Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

CÂU CHUYỆN CÁI ĐŨA


image

Như tờ Financial Times đã nhận xét, đôi đũa là một trong những thứ thuộc loại kỹ thuật lâu đời nhưng vẫn hoàn toàn tốt và không ai cảm thấy cần phải sửa đổi cả.

Cái kỹ thuật “trưởng thành” của hai cây gậy chuốt nhỏ dùng để gắp thức ăn này hẳn đã được phát minh ra từ nhiều ngàn năm nay. Người ta cũng có một chút sáng kiến cải tiến. Vắt cho nó thật nhọn ở một đầu như đũa của người Nhật để có thể dùng nó làm cái xiên luôn cho tiện. Chuyển cho nó thành vuông để cho nó dễ làm bằng máy. Người ta cũng có thể thay đổi vật liệu. Ðũa cổ truyền thường được chuốt bằng tre nhưng sau người ta làm đũa gỗ, đũa kim loại. Ðũa cũng có thể làm bằng thép đúc, và gần đây nhất đũa được làm bằng nhựa. Cái thời xa xưa, đũa cho các nhà quyền quý còn được bịt vàng, bịt bạc, làm bằng sứ, bằng ngà hay ngay cả bằng ngọc thạch. Người Nhật thích làm đũa sơn mài.



image
Ðũa có lẽ đã phát triển từ thời cổ đại ở Trung Hoa khoảng đời nhà Thương, tức là khoảng 1,766 đến 1,122 trước Công nguyên. Bằng cớ sớm nhất trong khảo cổ học là sáu đôi đũa làm bằng đồng, dài 26cm (10inc) và rộng 1.1 đến 1.3cm, được tìm thấy ở tỉnh Hà Nam, được khẳng định khoảng 1,200 năm trước Công nguyên. Văn bản đầu tiên nhắc đến đôi đũa xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên.
Wikipedia giải thích có lẽ cây đũa đầu tiên được sử dụng để nấu nướng hơn là để ăn. Phải mãi đến thời nhà Hán thì đũa mới trở thành một dụng cụ để gắp thức ăn. Nhưng phải đến nhà Minh thì việc sử dụng đũa mới phổ biến.

Ðũa cũng thay đổi hình dạng tùy theo quốc gia. Tuy phát xuất từ Trung Hoa, đũa thay đổi khi được xuất cảng sang các nước khác.

Ðũa ở Tàu là dài nhất, thường khoảng 25cm, vuông hay tròn một đầu còn đầu kia có thể rộng, bằng hay nhọn. Ðũa Tàu được làm bằng đủ loại vật dụng nhưng thông dụng nhất ngày nay là đũa làm bằng melamine.




Ðũa Nhật ngắn hơn và có đầu chuốt thật nhọn. Ðũa Nhật cổ truyền thường làm bằng tre hay gỗ và thường được sơn mài. Ở Nhật còn có tập tục đũa ông, đũa bà với đũa bà thường ngắn hơn đũa ông. Dĩ nhiên đũa trẻ con là ngắn nhất. Ðũa Nam Hàn ngắn trung bình nhưng có mặt bẹt hơn và thường làm bằng kim loại.



image
Truyền thống đũa Hàn làm bằng đồng hay bạc. Nhiều đôi đũa kim loại của Hàn quốc được chạm trổ ở chỗ cầm tay. Và thường bao giờ cũng đi đôi với cái muỗng nhỏ. Ở Viện bảo tàng Victoria & Albert ở Luân Ðôn, trong khu triển lãm Hàn Quốc, còn có một đôi đũa và muỗng nhỏ bằng bạc chạm trổ tinh vi của một vị tướng được đặt trong một cái túi đeo ngay cổ của các quân nhân ra trận.

Ðũa Việt Nam ta thì đầu tuy có chuốt nhỏ lại nhưng không nhọn hoắt. Truyền thống Việt Nam cho đũa gỗ mun là tốt nhất vì gỗ này càng rửa càng bóng. Ngày nay thì toàn là mun dỏm vì hẳn cây mun đã bị đốn sạch rồi. Việt Nam chúng ta cũng có lẽ là quốc gia duy nhất có đũa cả để xới cơm. Ðũa cả, như chúng ta đều biết rộng bản và dẹp cho dễ quệt cơm.

image
Nhưng chả bao giờ có ai nghĩ đến cải tiến đôi đũa cả. Thế mà mới đây Baidu, một địa chỉ tương đương với Google ở Trung Cộng, đã loan tin là họ đã “upgrade” đôi đũa để biến nó thành một thứ kỹ thuật hitech. Thành ra cũng như chúng ta có smart phone, nay Baidu nói họ đã phát minh ra đũa smart.

Baidu loan báo là sở dĩ sản xuất ra đôi đũa “thông minh” này là để cho nó trở thành “Thành trì cuối cùng” để bảo vệ cho sức khỏe của thực khách ở Trung 
Cộng chống lại những thứ như “dầu ăn nước cống”, hay là các loại thực phẩm kinh hồn khác.

Dầu nước cống, hẳn ai trong chúng ta cũng biết, là loại dầu ăn rẻ tiền làm lậu được chế ra từ các loại dầu thải ra từ các chảo dầu phế thải của các nhà hàng, những ống cống gần nhà hàng và gần các tiệm đồ tể xả thịt. Mới năm ngoái thôi, hơn 20 người đã đi tù ở Trung 
Cộng, hai người bị đến tù chung thân, trong một cuộc ruồng bố về việc sản xuất và bán các loại dầu bẩn thỉu này.
image
Cái đôi đũa mới, có tên là Kuaisou, sẽ cho phép thực khách tự mình bảo đảm là thực phẩm mình ăn được an toàn. Ðược gắn vào đó một số sensor điện tử sẽ bật đèn đỏ khi đụng phải những thứ dầu mà có hơn 25% của một chỉ số cho biết độ tươi của nó. Ðó là nếu chúng ta tin vào Baidu.

Những dữ kiện được đôi đũa smart nhận được sẽ được chuyển sang cho thực khách qua cái smartphone, và dĩ nhiên sẽ phải qua một cái app, một cái ứng dụng đặc biệt. Ðôi đũa này, Baidu khoe, có thể đọc được nhiều cách để xem là thức ăn có tươi không, đo độ acid và các chất dinh dưỡng khác, cũng vẫn theo Baidu. 




image

baidu-kuaisou-chopsticks

Ngoài khả năng đo được những chất dinh dưỡng trong thức ăn, đôi đũa 'smart' này còn cho chúng ta biết liệu nó có quá date hay chưa. Ðôi đũa dĩ nhiên cũng biết đo độ muối trong thức ăn để giúp thực khách điều hòa lượng muối tiêu thụ hàng ngày. Ngoài smart phone, nó còn có thể nối mạng với một cái computer qua wi-fi hay là Bluetooth. 

Có điều nghe ra thì hay lắm nhưng Baidu chưa thấy nói đến ngày nào sẽ cho tung ra thị trường.

Tổng quản trị Robin Li của Baidu tuyên bố hôm thứ tư khi trình làng đôi đũa này là“Trong tương lai, qua đôi đũa của Baidu, quý vị có thể biết nguồn gốc của dầu ăn, nước và tất cả các loại thức ăn khác, liệu nó đã hư chưa và lượng dinh dưỡng của nó là bao nhiêu.”



image

Loại đũa thông minh mới do Tập đoàn Baidu sáng chế

Sở dĩ ông Baidu thấy cần phải có “đũa thông minh” cũng tại vì trong mấy năm gần đây ở Trung Cộng, scandal về thực phẩm là chuyện thường ngày, phải nói là quá thường ngày. Người tiêu thụ ở Trung Cộng hết hốt hoảng vì sữa độc bị lẫn protein từ da thú vật, đến nạn bán hàng 'treo đầu dê bán thịt... chuột', đến các loại bánh bao bị nhiễm chất aluminium ở mức độ nguy hiểm, chưa kể là loại thịt heo được mệnh danh là “heo avatar” vì nó chiếu sáng màu xanh da trời trong bóng tối. Tưởng ăn rau cho an toàn thì lại có giá độc.

Mới đây nhất, một công ty sản xuất burger cho McDonald's đã được quay video trộn thịt hư và lượm burger rớt đất cho vào xài tiếp.

Vụ scandal mà trong nước nay hẳn gọi là scandal khủng là vào năm 2008, khi các công ty sản xuất sữa bột và các loại thức ăn cho baby cho các loại melamine kỹ nghệ vào sữa. Sữa này được dùng để điều chế các loại sữa trẻ em sơ sinh baby formula. Sáu em nhỏ chết ngay tức thời vì sạn thận, hơn 300,000 em lâm bệnh và có lẽ có em tật nguyền suốt đời. Sở dĩ người ta bỏ thêm melamine kỹ nghệ vào sữa là để cho nó có vẻ có lượng chất đạm cao hơn vì sữa đã bị pha loãng, nếu kiểm tra thì có thể không đủ lượng protein đòi hỏi.



image
Ðiều đáng sợ hơn nữa là sở dĩ những nhà sản xuất sữa biết được “mánh lới” này là nhờ một bản nghiên cứu của các vị trong Hàn lâm viện Khoa học cho biết là sữa thêm melamine sẽ đo được độ nitrogen cao. Ðo độ chất đạm trong thực phẩm vốn đơn giản nhất là đo độ nitrogen. Tổ chức Y tế Thế Giới WHO đã gọi vụ này là vụ lớn nhất về an toàn thực phẩm mà họ đã phải đối phó trong những năm gần đây. Một phát ngôn nhân của WHO nói là mức độ của vấn đề chứng minh là “rõ ràng đây không phải là một vụ đơn lẻ, mà một hoạt động đại trà cố tình để đánh lừa người tiêu thụ đơn giản chỉ vì lợi ngắn hạn.” WHO nói rằng cuộc khủng hoảng về niềm tin trong người tiêu thụ ở Hoa lục sẽ khó mà vượt qua.
image
Mà quả thật thế. Một trong những khách hàng của Baidu, khi được hỏi nghĩ sao về những đôi đũa “thông minh” đã thản nhiên trả lời “Tôi nghĩ nếu chúng ta dùng loại đũa này ở nước chúng ta thì rút cuộc chỉ có chết đói mất thôi.”

Chí lý lắm thay.
lloyd Lamb

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2014

MỘT BỮA ĂN



Một hôm, cô gái cãi nhau với mẹ. Sau đó, cô bỏ nhà ra đi. 
Cô ta chạy rất lâu. Thấy phía trước có tiệm mì, lúc đó, cô mới cảm thấy đói bụng. 
Nhưng khi cô sờ vào túi, thì một xu cũng không có. Bà chủ tiệm mì là người tốt bụng, tinh tế. Thấy cô gái đứng đó liền hỏi: 
“Có phải con muốn ăn mì”.
Cô gái trả lời một cách ngại ngùng: - “Nhưng con không mang theo tiền”.
- “Không sao, bà có thể mời con ăn”.
Bà chủ mang đến một tô mì nóng hổi. Cô ta rất cảm kích, mới ăn được một ít, thì nước  mắt đã chảy ra, rơi xuống tô mì. Bà chủ an ủi: - “Con làm sao vậy?”.
Cô gái vừa lau nước mắt vừa nói: - “Con không sao cả, con chỉ cảm kích. Con và bà không hề quen biết nhau, vậy mà bà đối xử với con thật tốt, còn nấu mì cho con ăn nữa. Nhưng con đã cãi lời mẹ và bà đã đuổi con ra khỏi nhà. Bà còn bảo con đừng quay trở lại nữa”. Bà chủ nghe xong, rồi bình tĩnh nói;
“Sao con lại nghĩ như vậy? Con nghĩ thử xem, bà chỉ nấu cho con ăn một bữa, mà con lại cảm kích. Vậy mẹ con đã nấu mười mấy năm cơm gạo cho con ăn, sao con không cảm ơn mẹ mà còn cãi nhau với mẹ”. Nghe xong cô gái lặng người.

Cô ăn hết tô mì một cách vội vã, rồi lập tức chạy vế nhà. Khi về đến nhà, thì thấy mẹ đang đứng chờ cô trước cửa. Vừa thấy cô người mẹ rất vui mừng: - “Mau vào nhà, cơm mẹ đã nấu xong, thức ăn đã nguội hết rồi”. Lúc đó, nước mắt của cô gái lại chảy!

Thử suy nghĩ xem, khi chỉ nhận được một chút ân huệ của người khác chúng ta laị cảm thấy rất cảm kích và biết ơn. Nhưng đối với ân tình của người thân, thì chúng ta lại làm lơ như không hề thấy.

                                                                                *** Lượm Lặt ***

__._,_.__

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

MẸ SẦU BI




"ĐỜI LÀ BỂ KHỔ"
Lm. Đaminh M. Nguyễn P. Long, CSsR

Tháng Chín được đánh dấu bởi những biến cố quan trọng khó quên đã xảy ra trong lịch sử nhân loại chúng ta. Trước hết, theo phụng vụ, chúng ta kính nhớ ngày Sinh Nhật của Đức Trinh NữMaria (ngày 8 tháng 9). Sự chào đời của Mẹ Maria là niềm vinh dự và hy vọng cho toàn thể thụ tạo nói chung, và cho con người nói riêng. Sau đó ta thấy có Lễ Suy Tôn Thánh Giá (ngày 14 tháng 9), và ngay sau đó là Lễ Mẹ Sầu Bi (15 tháng 9). Đó là theo lịch phụng vụ Giáo hội, còn theo lịch sử mới đây, thì mỗi lần bước vào Tháng Chín, thế giới và cách riêng quốc gia Hoa Kỳ, lập tức liên tưởng đến biến cố 9-11 đau thương đã xảy ra tại thành phốNew York cách đây chỉ vài năm. Khách quan nhìn vào, ta thấy những biến cố ấy đều nói lên ý nghĩa củahai tiếng: đau khổ. Vì thế, trong giới hạn khuôn khổ của giấy bút, xin phép cho chúng tôi được cùng với bạn đọc suy gẫm và chia sẻ về “cái đau của người Mẹ” khi Mẹ Maria phải đối diện với những thử thách và biến cố đau thương trong cuộc đời mình.
Là con người, ai ai cũng có những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Đôi khi ta cảm thấy như nỗi buồn còn nhiều hơn cả niềm vui. Chẳng vậy thì người Việt Nam chúng ta đã không có câu: “đời là bể khổ”. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói: “Ngày nào có đau khổ của ngày đó”, và chính Ngài cũng đã phải trải qua định luật cuộc sống ấy. Cuộc đời của Chúa Giêsu là những chuỗi ngày gắn liền với hình ảnh và mầu nhiệm của thập giá. Cuộc đời của Chúa Giêsu đã kết thúc cũng tại trên cây thập giá. Vì thế, mầu nhiệm thánh giá đã trở nên như nguồn cứu rỗi cho toàn thể nhân loại, và hình thù của thập giá đã trở nên rất quen thuộc, nếu không nói là niềm vinh dự, đối với những ai có niềm tin. Nếu người Kitô hữu còn có sự liên hệ mật thiết với mầu nhiệm đau khổ, thập giá, thì huống hồ là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Người mà chính cụ già Simêon trong đền thờ đã nói tiên tri về Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lk 2:35).
Nếu Đức Kitô đã tự đồng hóa mình với thập giá, thì Đức Mari cũng nên một với Con trong việc cứu độ nhân loại qua con đường thập giá. Bởi thế, Giáo hội đã đặt lễ Mẹ Sầu Bị ngay sau ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá, để như muốn nói rằng cuộc đời và con người Mẹ Maria cũng luôn kết hiệp nên một với những nỗi khổ đau của Con. Một số người còn gọi lễ này là Lễ Kính Bảy Sự Thương Khó Đức Mẹ. Có lẽ không một đau khổ nào lớn hơn đau khổ của chính Mẹ Thiên Chúa, Đấng mà theo lời của thánh sử Gioan, “đã đứng kề bên thánh giá Đức Giêsu” trên đồi Can-va-ri-ô. Không ai hiểu con cho bằng người mẹ, và cũng không ai đau khổ hơn người mẹ khi phải chứng kiến sự đau khổ và cái chết của con mình. Như Giêsu Con Mẹ, Maria cũng tự đồng hóa chính mình với mầu nhiệm đau thương của thập giá. Bởi thế, Mẹ đáng được gọi là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Qua việc cử hành thánh lễ này, Giáo Hội muốn mời gọi con cái mình hãy chiêm ngắm hình ảnh của một người Mẹ đau thương vì Con và vì chúng ta; đồng thời, kều mời chúng ta hãy an ủi Mẹ bằng cách bắt chước và yêu mến Mẹ hơn.
Để giúp ta hiểu biết và yêu mến Mẹ hơn, chúng ta cùng nhau suy gẫm lại ý nghĩa của những sự thương khó mà chính Mẹ Maria đã phải mang vì yêu thương chúng ta. Như đã biết, Mẹ có bảy sự thương khó lớn nhất trong cuộc đời làm Mẹ Thiên Chúa:
Thứ nhất, lời tiên tri của cụ già Simêon về một “lưỡi gươm” sẽ đâm thấu lòng Mẹ: “Con trẻ này sẽ làm cho nhiều người vấp ngã hoặc đứng lên, còn bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lk 2:34). Theo Thánh Anphongsô, khi hiện ra với thánh nữ Metinđa, Đức Mẹ đã nói: “Những lời đó của ông già Simeon đã đổi tất cả niềm vui của Mẹ nên phiền sầu cay cực”. Đức Mẹ cũng đã mặc khải cho thánh nữ Brigita biết rằng: “Cả đời Mẹ, không có giờ nào mà Mẹ không cảm thấy bị lưỡi gươm đau khổ của ông già Simeon tiên báo. Mỗi lần trông thấy con, mỗi lần ấp ủ Con, mỗi lần nhìn thấy chân tay Con, là mỗi lần linh hồn Mẹ bị mũi gươm đâm thâu qua, bị nát tan, bị vò xé, vì Mẹ ngỡ là đã nhìn thấy Con Mẹ phải đóng đinh”.
Thương khó thứ hai của Mẹ là khi phải ẵm con vội vã trốn sang Ai-cập. Theo các nhà sử học, thì cuộc hành trình từ Giuđêa sang Ai-cập đã mang lại bao đau khổ cho Đức Maria. Đường dài khoảng 400 dặm, nghĩa là phải đi mất 30 ngày trời, gặp bao nhiêu khó khăn, gian lao. Nghĩ đến thân phận Con Chúa phải chịu chốn trạy vì con người, thì lòng Mẹ đau như thắt. Thánh Gia đã phải sống trên đất khách quê người đến bảy năm, mà theo tác giả Luđônphô Saxa, thì thời gian ấy “Đức Maria rất túng cực, đến nỗi cả mẩu bánh mì cũng không có để cho Chúa Giêsu ăn…”
Thương khó thứ ba xảy ra khi Mẹ bị mất Con lần đầu tiên trong cuộc đời. Thánh Luca nói rằng khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi thì Đức Mẹ và Thánh Giuse đưa lên đền thờ dự lễ, khi về thì bị mất Con. Hai ông bà đã phải vất vả lo âu tìm kiếm Con ròng rã suốt 3 ngày liền. Nhiều nhà thần học cho rằng trong các niềm đau khổ khác, Mẹ Maria vẫn còn có Chúa bên cạnh. Nhưng nỗi đau khổ này lớn hơn cả, cắt xé hơn cả, vì không có Chúa ở bên, không biết Chúa ở nơi nào. Đối với Mẹ Maria, thì ba ngày ấy thật lâu biết chừng nào! Đức Mẹ đã nói với Á Thánh Bienvenue rằng: “Đau khổ của con chưa thấm gì với sự đau khổ của Mẹ khi phải lìa xa Chúa, vắng mặt Chúa ba ngày…”
Thứ tư, Mẹ đau khổ vì nhìn thấy Con mình trên đường thập giá lên đồi Canvê. Không còn nỗi đau nào bằng cái đau của người Mẹ khi thấy Con mình đang bị người đời lên án, đánh đập vô cớ. Theo mạc khải thánh Brigitta, thì khi thấy Mẹ, Chúa Giêsu liền gạt làn máu trên mặt và chăm chú nhìn Mẹ, Mẹ chăm chú nhìn Con. Thánh Anselmô nói: “Lúc ấy Đức Mẹ muốn xông vào để ôm trầm lấy Con mà khóc, nhưng bọn lính đã xô đẩy Mẹ ra”.
Sự thương khó thứ năm của Mẹ là khi chứng kiến Con mình hấp hối và chút hơi thở cuối cùng trên thập giá. Tin Mừng Thánh Gioan nói rất rõ: “Đứng kề bên thập giá Đức Giêsu có Thân Mẫu Người” (Yn 19:25). Cuộc tử đạo của Mẹ được tóm gọn trong câu trên của thánh sử Gioan. Thử hỏi xem có đau thương nào bằng đau thương của Mẹ không? Mẹ đứng đó ngắm nhìn từng vết thương và giọt Máu của Con mình. Theo thánh Giêrônimô, thì “không một vết thương nào trên thân xác Chúa mà không phải là chính vết thương trong Trái Tim Đức Mẹ”. Nỗi đau của Mẹ quá lớn đến độ ngay cả thánh Bênađô cũng phải viết lên rằng: “Chúa nhìn Mẹ và Chúa đau khổ vì thương Mẹ hơn là đau khổ trong thân xác của Chúa”. Chính trong đau khổ tột cùng ấy, mà Mẹ đã cùng với Đức Kitô cứu chuộc loài người, và cũng tại trên núi Can-vê ấy mà Mẹ đã sinh chúng ta một lần nữa.
Thương khó thứ sáu là khi chính tay Mẹ ôm lấy xác chết của Con mình. Cũng chính con người Giêsu khi xưa Mẹ đã bồng ẵm trên tay tại hang Bêlem, thì nay trên tay Mẹ chỉ là một xác chết đẫm máu. Như vậy, Mẹ đã hiện diện và ôm lấy hai cái chết của Con mình: một là cái chết về bản tính thần linh của Thiên Chúa khi Người mặc lấy xác phàm; hai là cái chết về bản tính loài người khi Đức Giêsu chịu chết treo trên thập giá. Chính cảnh tượng của người Mẹ ôm xác con ấy đã trở nên cảm hứng cho rất nhiều họa sĩ danh tiếng trên thế giới, nhất là của nhà điêu khắc chứ danh Michael Angelo. Một hôm Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Brigitta và nói rằng: “Khi xác Đức Giêsu được tháo ra khỏi thánh gá, thì chính Mẹ đã vuốt mắt cho Con, rồi ôm Con vào lòng mà khóc nức nở…”





Sự thương khó thứ bảy mà Giáo Hội tưởng nhớ đến đó là khi táng xác Chúa Giêsu. Trong nghi thức cuối cùng này, chính Mẹ Maria đã hiện diện và trực tiếp tham gia. Đức Mẹ đau buồn khóc lóc thảm thiết, khi thấy mồ đá đã được lấp kín bằng một tảng đá lớn, bởi từ nay Mẹ không còn trông thấy Con nữa… Theo thánh Bênađô thì nỗi phiền sầu của Đức Mẹ lúc bấy giờ rất là bao la thảm đạm. Các môn đệ và các phụ nữ đạo đức còn khóc thương Đức Mẹ hơn cả khóc thương Đức Chúa Giêsu nữa. Và trên đường từ nấm mộ trở về, khi Mẹ đi ngang qua cây Thánh Gia nơi đã treo xác Con mình, thì Mẹ đã dừng lại để thờ lạy Thánh Giá lần đầu tiên. Bởi thế, người đầu tiên trong nhân loại đã thờ lạy và hôn kính Thánh Giá Đức Giêsu chính là Mẹ Maria, Người Mẹ Sầu Bi.
Suy niệm và học hỏi về những sự thương khó của Đức Mẹ giúp ta thêm lòng yêu mến và tri ân Mẹ hơn. Chắc chắn nếu phải kể hết tất cả sự thương khó của Đức Maria thì không giấy bút nào có thể diễn tả hết được. Cuộc đời Mẹ là những chuỗi ngày đau khổ kết hợp với Con yêu dấu. Và cho đến ngày hôm nay, tuy đã về trời, Mẹ Maria vẫn còn tiếp tục phải chịu bao đau khổ khi chứng kiến biết bao hận thù, chia rẽ, chiến tranh, giữa đoàn con cái của mình. Nhưng nỗi thống khổ lớn nhất của Mẹ có lẽ vẫn là việc trầm luân của biết bao linh hồn đang sống trong tội lỗi và sẽ sa xuống hỏa ngục. Lời nói tiên tri của cụ già Simêon khi xưa quả rất hiện thực, vì con tim của Mẹ vẫn không ngừng bị bao lưỡi đòng đâm thấu, và người đâm thấu tâm hồn Mẹ lại chính là những đứa con mà Mẹ đã một lần sinh ra trong ân sủng.
Trong số những đứa con phản nghịch ấy, phải chăng có tôi và các bạn?


(Nguồn : tinmung.n


Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

Thánh Giá Chúa là nguồn phúc vinh
 (Ga 3, 13-17) 

           Ngày 14 tháng 9, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa với niềm vui vì được cứu độ. Ngày hôm nay, Thánh Giá được trình bày cho các tín hữu không phải dưới khía cạnh khổ đau, hay nặng nề thiết yếu của cuộc sống cần phải vác theo Đức Kitô, nhưng dưới khía cạnh vinh quang, như cái cớ để tự hào và không có khóc lóc. Lễ này khởi đi từ hai sự kiện lớn là khánh thành là cung hiến đền thờ Calvario và Mộ Thánh ở Thánh Địa do bà Helena, mẹ vua Constantin (khoảng năm 270, 280 đến 337 ), hoàng đế Roma cho xây cất năm 335. Ngày 14 tháng 9 còn là ngày mừng vì tìm được Thánh Giá thực vào 14 tháng 9 năm 326.
            Cuộc chiến thắng của người Kitô giáo trước quân Ba Tư vào thế kỷ thứ VII, giúp tìm lại Thánh Giá Chúa và cung nghinh về Giêrusalem là sự kiện thứ hai. Từ đó, ở Giêrusalem có lễ Suy Tôn Thánh Giá vào ngày 14 tháng 9. Tuy nhiên với dòng thời gian, lễ này có một ý nghĩa riêng, vì được cử hành với niềm vui của mầu nhiệm Thánh Giá, một khí cụ man rợ và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, được Đức Kitô dùng để cứu độ thế gian.
          Điều này được phản ánh trong các bài đọc. Thánh Phaolô coi Thánh Giá là động lực lớn lao để « tán dương » Đức Kitô : « Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang» (Pl 2, 8 -11). 
        Thánh Gioan lại đề cập đến Thập Giá là khí cụ để cứu độ con người : « Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời » (Ga 3, 14).
           Như thế, Thánh Giá là Niềm Hy Vọng độc nhất trong Vinh Quang toàn thắng của Đức Kitô, Thánh Giá ban tặng cho nhân loại ơn sủng và ơn tha thứ. Nên « chúng ta phải hãnh diện về thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nơi Người, ta được giải thoát, được sống và được sống lại ; chính Người giải thoát và cứu độ ta » (Ca nhập lễ).
           Giáo hội cử hành lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa, nhờ Đấng bị đóng đinh, chúng ta được đưa về trời cao, vứt bỏ sau lưng tội lỗi thế gian để đạt tới sự thiện trên trời. Chúng ta hát mừng Chúa sống lại hiển vinh, vì bởi cây Thánh Giá niêm hân hoan tràn ngập khắp địa cầu. Còn hạnh phúc nào hơn từ cây Thánh Giá ; vì chính nhờ cây Thánh Giá, nguồn vinh phúc, ơn cứu độ chúng ta được phục hồi. Thật vậy, nếu không có cây Thánh Giá, Đức Kitô đã không bị đóng đinh, sự sống đã không bị treo lên gỗ giá, máu và nước, nguồn suối trường sinh đã không chảy ra từ cành sườn để rửa sạch tội lỗi thế nhân, bộ mặt kẻ tội lỗi đã không bị lột trần, chúng ta sẽ không được tự do và không được hưởng nhờ ơn phúc từ cây sự sống. Nếu như không có Thánh Giá, thiên đàng không được mở, sự chết không bị chôn vùi, mọi thủ đoạn của hỏa ngục sẽ không được phơi bày ra. Thánh Giá thật cao cả và quí giá biết bao. Cao cả, vì Đức Kitô đã chiến thằng khải hoàn trước mọi đau khổ, Thánh Giá phát sinh sự thiện với biết bao kỳ công. Quí giá, vì Thánh Giá vừa là sự khổ đau vừa là khí giáp của Thiên Chúa. Là khổ đau, vì chính nhờ cây thánh giá Đức Giêsu đã hoàn toàn chịu chết ; là khí giáp, vì ma quỉ đã bị tổn thương và đánh bại, sự chết đã bị Đức Giêsu tiêu diệt vĩnh viễn; cửa Hỏa ngục bị đập tan và Thánh Giá trở nên ơn cứu độ cho toàn thế giới. Thánh Giá được gọi là vinh quang của Đức Kitô, và tán dương Người. Chúng ta nhìn thấy nơi Thánh Giá, chén của ao ước và tất cả mọi khổ đau mà Đức Kitô đã phải chịu vì chúng ta.
       Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc trần gian. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
(Nguồn : dongcong.net)

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

TRUYỆN ĐAU KHỔ TRONG GIA ĐÌNH

 Vì thiếu tìm hiểu, cảm thông...


In
Sống trong gia đình, nên săn sóc cho nhau và tìm hiểu cặn kẽ, đừng vội trách móc, giận hờn.
Thiếu hiểu biết săn sóc kịp thời, là vô tình mình đẩy người mình thương vào cõi chết sớm hơn, do thiếu tìm hiểu, cảm thông và chăm sóc muộn màng.

Truyện: Bộ quần áo cũ của ông bố chồng tôi
          Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh, là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội..., ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.
Hôm nay, đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa, ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách, mang từ Việt Nam sang.
Tôi nhẹ nhàng:
- “Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
- “Nhưng bố thích mặc bộ này!
Tôi bắt đầu cau có:
- “Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.”
Ông già buồn rầu, lập lại:
- “Bố thích bộ quần áo này lắm.”
Tôi cũng cương quyết:
- “Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.”
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
- “Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.
Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.
Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan, không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.

Truyện: Vợ tôi bệnh và lười!
Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường, xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:
- “Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm, nhưng không ngủ được, nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.”
Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này, ai nghe cho được.
Tui định bụng hôm nay về, mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt.
Về nhà, quả nhiên cơm canh không có. Đứa con nhỏ hoảng hốt:
- “Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi. Má bị xỉu, phải cấp cứu.”
Tui vội vã vào nhà thương.
Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay, nó đau nhức, than thở, mà tui nghĩ nó giả bộ, nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.
Bệnh ung thư phát mạnh quá.
Sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương thì không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua, phải ngửi mùi thuốc lá tui hút.
Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp, tay gối bao nhiều năm, mà nó đau đớn, bịnh nặng, tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về, mới nằm liệt ra thôi.
Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện, khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui cóOK không. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm, nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry”, rồi đi ra.
Tui trở vào phòng thăm vợ.
Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:
- “Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cầy mà anh thích đó.
Tui vỗ về:
- “Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm.
Tui ráng nấu mấy món ngon, đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc.
Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la mắng vợ con mỗi ngày, uy quyền lắm, mà bây giờ, mít ướt quá sức …
(internet)

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA DO THÁI GIÁO VÀ HỒI GIÁO





Do Thái giáo có trước Kitô giáo và Hồi giáo, chúng ta không thể xác định nước Hồi giáo nào có số tín đồ nhiều nhất thế giới. Đây là 10 điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo:

1. TÔN THỜ CÙNG MỘT Thiên Chúa

Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều là độc thần giáo, đạo chỉ thờ một thần, đó là Thiên Chúa. Nhiều người hiểu rằng các tín đồ Do Thái giáo và các Kitô hữu cùng tôn thờ một Chúa. Tuy nhiên, có thể họ không biết rằng các tín đồ Hồi giáo cũng tôn thờ một Chúa như họ.

Đức Allah không là tên riêng như một số thần linh khác (Odin, Thor, Zeus, Apollo, Vishnu, hoặc Shiva). Tên Allah không xác định riêng biệt, xa lạ, hoặc vị thần Ả Rập duy nhất. Theo nghĩa đen, Allah chỉ là từ ngữ Ả Rập có nghĩa là “Chúa”. Các Kitô hữu Ả Rập diễn tả Thiên Chúa là “Allah”, họ không có từ ngữ nào khác để diễn tả Thiên Chúa. Kinh Koran (Quran, Qu’ran) là sách thánh của Hồi giáo nói về Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Chúa Giêsu, và các nhân vật khác. Khi làm vậy, chính Kinh Thánh Hồi giáo xác định Chúa của Muhammad, Chúa của Đức Giêsu, và Chúa của Ít-ra-en đều là MỘT Thiên Chúa. Thiên Chúa của Hồi giáo cũng là Thiên Chúa của Do Thái Giáo và Kitô giáo, Allah cũng chính là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-sa-ác, và Gia-cóp.

Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo được coi là các tôn giáo truyền thống Áp-ra-ham, thế nên cả ba tôn giáo có chung nguồn gốc, bắt nguồn từ Tổ phụ Áp-ra-ham. Hồi giáo được Muhammad thiết lập tại Ả Rập hồi thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, cả người Do Thái và Ả Rập đều được gọi là “người Sê-mít” (Semitic), là dòng dõi của Shem, con trai ông Nô-ê.

2. KHÔNG TIN CHÚA GIÊSU NHƯ KITÔ GIÁO

Kitô giáo là tôn giáo độc thần theo truyền thống Áp-ra-ham, cùng tin một Thiên Chúa tối cao và là anh em với nhau. Tuy nhiên, niềm tin Kitô giáo cũng duy trì đặc tính tôn giáo duy nhất về Đức Giêsu Kitô, điều này đưa ra một điểm tương đồng khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo: Không chấp nhận niềm tin Kitô giáo về Chúa Giêsu. Niềm tin Kitô giáo như vậy tin thần tính của Chúa Giêsu, sự sống lại của Chúa Giêsu, vai trò duy nhất và cương vị của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ, các tín đồ Do Thái giáo và Hồi giáo không chỉ coi đó là sai lầm mà còn là phỉ báng. Kitô giáo tin rằng chính Ngôi Hai Thiên Chúa (Đức Giêsu Kitô) hóa thân làm người. Do Thái giáo và Hồi giáo coi đó là vô lý (họ cho rằng Thiên Chúa không mặc xác phàm), là tôn sùng ngẫu tượng (vì đặt con người ngang hàng với Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa).

Từ viễn cảnh của Do Thái giáo và Hồi giáo, việc tin Chúa Giêsu như vậy là mâu thuẫn với thuyết độc thần mà cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều cương quyết không nhượng bộ về đức tin. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Thiên Chúa là Một Ngôi duy nhất, chứ không là Ba Ngôi. Họ cho rằng Kitô giáo tin Chúa Ba Ngôi (Tam Vị Nhất Thể, Trinity) là không thể chấp nhận. Hồi giáo coi Chúa Giêsu chỉ là một ngôn sứ vĩ đại chứ không là gì hơn. Do Thái giáo có cái nhìn mơ hồ hơn về vấn đề này, họ coi Chúa Giêsu là vị cứu tinh thất bại, hoặc là một tiên tri giả. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Chúa Giêsu không là Đấng cứu độ, không là thần linh, không sống lại, không là Thiên Chúa nhập thể hoặc là Con Thiên Chúa theo bất kỳ nghĩa nào. Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều đồng ý như vậy.

3. TIN CÓ CÁC THIÊN THẦN



Nhãn quan tôn giáo của Do Thái giáo và Hồi giáo đều có vị trí cho những vị không là phàm nhân, thường được đề cập là các “thiên thần”, các thụ tạo siêu nhiên được Thiên Chúa dựng nên để làm sứ giả của Ngài.

Cả sách Tanakh (Kinh Thánh Do Thái) và sách Talmud (văn chương giáo sĩ Do Thái) đầy các vấn đề liên quan cá hoạt động của các thiên thần, kể cả các Tổng lãnh Thiên thần Gáp-ri-en, Mi-ca-e, và các thiên thần vô danh khác. Cũng vậy, Kinh Koran nói về các thiên thần là các sứ giả của Thiên Chúa, kể cả Mikail (Mi-ca-e), Israfil (Ra-pha-e), và các thiên thần khác. Thật vậy, chính thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã mặc khải kinh Koran cho Muhammad. Có điểm tương tự khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo là sự cảnh báo nghiêm túc về việc coi các thiên thần là các đối tượng để tôn thờ, hoặc coi các thiên thần là Thiên Chúa. Làm vậy là phạm tội thờ ngẫu tượng.

4. TIN LỜI CÁC TIÊN TRI VÀ SỰ MẶC KHẢI

Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin rằng Thiên Chúa giao tiếp trực tiếp với loài người qua các ngôn sứ, hoặc những người được Thiên Chúa tuyển chọn làm “phát ngôn viên” để làm “nhịp cầu” giữa Thiên Chúa với cộng đồng. Ngược với cách dùng thông thường, thuật ngữ “ngôn sứ” không nói tới người dự đoán tương lai, mà chỉ có nghĩa là “người nói thay Thiên Chúa”.

Đối với Do Thái giáo, Mô-sê là ngôn sứ “cao cấp”, vì qua Mô-sê mà Thiên Chúa mặc khải các điều răn và giáo huấn, nền tảng của giao ước được Thiên Chúa thiết lập với dân Ít-ra-en trên Núi Sinai. Năm cuốn sách đầu tiên của Cựu ước gồm điều này, gọi là “Ngũ Kinh” (năm sách của Mô-sê, Torah). Phần thứ hai (hoặc phần giữa) gọi là Nevi’im (ngôn sứ), gồm các sách của các ngôn sứ trong lịch sử sau đó của dân Ít-ra-en như Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, I-sai-a, và các ngôn sứ khác.

Đối với Hồi giáo, Muhammad là ngôn sứ được Thiên Chúa mặc khải kinh Koran (đọc, kể), sách thánh mà các tín đồ Hồi giáo tôn kính là Lời Chúa và là mặc khải cuối cùng truyền lại cho nhân loại. Do đó, ngôn sứ Muhammad được người Hồi giáo coi là tiên tri cuối cùng làm phát ngôn viên của Chúa nói với nhân loại. Hồi giáo chân nhận tính thực tế và giá trị của các mặc khải trước mà Thiên Chúa nói với các dân tộc ngày xưa. Kinh Koran chân nhận Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, Đức Giêsu, và các nhân vật khác (kể cả các nhân vật không có trong Kinh Thánh) là các ngôn sứ đích thực mà Thiên Chúa nói với họ, ngay cả với Muhammad là người cuối cùng được thêm vào danh sách này, sau khi các lời tiên tri và mặc khải được khép lại.

Dĩ nhiên, họ có những điểm chung về mặc khải và tiên tri, nhưng vẫn có các điểm dị biệt quan trọng giữa ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Hồi giáo chấp nhận tính hợp pháp của các mặc khải trước như vậy vì có cả trong Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo, các Kinh Thánh này bị “biến dạng” theo thời gian, cả Ngũ Kinh và Phúc Âm, cho tới chúng ta ngày nay, không còn phản ánh chính xác bản văn gốc của các mặc khải. Điều này nghĩa là Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo không còn nguyên bản, Do Thái giáo và Kitô giáo dựa trên Kinh Thánh đó, các tôn giáo bối rối với các sai lỗi. Theo quan điểm Hồi giáo, việc mặc khải kinh Koran là để sửa các sai lỗi đó và sự sai lệch có trong Kinh Thánh cổ – chẳng hạn, không công nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Con Thiên Chúa, hoặc Đấng cứu độ phục sinh. Hồi giáo tin Đức Giêsu là một ngôn sứ vĩ đại hoặc sứ giả của Thiên Chúa, chứ không là Thiên Chúa hoặc thần linh.

Dĩ nhiên, Do Thái giáo hoàn toàn đồng ý với Hồi giáo rằng Đức Giêsu không là Đấng cứu độ hoặc Thiên Chúa nhập thể. Mặt khác, Do Thái giáo không đồng ý với Hồi giáo về việc tin Muhammad là ngôn sứ thật, hoặc kinh Koran là mặc khải thật. Do Thái giáo không đồng ý khi Hồi giáo nói rằng kinh Koran không thể sai lầm và để “sửa” các lỗi có trong Kinh Thánh của Do Thái giáo. Vì thế, chắc chắn vẫn có vấn đề quan trọng, ngay cả các vấn đề thần học không thể tranh luận mà người Do Thái giáo và Hồi giáo “không thống nhất”. Về nền tảng, cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin một Thiên Chúa (cùng một Thiên Chúa), Đấng mặc khải chính Ngài cho nhân loại bằng cách nói với họ qua các ngôn sứ. Được Thiên Chúa chọn làm “phát ngôn viên” của Ngài, các ngôn sứ đã nói nhiều sứ điệp của Thiên Chúa đối với cộng đồng.

5. TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI, NGÀY PHÁN XÉT, THIÊN ĐÀNG VÀ HỎA NGỤC

Các Kitô hữu cũng tin như vậy, và có sự tương đồng với cả ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Các chi tiết đặc biệt có thể khác nhau trong mỗi tôn giáo hoặc giáo phái. Do Thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo tin khác nhau một chút về những điều liên quan tư tưởng tôn giáo về sự sống đời sau và thận thế. Các tư tưởng được chấp nhận mới đầu được phát triển trong Do Thái giáo, rồi cả Kitô giáo và Hồi giáo đều thừa hưởng, tin rằng sẽ có ngày Thiên Chúa cho kẻ chết sống lại, và có cuộc phán xét các linh hồn. Những người công chính sẽ được hưởng phúc trường sinh trên Thiên đàng, còn những người không công chính sẽ bị phạt đời đời trong Hỏa ngục.

Có những cách hiểu khác nhau trong ba tôn giáo chính của người Sê-mít (không kể các nhóm phân chia của họ). Nhưng phần cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các dạng thần học riêng. Niềm tin về “những điều cuối cùng” cũng làm cho ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham khác với các tôn giáo lớn trên thế giới, có thể duy trì niềm tin nền tảng và khác nhau về sự sống đời đời, hoặc số phận cuối cùng của con người (chẳng hạn, Ấn giáo, Phật giáo, và đạo Sikh tin có sự tái sinh).


6. COI GIÊRUSALEM LÀ THÀNH THÁNH

Dĩ nhiên Kitô giáo cũng coi Giêrusalem là thành thánh. Khó có thể nói tầm quan trọng chính đối với Do Thái giáo về thánh thánh Giêrusalem. Thủ đô của Ít-ra-en ngày nay, một trong các thành phố cổ xưa nhất thế giới, là Giêrusalem. Thành phố này đã được vua Đa-vít xây dựng gần 3000 năm trước (khoảng năm 1000 trước công nguyên). Vua Sa-lô-môn, con vua Đa-vít, đã xây dựng đền thờ đầu tiên tại đó, làm cho Giêrusalem là trung tâm tôn giáo của Do Thái, mặc dù Đền thờ này đã bị phá hủy hai lần (lần đầu bị người Babylon phá vào năm 586 trước công nguyên, được tái xạy dựng rồi lại bị người Rôma phá hủy vào năm 70 sau công nguyên). Ngày nay, Đền thờ Giêrusalem vẫn là nơi lịch sử tôn giáo có ý nghĩa đối với Do Thái giáo. Đền thờ Núi (nơi nguyên thủy của cả hai Đền thờ), với bức tường phía Tây nổi tiếng, gọi là “Bức tường Khóc than” (di tích cũ), hàng năm có hàng ngàn du khách đến cầu nguyện, người Do Thái coi đây là nơi thánh nhất thế gian này.

Thành phố Mecca ở Ả Rập Saudi là nơi sinh của ngôn sứ Muhammad, cũng là nơi nổi tiếng gọi là Hajj (chạy trốn, di trú) để hành hương tới Mecca (một trong năm “cột trụ” của Hồi giáo, mọi tín đồ Hồi giáo đều phải hành hương tới Mecca ít nhất một lần trong đời). Đối với các tín đồ Hồi giáo, Mecca là thành thánh. Gần đó có thành phố Medina, nơi có mộ của Muhammad và nơi trú ẩn mà Muhammad cùng các bạn đã trốn khi bị bách hại ở Mecca. Do đó, Medina được coi là thánh địa thứ nhì của Hồi giáo.

Đối với Hồi giáo, thành Giêrusalem là nơi thánh. Thật vậy, đó là nơi thánh thứ ba của Hồi giáo, sau Mecca và Medina. Hồi giáo chấp nhận sự mặc khải của Thiên Chúa đối với các ngôn sứ trong lịch sử, kể cả lịch sử theo Kinh Thánh, và Giêrusalem được coi là thành thánh đối với các ngôn sứ thời kỳ đầu.

Thành Giêrusalem cũng nổi bật trong câu chuyện về cuộc hành trình đêm và việc bay lên của Muhammad, Tổng lãnh Thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã đưa Muhammad từ Mecca tới Giêrusalem (để cầu nguyện), rồi lại đưa ông từ Giêrusalem lên trời (để gặp gỡ và đối thoại với các tiên tri thời trước), chuyện xảy ra chỉ trong một đêm. Giêrusalem cũng là qibla (phương hướng) đầu tiên mà các tín đồ Hồi giáo được dạy trong khi cầu nguyện, tới mặc khải sau đó được Muhammad thuật lại cách đổi hướng để người Hồi giáo từ Giêrusalem tới Mecca. Ngày nay, Đền thờ Núi tại Giêrusalem là nơi thánh có Bức tường Than khóc phía Tây – di tích còn lại duy nhất của Đền thờ thứ nhì cùa Do Thái giáo – nhưng cũng là Đền thờ al-Aqsa của Hồi giáo, kể cả Mái vòm của Đền thờ Đá.

Đá này là Đá Tảng của Đền thờ mà người Do Thái tin là nơi thánh của Đền thờ, nơi cực thánh của Do Thái giáo. Hồi giáo tin Mái Vòm Đá tại Giêrusalem là nơi Muhammad đã được “di chuyển” trong đêm kỳ diệu. Đền thờ al-Aqsa gần đó là nơi cực thánh thứ ba để người Hồi giáo cầu nguyện, sau Đền thờ Vĩ đại tại Mecca (nơi hành hương) và Đền thờ Tiên tri tại Medina (có mộ Muhammad).

7. NAM GIỚI PHẢI CẮT BÌ

Trong Kinh Thánh, Áp-ra-ham được Thiên Chúa truyền lệnh cắt bì, dấu chỉ giao ước thánh được thiết lập. Yêu cầu này được truyền cho con cháu nam giới của Áp-ra-ham. Nam giới Hồi giáo cũng giữ luật này một thời gian dài. Theo “Ngũ Kinh” (năm cuốn dầu của Cựu ước), các trẻ nam Do Thái được cắt bì vào ngày thứ tám kể từ lúc sinh. Dịp này gọi là bris (tức là “giao ước cắt bì”), có cử hành nghi lễ tôn giáo. Việc này được làm bởi một chuyên gia Do Thái, gọi là mohel (người cắt bì), sau đó có một bữa ăn. Kinh Koran không đòi buộc cắt bì, nhưng việc cắt bì cho nam giới vẫn được kể đến trong bộ sựu tập hadith (do Muhammad biên soạn, các tín đồ Hồi giáo coi đó là bản hướng dẫn đáng tin cậy để hiểu và xử sự). Chính Muhammad cũng được cắt bì, kể cả các tiên tri trước cho tới Áp-ra-ham. Cắt bì nam giới (gọi là khitan hoặc tahara) là tiêu chuẩn trong Hồi giáo từ những ngày đầu. Đa số các tín đồ Hồi giáo coi đó là nghi thức bắt buộc, ngay cả những người không áp dụng cũng coi đó là việc xứng đáng và rất nên giữ.

8. CẦU NGUYỆN NHIỀU LẦN TRONG NGÀY

Dĩ nhiên, người ta có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào, bao nhiêu lần cũng được. Nhưng trong Do Thái giáo và Hồi giáo, số lần cầu nguyện chính thức được ấn định mỗi ngày: Năm lần – sáng sớm, trưa, chiều, tối, và đêm. Việc cầu nguyện là một trong Năm Cột Trụ của Hồi giáo, bắt buộc đối với mọi tín đồ Hồi giáo. Khi cầu nguyện, họ phải tìm nơi thích hợp (nếu có nhà thờ thì tốt nhất, nhưng không cần thiết). Năm lần cầu nguyện trong ngày là việc bắt buộc, nếu ai bỏ vì lý do gì thì phải cầu nguyện bù vào. Khi cầu nguyện, các tín đồ Hồi giáo phải quay mặt hướng về thánh địa Mecca (ở Ả Rập Saudi), và cầu nguyện theo nghi thức. Ngôn ngữ chính là tiếng Ả Rập, ngôn ngữ của kinh Koran.

Cũng vậy, người Do Thái cũng ấn định số lần cầu nguyện trong ngày – sáng, chiều, và tối. Cả Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo bảo thủ đều bắt buộc cầu nguyện mỗi ngày ba lần, còn Do Thái giáo cải cách và Do Thái giáo kiến thiết lại không bắt buộc, cho phép tùy ý mỗi cá nhân.

9. GIỮ LUẬT ĂN UỐNG

Người ta đa số đều không biết rằng các tín đồ Do Thái giáo giữ “luật kosher”, nghĩa là họ chỉ ăn thực phẩm “kosher”. Chẳng hạn, phải tránh thịt hèo vì thịt heo không là “thực phẩm kosher”. Tương tự, các tín đồ Hồi giáo cũng chỉ ăn các thực phẩm “halal” (được phép), và tránh các thực phẩm “haram” (cấm). Tại Hoa Kỳ, những nơi có nhiều người theo Do Thái giáo và Hồi giáo, người ta thường ghi ở các cửa hàng: Thịt kosher hoặc tạp hóa halal. Chữ kosher nghĩa là “đúng luật”. Luật Do Thái giáo rút ra từ “Ngũ Kinh”, cho biết loại thực phẩm nào là “đúng luật”. Trong thực tế, điều này có thể khá phức tạp, nhưng những người giữ luật Do Thái giáo phải giữ – gọi là luật kashrut (đúng, riêng) – được liệt kê trong “Ngũ Kinh”. Các thực phẩm cấm như thịt heo và hải sản (cua, tôm, sò, ốc,…) vì chúng “không tinh sạch”. Các loại thực phẩm khác phải được chuẩn bị theo “đúng nghi thức”. Chẳng hạn, các loại máu phải rút ra khỏi thịt trước khi nấu hoặc ăn (loại thịt “kosher” bảo đảm quá trình này), thịt và sữa không được trộn hoặc ăn chung với nhau (loại hamburger thì không sao, nhưng thịt băm có phô-mai thì không là thực phẩm “kosher”). Nhiều gia đình Do Thái có các loại dụng cụ riêng (dao, bình, hũ, nồi, soong, chảo,…), đôi khi dành riêng biệt cả bồn rửa và tử lạnh, làm vậy để bảo đảm không phạm luật. Tuy nhiên, những người theo Do Thái giáo chính thống không giữ nghiêm ngặt như vậy, nhiều người theo Do Thái giáo cải cách vẫn giữ đúng nghiêm luật.

Hồi giáo cũng có một số luật về ăn uốgn. Kinh Koran cấm ăn thịt heo và uống rượu (kể cả các chất có men). Luật Hồi giáo rút ra các hướng dẫn từ kinh Koran, phân biệt các dạng thực phẩm “halal” và “haram”. Rượu, thịt heo, máu, động vật giết mổ không đúng cách, và một số thực phẩm được phân loại là “haram” hoặc không được phép. Có những điểm tương đồng và dị biệt giữa các thực phẩm “kosher” và “halal”. Chẳng hạn, cả những người Do Thái giáo và Hồi giáo đều không được ăn thịt heo. Mặt khác, người Do Thái giáo không được ăn hải sản, nhưng đa số người Hồi giáo lại được ăn (tùy giáo phái). Ngược lại, người Hồi giáo không được uống rượu, nhưng người Do Thái giáo lại có thể uống rượu.


10. TÁCH RIÊNG NAM VỚI NỮ KHI THỜ PHƯỢNG

Trong Do Thái giáo, việc ngồi riêng như vậy còn tùy giáo phái. Tại các nhà thờ Do Thái giáo chính thống, nam giới và nữ giới Do Thái có chỗ riêng biệt (phụ nữ thường ở trên lầu), tại các nhà thờ Do Thái giáo cải cách thí không phân biệt nam nữ.

Trong Hồi giáo, luôn có sự phân biệt giới tính trong khi cầu nguyện, nhưng tục lệ đặc biệt này thay đổi tùy văn hóa và tùy nơi. Thường chỉ có nam giới cầu nguyện tại các đền thờ, còn phụ nữ cầu nguyện ở nhà. Có nơi phụ nữ có thể cầu nguyện ở đền thờ, nhưng thường ở phòng cầu nguyện phía sau (khác chỗ với nam giới) hoặc ở một nơi riêng khác, đôi khi là nơi khuất, hoặc ở trên lầu.

Dĩ nhiên có những điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo có thể ngoài danh sách này. Đối với cả hai tôn giáo, một ngày bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, chứ không là nửa đêm hoặc rạng đông. Mỗi tôn giáo có âm lịch riêng, khác hẳn với dương lịch tiêu chuẩn theo Tây phương hoặc lịch Grê-gô-ri-an. Để tỏ lòng sùng đạo, đàn ông Do Thái giáo và Hồi giáo thường đội mũ chỏm, gọi là “yarmulkes” (tiếng Yiddish) hoặc “kippahs” (tiếng Do Thái), còn đàn ông Hồi giáo thường dùng “mũ cầu nguyện”, gọi là “kufi” hoặc “taqiyah”. Có thể hai tôn giáo này không khác nhau về những điểm cơ bản.

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
(Nguồn : vietcatholic.net)

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

VẠ TUYỆT THÔNG LÀ GÌ



                                                                                             Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
           Linh mục chịu chức giám mục bất hợp pháp cùng với các giám mục phong chức đều bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết theo điều 1382 của Bộ Giáo luật.

           Sau những vụ truyền chức giám mục bất hợp pháp tại Trung Quốc, Toà Thánh công bố những người chịu chức giám mục như vậy đã mắc vạ tuyệt thông. Nhiều người hỏi vạ tuyệt thông là gì.

Để trả lời, phải tìm hiểu hai điều: 
1. Các thánh thông công. 
2. Vạ tuyệt thông.


1. Các Thánh cùng thông công.


         Trên nguyên tắc, tất cả những ai được rửa tội, đều là thánh, vì đã được sạch tội tổ tông và tội riêng. Các thánh là tất cả những người Công Giáo, vì thế ân huệ có thể thông truyền cho nhau. Nên:

         Tất cả các tín hữu còn sống hay đã qua đời - đã được lên thiên đàng (paradis) hay còn đang ở luyện tội (purgatoire) - đều có liên lạc mật thiết. Đó là tín điều (dogme) các Thánh cùng thông công.

- Các tín hữu còn sống làm thành Giáo Hội chiến đấu.

- Các Thánh trên thiên đàng làm thành Giáo Hội khải hoàn.

- Các linh hồn trong luyện tội làm thành Giáo Hội đau khổ.

Các tín hữu tôn kính, cầu xin các Thánh. Còn các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Thiên Chúa.

Các tín hữu làm việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn. Còn các linh hồn cầu bầu cùng Chúa cho các tín hữu còn đang sống.

Các tín hữu đều thông công với nhau: mỗi người đều có quyền hưởng nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của tất cả những người khác.


2. Vạ tuyệt thông (hay dứt phép thông công, rút phép thông công) 

             Nghĩa là không còn được hưởng những ân huệ của “các thánh thông công” nữa, nhưng chỉ là một hình phạt của Giáo hội Công giáo Rôma dành cho những giáo sĩ và giáo dân phạm trọng tội. Khi một người bị tuyên án vạ tuyệt thông thì về bản chất, người ấy bị tách rời ra khỏi sự "hiệp thông" với những tín hữu khác trong Giáo hội, về hình thức là bị khai trừ khỏi tổ chức Giáo hội. Tuy nhiên, vạ tuyệt thông không phải là Thiên Luật (luật của Chúa) mà là Nhân Luật (giáo luật của Giáo hội), nên vạ tuyệt thông không ảnh hưởng đến mối liên hệ riêng rẽ giữa cá nhân người bị vạ với Thiên Chúa. Hình thức Có hai hình thức vạ tuyệt thông:


• Vạ tuyệt thông tiền kết: được ấn định cho một số tội. Ngay sau khi phạm, đương sự lập tức bị vạ, không cần Giáo hội phải ra công bố. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn bảy loại vi phạm bị chế tài Vạ tiền kết.


1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

6. Cha giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh. Trong bảy qui định vạ trên đây, năm loại vạ chỉ được hoá giải bởi chính Tòa Thánh (2, 3, 5, 6 và 7), còn hai loại vạ kia (1 và 4) có thể được giải do giám mục giáo phận hay những linh mục được các giám mục ấy ủy thác.


• Vạ tuyệt thông hậu kết: được ấn định cho một số tội. Sau khi phạm, đương sự chưa lập tức bị vạ. Đương sự chỉ bị vạ sau khi Giáo hội ra công bố. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn hai loại vi phạm bị chế tài vạ hậu kết.

Hầu hết những trường hợp bị vạ tuyệt thông đều là vạ tuyệt thông tiền kết và người mắc vạ tuyệt thông bị cấm:

1. Không được tham phần bằng bất cứ cách nào như thừa tác viên vào việc cử hành Hy tế Thánh Thể, hay vào các lễ nghi phụng tự nào khác

2. Không được cử hành các Bí tích hay Á Bí tích và lãnh nhận các Bí tích

3. Không được hành sử các chức vụ, tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hay thi hành các hành vi cai trị sau khi vạ tuyệt thông đã bị tuyên kết hay tuyên bố, người bị vạ tuyệt thông thi hành cách vô hiệu những hành vi cai trị nếu trước đó đã được chỉ định; cũng không được lãnh nhận cách hữu hiệu một chức vụ hay nhiệm vụ nào khác trong Giáo hội; cũng không được chiếm hữu cho mình các lợi lộc của bất cứ chức vị, chức vụ hay nhiệm vụ, hưu bổng nào mà đương sự đã có trong Giáo hội.

 Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ