Odin, Thor, Zeus, Apollo, Vishnu, hoặc Shiva). Tên Allah không xác định riêng biệt, xa lạ, hoặc vị thần Ả Rập duy nhất. Theo nghĩa đen, Allah chỉ là từ ngữ Ả Rập có nghĩa là “Chúa”. Các Kitô hữu Ả Rập diễn tả Thiên Chúa là “Allah”, họ không có từ ngữ nào khác để diễn tả Thiên Chúa. Kinh Koran (Quran, Qu’ran) là sách thánh của Hồi giáo nói về Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Chúa Giêsu, và các nhân vật khác. Khi làm vậy, chính Kinh Thánh Hồi giáo xác định Chúa của Muhammad, Chúa của Đức Giêsu, và Chúa của Ít-ra-en đều là MỘT Thiên Chúa. Thiên Chúa của Hồi giáo cũng là Thiên Chúa của Do Thái Giáo và Kitô giáo, Allah cũng chính là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-sa-ác, và Gia-cóp.

Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo được coi là các tôn giáo truyền thống Áp-ra-ham, thế nên cả ba tôn giáo có chung nguồn gốc, bắt nguồn từ Tổ phụ Áp-ra-ham. Hồi giáo được Muhammad thiết lập tại Ả Rập hồi thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, cả người Do Thái và Ả Rập đều được gọi là “người Sê-mít” (Semitic), là dòng dõi của Shem, con trai ông Nô-ê.

2. KHÔNG TIN CHÚA GIÊSU NHƯ KITÔ GIÁO

Kitô giáo là tôn giáo độc thần theo truyền thống Áp-ra-ham, cùng tin một Thiên Chúa tối cao và là anh em với nhau. Tuy nhiên, niềm tin Kitô giáo cũng duy trì đặc tính tôn giáo duy nhất về Đức Giêsu Kitô, điều này đưa ra một điểm tương đồng khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo: Không chấp nhận niềm tin Kitô giáo về Chúa Giêsu. Niềm tin Kitô giáo như vậy tin thần tính của Chúa Giêsu, sự sống lại của Chúa Giêsu, vai trò duy nhất và cương vị của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ, các tín đồ Do Thái giáo và Hồi giáo không chỉ coi đó là sai lầm mà còn là phỉ báng. Kitô giáo tin rằng chính Ngôi Hai Thiên Chúa (Đức Giêsu Kitô) hóa thân làm người. Do Thái giáo và Hồi giáo coi đó là vô lý (họ cho rằng Thiên Chúa không mặc xác phàm), là tôn sùng ngẫu tượng (vì đặt con người ngang hàng với Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa).

Từ viễn cảnh của Do Thái giáo và Hồi giáo, việc tin Chúa Giêsu như vậy là mâu thuẫn với thuyết độc thần mà cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều cương quyết không nhượng bộ về đức tin. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Thiên Chúa là Một Ngôi duy nhất, chứ không là Ba Ngôi. Họ cho rằng Kitô giáo tin Chúa Ba Ngôi (Tam Vị Nhất Thể, Trinity) là không thể chấp nhận. Hồi giáo coi Chúa Giêsu chỉ là một ngôn sứ vĩ đại chứ không là gì hơn. Do Thái giáo có cái nhìn mơ hồ hơn về vấn đề này, họ coi Chúa Giêsu là vị cứu tinh thất bại, hoặc là một tiên tri giả. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Chúa Giêsu không là Đấng cứu độ, không là thần linh, không sống lại, không là Thiên Chúa nhập thể hoặc là Con Thiên Chúa theo bất kỳ nghĩa nào. Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều đồng ý như vậy.

3. TIN CÓ CÁC THIÊN THẦN



Nhãn quan tôn giáo của Do Thái giáo và Hồi giáo đều có vị trí cho những vị không là phàm nhân, thường được đề cập là các “thiên thần”, các thụ tạo siêu nhiên được Thiên Chúa dựng nên để làm sứ giả của Ngài.

Cả sách Tanakh (Kinh Thánh Do Thái) và sách Talmud (văn chương giáo sĩ Do Thái) đầy các vấn đề liên quan cá hoạt động của các thiên thần, kể cả các Tổng lãnh Thiên thần Gáp-ri-en, Mi-ca-e, và các thiên thần vô danh khác. Cũng vậy, Kinh Koran nói về các thiên thần là các sứ giả của Thiên Chúa, kể cả Mikail (Mi-ca-e), Israfil (Ra-pha-e), và các thiên thần khác. Thật vậy, chính thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã mặc khải kinh Koran cho Muhammad. Có điểm tương tự khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo là sự cảnh báo nghiêm túc về việc coi các thiên thần là các đối tượng để tôn thờ, hoặc coi các thiên thần là Thiên Chúa. Làm vậy là phạm tội thờ ngẫu tượng.

4. TIN LỜI CÁC TIÊN TRI VÀ SỰ MẶC KHẢI

Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin rằng Thiên Chúa giao tiếp trực tiếp với loài người qua các ngôn sứ, hoặc những người được Thiên Chúa tuyển chọn làm “phát ngôn viên” để làm “nhịp cầu” giữa Thiên Chúa với cộng đồng. Ngược với cách dùng thông thường, thuật ngữ “ngôn sứ” không nói tới người dự đoán tương lai, mà chỉ có nghĩa là “người nói thay Thiên Chúa”.

Đối với Do Thái giáo, Mô-sê là ngôn sứ “cao cấp”, vì qua Mô-sê mà Thiên Chúa mặc khải các điều răn và giáo huấn, nền tảng của giao ước được Thiên Chúa thiết lập với dân Ít-ra-en trên Núi Sinai. Năm cuốn sách đầu tiên của Cựu ước gồm điều này, gọi là “Ngũ Kinh” (năm sách của Mô-sê, Torah). Phần thứ hai (hoặc phần giữa) gọi là Nevi’im (ngôn sứ), gồm các sách của các ngôn sứ trong lịch sử sau đó của dân Ít-ra-en như Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, I-sai-a, và các ngôn sứ khác.

Đối với Hồi giáo, Muhammad là ngôn sứ được Thiên Chúa mặc khải kinh Koran (đọc, kể), sách thánh mà các tín đồ Hồi giáo tôn kính là Lời Chúa và là mặc khải cuối cùng truyền lại cho nhân loại. Do đó, ngôn sứ Muhammad được người Hồi giáo coi là tiên tri cuối cùng làm phát ngôn viên của Chúa nói với nhân loại. Hồi giáo chân nhận tính thực tế và giá trị của các mặc khải trước mà Thiên Chúa nói với các dân tộc ngày xưa. Kinh Koran chân nhận Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, Đức Giêsu, và các nhân vật khác (kể cả các nhân vật không có trong Kinh Thánh) là các ngôn sứ đích thực mà Thiên Chúa nói với họ, ngay cả với Muhammad là người cuối cùng được thêm vào danh sách này, sau khi các lời tiên tri và mặc khải được khép lại.

Dĩ nhiên, họ có những điểm chung về mặc khải và tiên tri, nhưng vẫn có các điểm dị biệt quan trọng giữa ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Hồi giáo chấp nhận tính hợp pháp của các mặc khải trước như vậy vì có cả trong Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo, các Kinh Thánh này bị “biến dạng” theo thời gian, cả Ngũ Kinh và Phúc Âm, cho tới chúng ta ngày nay, không còn phản ánh chính xác bản văn gốc của các mặc khải. Điều này nghĩa là Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo không còn nguyên bản, Do Thái giáo và Kitô giáo dựa trên Kinh Thánh đó, các tôn giáo bối rối với các sai lỗi. Theo quan điểm Hồi giáo, việc mặc khải kinh Koran là để sửa các sai lỗi đó và sự sai lệch có trong Kinh Thánh cổ – chẳng hạn, không công nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Con Thiên Chúa, hoặc Đấng cứu độ phục sinh. Hồi giáo tin Đức Giêsu là một ngôn sứ vĩ đại hoặc sứ giả của Thiên Chúa, chứ không là Thiên Chúa hoặc thần linh.

Dĩ nhiên, Do Thái giáo hoàn toàn đồng ý với Hồi giáo rằng Đức Giêsu không là Đấng cứu độ hoặc Thiên Chúa nhập thể. Mặt khác, Do Thái giáo không đồng ý với Hồi giáo về việc tin Muhammad là ngôn sứ thật, hoặc kinh Koran là mặc khải thật. Do Thái giáo không đồng ý khi Hồi giáo nói rằng kinh Koran không thể sai lầm và để “sửa” các lỗi có trong Kinh Thánh của Do Thái giáo. Vì thế, chắc chắn vẫn có vấn đề quan trọng, ngay cả các vấn đề thần học không thể tranh luận mà người Do Thái giáo và Hồi giáo “không thống nhất”. Về nền tảng, cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin một Thiên Chúa (cùng một Thiên Chúa), Đấng mặc khải chính Ngài cho nhân loại bằng cách nói với họ qua các ngôn sứ. Được Thiên Chúa chọn làm “phát ngôn viên” của Ngài, các ngôn sứ đã nói nhiều sứ điệp của Thiên Chúa đối với cộng đồng.

5. TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI, NGÀY PHÁN XÉT, THIÊN ĐÀNG VÀ HỎA NGỤC

Các Kitô hữu cũng tin như vậy, và có sự tương đồng với cả ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Các chi tiết đặc biệt có thể khác nhau trong mỗi tôn giáo hoặc giáo phái. Do Thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo tin khác nhau một chút về những điều liên quan tư tưởng tôn giáo về sự sống đời sau và thận thế. Các tư tưởng được chấp nhận mới đầu được phát triển trong Do Thái giáo, rồi cả Kitô giáo và Hồi giáo đều thừa hưởng, tin rằng sẽ có ngày Thiên Chúa cho kẻ chết sống lại, và có cuộc phán xét các linh hồn. Những người công chính sẽ được hưởng phúc trường sinh trên Thiên đàng, còn những người không công chính sẽ bị phạt đời đời trong Hỏa ngục.

Có những cách hiểu khác nhau trong ba tôn giáo chính của người Sê-mít (không kể các nhóm phân chia của họ). Nhưng phần cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các dạng thần học riêng. Niềm tin về “những điều cuối cùng” cũng làm cho ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham khác với các tôn giáo lớn trên thế giới, có thể duy trì niềm tin nền tảng và khác nhau về sự sống đời đời, hoặc số phận cuối cùng của con người (chẳng hạn, Ấn giáo, Phật giáo, và đạo Sikh tin có sự tái sinh).


6. COI GIÊRUSALEM LÀ THÀNH THÁNH

Dĩ nhiên Kitô giáo cũng coi Giêrusalem là thành thánh. Khó có thể nói tầm quan trọng chính đối với Do Thái giáo về thánh thánh Giêrusalem. Thủ đô của Ít-ra-en ngày nay, một trong các thành phố cổ xưa nhất thế giới, là Giêrusalem. Thành phố này đã được vua Đa-vít xây dựng gần 3000 năm trước (khoảng năm 1000 trước công nguyên). Vua Sa-lô-môn, con vua Đa-vít, đã xây dựng đền thờ đầu tiên tại đó, làm cho Giêrusalem là trung tâm tôn giáo của Do Thái, mặc dù Đền thờ này đã bị phá hủy hai lần (lần đầu bị người Babylon phá vào năm 586 trước công nguyên, được tái xạy dựng rồi lại bị người Rôma phá hủy vào năm 70 sau công nguyên). Ngày nay, Đền thờ Giêrusalem vẫn là nơi lịch sử tôn giáo có ý nghĩa đối với Do Thái giáo. Đền thờ Núi (nơi nguyên thủy của cả hai Đền thờ), với bức tường phía Tây nổi tiếng, gọi là “Bức tường Khóc than” (di tích cũ), hàng năm có hàng ngàn du khách đến cầu nguyện, người Do Thái coi đây là nơi thánh nhất thế gian này.

Thành phố Mecca ở Ả Rập Saudi là nơi sinh của ngôn sứ Muhammad, cũng là nơi nổi tiếng gọi là Hajj (chạy trốn, di trú) để hành hương tới Mecca (một trong năm “cột trụ” của Hồi giáo, mọi tín đồ Hồi giáo đều phải hành hương tới Mecca ít nhất một lần trong đời). Đối với các tín đồ Hồi giáo, Mecca là thành thánh. Gần đó có thành phố Medina, nơi có mộ của Muhammad và nơi trú ẩn mà Muhammad cùng các bạn đã trốn khi bị bách hại ở Mecca. Do đó, Medina được coi là thánh địa thứ nhì của Hồi giáo.

Đối với Hồi giáo, thành Giêrusalem là nơi thánh. Thật vậy, đó là nơi thánh thứ ba của Hồi giáo, sau Mecca và Medina. Hồi giáo chấp nhận sự mặc khải của Thiên Chúa đối với các ngôn sứ trong lịch sử, kể cả lịch sử theo Kinh Thánh, và Giêrusalem được coi là thành thánh đối với các ngôn sứ thời kỳ đầu.

Thành Giêrusalem cũng nổi bật trong câu chuyện về cuộc hành trình đêm và việc bay lên của Muhammad, Tổng lãnh Thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã đưa Muhammad từ Mecca tới Giêrusalem (để cầu nguyện), rồi lại đưa ông từ Giêrusalem lên trời (để gặp gỡ và đối thoại với các tiên tri thời trước), chuyện xảy ra chỉ trong một đêm. Giêrusalem cũng là qibla (phương hướng) đầu tiên mà các tín đồ Hồi giáo được dạy trong khi cầu nguyện, tới mặc khải sau đó được Muhammad thuật lại cách đổi hướng để người Hồi giáo từ Giêrusalem tới Mecca. Ngày nay, Đền thờ Núi tại Giêrusalem là nơi thánh có Bức tường Than khóc phía Tây – di tích còn lại duy nhất của Đền thờ thứ nhì cùa Do Thái giáo – nhưng cũng là Đền thờ al-Aqsa của Hồi giáo, kể cả Mái vòm của Đền thờ Đá.

Đá này là Đá Tảng của Đền thờ mà người Do Thái tin là nơi thánh của Đền thờ, nơi cực thánh của Do Thái giáo. Hồi giáo tin Mái Vòm Đá tại Giêrusalem là nơi Muhammad đã được “di chuyển” trong đêm kỳ diệu. Đền thờ al-Aqsa gần đó là nơi cực thánh thứ ba để người Hồi giáo cầu nguyện, sau Đền thờ Vĩ đại tại Mecca (nơi hành hương) và Đền thờ Tiên tri tại Medina (có mộ Muhammad).

7. NAM GIỚI PHẢI CẮT BÌ

Trong Kinh Thánh, Áp-ra-ham được Thiên Chúa truyền lệnh cắt bì, dấu chỉ giao ước thánh được thiết lập. Yêu cầu này được truyền cho con cháu nam giới của Áp-ra-ham. Nam giới Hồi giáo cũng giữ luật này một thời gian dài. Theo “Ngũ Kinh” (năm cuốn dầu của Cựu ước), các trẻ nam Do Thái được cắt bì vào ngày thứ tám kể từ lúc sinh. Dịp này gọi là bris (tức là “giao ước cắt bì”), có cử hành nghi lễ tôn giáo. Việc này được làm bởi một chuyên gia Do Thái, gọi là mohel (người cắt bì), sau đó có một bữa ăn. Kinh Koran không đòi buộc cắt bì, nhưng việc cắt bì cho nam giới vẫn được kể đến trong bộ sựu tập hadith (do Muhammad biên soạn, các tín đồ Hồi giáo coi đó là bản hướng dẫn đáng tin cậy để hiểu và xử sự). Chính Muhammad cũng được cắt bì, kể cả các tiên tri trước cho tới Áp-ra-ham. Cắt bì nam giới (gọi là khitan hoặc tahara) là tiêu chuẩn trong Hồi giáo từ những ngày đầu. Đa số các tín đồ Hồi giáo coi đó là nghi thức bắt buộc, ngay cả những người không áp dụng cũng coi đó là việc xứng đáng và rất nên giữ.

8. CẦU NGUYỆN NHIỀU LẦN TRONG NGÀY

Dĩ nhiên, người ta có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào, bao nhiêu lần cũng được. Nhưng trong Do Thái giáo và Hồi giáo, số lần cầu nguyện chính thức được ấn định mỗi ngày: Năm lần – sáng sớm, trưa, chiều, tối, và đêm. Việc cầu nguyện là một trong Năm Cột Trụ của Hồi giáo, bắt buộc đối với mọi tín đồ Hồi giáo. Khi cầu nguyện, họ phải tìm nơi thích hợp (nếu có nhà thờ thì tốt nhất, nhưng không cần thiết). Năm lần cầu nguyện trong ngày là việc bắt buộc, nếu ai bỏ vì lý do gì thì phải cầu nguyện bù vào. Khi cầu nguyện, các tín đồ Hồi giáo phải quay mặt hướng về thánh địa Mecca (ở Ả Rập Saudi), và cầu nguyện theo nghi thức. Ngôn ngữ chính là tiếng Ả Rập, ngôn ngữ của kinh Koran.

Cũng vậy, người Do Thái cũng ấn định số lần cầu nguyện trong ngày – sáng, chiều, và tối. Cả Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo bảo thủ đều bắt buộc cầu nguyện mỗi ngày ba lần, còn Do Thái giáo cải cách và Do Thái giáo kiến thiết lại không bắt buộc, cho phép tùy ý mỗi cá nhân.

9. GIỮ LUẬT ĂN UỐNG

Người ta đa số đều không biết rằng các tín đồ Do Thái giáo giữ “luật kosher”, nghĩa là họ chỉ ăn thực phẩm “kosher”. Chẳng hạn, phải tránh thịt hèo vì thịt heo không là “thực phẩm kosher”. Tương tự, các tín đồ Hồi giáo cũng chỉ ăn các thực phẩm “halal” (được phép), và tránh các thực phẩm “haram” (cấm). Tại Hoa Kỳ, những nơi có nhiều người theo Do Thái giáo và Hồi giáo, người ta thường ghi ở các cửa hàng: Thịt kosher hoặc tạp hóa halal. Chữ kosher nghĩa là “đúng luật”. Luật Do Thái giáo rút ra từ “Ngũ Kinh”, cho biết loại thực phẩm nào là “đúng luật”. Trong thực tế, điều này có thể khá phức tạp, nhưng những người giữ luật Do Thái giáo phải giữ – gọi là luật kashrut (đúng, riêng) – được liệt kê trong “Ngũ Kinh”. Các thực phẩm cấm như thịt heo và hải sản (cua, tôm, sò, ốc,…) vì chúng “không tinh sạch”. Các loại thực phẩm khác phải được chuẩn bị theo “đúng nghi thức”. Chẳng hạn, các loại máu phải rút ra khỏi thịt trước khi nấu hoặc ăn (loại thịt “kosher” bảo đảm quá trình này), thịt và sữa không được trộn hoặc ăn chung với nhau (loại hamburger thì không sao, nhưng thịt băm có phô-mai thì không là thực phẩm “kosher”). Nhiều gia đình Do Thái có các loại dụng cụ riêng (dao, bình, hũ, nồi, soong, chảo,…), đôi khi dành riêng biệt cả bồn rửa và tử lạnh, làm vậy để bảo đảm không phạm luật. Tuy nhiên, những người theo Do Thái giáo chính thống không giữ nghiêm ngặt như vậy, nhiều người theo Do Thái giáo cải cách vẫn giữ đúng nghiêm luật.

Hồi giáo cũng có một số luật về ăn uốgn. Kinh Koran cấm ăn thịt heo và uống rượu (kể cả các chất có men). Luật Hồi giáo rút ra các hướng dẫn từ kinh Koran, phân biệt các dạng thực phẩm “halal” và “haram”. Rượu, thịt heo, máu, động vật giết mổ không đúng cách, và một số thực phẩm được phân loại là “haram” hoặc không được phép. Có những điểm tương đồng và dị biệt giữa các thực phẩm “kosher” và “halal”. Chẳng hạn, cả những người Do Thái giáo và Hồi giáo đều không được ăn thịt heo. Mặt khác, người Do Thái giáo không được ăn hải sản, nhưng đa số người Hồi giáo lại được ăn (tùy giáo phái). Ngược lại, người Hồi giáo không được uống rượu, nhưng người Do Thái giáo lại có thể uống rượu.


10. TÁCH RIÊNG NAM VỚI NỮ KHI THỜ PHƯỢNG

Trong Do Thái giáo, việc ngồi riêng như vậy còn tùy giáo phái. Tại các nhà thờ Do Thái giáo chính thống, nam giới và nữ giới Do Thái có chỗ riêng biệt (phụ nữ thường ở trên lầu), tại các nhà thờ Do Thái giáo cải cách thí không phân biệt nam nữ.

Trong Hồi giáo, luôn có sự phân biệt giới tính trong khi cầu nguyện, nhưng tục lệ đặc biệt này thay đổi tùy văn hóa và tùy nơi. Thường chỉ có nam giới cầu nguyện tại các đền thờ, còn phụ nữ cầu nguyện ở nhà. Có nơi phụ nữ có thể cầu nguyện ở đền thờ, nhưng thường ở phòng cầu nguyện phía sau (khác chỗ với nam giới) hoặc ở một nơi riêng khác, đôi khi là nơi khuất, hoặc ở trên lầu.

Dĩ nhiên có những điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo có thể ngoài danh sách này. Đối với cả hai tôn giáo, một ngày bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, chứ không là nửa đêm hoặc rạng đông. Mỗi tôn giáo có âm lịch riêng, khác hẳn với dương lịch tiêu chuẩn theo Tây phương hoặc lịch Grê-gô-ri-an. Để tỏ lòng sùng đạo, đàn ông Do Thái giáo và Hồi giáo thường đội mũ chỏm, gọi là “yarmulkes” (tiếng Yiddish) hoặc “kippahs” (tiếng Do Thái), còn đàn ông Hồi giáo thường dùng “mũ cầu nguyện”, gọi là “kufi” hoặc “taqiyah”. Có thể hai tôn giáo này không khác nhau về những điểm cơ bản.

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
(Nguồn : vietcatholic.net)

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

VẠ TUYỆT THÔNG LÀ GÌ



                                                                                             Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
           Linh mục chịu chức giám mục bất hợp pháp cùng với các giám mục phong chức đều bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết theo điều 1382 của Bộ Giáo luật.

           Sau những vụ truyền chức giám mục bất hợp pháp tại Trung Quốc, Toà Thánh công bố những người chịu chức giám mục như vậy đã mắc vạ tuyệt thông. Nhiều người hỏi vạ tuyệt thông là gì.

Để trả lời, phải tìm hiểu hai điều: 
1. Các thánh thông công. 
2. Vạ tuyệt thông.


1. Các Thánh cùng thông công.


         Trên nguyên tắc, tất cả những ai được rửa tội, đều là thánh, vì đã được sạch tội tổ tông và tội riêng. Các thánh là tất cả những người Công Giáo, vì thế ân huệ có thể thông truyền cho nhau. Nên:

         Tất cả các tín hữu còn sống hay đã qua đời - đã được lên thiên đàng (paradis) hay còn đang ở luyện tội (purgatoire) - đều có liên lạc mật thiết. Đó là tín điều (dogme) các Thánh cùng thông công.

- Các tín hữu còn sống làm thành Giáo Hội chiến đấu.

- Các Thánh trên thiên đàng làm thành Giáo Hội khải hoàn.

- Các linh hồn trong luyện tội làm thành Giáo Hội đau khổ.

Các tín hữu tôn kính, cầu xin các Thánh. Còn các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Thiên Chúa.

Các tín hữu làm việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn. Còn các linh hồn cầu bầu cùng Chúa cho các tín hữu còn đang sống.

Các tín hữu đều thông công với nhau: mỗi người đều có quyền hưởng nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của tất cả những người khác.


2. Vạ tuyệt thông (hay dứt phép thông công, rút phép thông công) 

             Nghĩa là không còn được hưởng những ân huệ của “các thánh thông công” nữa, nhưng chỉ là một hình phạt của Giáo hội Công giáo Rôma dành cho những giáo sĩ và giáo dân phạm trọng tội. Khi một người bị tuyên án vạ tuyệt thông thì về bản chất, người ấy bị tách rời ra khỏi sự "hiệp thông" với những tín hữu khác trong Giáo hội, về hình thức là bị khai trừ khỏi tổ chức Giáo hội. Tuy nhiên, vạ tuyệt thông không phải là Thiên Luật (luật của Chúa) mà là Nhân Luật (giáo luật của Giáo hội), nên vạ tuyệt thông không ảnh hưởng đến mối liên hệ riêng rẽ giữa cá nhân người bị vạ với Thiên Chúa. Hình thức Có hai hình thức vạ tuyệt thông:


• Vạ tuyệt thông tiền kết: được ấn định cho một số tội. Ngay sau khi phạm, đương sự lập tức bị vạ, không cần Giáo hội phải ra công bố. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn bảy loại vi phạm bị chế tài Vạ tiền kết.


1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

6. Cha giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh. Trong bảy qui định vạ trên đây, năm loại vạ chỉ được hoá giải bởi chính Tòa Thánh (2, 3, 5, 6 và 7), còn hai loại vạ kia (1 và 4) có thể được giải do giám mục giáo phận hay những linh mục được các giám mục ấy ủy thác.


• Vạ tuyệt thông hậu kết: được ấn định cho một số tội. Sau khi phạm, đương sự chưa lập tức bị vạ. Đương sự chỉ bị vạ sau khi Giáo hội ra công bố. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn hai loại vi phạm bị chế tài vạ hậu kết.

Hầu hết những trường hợp bị vạ tuyệt thông đều là vạ tuyệt thông tiền kết và người mắc vạ tuyệt thông bị cấm:

1. Không được tham phần bằng bất cứ cách nào như thừa tác viên vào việc cử hành Hy tế Thánh Thể, hay vào các lễ nghi phụng tự nào khác

2. Không được cử hành các Bí tích hay Á Bí tích và lãnh nhận các Bí tích

3. Không được hành sử các chức vụ, tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hay thi hành các hành vi cai trị sau khi vạ tuyệt thông đã bị tuyên kết hay tuyên bố, người bị vạ tuyệt thông thi hành cách vô hiệu những hành vi cai trị nếu trước đó đã được chỉ định; cũng không được lãnh nhận cách hữu hiệu một chức vụ hay nhiệm vụ nào khác trong Giáo hội; cũng không được chiếm hữu cho mình các lợi lộc của bất cứ chức vị, chức vụ hay nhiệm vụ, hưu bổng nào mà đương sự đã có trong Giáo hội.

 Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

CÁM ƠN

                        Ơn thì người đời ít nhớ, 
Oán thì ghim sâu trong lòng. 



Có hai người cùng đi gặp Thượng đế, để xin vào thiên đàng. Thấy họ đói lả, Thượng đế cho mỗi người một suất cơm. Một người nhận suất cơm, cảm động lắm, cứ cám ơn rối rít. Còn người kia nhận phần ăn mà không hề động lòng, cứ làm như Thượng đế có bổn phận phải cho anh ta. 

Sau đó, Thượng đế chỉ cho người nói “cám ơn” lên thiên đàng. Còn người kia bị từ chối. Kẻ bị từ chối đứng ngoài cổng tỏ vẻ bực tức:
- Chẳng lẽ chỉ vì tôi quên nói hai chữ “cám ơn”?

 Thượng đế trả lời:
 - Không phải ngươi quên đâu, mà chỉ vì ngươi không có lòng biết ơn, nên chẳng nói ra được hai chữ cám ơn. Kẻ không biết cám ơn, thì chẳng biết yêu thương người khác, và cũng chẳng được người khác yêu thương.

 Anh ta vẫn một mực cãi lại:
 - Chỉ vì hai chữ “cám ơn”, mà số phận chênh lệch đến thế sao?

 Thượng đế lại đáp :
 - Biết làm sao được. Bởi vì đường lên thiên đàng được trải bằng lòng biết ơn và cửa vào thiên đàng chỉ có chìa khóa cám ơn mới mở được mà thôi. Còn xuống địa ngục thì khỏi cần.



Nu cuoi tren moi

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ VÀ "PHÉP LẠ BÁNH TRUNG THU " CHO TÙ NHÂN HỒNG KÔNG


Tờ báo NCR (National Catholic Reporter) mới đây đặt một câu hỏi:

"Phải làm gì khi bạn cần tới 10.000 bánh trung thu mà lại cần thật gấp rút ?"

Câu trả lời là: " Hãy viết thư cho Đức Giáo Hoàng !"

Sự thực thì Đức Giáo Hoàng khó nghèo cuả chúng ta đã không cung cấp tất cả 10.000 chiếc bánh trung thu đâu, nhưng nghiã cử cuả Ngài đã tạo ra một 'phép lạ' giống như xưa khi Chuá Giêsu làm phép lạ cho 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi 5000 người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ.

Có người cho rằng phép lạ đích thực cuả 'hiện tượng bánh hoá ra nhiều' của Chuá xẩy ra được, chính vì cử chỉ tượng trưng cuả Ngài đã khuyến khích 'tinh thần san sẻ' giữa những người 'có' và người 'không có' trong đám đông.

Chúng ta không dám 'lạm bàn' về phép lạ cuả Chuá vì làm như vậy là hoài nghi về quyền năng siêu nhiên cuả Thiên Chuá. Tuy nhiên 'phép lạ bánh trung thu' mới đây nếu có thể gọi được là 'phép lạ', thì rõ ràng đã xẩy ra bởi vì tấm gương 'san sẻ' cho người nghèo cuả Đức Thánh Cha.

Câu chuyện như sau:

Đức Hồng Y Joseph Zen, 81 tuổi, giám mục về hưu cuả Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ để chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện, phục hồi chức năng của Hồng Kông.

Ngài thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, vì phong tục ở đây là tìm về gia đình trong ngày tết trung thu để có thể chia sẻ những tấm bánh với những người có mặt và không quên để dành những lát bánh cho những người vắng mặt cũng như những người quá cố.

Cho nên, theo Đức Hồng Y Zen, thì tấm bánh trung thu mang một ý nghĩa rất đặt biệt về niềm vui gia đình, về đoàn tụ và hạnh phúc. Tặng bánh trung thu cho tù nhân là một nghiã cử đem lại nguồn an ủi và hy vọng cho họ.

Năm nay, Đức Hồng Y Zen ước vọng có được 10.500 chiếc bánh để tặng cho tất cả mọi tù nhân vào dịp Tết Trung Thu, ngày 19 tháng 9 tới đây. Biết rằng Đức Phanxicô là một người đầy lòng thương xót, Đức Hồng Y Zen nói với AsiaNews, "Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây ". Ngài đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng.
Đức Hồng Y đã đoán đúng. Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 cuả Đức Giáo Hoàng như sau: " Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu! Thân ái ban phép lành, PP Phanxicô. "

Đức Hồng Y Zen đã nắm bắt lấy cơ hội, Ngài đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm cuả ĐGH (dịch ra hán văn) và gửi cho những giáo hữu ở Hồng Kông xin họ hãy noi gương ĐTC.

Chỉ khoảng 2 tuẩn lễ, tiền quyên góp aò ạt đổ về, lên tới 170,000 đôla HK ( 22,000 USD, 464,574,000.00 ĐVN), đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.

Vào đầu tháng Chín, Đức Hồng Y Zen cho biết, "Tôi đã gửi cho Đức Thánh Cha một hộp bánh Trung Thu và chúc lễ hội đến Ngài. " Đó là một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối.

Ngài cho biết thêm " Khi tôi đến thăm các tù nhân vào cuối tháng Tám, họ nhắc nhở tôi về bánh trung thu, " Ngài mỉm cười. "Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hổ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo. "

Câu chuyện vui đã không ngừng ở đây, nhiều nhà thờ và tổ chức dân sự cũng đã noi gương ĐTC, quyên góp bánh trung thu và phân phối đến những người cao tuổi sống một mình và đến các gia đình có thu nhập thấp.

Niềm vui lễ hội đang lan rộng tới tất cả mọi người.

Chúc mừng Trung Thu.

Têresa Thu Lan 
(Nguồn : vietcatholic.net)

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI MẸ TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI


          Trong việc giáo dục con cái, người mẹ đóng vai trò quan trọng nhất vì người mẹ mang con nặng trong bụng mình chín tháng mười ngày, vì người mẹ rất đau đớn khi phải sinh đẻ con, vì người mẹ ấp ủ con suốt đêm con ngủ, và vì người mẹ ôm con cho con bú, cho con ngồi trên gối mình, bồng con trên tay nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, lo cho con từng miếng cơm manh áo, tập cho con bập bẹ nói, dạy cho con biết chắp tay cầu nguyện, ....
          Không thể nào tưởng tượng rằng có một gia đình mà không có người mẹ. Mọi cái trong gia đình đều xoay quanh người mẹ. Nhờ có người mẹ, các công việc trong gia đình mới chạy êm xuôi.  Không có người mẹ, căn nhà trở nên trống rổng, dù gia đình có đông đúc mấy đi nữa.
          Thường thì người cha làm ra tiền để nuôi gia đình, nhưng cái việc làm cho đồng tiền đó biến thành vật có ích, biến thành quần áo, thức ăn, v.v..., là công việc tế nhị của người mẹ. Người mẹ biết trong nhà cần gì, biết riêng mỗi người trong gia đình cần gì, và người mẹ lo cho được như vậy. Người mẹ biết dùng mọi cách để lo cho mọi người trong gia đình được đầy đủ. Như vậy, chúng ta thấy rằng công việc của người mẹ trong gia đình thật là hết sức quý báu, hết sức cần thiết.
          Người mẹ là người sống đời tận tụy hy sinh hết sức: muốn cho mọi việc được êm xuôi trong gia đình, người mẹ phải thức khuya dậy sớm, phải lo lắng ngược xuôi, phải hy sinh thật nhiều.
Người mẹ là người hết sức vị tha, chỉ nghĩ đến những người trong gia đình, chỉ lo cho chồng, cho con được đầy đủ mọi cái vật chất và tinh thần, dù có ai trong gia đình tỏ ra vô ơn bội bạc, thì người mẹ cũng không buồn phiền. Người mẹ biết rằng mình mà buồn phiền thì cả gia đình trở nên u ám, vì thế, đối với những chuyện không vừa ý trong gia đình, những chuyện trái ý xảy ra trong gia đình, những sự nóng nảy và những lời ta thán của chồng, của con, người mẹ luôn luôn chịu đựng, luôn luôn nhịn nhục, luôn luôn tỏ ra lạc quan trong gia đình, để có thể vững tay lèo lái con thuyền gia đình một cách an toàn.
          Đắm chìm trong hy sinh, trong tình yêu, trong đại độ và quên mình, người mẹ thường ít nói, không những vì luôn luôn người mẹ mắc việc, mà nhất là vì người mẹ biết rằng lời mình nói ra, không ảnh hưởng cho bằng thái độ mình sống của mình, vì nếu mình có thái độ quạu cọ, cau có, thì lời mình nói ra để dạy con cái cũng vô ích.
          Thái độ quạu cọ, cau có có thể là do người mẹ làm việc nhiều quá, do mình mệt mỏi, do mình dễ xúc cảm, nhưng người mẹ biết rằng nếu mình không vui vẻ, không dễ thương, thì con cái không muốn đến với minh đâu.
          Nói chung, người mẹ người một người rất đẹp, đây nói về đẹp tinh thần, đẹp của một người luôn có thái độ dịu dàng, lời nói dễ thương, nét mặt luôn tươi sáng.
          Trước một tình thế trong gia đình đáng lo, đáng buồn, đáng thất vọng, người mẹ luôn luôn tỏ ra vui vẻ. Dù cho khi chồng con gây ra sự bất hòa khó chịu, người mẹ vẫn phải làm sao đủ sức để gây sự vui vẻ trong gia đình.
Người mẹ chân chính, là người mẹ lúc nào cũng sẵn sàng khuyên nhủ đúng lúc, lúc nào cũng nhận thức lời nói của mình đối với chồng, với con, sẽ có kết quả gì, và luôn luôn tránh những lời nói nào gây ra sự buồn phiền hoặc bất hòa.
Người mẹ nào nói nhiều thì làm cho chồng con chán nản, rồi sinh ra lãnh đạm, không còn muốn nghe nữa. Khi ta nói nhiều, nói không đúng lúc, nói không hợp thời, nói lui nói tới - dẫu đó là điều phải, điều tốt đi nữa - thì trở thành nước đổ lá môn, và kết quả là làm cho chồng con không muốn đến gần mình, và làm cho gia đình trở thành một nơi buồn chán.
Lời nói của người mẹ phải làm sao tăng thêm sự hấp dẫn trong gia đình : kể bằng giọng dịu dàng một một câu chuyện nhỏ về giáo dục vào giờ đi ngủ; kể một câu chuyện hay, một câu chuyện tâm tình đúng lúc, Người mẹ nên đưa ra những nguyên tắc và để cho con cái tự ý rút ra những bài học kinh nghiệm.
          Người mẹ hãy sống đàng hoàng và tỏ ra cái bản ngã hy sinh vị tha của mình, đó là điều quan hệ hơn nói nhiều,  bởi vì muốn thuyết phục người khác, nhất là những trẻ con, thì chính đời sống của ta mới có giá trị.
          Giọng nói dịu dàng, tính tình vị tha đáng yêu, tuy là cần thiết cho người mẹ, nhưng chưa đủ, bởi vì muốn thành công trong phận sự của mình, người mẹ phải chăm lo săn sóc hình thức của mình nữa. Lúc nào người mẹ cũng phải áo quần sạch sẽ, chỉnh tề. Có thể người mẹ không mặc thứ áo quần sang trọng, nhưng áo quần nào người mẹ dùng, thì cũng phải hợp với màu da của mình, màu con mắt của mình, màu tóc của mình. Mặt mày phải luôn sạch sẽ, tươi tỉnh, tóc phải chải đàng hoàng, miệng phải sạch sẽ, tay chân phải sạch sẽ. Mỗi ngày mỗi tắm rửa sạch sẽ, tóc chải, quần áo chỉnh tề, đó là điều kiện làm cho người đàn bà dễ gây thiện cảm.
          Người mẹ phải dậy sớm để trông coi các công việc, và suốt ngày, phải làm nhiều việc, vì thế phải dành năm mười phút trong ngày để tắm rửa sạch sẽ, làm cho con người mình không còn nặng nề, tư tưởng trở nên sáng suốt, sức mạnh được tăng thêm, để sẵn sàng dùng vào những công việc khác.
          Người mẹ phải lo đủ mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà trong cửa, nhưng đừng vì những sự lo lắng nghĩ ngợi nầy mà mất ăn mất ngủ.
Phải biết lo cái đáng lo và đừng phí sức lo những cái không nhằm chỗ.
Phải khôn ngoan gìn giữ sức khỏe là điều hết sức quan trọng cho người mẹ. Nếu người mẹ đau ốm mà nằm xuống, chồng con sẽ bị thiệt hại đủ mọi bề. Người mẹ hãy chọn cho mình những thức ăn giản dị nhưng phải có đủ chất bổã dưỡng. Vì phải dậy sớm nhất trong nhà, người mẹ phải tìm cách ngủ cho đủ trong mức tối thiểu. Vì thế, mỗi buỗi trưa, sau khi xong mọi công việc trong nhà, người mẹ nên ngủ chừng một tiếng đổng hổ. Vì sức khỏe của mình rất quan trọng cho gia đình, nên người mẹ thỉnh thoảng hãy đi khám bác sĩ  để ngăn ngừa trước những bệnh tật có thể xảy ra. Làm như vậy, là xây đắp hạnh phúc cho gia đình, cho chồng con.
          Một nhà giáo dục danh tiếng kia hỏi một bà góa:
- “Bà có nhiều con. Khi chồng chết, đứa con lớn nhất của bà chưa đầy 15 tuỗi. Khi chồng bà chết, tiền của trong gia đình của bà lúc đó rất eo hẹp. Vậy sao bây giờ, các con trai của bà đều làm nên sự nghiệp, các con gái của bà đang sống hạnh phúc vui vẻ. Cứ sự thường, giữa bao nhiêu khó khăn, buồn phiền, đau khổ, túng thiếu, tôi chắc bà đã phải thất vọng nhiều lần lắm chứ?”
Bà góa nầy trả lời đơn sơ:
- “Tôi tin vào Chúa. Tôi cầu nguyện, và tôi thấy tôi phải tu chỉnh đời mình, tôi phải cải tạo đời sống tôi cho đạo đức hơn, tôi phải tập cho có nhiều đức tính. Nói tóm lại, tôi phải tự sửa mình.”
Nhà giáo dục kia hỏi tiếp:
- “Thế bà có làm gì khác nữa không, mà con cái bà nên tốt như vậy?”
Bà góa nầy cũng trả lời đơn sơ:
- “Tôi tự cố gắng sửa mình, tôi cố gắng nên tốt, và tôi cũng không ngờ rằng con cái tôi cứ bắt chước tôi mà tốt theo lên.”
          Bà góa nầy, người mẹ nầy, truyền những đức tính tốt cho các con trai con gái của bà. Bà truyền mà bà không biết. Và bà nầy cũng không biết mình là một nhà giáo dục tuyệt vời, một nhà giáo dục vĩ đại, đã tạo cho con cái mình những đức tính và sức mạnh cần thiết để chúng trở nên những con người đáng phục.
          Ảnh hưởng của người mẹ rất lớn trên đứa con: Mẹ ngoảnh đi, con dại, mẹ ngoảnh lại, con khô; Con dại, cái mang; Con hư tại mẹ; Phúc đức tại mẫu; Con nhờ đức mẹ; ....
           Thánh Gioan Tông Đồ khen các bà mẹ đạo đức:
- "Tôi là kỳ mục, kính gởi Bà đã được Thiên Chúa tuyển chọn, và con cái Bà là những người mà tôi thực sự quý mến; không phải chỉ một mình tôi, mà là tất cả những ai đã biết sự thật, cũng đều quý mến ... ” (Thư thứ hai của thánh Gioan 1,1).
- "Tôi rát vui mừng vì đã gặp thấy trong số con cái của Bà, những người sống trong sự thật, đúng như điều răn chúng ta đã nhận được từ Chúa Cha ” (Thư thứ hai của thánh Gioan 1,4).
          Ở trên đời nầy, không có sự nghiệp nào cao quý hơn vai trò của người mẹ. Nhà họa sĩ vẽ cái đẹp lên bức tranh, nhà điêu khắc chạm vẻ đẹp trên đá gỗ, nhà văn sĩ, nhà thi sĩ diễn cái đẹp ra trong lời nói, nhà nhạc sĩ ghi cái đẹp ra trong nốt nhạc, còn người mẹ tạo nên những con người đẹp đẽ, tạo nên lịch sử  tốt đẹp của loài người.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
(Nguồn : tonggiaophanhue.net)

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

SỬA LỖI ANH EM TRONG TÌNH THƯƠNG

SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXIII MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM A

         Tạp chí “Vận May” trong số ra ngày 23-12-1997, đã xếp hạng 25 nhà hảo tâm giàu có nhất tại Hoa kỳ. Rất nhiều nhà tỉ phú không có tên trong danh sách, vì họ không đóng góp gì cho các công tác từ thiện, hoặc sự đóng góp đó không đáng kể. Một số khác cũng không được nêu tên, vì họ chỉ hứa dâng cúng sau khi chết mà thôi. Một trong những điểm chung nối kết các nhà hảo tâm, đó là niềm tin tôn giáo của họ. Theo cuộc thăm dò của tạp chí “Vận May”, các nhà hảo tâm cho biết động lực thúc đẩy họ trong công cuộc từ thiện chính là niềm tin tôn giáo và đa số đã có thói quen tốt này trước khi giàu có. Quả thực, tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, tôn giáo nào cũng dạy sống bác ái. Riêng trong Kitô giáo, nền tảng của bác ái chính là tình huynh đệ. Người Kitô hữu yêu người, vì họ nhận ra mỗi người là anh em của mình, và đó là điểm nòng cốt của điều răn yêu thương.
           Hai chữ “anh em” là sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ Tân Ước. Danh xưng “anh em” được áp dụng cho các tông đồ, các môn đệ, các cộng đoàn nhỏ đựơc qui tụ quanh Chúa Giêsu lúc sinh thời và nhất là sau khi Ngài phục sinh. Hơn nữa, hai chữ “anh em” còn có một ý nghĩa rộng rãi hơn, là anh em của chúng ta, không những là những ai tin nhận Chúa Giêsu, mà còn là tất cả mọi người, bởi vì Chúa Giêsu đã chết cho mọi người. Tác giả thư Do Thái đã khẳng định : “Chính vì mọi người mà Chúa Giêsu đã nếm trải cái chết, và Ngài không xấu hổ khi gọi mọi người là anh em”.
           Là anh em của Chúa Giêsu, nên mọi người đều là anh em với nhau. Tình huynh đệ giữa mọi người là tình huynh đệ đại đồng, không biên giới, đối với Kitô giáo, không có bất cứ hàng rào nào mà không thể vượt qua được, bởi vì mọi người đều là anh em với nhau. Tóm lại, Chúa Giêsu đã chết và sống lại là để đánh thức nơi con người cái ý thức về tình huynh đệ đại đồng ấy. Qua cái chết và sự phục sinh ấy, Ngài mặc khải cho thấy mọi người đều là con cái của Cha trên trời, và do đó là anh em với nhau. Đây chính là nền tảng của điều răn yêu thương và cũng là nền tảng của giáo huấn xã hội mà Giáo Hội không ngừng truyền bá để kêu gọi xây dựng một cộng đồng nhân loại công bằng hơn, huynh đệ hơn. Hai chữ “anh em” và tình huynh đệ cũng là hai điều Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.
          Sống với nhau như anh em, yêu thương như anh em, lý tưởng như thế, nhưng “bá nhân bá tánh” : trăm người thì có trăm tính khác nhau, vì thế, mỗi người phải phát huy ưu thế của mình và tận dụng nó trong việc giúp đỡ anh em mình cái mặt yếu kém của họ, không được ỷ vào ưu điểm Chúa ban mà lên mặt tự phụ khinh thường người khác. Hơn nữa, “nhân vô thập toàn”, không ai là hoàn hảo, tuyệt đối không bao giờ sai lầm hay thiếu sót, trái lại, còn thường xuyên lầm lỗi và thiếu sót nữa, nên chỉ bảo cho nhau, góp ý xây dựng cho nhau, sửa lỗi lẫn nhau là một việc cần thiết. Đây là một cách cư xử rất khó khăn, rất phức tạp, đòi hỏi hết sức tế nhị và phải làm.
          Quả thực, yêu thương không phải là luôn khen ngợi, tâng bốc anh em mà còn là ân cần sửa lỗi cho anh em nữa. Dĩ nhiên chúng ta không được dò xét để tố cáo nhau, nhưng phải có trách nhiệm với nhau trong cộng đoàn. Chúng ta tránh kết án lỗi lầm người khác, nhưng nên khiêm tốn sửa lỗi anh em trong sự tế nhị kín đáo. Người Kitô hữu không nên can thiệp vào chuyện thiên hạ, nhưng chúng ta cũng phải có trách nhiệm đối với những lỗi lầm của anh em mình.
         Chúa Giêsu hiểu biết tâm lý con người, Ngài biết rõ chúng ta yếu đuối, hay lỗi lầm, thiếu sót và cần sửa chữa, nên Ngài đã chỉ dạy chúng ta một cách sửa lỗi nhau rất hay, rất tế nhị, đó là hãy kiên nhẫn thực hiện bốn giai đoạn hay bốn bước sau đây:
       Trước hết, phải gặp gỡ riêng hai người, chỉ hai người thôi, ta và người sai lỗi. Gặp gỡ và nói chuyện với nhau trong tình thân ái, kín đáo và chân thành. Gặp gỡ như vậy sẽ giúp chúng ta hiểu nhau, thông cảm nhau và biết đúng sự thật hơn. Đàng khác, sẽ giúp cho người sai lỗi thấy được lỗi lầm của họ để sửa chữa và phục thiện.
          Sau khi đã gặp gỡ riêng rồi mà không kết quả, người sai lỗi vẫn tự ái, cố chấp, thì mời thêm một hoặc hai người làm nhân chứng và cùng góp ý. Nhiều người nhiều bộ óc, tất nhiên sẽ mạnh lý hơn, vừa minh chứng cho lòng thành thực của chúng ta, vừa cho người sai lỗi thấy rõ và phải nhìn nhận điều sai trái của họ.
           Nếu vẫn không kết quả, khi ấy mới đưa ra cộng đoàn hay đưa đến người có thẩm quyền để giải quyết, đây là người có thẩm quyền trong Giáo Hội chứ không phải là người có thẩm quyền ngoài xã hội. Nếu đã làm cả ba bước như trên mà vẫn không kết quả, thì hãy nhận sự giới hạn của mình và phó dâng người anh em cho lòng nhân từ của Thiên Chúa, là cầu nguyện cho họ. Chúng ta cầu nguyện và cộng đoàn cầu nguyện, lời cầu nguyện ấy sẽ được Chúa nhận lời, như Chúa Giêsu quả quyết trong Tin Mừng hôm nay : Nếu chúng ta hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện và trong tình yêu thì Chúa Giêsu sẽ ở giữa chúng ta và lời cầu xin của chúng ta sẽ được Chúa Cha chấp nhận.
          Chúng ta sống trong một gia đình, một cộng đoàn, một giáo xứ hay với những người chung quanh, chúng ta liên đới với nhau, nương tựa vào nhau và giúp nhau lớn lên trong tình yêu thương. Bất cứ nghĩa cử yêu thương nào cũng làm cho chúng ta lớn lên trong tình yêu thương và giúp chúng ta được thêm một bước đến gần với Thiên Chúa tình yêu. Vì vậy, giúp nhau sửa chữa những lỗi lầm, thiếu sót cũng là một khía cạnh của tình thương, với điều kiện việc sửa lỗi đó phải đặt trên nền tảng đức ái, tức là sửa lỗi anh em chỉ vì tình yêu thương, bởi vì không phải những lý luận sắc bén làm cho người anh em ăn năn hối cải, chỉ có tình thương, lòng nhân ái, thông cảm và tha thứ mới làm cho con người đổi đời mà thôi.

Theo Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
(Nguồn : giaoxuphuly.jcapt.com)