Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

CẦU THANG CỦA THÁNH GIUSE

Tôi theo nhóm người trượt tuyết ngày 31/12/2011 từ Dallas trực chỉ hướng tây bắc tới thành phố Santa Fe, tiểu bang New Mexico, với chủ đích là kiểm chứng ‘Cầu thang Thánh Giuse’ tại nguyện đường Loretta. Đã từ lâu tôi đã nghe nói nhiều về chiếc cầu thang kỳ lạ này, được cho là chính Thánh Giuse kiến tạo, nay có dịp thuận tiện nên mặc dù mùa đông giá lạnh với đường xá nguy hiểm vì băng tuyết, tôi quyết định phải theo nhóm người, vượt ngàn dặm hiểm nguy để có thể tới chứng kiến tận mắt và sờ tận tay chiếc cầu thang có một không hai bên Tây bán cầu này.
Nguyện đường Loretta tọa lạc tại số 207 Old Santa Fe Trail, khởi công xây dựng năm 1873 và tới năm 1878 mới hoàn thành, chiều dài 30 mét 5, chiều ngang 8 mét, chiều cao 21 mét 3. Với kích thước này, cách đây 134 năm, nguyện đường Loretta được coi là một nguyện đường lớn nhất tại Santa Fe, thủ đô tiểu bang New Mexico.
Đức Cha Jean Baptiste Lamy, người Pháp, đã mời kiến trúc sư Antoine Monly và con trai là Projectus Monly từ Paris sang vẽ kiểu và xây Nhà thờ chính tòa St Francis, đồng thời khuyến khích các nữ tu nhờ hai cha con ông Monly xây nguyện đường Loretta theo mô hình nhà thờ Sainte Chapelle tại Paris mà họ đã tham gia trong công tác trùng tu vào đầu thập niên 1800. Theo mô hình phổ thông các nhà thờ bên Âu châu thời đó thì không có cầu thang lên gác lửng dành cho ca đoàn vì cầu thang sẽ chiếm nhiều chỗ trong lòng nhà thờ. Vả lại, vào thế kỷ thứ 19, chỉ có phái nam được hát trong ca đoàn nên họ dùng thang gỗ để leo lên gác ca đoàn mà không cần cầu thang.
Sau khi khánh thành nguyện đường và cha con ông Monly đã rời khỏi thành phố thì thực tế đem lại một vấn đề hết sức nan giải: ca đoàn gồm toàn các nữ tu và nữ sinh với tu phục và váy đầm dài tới gót chân, không thể leo lên gác ca đoàn bằng thang gỗ. Các nữ tu đã mời nhiều tay thợ chuyên nghiệp đến làm cầu thang nhưng sau khi quan sát, đo đạc, tính toán, tất cả đều lắc đầu nói không thể thực hiện được vì gác ca đoàn thì cao, lòng nhà nguyện lại hẹp, cầu thang sẽ chiếm qúa nhiều chỗ kê ghế. Giải pháp còn lại là hoặc vẫn phải dùng thang leo lên gác ca đoàn, hoặc nới rộng nguyện đường dành chỗ làm cầu thang. Và dĩ nhiên, giảp pháp này cũng không thể chấp nhận. Sau cùng, Mẹ Bề Trên Magdalenđưa ra quyết định: khi khởi công xây dựng nguyện đường, công trình được đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse, quan thầy nghề thợ mộc, thì nay khi gặp khó khăn, công việc cũng phải được giao cho Thánh Giuse lo liệu. Trong cuốn niên giám của Dòng còn ghi lời phát biểu của Bà: “Chúng ta tôn kính Thánh Giuse mỗi ngày thứ tư hàng tuần để xin Người trợ giúp, và đã nhiều lần, chúng ta chứng kiến sự can thiệp đầy quyền thế của Thánh Giuse”. Ngay hôm đó, các nữ tu bắt đầu làm tuần 9 ngày xin Thánh Giuse. Sau 8 ngày liên tục cầu nguyện với đầy lòng tin tưởng và phó thác nơi Thánh Giuse thì đột nhiên vào ngày thứ 9, xuất hiện một ông già râu tóc bạc dắt theo một con lừa tới xin làm cầu thang lên gác ca đoàn. Ông thợ mộc chỉ mang theo một ít đồ nghề đơn giản: 1 cái cưa, 1 thước đo hình chữ T và 1 cái búa. Ông cũng không đòi tiền công trước hoặc tiền ứng mua vật liệu. Với tinh thần đơn sơ, các nữ tu nghĩ rằng sẽ thanh toán tiền công và tiền vật liệu sau khi công việc hoàn tất nên không cần hỏi tên tuổi ông thợ. Sau khi giao công việc, vì đức khiết tịnh, các nữ tu không tiện liên lạc với ông và để mặc ông thợ tiến hành công tác, đồng thời tạm dùng một phòng học để cầu nguyện và cử hành phụng vụ.
Sau thời gian 7-8 tháng, các nữ tu được thông báo cầu thang đã hoàn tất nhưng không tìm thấy ông thợ đâu cả: ông thợ đã đột nhiên bỏ đi mà không đòi tiền công và tiền vật liệu, cũng không để lại tên tuổi hoặc điạ chỉ. Các nữ tu đã nhờ tìm kiếm khắp nơi và còn nhắn tin trên các báo địa phương, tuy nhiên, không ai nghe biết về ‘ông thợ kỳ lạ’ này. Sau cùng, Mẹ Bề Trên đã phải đến xưởng gỗ để thanh toán tiền vật liệu, nhưng mọi người làm việc tại đây cho biết không có ai đến mua gỗ làm cầu thang cho nguyện đường. Do không tìm ra tông tích ông thợ ‘huyền bí’ này nên người đương thời đều kết luận đó chính là Thánh Giuse đã đáp lời cầu xin của các nữ tu. Hiện nay, tại Nhà Mẹ các nữ tu Loretta ở tiểu bang Kentucky, trong sách kinh hàng ngày, có hình vẽ ông thợ mộc đầu tóc bạc phơ dắt theo con lừa với túi đồ nghề gồm 1 cái cưa, 1 cây thước và 1 cái búa.
Năm 1971, một trận hỏa hoạn lớn thiêu hủy nhiều ngôi nhà của học viện và khu vực chung quanh. Tuy nhiên, như một phép lạ, nguyện đường Loretto vẫn đứng y nguyên, không hề hấn gì.
Sau hơn 8 giờ lái xe trong đêm với tốc độ trung bình 120 cây số/giờ, chúng tôi tới ranh giới Texas và New Mexico khi trời hừng sáng. Và kìa, trước mặt chúng tôi và hai bên xa lộ 40, trải dài những cánh đồng tuyết chạy mút tới chân trời. Thảm tuyết bao la phản chiếu ánh mặt trời tạo nên một phong cảnh kỳ ảo khiến chúng tôi có cảm tưởng như đang đi trên một hành tinh nào khác trong giải ngân hà. Quả thực, chúng tôi thật may mắn vì mặc dù vào mùa đông, bầu trời New Mexico lúc này trong sáng với mặt trời trên cao tỏa ánh sáng dịu hiền, làm ấm lòng khách viễn du, nhưng không đủ sức nóng để làm tan chảy những cánh đồng tuyết trải dài từ ranh giới Texas tới thành phố Santa Fe.

Chúng tôi tới nguyện đường Loretto kiến trúc theo kiểu Gothic lúc 4 giờ 30 chiều, đúng vào ngày đầu năm dương lịch và phải đợi khá lâu mới đến lượt vào bên trong nguyện đường vì nhiều đoàn hành hương đã tới trước. Có những đoàn từ các tiểu bang miền Bắc như Minnesota, Michigan, từ miền Đông như New York, Pennsylvania. Chúng tôi cũng gặp 1 đoàn người Việt từ California. Đặc biệt có 2 đoàn, 1 từ Canada và 1 từ Pháp. Điều này cho thấy ‘Cầu thang Thánh Giuse’ đã được biết đến khắp nơi, mỗi năm có khoảng 250 ngàn khách hành hương đến nguyện đường Loretta để xem cầu thang, và đúng như nữ tu Januarius, Giám đốc học viện Loretto năm 1960, cho biết du khách từ khắp nơi trên thế giới đến chiêm ngưỡng cầu thang lạ lùng này, trong số đó, có cả kỹ sư, kiến trúc sư, khoa học gia đến tìm hiểu, nghiên cứu và nói rằng họ không thể hiểu làm thế nào một chiếc cầu thang như vậy có thể tồn tại sau gần 1 thế kỷ sử dụng. Quả thực, cầu thang đã thách đố những phân tích khoa học cũng như khoa kiến trúc và ngành thủ công nghệ.
Bước qua cửa vào cuối nguyện đường, du khách sẽ lập tức bị thu hút bởi những tác phẩm nghệ thuật:
-Bàn thờ gỗ được làm từ bên Ý, chạm trổ bằng tay theo kiểu Gothic, rồi sơn cho giống màu đá cẩm thạch. Bàn thờ nguyên thuỷ này được đặt trong nguyện đường từ năm 1910 đến nay, hơn 100 năm vẫn không thay đổi. Phía dưới bàn thờ có khắc nổi hình Bữa Tiệc Ly của Leonardo da Vinci.
-Trong gian cung thánh, phía bên phải gần bao lơn, có tượng Thánh Giuse tay trái cầm cây gậy, tay phải ẵm Chúa Hài Đồng. Cũng trong gian cung thánh, phía bên trái gần bao lơn, có tượng Đức Mẹ ban ơn đứng trên qủa cầu, chân trái đạp đầu con rắn, chân phải có chuỗi Mân Côi và dưới đó là các ngôi sao. Cả hai bức tượng đều có kích thước lớn hơn người bình thường.
-Hai tượng thiên thần bổn mạng đứng 2 bên phía trên bàn thờ và tượng thiên thần ngồi bưng bình nước thánh lớn là công trình nghệ thuật của nhóm nghệ nhân M.M. K. Brokaw nổi tiếng đương thời.
-Tượng Trái Tim Chúa Giêsu, đặt trên tường phía bên trái, tay trái chỉ Trái Tim Cực Thánh, tay phải xuôi xuống với bàn tay mở rộng như ban ơn cho những ai đến với Người.
-Chặng đường Thánh gía hai bên tường biểu lộ nét sinh động của nghệ nhân khi diễn tả được nỗi bi thương của Chúa và Đức Mẹ cũng như sự tàn ác của ‘quân dữ’. Thực ra, chặng đường Thánh gía là do sáng kiến của thánh Phan-xi-cô từ thế kỷ 13 nhằm giúp tín hữu, trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh, sốt sắng nhớ lại hành trình khổ nạn của Chúa khi vác Thập gía lên đồi Can-vê, nhờ đó những người không biết đọc cũng có thể trải nghiệm cuộc thương khó của Người. Khởi đầu, người ta dựng những cây thánh giá nhỏ bằng gỗ ở những khoảng cách khác nhau và tín hữu dừng lại mỗi chặng trong khi suy tưởng về quãng đường thập gía Chúa đã đi qua. Sau cùng, các họa sĩ và các nhà điêu khắc đã vẽ hoặc tạc nên những cảnh sống động về chặng đường khỗ nhục cuả Chúa vác Thánh gía lên đồi để chịu đóng đinh. Phải chính mắt trông thấy những chặng đường Thánh gía tại nguyện đường Loretta, chúng ta mới thấy tài nghệ tuyệt vời của các nhà đúc tượng khi thực hiện những tác phẩm nghệ thuật này. Chặng đường Thánh gía Loretta hiện nay là một kho tàng nghệ thuật vô gía mặc dù được thực hiện từ năm 1800. Tất cả những bức tượng và chặng đường Thánh gía đều bằng đá cẩm thạch nghiền nát, rồi đổ vào khuôn, nung trong lò như kỹ thuật làm đồ gốm, sau đó các nghệ nhân tô vẽ bằng tay.
-Kỹ thuật sơn kính màu tại nguyện đường Loretta đã đạt tới mức hết sức tinh vi, không thua gì các thánh đường nổi danh bên Âu châu như nhà thờ Fatima Bồ Đào Nha, nhà thờ Thánh An-tôn Lisbon, nhà thờ chính tòa Burgos, đại thánh đường Thánh I-nha-xi-ô Loyola Tây Ban Nha, nhà thờ Sacré Coeur, nhà thờ Notre Dame Paris ở Pháp, những nơi mà tôi có dịp viếng thăm trong chuyến hành hương Fatima-Lộ Đức tháng 10 năm 2011. Kính màu trên vòm cửa cuối nguyện đường vẽ biểu tượng của Chúa Giêsu bằng 2 cây Thánh gía đặt chéo lên nhau với ánh hào quang màu xanh dương. Hai bên phía dưới là chữ Hi-lạp Alpha và Omega, nói lên Chúa Ki-Tô là khởi đầu và là sau hết. Cửa kính tròn sau gác ca đoàn có hình bông hồng lớn, được gọi là ‘Rose window’, vẽ chữ M, lồng trên chữ A (Ave Maria), lời chào kính Đức Mẹ Maria vì khi thành lập Hội Dòng Loretto ngày 25/4/1812 tại Kentucky, các nữ tu đã chọn Đức Mẹ làm bổn mạng. Ngoài ra, còn 2 kính màu lớn, một vẽ ảnh Thánh Stanislas ẵm Chúa Hài Nhi, bổn mạng của các tập sinh và các thiếu nữ, một vẽ ảnh Thánh Catherine thành Alexandra tay ôm cành thiên tuế, bổn mạng các trinh nữ và các nữ sinh.
Tuy nhiên, đích điểm của khách hành hương chính là ‘CẦU THANG THÁNH GIUSE’. Thật vậy, suốt thời gian ở trong nguyện đường, lúc nào tôi cũng thấy khách hành hương, hết lớp này đến lớp khác, chăm chú quan sát cầu thang từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào, rồi bàn tán, thảo luận, và đi từ ngạc nhiên đến trầm trồ không tiếc lời khen ngợi. Sau đó, nhiều người đến qùy dưới chân tượng Thánh Giuse cầu nguyện trước khi quyến luyến ra về sau khi đã chụp hàng chục tấm ảnh, hoặc quay phim làm kỷ niệm.
Cầu thang nằm sát tường bên phải, phía cuối nguyện đường, có hình xoắn ốc, vòng 2 lần, mỗi vòng 360 độ, không có cột chịu lực ở giữa. Toàn bộ sức nặng tựa trên chân cầu thang và phần nối với gác ca đoàn.Điều này trái hẳn với nguyên lý về trọng lực (law of gravity) khiến các khoa học gia không sao giải thích được. Kiến trúc sư Urban C. Weidner cũng là chuyên gia nghiên cứu gỗ cho biết ông chưa bao giờ thấy cầu thang hình xoắn ốc bằng gỗ mà không có cột chịu lực ở giữa. Theo ông, nó sẽ sụp đổ ngay khi có người đặt chân bước lên. Thế mà các nữ tu và nữ sinh phải lên xuống cầu thang mỗi ngày một hay nhiều lần để hát phụng vụ. Năm 1959, cả ca đoàn học viện Loretto đứng hát trên các bậc thang mà nó vẫn vững chắc như làm bằng xi-măng côt sắt.
Cầu thang có 33 bậc cùng một kích thước, tượng trưng cho 33 năm Chúa sống ở trần gian, 2 bên các bậc thang không có song chắn an toàn khi lên xuống, cũng không có tay vịn. Một nữ sinh thời gian làm cầu thang mới 13 tuổi, sau vào tu dòng Loretto lấy tên Mary, kể lại rằng chính cô và các bạn là những người đầu tiên bứơc lên cầu thang, nhưng vì sợ qúa nên phải bò lên từng bậc, rồi khi xuống, phải cho hai chân xuống trước, rồi bám bậc phía trên,từ từ trụt xuống. Chính vì thế, sau 7 năm các nữ tu và nữ sinh phải ‘bò lên bò xuống’ các bậc thang để lên gác ca đoàn, Phillip August Hesch, chuyên viên bảo trì nhà thờ chính tòa St. Francis, được mời tới làm tay vịn và song chắn 2 bên cầu thang cũng như quanh gác ca đoàn. Điều đặc biệt là cầu thang không có dù 1 chiếc đinh, hoặc keo dán để liên kết các vật liệu với nhau. Ông thợ ‘bí mật’ đó chỉ dùng các chốt gỗ hình vuông để liên kết một cách tài tình, chính xác và hết sức mỹ thuật.
Cầu thang được ráp nối bằng 93 tấm gỗ, dài từ 0.9 đến 1.5 m, gồm 10 tấm dùng làm sườn phía ngoài (nên có 9 đường nối), 8 tấm làm sườn phía trong (7 đường nối), 33 tấm làm bậc thang, 33 tấm kê giữa 2 bậc thang, phần còn lại dùng làm đoạn vòng dưới chân cầu thang. Kỹ thuật ráp nối thật lạ lùng và tinh xảo, và như trên đã nói, ông thợ không dùng đinh, cũng không dùng keo dán, chỉ nối kết bằng những chốt gỗ hình vuông mà thôi. Kiến trúc sư kiêm chuyên gia nghiên cứu gỗ Urban Weidner đã có nhận xét: một trong những điều làm sửng sốt các kỹ sư và các nhà kiến trúc là những tấm gỗ được ghép nối thành sườn cầu thang với độ cong tuyệt hảo, mỗi tấm gỗ có độ cong thật chính xác, đường ghép nối lại hết sức tinh vi, không tìm thấy một khuyết điểm nào. Ông Weidner vẫn băn khoăn suy nghĩ là một kỹ thuật tinh vi như thế mà vào thập niên 1870, một mình ông thợ mộc với những dụng cụ rất thô sơ, làm thế nào có thể thực hiện được.
Về gỗ làm cầu thang, nhiều chuyên gia đã phân tích, tìm hiểu loại gỗ và xem loại đó xuất xứ từ đâu. Tuy nhiên, không một ai có thể khẳng định là loại gỗ nào để tìm ra xuất xứ của nó. Mặt các bậc thang liên tục bị giẵm lên từ khi hoàn thành cách đây hơn 100 năm, nhưng chỉ mép bậc thang bị mòn đi một chút. Có nhà nghiên cứu cho đây là một loại thông mà thớ gỗ nằm gần vỏ, người khác thì cho là loại thông vàng lá dài. Urban Weidner lại khẳng định loại gỗ ít bị mòn này không hề có tại New Mexico. Việc ông thợ lấy gỗ từ đâu mang về làm cầu thang vẫn còn là một bí ẩn.
Chuyên gia Forrest N. Easley, sinh quán New Mexico, tốt nghiệp ưu hạng tại Đại học Colorado ngành Lâm học và Mộc học, đã từng làm việc cho các cơ quan chính phủ và Hải quân Hoa Kỳ trong 40 năm, đặc trách nghiên cứu và quản trị ngành gỗ. Với thành quả và công trình nhiều năm nghiên cứu, ông là chuyên gia về gỗ nổi tiếng, có uy tín và được mọi người kính nể. Năm 1996, Forrest Easley đã bỏ ra 15 tháng nghiên cứu và phân tích gỗ làm cầu thang Loretto. Ông lấy một mẩu gỗ cầu thang đem vào phòng thí nghiệm và dùng kính hiển vi, kính khuếch đại để quan sát, phân tích tế bào cấu tạo của gỗ. Ông cho biết gỗ có tế bào cấu trúc hình vuông, không giống bất cứ loại gỗ nào hiện có, và cũng không biết rõ nguồn gốc từ đâu. Đây là loại gỗ vân sam (spruce) ‘có một không hai’, vì tất cả các loại gỗ vân sam khác không bao giờ có cấu trúc tế bào hình vuông. Như vậy, chỉ có thể phân loại gỗ này vào giữa nhóm Picea sitchensis và Picea engelmanni. Forrest đề nghị đặt tên khoa học là Pinacae Picea josefìi Easley, còn tên phổ thông nên gọi là gỗ vân sam Loretto.
Giáo Hội luôn luôn thận trọng khi đề cập đến những hiện tượng siêu nhiên mà con người không giải thích được. Cũng trong tinh thần đó, các nữ tu và Giáo quyền tại Santa Fe không muốn đưa ra một tuyên bố khẳng định nào về chiếc cầu thang lạ lùng này, chỉ cho đó là sự đáp ứng của Thánh Giuse đối với lời cầu nguyện và sự phó thác của các nữ tu nơi Thánh Giuse. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nghĩ Thánh Giuse chính là ông thợ đã làm chiếc cầu thang lạ lùng đó.
Truyền thống tôn kính Thánh Giuse đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, từ những thế kỷ đầu, thời các thánh Giáo phụ. Rồi qua các thế kỷ, chúng ta thấy rất nhiều vị thánh đã tỏ ra lòng sùng kính Thánh Cả Giuse cách đặc biệt.
Tiêu biểu nhất, thế kỷ 13 có thánh Margaret Cortona, thế kỷ 14 các thánh Bridget Thụy Điển, thánh Vincent Ferrer, thánh Bernardine Siena. Đặc biệt thế kỷ 16 có thánh Teresa Avila, nữ tiến sĩ đầu tiên của Hội Thánh, là tông đồ nhiệt thành với lòng phó thác tuyệt đối vào Thánh Cả Giuse. Bà đã thành lập 17 tu viện và dâng kính 13 tu viện cho thánh Giuse. Qua kinh nghiệm bản thân của bà về những ơn đã nhận được từ Thánh Giuse, thánh Teresa quả quyết:”Tôi thấy không lần nào xin gì cùng Thánh Giuse mà không được. Dường như Thiên Chúa ban cho các Thánh giúp ta việc này việc nọ. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Những ai không tin lời tôi, hãy thử mà xem”.
Sang thế kỷ 17, Mẹ Đáng Kính Maria Agreda, nữ tu Dòng Thánh Phan-xi-cô, trong mọi khó khăn cũng như nghịch cảnh, lúc nào bà cũng tín thác nơi Thánh Giuse. Trong cuốn sách Thành Trì Thiên Chúa (La mistica ciudad de Dios), bà viết: “Sự cầu bầu của Thánh Giuse thực là mạnh thế, để giúp chúng ta giữ đức trong sạch, gỡ mình khỏi tội lỗi, thêm lòng kính mến Đức Mẹ, được ơn chết lành, khỏi quỷ ma cám dỗ, được sức khỏe phần xác cùng sự cứu trợ trong mọi hoàn cảnh khó khăn”.
Trong thời cận đại, chúng ta có 2 vị Thánh được coi là Tông đồ nhiệt thành hơn cả của Thánh Cả Giuse: Thánh Daniele Comboni và Thánh Andre Bessette. Cả hai có chung đặc điểm là cùng sinh vào thế kỷ 19 và được phong hiển thánh vào thế kỷ 21, nhưng thánh Daniele qua đời vào thế kỷ 19 và thánh Andre qua đời thế kỷ 20.
1. Thánh Daniele Comboni là một linh mục truyền giáo tại Phi châu, sau làm Giám mục, được phong thánh ngày 5/10/2003. Ngài đã sáng lập Dòng Thừa Sai gồm cả hai ngành nam tu sĩ và nữ tu. Ngay khi khởi đầu việc truuyền giáo tại Sudan, Cha Daniele đã phó thác sứ mạng này cho Đức Mẹ và Thánh Giuse. Trong một cuộc hành trình bằng lạc đà phải xuyên qua những cánh rừng rậm Phi Châu, Cha bị té gẫy nát cả bàn tay và cánh tay. Mặc dù vô cùng đau đớn, Cha Daniele vẫn phải leo lên lưng lạc đà, băng rừng tới bờ sông Nile để được đưa bằng thuyền tới tụ điểm truyền giáo. Sau 82 ngày nằm liệt trên giường điều trị vết thương, Cha trở lại công việc, và ngay lập tức, Cha viết hóa đơn gởi Thánh Giuse, yêu cầu Ngài phải lấy tiền từ ‘ngân hàng Thiên quốc’ bồi thường cho Cha tám mươi hai ngàn quan, nghĩa là mỗi ngày Cha nằm trên giường trị thương và không dâng Thánh lễ được, Thánh Giuse phải trả cho Cha một ngàn quan. Rốt cuộc, Thánh Giuse ‘đành’ phải chi ra số tiền ‘khổng lồ’ đó. Tiếp theo, không biết từ đâu đến, Cha Daniele nhận được những số tiền lớn, chẳng những Cha có thể trả hết những chi phí chuyên chở, chi phí điều hành 2 nhà ở Cairo, 2 học viện ở Verona và Bắc Ý, thanh toán lương bổng cho nhân viên địa phương và hoàn tất công việc xây cất ngôi nhà dành cho các nữ tu, gồm nhà ở, trường học và vườn trẻ. Đúng là Thánh Giuse quá rộng lượng, đã trả cho Cha Daniele cả vốn lẫn ‘4 lời’.
2. Thánh Andre Bassette là Thày trợ sĩ Dòng Thánh Gía. Ngài sinh ngày 9/8/1845 trong một gia đình lao động gồm 10 anh chị em (2 người mất sớm), mồ côi cha năm lên 9 và mồ côi mẹ năm lên 12. Thuở nhỏ Ngài ít được đi học, chỉ biết đọc biết viết, và để mưu sinh, cậu bé Andre suốt 13 năm phải làm nhiều nghề khác nhau: thợ thiếc, thợ rèn, thợ sửa giầy, thợ làm bánh, v.v. và có thời gian phải sang Hoa Kỳ kiếm sống. Tuy nhiên, cậu Andre rất có tâm hồn đạo đức. Khi nào có chút giờ rảnh, cậu đều qùy gối cầu nguyện trước Thánh Gía, và khi có cơ hội, cậu đem Thánh kinh nói chuyện với bạn bè. Ngoài ra, cậu có lòng kính mến Thánh Giuse đặc biệt.

Năm 25 tuổi, nhờ sự giới thiệu của cha xứ và nhất là sự can thiệp của Đức Cha Ignace Bourget, thanh niên Andre được nhận vào Nhà Tập. Thày Andre khấn trọn đời ngày 2/2/1874 khi 28 tuổi. Trong suốt 40 năm, công việc chính của Thày là gác cổng trường College de Notre Dame Montreal. Thày thường nói đùa :“khi tôi đến, người ta chỉ cho tôi cái cổng và tôi ở đó suốt 40 năm”. Ngoài công việc chính, Thày Andre còn làm những việc không tên như lau nhà, lau đèn nhà nguyện, lau cửa kính, vác củi, chạy thơ, v.v. Thày cũng được giao nhiệm vụ đi thăm các học sinh bị bệnh, và cũng nhờ công việc này, không bao lâu, Thày nổi tiếng là ‘người làm phép lạ Montreal’, có khả năng chữa bệnh nhờ lời xin của Thày với Thánh Giuse. Khi đến thăm bệnh nhân tại nhà, Thày bảo họ cầu cùng Thánh Giuse rồi xức dầu Thánh Giuse cho họ (dầu lấy từ cây đèn luôn luôn thắp sáng trước bàn thờ Thánh Giuse trong nhà nguyện). Thế rồi càng ngày tiếng tăm Thày Andre, ‘người làm phép lạ’, càng loan truyền khắp nơi khiến hàng ngàn người từ xa kéo đến, và rất nhiều người được khỏi bệnh nhờ Thầy cầu nguyện với Thánh Giuse. Chỉ riêng năm 1916 đã có 435 trường hợp được báo cáo khỏi bệnh mà y giới không giải thích được. Thường ngày Thày Andre phải tiếp khách hành hương từ 8 đến 10 giờ và mỗi năm Thày nhận khoảng 80 ngàn thơ từ khắp nơi gởi đến xin khấn hoặc xin những lời chỉ dạy của Thày. Thày Andre luôn luôn nói với những người đến xin chữa bệnh: “Tôi chỉ là kẻ quê mùa. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi, chắc chắn Chúa sẽ chọn người đó thay tôi”. Câu nói này làm chúng ta nhớ tới câu nói của Thánh Bernadette được Đức Mẹ hiện ra ở Lộ-Đức: tôi là kẻ ngu dốt nhất trong các người ngu dốt. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi thì Đức Mẹđã chọn người đó rồi. Các Thánh sao mà khiêm nhường đến thế, chẳng bù cho chúng ta, có người còn cho mình ‘thay trời’ (thế thiên) hành đạo. Quả đúng như lời Chúa dạy: ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Khi có người được khỏi bệnh đến cám ơn, Thày Andre trả lời: “Đó là Thánh Giuse chữa. Tôi chỉ là con chó nhỏ của Ngài mà thôi”.
Giấc mơ của Thánh Andre là xây một đại thánh đường kính Thánh Giuse. Khởi đầu, Thày Andre quyên góp được số tiền 200 Gia kim và mỗi học sinh trả cho Thày 5 xu tiền hớt tóc. Năm 1904, Thày làm được một nhà nguyện bằng gỗ dài 5,49m, rộng 4.57m gần địa điểm Vương cung thánh đường Thánh Giuse hiện nay. Giấc mơ của Thày Andre đã trở thành hiện thực năm 1924 khi thánh đường Thánh Giuse được xây trên sườn đồi Mount Royal bên cạnh nhà nguyện nhỏ bé của Thày. Năm 1955 thánh đường hoàn thành, cao 263 thước, cao nhất thành phố Montreal và được thánh hiến. Mỗi năm có trên 2 triệu người đến viếng Vương Cung Thánh Đường Thánh Giuse, và nhiều người đến xin ơn đã được như ý nguyện.
Thày Andre qua đời năm 1937 lúc 91 tuổi. Hơn một triệu người từ khắp nơi đến kính viếng và đi qua quan tài của Thày để được nhìn Thầy và vĩnh biệt Thày lần cuối. Thi hài Thày Andre được an táng trong Vương Cung Thánh Đường mà Thày đã có công khởi xướng. Thày Andre được ĐGH Gioan-Phaolô đệ nhị phong chân phước ngày 23/5/1982 sau phép lạ ông Carlo Audino khỏi bệnh ung thư năm 1958 nhờ lời cầu bầu của Thày. Ngày 17/10/2010 Chân phước Andre được ĐGH Bê-nê-đic-tô thứ 16 tôn phong hiển thánh sau khi phép lạ thứ 2 được công nhận.
Nhân nói đến thời cận đại, không thể không đề cập đến biến cố vĩ đại ngày 13/10/1917 khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ 6 với ba trẻ tại Fatima và trên bầu trời có Thánh Giuse, Chúa Hài Đồng và Đức Mẹ cùng xuất hiện bên cạnh mặt trời. Liền sau đó, chị Lucia la lên: trông mặt trời kìa! (Regardez le soleil), và trước sự chứng kiến của khoảng 70 ngàn người, mặt trời nhảy múa. Từ xưa đến này, ít khi nghe nói đến việc Thánh Giuse hiện ra, nhưng trong thời cận đại, sự kiện Thánh Giuse xuất hiện trên bầu trời cùng với Chúa Giêsu và Đức Mẹ có lẽ nhắc nhở chúng ta rằng Người vẫn luôn luôn quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của mỗi người chúng ta, và sẵn lòngcầu bầu cho chúng ta trước Tòa Chúa Giêsu và Đức Mẹ.
Trên đây là truyện các Thánh tôn vinh Thánh Cả Giuse. Đến đây xin độc gỉa lượng thứ cho vì chỉ muốn chứng minh rằng trong cuộc sống đời thường, nếu chúng ta thành tâm cầu khẩn Thánh Giuse, Người sẽ nhận lời. Xin được kể hầu qúy vị một kinh nghiệm mới xảy ra trong gia đình như sau: Tôi có người con gái thứ 3 tên là Trần-Nguyễn Thiên Hương Lan, gọi bằng tên Mỹ là Mary cho tiện và vắn tắt. Mary tốt nghiệp Đại học Dược khoa với cấp bằng Doctor of Pharmacy và đã hành nghề dược sĩ hơn 10 năm. Mới đây một bệnh viện trong vùng cần tuyển một dược sĩ có kinh nghiệm để bào chữa thuốc trị bệnh cho các trẻ em khuyết tật hoặc mắc những bệnh nan y. Mary muốn nộp đơn xin làm nhưng xem ra tiêu chuẩn rất khó. Tôi đã khuyến khích Mary và khuyên Mary cầu nguyện cùng Thánh Giuse. Một tuần sau khi phỏng vấn, Mary nhận được thư từ chối. Mary buồn rầu thông báo cho tôi và nghĩ là chuyện đã rồi nên tôi không quan tâm nữa. Bất ngờ tuần sau Mary gọi điện thoại báo tin vừa được bệnh viện cho hẹn đến làm thủ tục nhận việc. Mary cho biết ngay khi nhận thư từ chối, trong lòng không vui, lại thắc mắc vì sao đã cầu xin Thánh Giuse mà Người không nhận lời, nên theo đúng lời Mary kể, Mary hỏi Thánh Giuse TẠI SAO, sau đó ‘email’ cho bà Giám đốc phòng nhân viên của bệnh viện. Ngay chiều hôm đó, Mary nhận được hồi báo cho biết đã có sự lầm lẫn, và trong số những ứng viên đủ tiêu chuẩn, người được chọn chính là Mary. Mary tin rằng chính Thánh Giuse đã nhận lời cầu xin của mình mà chỉ cho họ nhận ra sự lầm lẫn.
Để kết thúc bài viết, xin trích dẫn bài suy ngẫm ngày thứ sáu trong cuốn Tuần cửu nhật kính Thánh Giuse do nhà sách Trái Tim Đức Mẹ tái bản năm 1993 mà không thấy tên tác gỉa:
“Muốn biết thế lực Thánh Cả trên Thiên Đàng ngày nay, không gì bằng nhớ lại công việc Người đã làm xưa trong Nhà Nazarét. Nơi đây, vì phận sự gia trưởng, Người đã xếp đặt mọi công việc cho Đức Mẹ và Chúa Con. Ngót ba mươi năm trường, hai Đấng đã lấy làm hạnh phúc được vâng lời Người trọn vẹn, chẳng lấy chi làm sung sướng cho bằng làm vừa lòng đẹp ý Người luôn. Ấy là thế lực Người ở trần gian, huống chi trên Thiên Đàng, quyền uy Người còn lớn gấp bội. Có lẽ nào trên chốn vinh quang, Chúa Giêsu và Đức Mẹ lại phai lạt lòng yêu mến đối với Người? Tất nhiên lời cầu nguyện của Người phải mạnh thế dường nào! Đấng Cứu Thế vừa thấy đôi tay, suốt ba mươi năm, đã làm lụng vất vả để nuôi Mình, rày chắp lại van xin, thì cầm lòng sao được mà chẳng mau kíp ban ơn?”
Tháng Thánh Giuse 2012
Trần văn Huyến

Nguồn: 
 Vietcatholic news

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

NGHỀ VỢ CHỒNG



Có bao giờ bạn nghĩ đời sống vợ chồng cũng là một nghề không? Chắc chắn mọi người đều nghĩ vợ chồng là chuyện tình cảm yêu đương, cớ sao lại gọi là một nghề?...
Vào ngày 7 tháng 1 năm 2008, có một người Mỹ gốc Việt, 38 tuổi đã ném bốn đứa con nhỏ từ bốn tháng đến ba tuổi trên một chiếc cầu tại tiểu bang Alabama, Hoa Kỳ. Theo tin tức thì hai vợ chồng anh thường cãi nhau suốt ngày, hầu như không ngày nào mà hàng xóm không nghe vợ chồng anh to tiếng mắng chửi nhau. Ngoài việc xung đột, bất đồng ý kiến với vợ, anh còn uống rượu và xài thuốc kích thích, nên không kiềm chế nổi cơn say. Vào ngày nói trên, sau khi cãi nhau với vợ, anh xách bốn đứa con lên xe và đem ra cầu liệng xuống sông, sau đó cảnh sát đã tìm được xác của bốn đứa trẻ này. Khi ra tòa anh đã thú tội và nhận án tử hình.

Câu chuyện này đã làm rung động giới truyền thông Mỹ nói chung và giới cộng đồng Việt Nam nói riêng.
http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/28___PG_va_hon_nhan___Nghe_Vo_Chong_2_383743428.jpg
Ở Việt Nam, những chuyện vợ chồng xung đột, cãi vả, mắng chửi hoặc đánh nhau bể đầu, chảy máu không phải chuyện lạ, nhưng ở một xứ văn minh như Hoa Kỳ mà xảy ra đưa tới án mạng giết bốn đứa con thơ như vậy quả thật là khủng khiếp.

Ở đời nam, nữ lớn lên cưới hỏi nhau là lẽ tự nhiên, không ai thắc mắc tại sao phải như vậy. Thế nhưng đến khi gia đình vợ chồng tan vỡ, ly dị, chửi nhau, đánh nhau, và có lúc giết nhau thì người ta lại ngạc nhiên hỏi:
"Ủa, tại sao lại có thể xảy ra như vậy?"

Thông thường, trước khi đi làm kiếm tiền, người ta phải đi học để có nghề trong tay, sau đó mới đi xin việc làm. Một người muốn làm bác sĩ, ít nhất phải học xong tú tài, rồi thi tuyển vào đại học y khoa, và học từ bảy đến mười năm, sau đó mới được phép ra mở phòng mạch. Một người muốn làm kỹ sư cũng phải qua tú tài, rồi thi tuyển vào các trường kỹ sư, học tổng cộng ít nhất năm năm, sau đó mới ra hành nghề kỹ sư. Trong xã hội, tất cả ngành y tế, kỹ thuật, khoa học, v.v... các nhân viên đều phải được học nghề và huấn luyện trước khi được mướn. Và nhiều khi đang hành nghề, hàng năm vẫn phải đi học thêm khóa tu nghiệp để cập nhật hóa những kiến thức mới.

Trong khi đó đa số người ta lập gia đình vào lứa tuổi trung bình từ 18 đến 25, mà không có một chút khái niệm căn bản tối thiểu về đời sống gia đình, tâm lý, sinh lý, tình cảm. Họ chỉ biết xưa nay thấy ai cũng lập gia đình cho có đôi thì làm theo, vậy thôi.

Có bao giờ bạn nghĩ đời sống vợ chồng cũng là một nghề không? Chắc chắn mọi người đều nghĩ vợ chồng là chuyện tình cảm yêu đương, cớ sao lại gọi là một nghề?

Chữ nghề nghe có vẻ vô tình quá! 

Vì nghề là một việc làm kiếm tiền, trong đó không có tình cảm gì hết. Nếu tôi là bác sĩ giỏi chữa bạn hết bệnh thì bạn phải trả tiền cho tôi. Nếu tôi là kỹ sư giỏi, thợ giỏi thì chủ phải trả lương cho tôi, hai bên không có tình cảm gì hết. Nếu bạn mở tiệm làm nhà hàng, nấu ăn ngon thì sẽ đông khách. Mới nhìn qua các cơ sở y tế, kỹ thuật, thương mại dường như không có tình cảm, nhưng thật ra đều có tình cảm bên trong. Nếu bạn là bác sĩ giỏi mà không có tình người, xem bệnh nhân như cỏ rác thì chắc chắn họ sẽ không tới và bạn sẽ ế khách. Nếu bạn là kỹ sư giỏi mà phách lối, làm tàng không biết kính nể sếp trên thì họ sẽ đì bạn, không tăng lương hoặc kiếm cớ đuổi bạn. Nếu bạn nấu ăn ngon mà không khéo tiếp đãi, ân cần phục vụ khách hàng thì họ sẽ bỏ đi ăn tiệm khác. Bất cứ một cơ sở, hãng xưởng nào cũng cần những nhân viên giỏi, ngoài việc rành nghề còn phải biết giao tiếp cư xử với kẻ trên người dưới một cách hòa thuận và có tình người thì mới thành công, phát triển.
Gia đình cũng là một cơ sở nhỏ (small business), trong đó cả hai vợ chồng đều là chủ nhân và đồng thời cũng là người làm. Cả hai cần phải biết hợp tác với nhau về khả năng lẫn tình cảm để đóng góp xây dựng "cơ sở" mang tên là "gia đình" được hạnh phúc. Mỗi người cần phải biết bổn phận cũng như quyền lợi của mình.

Thế nhưng rất tiếc, sau khi trải qua thời trăng mật của "tình yêu", người ta thường quên đi bổn phận mà chỉ chú ý tới quyền lợi, đòi hỏi, mong muốn người kia phải làm theo ý mình, chiều chuộng mình, phục vụ mình.

Nếu bạn đồng ý với quan niệm "gia đình là một cơ sở nhỏ" thì vợ chồng cũng là một nghề, trong đó người chồng cần phải học nghề làm chồng, và người vợ cần phải học nghề làm vợ. Con người ta mới sinh ra không ai tự nhiên biết nói, biết đọc, biết viết, mà cần phải được dạy nói, dạy đọc, dạy viết. Cái gì cũng phải học thì mới biết làm. Vợ chồng là một nghề làm suốt cuộc đời, vậy mà không có trường hay lớp nào dạy.
http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/28___PG_va_hon_nhan___Nghe_Vo_Chong_3_574758993.jpg
Cùng lắm, trước khi gả con gái về nhà chồng thì người mẹ dạy con vài lời về cách làm dâu.

Đến ngày làm lễ cưới ở nhà thờ hay trong chùa thì các cha và quý thầy cũng chỉ khuyên vợ chồng ăn ở hòa thuận và chung thủy với nhau.
http://images.multiply.com/common/smiles/cat.png Nghĩ lại ở đời chưa có cái nghề nào, trong đó người ta không được dạy chút nào mà phải vô làm ngay như nghề vợ chồng.
Có lẽ người ta nghĩ cái nghề này không cần học, cứ làm đại thì từ từ sẽ biết, tiếng Pháp gọi là "apprendre sur le tas", tạm dịch là "vừa làm vừa học", hên thì hưởng, xui thì chịu.

Ngoài ra nghề vợ chồng không phải thích thì làm, chán thì nghỉ dễ dàng như các nghề khác. Đương nhiên thời nay người ta có thể lấy nhau vài năm rồi ly dị, nhưng nếu có con thì vấn đề ly dị, chia gia tài thật là nhiêu khê, phiền toái. Vì thế có những cặp chán ghét nhau mà vẫn phải sống chung vì con cái, kinh tế, thể diện, hay truyền thống, v.v...
http://images.multiply.com/common/smiles/wilted_rose.pngTình yêu suông không đủ đem lại hạnh phúc. Tình yêu chỉ là động cơ thúc đẩy hai người đến với nhau, nhưng sống chung hạnh phúc là một việc khác. Nó đòi hỏi mỗi người phải biết cách cư xử với nhau.http://images.multiply.com/common/smiles/rose.pngTrong các đạo giáo gọi đó là "đạo vợ chồng". Đạo vợ chồng thường chỉ dạy "bổn phận" (duty, devoir) của vợ chồng. http://images.multiply.com/common/smiles/star.pngBiết được "bổn phận" cũng là một điều đáng quý rồi, nhưng vẫn chưa đủ đem lại hạnh phúc, nó chỉ giúp cho gia đình sống bình yên, không sóng gió.

Giống như một nhân viên biết bổn phận của mình là đi làm chăm chỉ, đúng giờ, nhưng chưa chắc anh ta làm việc giỏi, biết tăng lợi nhuận cho chủ. Do đó ngày nay, các hãng xưởng phải gửi nhân viên đi học thêm các lớp tu nghiệp để nâng cao năng xuất. Người nhân viên cũng có quyền lợi như được nghỉ hè một năm hai tuần hay một tháng.

Cũng thế, ngoài "bổn phận" (hay trách nhiệm), người vợ và chồng cũng nên biết mình có những "quyền lợi" gì để không bị đàn áp, bóc lột, lường gạt. Ngoài bổn phận và quyền lợi, vợ chồng cần phải học hỏi thêm những cách thức xây dựng hạnh phúc, gọi tắt là nghệ thuật sống (art of living).

Do đó chữ "nghề" vợ chồng bao gồm nhiều nghĩa:
  • bổn phận,
  • trách nhiệm, 
  • đạo nghĩa,
  • quyền lợi,
  • và nghệ thuật.
Nếu được học một chút "nghề" vợ chồng, ít nhất là "bổn phận" thì đã không có những người chồng say rượu, vũ phu đánh đập vợ con, hoặc như người đàn ông ném bốn đứa con xuống sông ở trên, làm tan nát gia đình; không có những người vợ lẳng lơ, say mê cờ bạc, phá hoại gia cang.
Bên đạo Chúa, có những lớp dạy về đời sống gia đình cho những cặp vợ chồng sắp cưới, giúp họ tìm hiểu về tâm sinh lý, tình cảm nam nữ, cách sống làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ, hiểu biết về những khó khăn thử thách của đời sống gia đình sau khi cưới, cách giáo dục con cái trở thành người tốt trong xã hội, v.v... Đây là một điều rất hay cần được bắt chước học hỏi.

Trong đạo Phật, mặc dù nhấn mạnh về sự giải thoát sanh tử luân hồi, đức Phật vẫn không quên dạy cho người tại gia cư sĩ những phương pháp sống hạnh phúc trong cuộc đời như trong các kinh Thiện Sinh, Bảy Loại Vợ, Người Vợ Mẫu Mực, Người Cư Sĩ, Hiền Nhân, v.v... Song le những kinh này không được khai triển rộng rãi nên ít người để ý học hỏi và áp dụng trong cuộc sống.

Có những người suốt ngày ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh và quên mất bổn phận làm vợ làm chồng, làm cha mẹ, khiến người hôn phối đâm ra oán ghét đạo Phật và nghĩ rằng các thầy đã làm mất hạnh phúc gia đình của họ.
Từ đó gia đình trở nên xào xáo, bất hòa, càng tu vợ chồng càng cãi nhau, giận nhau rồi cho là tại tu nên đổ nghiệp, ma phá..

Họ đâu ngờ tu một cách ích kỷ, chỉ biết phần mình và bỏ mặc bổn phận nên mới sinh ra phiền não như vậy. Do đó người Phật tử thông minh, khéo léo là người biết dung hòa đời sống gia đình và tâm linh.

Thích Trí Siêu

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

NHỮNG MẨU CHUYỆN VUI

Coi chừng bể... trứng!
Yamaha lên xe bus thấy 1 bao hàng trống định ngồi lên.
 Cô gái ngồi cạnh la lên :
 - Coi chừng dập trứng!!
 - Bao này đựng trứng hả ?
 - Không ! Sầu riêng !

Ra thế !

Đánh kẻ chạy đi,..chứ không ai đánh kẻ chạy lại...
Vì, ...khi quay lại nó có mang theo ..đồng bọn.

Phũ phàng 

Con hỏi bố : bố ơi, sao con cá không biết nói hở bố...? Bố : thế tao dìm đầu mày xuống nước xem mày có nói được không nhá...!

Thế nhé !

Một nhà khoa học tánh tình hay đa nghi, nên ông ta chế tạo ra robot phát hiện nói dối. Ngày chế tạo thành công, ông đem ra thử con trai.
Cậu con trai vừa đi học về ông ta đem robot ra hỏi:
- Sao con đi học về trễ vậy?
- Con qua nhà bạn mượn sách về học.
 Robot phát hiện nói dối, đánh cho cậu con trai một cái.
Ông bố cười:
 - Đó con thấy chưa, nói dối là phải chịu phạt. Lúc bằng tuổi con, bố không dám nói dối ông nội nửa lời. Ngay lập tức, robot đạp ông ta một cái bay vô tường.
Người vợ thấy cậu con trai bị đánh đòn đau bèn nói:
 - Sao anh làm thế với con, dù sao nó cũng là con anh! Robot bèn nắm đầu bà vợ, đánh túi bụi.
Dịp tốt
Hoa Kỳ mới chế đuợc cái máy bắt trộm.
 Đem qua Thái Lan 2 ngày bắt đuợc 100 tên.
 Kampuchia 2 ngày đuợc 200 tên.
 Đem qua VN 1 ngày… mất toi cái máy.

Tao cũng thế !
Hai nhân viên gây gổ nhau:
 - Mày là thằng ngu nhất công ty !
 - Mày mới là thằng ngu nhất công ty !
 Sếp đi ngang qua:
 - Tụi bay không biết có tao ở đây hả ??


Em thích gì?


Nhân kỷ niệm 10 năm ngày cưới, chồng âu yếm hỏi vợ:

- Em có thích một chiếc áo bằng lông thú 

không?

- Không.

- Anh sẽ mua tặng em một chiếc Mercedes nhé?

- Không.

- Hay là anh cho em một ngôi nhà nghỉ mát trên núi?

- Không...

Người chồng chịu thua:

- Vậy em hãy nói thẳng, em thích cái gì,chúng ta sẽ giả quyết

 nhanh.


- Em muốn ly hôn.

- Trời! Anh đâu có dự kiến sẽ chi nhiều như thế!

*********************************************************

Cười thấm thía 


      Đọc truyện cười, đôi khi không chỉ là để cười, để thư giãn. Mà có thể, đằng sau những mẩu chuyện ấy là một bài học, một thông điệp đến từ cuộc sống.
        Câu chuyện thứ nhất:

     Một cậu học trò lớp ba viết rằng cậu muốn trở thành một diễn viên hài trong bài tập làm văn của mình. Thầy giáo Việt Nam phê: "Không có chí lớn", còn thầy giáo người nước ngoài nói: "Thầy chúc em mang tiếng cười cho toàn thế giới".  
     Là người lớn, chúng ta nên khuyến khích, cổ vũ hơn là đặt ra những yêu cầu quá cao đối với trẻ con. Hơn thế, chúng ta hãy mở rộng khái niệm thành công để trẻ con thoải mái tung đôi cánh ước mơ của mình.
  
         Câu chuyện thứ hai:

        Ăn cơm xong, mẹ và con gái rửa chén bát trong bếp, bố và con trai ngồi xem ti vi. Bỗng nhiên có tiếng đổ vỡ dưới bếp, sau đó im bặt. Con trai nói: "Con biết chắc mẹ vừa làm bể chén bát", bố hỏi: "Tại sao con chắc như thế?", con trai trả lời: "Vì không nghe tiếng mẹ la".  
        Chúng ta luôn đánh giá người khác và đánh giá bản thân qua những tiêu chuẩn nào đó, thường khó khăn với người khác nhưng lại rất dễ dãi đối với mình.     

        Câu chuyện thứ ba: 

       Người ăn mày nói: "Bà có thể cho tôi xin một ngàn không?", người qua đường trả lời: "Nhưng tôi chỉ có năm trăm", người ăn mày bảo: "Vậy bà thiếu tôi năm trăm nhé". 
       Nhiều người trong chúng ta luôn cho rằng ông trời mắc nợ mình, cho mình không đủ, không tốt nên lòng tham đã che mất thái độ biết ơn.

           Câu chuyện thứ tư: 

            Người vợ đang nấu ăn trong nhà bếp, người chồng đứng bên cạnh nhắc nhở: "Cẩn thận, coi chừng khét!", "Sao em bỏ ít muối thế?, "Ơi kìa, nước đã sôi rồi, em cho thịt vào đi". 
           Người vợ bưc bội: "Anh làm ơn đi ra ngoài giùm em! Em biết nấu ăn mà!". 
           Người chồng mỉm cười: "Ừ, có ai bảo em không biết nấu ăn đâu. Anh chỉ muốn em hiểu được cảm giác của anh như thế nào khi đang lái xe mà em ngồi bên cạnh cứ lải nhải".  
           Học cách thông cảm người khác không khó, chỉ cần chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.
           Câu chuyện thứ năm: 

           A nói với B: "Khu nhà tôi vừa dọn về một ông hàng xóm bất lịch sự. Tối hôm qua, đã gần một giờ sáng rồi mà ông ta còn qua đập cửa nhà tôi rầm rầm".
          B hỏi: "Thế anh có báo cảnh sát không?". A trả lời: "Không, tôi mặc kệ ông ta, xem ông ta như thằng điên vì lúc ấy tôi đang tập thổi kèn saxophone".  
           Chuyện gì cũng có nguyên nhân, nếu biết trước lỗi của mình thì hậu quả sẽ khác đi. Tuy nhiên, chúng ta lại thường ít khi thấy mình sai, nhưng lại dễ dàng thấy người khác sai.

  

           Câu chuyện thứ sáu:

           Hai cha con đi ngang qua một khách sạn 5 sao. Trông thấy một chiếc xe hơi xịn rẽ vào, cậu con trai nhận xét:  -Những người ngồi trên chiếc xe ấy đều có trình độ học vấn rất thấp!  Người cha ôn tồn đáp lại:  -Người vừa phát biểu câu ấy là người hiện trong túi không có lấy một đồng xu!  
           Con người thường có thái độ "ghen ăn tức ở", khi nói ra điều gì, nhận xét việc gì đều thể hiện trình độ và "đẳng cấp" của mình. Bởi vậy hãy thận trọng!

          Câu chuyện thứ bảy:

          Có hai đoàn khách nước ngoài đến tham quan một địa điểm du lịch sinh thái. Do trời mưa nên đường dẫn vào khu "Kỳ hoa dị thảo" lầy lội. 
          Người hướng dẫn của đoàn thứ nhất bảo: "Xin lỗi quý khách, chúng ta không thể đi tiếp". 
          Còn người hướng dẫn đoàn thứ hai suy nghĩ một thoáng rồi nói: "Để quý khách thấy rằng việc tìm kiếm kỳ hoa dị thảo khó khăn như thế nào, Ban giám đốc công ty đã cố tình tạo con đường lầy lội cho quý khách có thêm cảm xúc thực tế".  
          Hoàn cảnh khác nhau, quan điểm khác nhau sẽ nhìn một sự vật không giống nhau. Tư tưởng kỳ lạ như thế đấy bạn ạ! Nếu bạn chịu suy nghĩ thì quyền quyết định hoàn cảnh nằm trong tay bạn.

           Câu chuyện thứ tám:
  
           Một phụ nữ vào tiệm kim hoàn, trông thấy hai chiếc vòng đeo tay giống nhau như đúc, một chiếc giá 2 triệu, một chiếc giá 20 triệu. Không chần chừ, bà ta liền lấy chiếc 20 triệu vì nghĩ rằng đắt tiền chắc chắn sẽ là đồ tốt. Khi vừa quay lưng bước đi, bà nghe nhân viên nói với nhau: "Không ngờ chỉ vì đính sai bảng giá mà chúng ta lời đến 18 triệu đồng!".  
           Hãy xem, lắng nghe và kiểm định. Đó là lời khuyên trong câu chuyện này. Có nhiều thứ tưởng vậy, thấy vậy, nghe vậy mà không phải vậy, đừng vì chủ quan, tin vào suy nghĩ của mình mà lầm to.
           Câu chuyện thứ chín: 

           Hai vợ chồng vào xem triển lãm tranh của các họa sĩ trẻ, trong đó có một bức tranh của con trai họ. 
           Người vợ đi rất nhanh, mắt chỉ kịp lướt vào tên của tác giả ở mỗi bức tranh. Một lúc sau không thấy chồng, người vợ quay lại tìm. 
          Người chồng đang đứng trước một bức tranh say sưa ngắm nhìn. Bức trang ấy lúc nẫy người vợ đã xem qua. 
          Bà bực bội nói: "Ông đứng đó làm gì vậy? Sao không đi tìm bức tranh của con mình?". 
          Người chồng quay sang nhìn vợ: "Đây là tranh của con mình nè, nó quên ký tên trên bức tranh".
            Trong cuộc sống, có người chỉ lo chạy băng băng nên đã không thể tìm thấy thứ mình cần tìm, đánh mất cơ hội được thưởng thức hoa nở hai bên đường.

           Câu chuyện thứ mười:

          Tại buổi lễ tốt nghiệp ở một trường cấp hai, thầy hiệu trưởng đọc tên học sinh xuất sắc nhất trong năm học. Đọc đến lần thứ ba mà vẫn không thấy ai đi lên sân khấu. 
          Thầy hiệu trưởng nhìn xuống, hỏi cậu học sinh xuất sắc đang bình thản ngồi bên dưới: 
          -Em không nghe thầy gọi tên à?  
          Cậu học sinh đứng lên, lễ phép:  
          -Dạ, thưa thầy em đã nghe. Nhưng em sợ các bạn chưa nghe thấy ạ!  
          Danh và lợi đã vô tình trở thành chiếc lồng nhốt chúng ta vào trong ấy. Chúng ta luôn giáo dục con em mình phải cố gắng học thật giỏi, phải trở thành nhân vật xuất sắc nhất nhưng lại ít khi dạy các em tính khiêm tốn.

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

MỜI HẾT VÀO TIỆC CƯỚI


 TIỆC MỪNG 
SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN A
(Is 25, 6-10a; Phil 4, 12-14.19-20; Mt 22, 1-14).

        Sống trên đời, ai cũng muốn được ăn ngon mặc đẹp. Trừ một số những vị chân tu tự nguyện ăn uống kham khổ để tu thân luyện tính hoặc kiêng khem để chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Đa số dân lao động chỉ mong muốn được hằng ngày dùng đủ. Việc ăn uống đáp ứng nhu cầu thể xác và cũng mang lại niềm vui tinh thần. Nghe tiên tri Isaia loan báo về bữa tiệc, ai nấy đều vui mừng phấn khởi: Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thết tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc, đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon (Is 25, 6).Bữa tiệc thịnh soạn là dấu chỉ của sự sung túc và vui hưởng phước lộc. Tiệc đã dọn sẵn sàng, ai cũng có thiệp mời đến tham dự bữa tiệc vui này, nhưng cuối cùng đã có một số người tìm lý do riêng tư để từ chối. Vì họ có nhiều lý do và nghĩ rằng những công việc khác quan trọng hơn.
         Isaia đã phấn khích dân chúng mong chờ một tương lai sáng rạng hơn. Ngày đó sẽ mang lại nhiều niềm vui hoan lạc. Niềm vui không chỉ là sự an cư lạc nghiệp, xây dựng đền thờ và cuộc sống sung túc, nhưng là Đấng Cứu Thế sẽ viếng thăm dân Người: Ngày đó, người ta sẽ nói: Này đây Chúa chúng ta, chúng ta đã chờ đợi Người, chúng ta đã tin tưởng, chúng ta hãy hân hoan và vui mừng vì ơn Người cứu độ (Is 25, 9). Dân Do-thái có một sứ mệnh cao cả hơn các dân tộc khác. Họ được Thiên Chúa chọn lựa, hướng dẫn, dậy dỗ và chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi. Có biết bao các nhóm dân tộc chung quanh tự do bước đi trong đường lối của họ. Họ dựng nước, xây đồn, đắp lũy, tường thành và lập đàn miếu thờ cúng các thần phật. Thiên Chúa đã không lập giao ước với họ. Họ đã phải dầy công học hỏi, suy tư và kiếm tìm về nguồn chân thiện, giống như các nhà đạo sĩ Đông Phương dõi theo ánh sao tìm đến tôn thờ vua Hài Nhi.
       Trong thế giới chúng ta đang sống đây, con số giầu nghèo rất chênh lệch. Có rất nhiều người chỉ mong được ăn no mặc ấm, nhưng cũng chưa được toại nguyện. Tại nhà xứ nơi tôi đang ở, có cha Richard Nahmann, dòng Augustinô, đã ngoài 76 tuổi rồi, quanh năm suốt tháng, cuối tuần nào cũng đi giảng cho chương trình ‘Food for the Poor’. Mỗi cuối tuần cha đều có bài sai đi các xứ đạo khác nhau trong vùng, cha Nahmann phải lái xe vừa đi vừa về mỗi lần trên dưới khoảng 500 cây số. Ngài đi giảng để xin tiền gây quỹ cho tổ chức Cứu Trợ Quốc Tế. Có nhiều cơ quan và tổ chức tôn giáo cộng tác với nhau, có các mục sư, linh mục và thiện nguyện đang hoạt động tại 17 quốc gia vùng Địa Trung Hải, Châu Mỹ La Tinh và cả ở Hoa Kỳ. Thực phẩm cung cấp cho những người nghèo đói nhất trong những trường hợp khẩn cấp: Cứu trợ thức ăn, nước uống, thuốc thang, giáo dục, huấn nghệ, giúp trẻ mồ côi và người cao niên. Tổ chức dành 95% tiền dâng cúng gởi trực tiếp đến cho chương trình cứu trợ này. Chúng ta biết những người nghèo nhất chiếm 40% tổng số dân trên thế giới.
        Nghĩ đến những người sống trong các trại cấm, trại tỵ nạn, lớp cùng đinh, hàng tiện dân ở Ấn Độ và những người nghèo khổ sống ở những miền đất khô cằn tại Phi Châu. Biết bao người đói khổ, tấm thân gầy guộc, thiếu thốn đồ ăn nước uống và mọi nhu cầu cần thiết. Nhiều người trong họ đã phải chết dần chết mòn vì đói khát, thiếu dinh dưỡng và bệnh hoạn. Niềm hy vọng nhỏ nhoi của họ là có được bữa ăn no để sống còn. Nghèo thì khổ. Niềm hy vọng của họ là gì? Người ta thường nói: Có thực mới vực được đạo hay đi đạo lấy gạo mà ăn. Nhu cầu cụ thể trong đời sống cần được giải quyết trước. Chúa Giêsu cũng đã chia sẻ kiếp sống nghèo, đi tị nạn xứ người, lao động kiếm sống và làm bạn với những người nghèo khổ. Chúa cảm thông nỗi đắng cay khổ sở của họ. Chúa mở rộng cửa Nước Trời đón nhận mọi thành viên vào dự tiệc. Nguồn an ủi cậy dựa vào tình thương của Chúa:  Xin Thiên Chúa cung cấp dư dật những nhu cầu của anh em, theo sự phú túc vinh sang của Người trong Đức Giêsu Kitô (Phil 4, 19).

        Bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu ví Nước Trời giống như vị vua làm tiệc cưới cho hoàng tử. Đây là một bữa tiệc vui quan trọng vì là con của vua. Bao nhiêu ngày tháng hoàng gia mong chờ và chuẩn bị để thết đãi các khách mời: Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến (Mt 22, 3). Thật lạ, tiệc cưới sang trọng và cao quí, nhưng những khách được mời lại không muốn tham dự. Khách mời đây trước hết chính là dân tộc Do-thái. Nhiều người đã không màng tới, vì họ còn phải bon chen lo lắng nhiều sự ở đời. Họ đang cố công tìm kiếm những niềm vui và lợi ích riêng cho đời sống: Nhưng những người ấy đã không thèm đếm xỉa gì và bỏ đi: Người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán, những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi (Mt 22, 5-6). Ai cũng có lý do biện minh rằng cuộc sống bận bịu quá không có thời gian. Nên cuối cùng, tiệc cưới của hoàng tử được mở ra đón mời mọi thành phần, không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc và nòi giống, họ đến từ bốn phương trời. Sự kiện này diễn tả hình ảnh tiệc vui Nước Trời phổ quát cho mọi dân nước.
         Tiệc cưới có thịt béo rượu ngon dọn sẵn sàng, nhưng niềm vui không trọn. Khách mời đã không đến dự tiệc. Có lẽ những người này đang đi tìm một bữa tiệc hợp khẩu vị hơn hoặc là khung cảnh vui nhộn hơn. Họ đã bỏ qua một cơ hội quí báu. Giáo Hội chọn đoạn thơ của thánh Phaolô để lồng vào phần phụng vụ lời Chúa hôm nay nói lên một thực tế cuộc sống: Anh em thân mến, tôi biết chịu thiếu thốn và biết hưởng sung túc. Trong mọi trường hợp và hết mọi cách, tôi đã học cho biết no, biết đói, biết dư dật và thiếu thốn (Phil 4, 12). Phaolô chia sẻ cuộc sống một cách khôn ngoan. Biết sống thích thời trong mọi hoàn cảnh. Vì danh Chúa Kitô, Ngài đã chấp nhận trải qua mọi sự gian khó trong đời sống. Cho dù trong hoàn cảnh nào, Ngài vẫn trung thành và đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô phục vụ anh chị em.
        Chúa các đạo binh sẽ khoản đãi anh em một bữa tiệc giống như tiệc cưới của hoàng tử. Đây là bữa tiệc Nước Trời. Không chỉ là một bữa mà là một cuộc sống an bình viên mãn. Trên đường dương thế, chúng ta phải chuẩn bị kỹ lưỡng để cùng được chung hưởng ngày vinh quang đó. Nhiều người trong chúng ta cũng đã trải nghiệm sự đói khổ ở đời. Những ngày tháng tại quê nhà vào những năm mất mùa, thiên tai nạn lụt, vào thời bao cấp bị thiếu ăn thiếu mặc, chúng ta chịu thương chịu khó. Đối diện với những khó khăn cuộc sống, chúng ta không bỏ cuộc. Niềm tin của chúng ta vẫn khăng khít gắn bó với Chúa Kitô. Hình như trong những lúc gian truân cùng quẫn, lòng tin yêu sống đạo của chúng ta càng sắt son.
         Những người được mời đã không đáng được tham dự tiệc cưới, vì họ đã coi thường đức vua của họ. Chúng ta biết lời mời cao hơn mâm cỗ. Vua đã đích thân gởi thiệp mời đến dự tiệc cưới. Thiên Chúa yêu thương mời gọi mỗi người chúng ta đến dự tiệc cưới Nước Trời. Tiệc cưới này được chuẩn bị ngay trên trần thế. Đây là bữa tiệc Thánh Thể được cử hành mỗi ngày nơi các giáo xứ. Nơi đây chúng ta sẽ được nuôi dưỡng bằng Lời và Mình Máu Thánh Chúa. Bánh trường sinh nuôi dưỡng linh hồn và dẫn bước chúng ta vào tiệc vui Nước Trời mai sau. Chúng ta hãy mau mắn đáp lời mời gọi của Chúa. Hãy ăn mặc tươm tất, chuẩn bị chu đáo và dành thời gian quí để cùng chia sẻ niềm vui chung với cộng đoàn dân Chúa.
          Lạy Chúa, Chúa mở cửa đón nhận mọi người vào dự tiệc cưới Nước Trời. Xin cho chúng con biết sắp xếp công việc và chuẩn bị chu đáo để tham dự ngày vui hồng phúc này. Chúng con hoàn toàn đặt niềm tin yêu nơi Chúa, xin cho chúng con được vào số những người Chúa chọn: Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít (Mt 22, 14).

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

MALALA YOUSAFZAI - NOBEL HÒA BÌNH 2014-



Cô gái Pakistan 17 tuổi làm nên lịch sử với giải Nobel hòa bình

10/10/2014
Malala Yousafzai, người Pakistan, và Kailash Satyarthi, người Ấn Độ, đã vừa được trao giải Nobel Hòa bình trong ngày 10/10 vì nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc bảo vệ quyền trẻ em, dù hoạt động có lúc khiến tính mạng của họ bị đe dọa.

Ủy ban Nobel Na Uy nói rằng 2 người này đã “đấu tranh chống lại tình trạng áp bức trẻ em và người trẻ, đòi quyền giáo dục cho tất cả trẻ em trên thế giới”.
Ở tuổi 17, Malala là người trẻ nhất từng nhận giải Nobel. Khi còn là một nữ sinh ở Pakistan, cô đã bị một tay súng Taliban bắn vào đầu do đã “dám” đấu tranh giành quyền được học hành cho các bé gái. 

Trong khi đó Satyarthi, 60 tuổi, đã duy trì truyền thống đấu tranh bất bạo động của Mahatma Gandhi và lãnh đạo nhiều cuộc biểu tình tập trung vào vấn nạn lạm dụng trẻ em để thu lợi tài chính.
Ủy ban Nobel nói rằng đây là sự kiện đáng nhớ khi “một người theo Hindu giáo và một người theo Hồi giáo, một người quốc tịch Pakistan và người kia mang quốc tịch Ấn Độ, cùng nhau chung sức đấu tranh cho giáo dục và chống chủ nghĩa cực đoan”. 
V.LTheo Reuters

Nữ sinh 17 tuổi Malala Yousafzai (phải), người Pakistan và luật sư về quyền trẻ em Kailash Satyarthi (trái), người Ấn Độ đã trở thành đồng chủ nhân của giải Nobel Hòa bình năm 2014. Ảnh: AFP

            

                   MALALA YOUSAFZAI- 'CÔ GÁI DŨNG CẢM NHẤT THẾ GIỚI '     

                                                                                               ( 16/10/2013)

Một cô gái Pakistan 16 tuổi, người từng bị phe Taliban bắn vào đầu vì đã nêu cao quyền được học hành của trẻ em gái, khiến cả thế giới phải thán phục. Mới đây, em đoạt giải nhân quyền Sakharov và là người trẻ nhất có tên trong danh sách đề cử Nobel Hòa bình.

Tuổi trẻ tài cao
Malala Yousafzai chỉ mới 11 đã trở thành một nhà hoạt động thúc đẩy quyền được đi học, quyền tự do và quyền tự quyết của phụ nữ tại SwatValley ở Pakistan, nơi Taliban cấm phụ nữ đi học. Cũng vào năm này, em được mọi người chú ý khi viết nhật ký về cuộc sống của mình dưới sự kiểm soát của phe Taliban. Những trang nhật ký của em được đăng tải trên trang BBC tiếng Urdu. Phe này chiếm được khu vực Swat, nơi Malala sinh sống, vào cuối năm 2007 và trên thực tế vẫn kiểm soát nơi đó cho đến khi họ bị lực lượng quân sự của Pakistan đuổi ra khỏi đây trong một cuộc tổng tấn công năm 2009.
Malala Yousafzai từng bị quân Taliban bắn vào đầu một năm về trước.
Khi nắm quyền, họ đóng cửa các trường học dành cho trẻ em gái, ban hành luật Hồi giáo và áp dụng các biện pháp như cấm chơi nhạc trong xe ô tô. Malala Yousafzai được nhiều người trên khắp Pakistan khâm phục vì sự dũng cảm vì dám nói về cuộc sống dưới sự cai trị của các chiến binh Taliban, các phóng viên nói. Với những bài viết của mình, Malala đã vạch ra cho mọi người thấy những đau khổ mà phe dân quân gây ra.
Cũng chính vì điều đó mà Malala bị một tay súng bắn vào tháng 10/2012. Kẻ bịt mặt gọi tên Malala, sau đó bắn thẳng vào đầu cô làm viên đạn xuyên vào mắt trái và vỡ hộp sọ. Vụ tấn công vào một học sinh nữ lên tiếng vì quyền được học hành của trẻ em gái, đã gây chấn động ở Pakistan và thế giới.
Phe Taliban nói rằng, cô là mục tiêu tấn công vì dám "cổ vũ cho chủ nghĩa thế tục". Một phát ngôn viên cho nhóm chiến binh Hồi giáo, Ehsanullah Ehsan, nói với BBC, cô sẽ không được tha nếu sống sót. Malala sau đó đã được chữa trị tại Anh và hiện đang sống ở Birmingham, Anh. Cô trải qua nhiều tháng trời trong bệnh viện và được mổ nhiều lần để chỉnh xương sọ.
Trong một cuộc phỏng vấn dài đầu tiên với Malala sau vụ tấn công, Malala cho rằng thảo luận với phe Taliban là cần thiết để có hòa bình. "Cách tốt nhất để giải quyết vấn đề và đấu tranh chống lại chiến tranh là qua đối thoại. Đó không phải là vấn đề dành cho tôi mà đó là việc của chính phủ", nhà đấu tranh nhân quyền 16 tuổi nói.
Malala nói, điều quan trọng là phe Taliban bàn thảo về những đòi hỏi của họ. "Họ phải thực hiện những gì họ muốn qua đối thoại. Giết người, tra tấn và đánh đập người... nó hoàn toàn đi ngược lại với đạo Hồi. Họ đang sử dụng sai trái danh nghĩa đạo Hồi", Malala khẳng định.
Cô gái trẻ từng phát biểu trước Liên Hiệp Quốc hồi tháng 7, cô mong sẽ trở lại Pakistan và theo nghiệp chính trị. "Tôi sẽ trở thành một chính trị gia trong tương lai. Tôi muốn thay đổi tương lai của đất nước mình và tôi muốn làm sao để giáo dục phải trở thành bắt buộc," cô nói. Các đại biểu tham dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đồng loạt đứng lên dành tràng pháo tay cho Malala sau khi cô hoàn thành bài diễn văn của mình, trong đó cô tuyên bố sẽ không bao giờ im lặng trước sự đe dọa của bất kỳ thế lực nào.
Bị Taliban săn đuổi
Các nhóm chính trị trong Nghị viện châu Âu đã nhất trí vinh danh cô gái trẻ cho giải thưởng nhân quyền Sakharov. Chủ tịch Nghị viện châu Âu, ông Martin Schulz ca ngợi "sức mạnh khó tin" của cô bé, đã "can đảm tranh đấu cho quyền học hành của mọi trẻ em, một quyền thường bị chối từ đối với các trẻ gái".
Malala nói, em nhận giải thưởng nhân danh tất cả các trẻ em trên thế giới đang nỗ lực đến trường. "Tại nước tôi Pakistan, những kẻ khủng bố dùng khủng bố để cố ngăn các em gái đến trường. Tôi chỉ là một mục tiêu bạo động của họ. Có nhiều em khác tên tuổi không được biết. Vì các em đó mà chúng ta cần phải tiếp tục chiến dịch vận động để đảm bảo tất cả các trẻ em trên toàn thế giới có cơ hội, có thể đến trường và có quyền đi học."
Sau khi nhận được thông tin này, Taliban khẳng định, Malala "chẳng hề làm được gì" để được trao giải thưởng Sakharov. Phát ngôn viên Taliban tại Pakistan, Shahidullah Shahid cho rằng: "Những kẻ thù của Hồi giáo đã trao giải này vì cô ta từ bỏ đạo Hồi để trở thành kẻ ngoại đạo" và khẳng định "Taliban sẽ tiếp tục nhắm vào Malala dù cô ta có sang Mỹ hay sống tại Anh".
"Mục tiêu rõ rệt của cô ta là chỉ trích Hồi giáo. Nếu có cơ hội khác để trừng trị, chúng tôi chắc chắn sẽ làm điều này, cũng như sẽ tự hào về việc mình làm, đại diện của những kẻ khủng bố là Shahidullah Shahid nói. Hồi giáo nghiêm cấm việc giết hại phụ nữ, ngoại trừ người ủng hộ những kẻ ngoại đạo trong cuộc chiến chống lại tôn giáo của chúng tôi".
Mùa hè năm nay, Taliban đã kêu gọi cô gái dũng cảm trở về nhà. Bản thân nữ sinh thừa nhận rằng nỗi sợ hãi mà Taliban gieo rắc đã khiến cô phải lên tiếng. Các phần tử Taliban giết người công khai trên quảng trường chính ở thành phố quê hương Malala, hất axit vào mặt phụ nữ, xúc phạm hoặc giết hại họ.
Giải thưởng Sakharov hàng năm được trao cho các nhà đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Người đầu tiên được trao giải thưởng này vào năm 1988 là cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, lúc đó vẫn còn đang ở trong tù. Malala cũng được đề cử giải Nobel về sự can đảm chống lại Taliban, hành động khiến cô được vinh danh là đại sứ toàn cầu bảo vệ quyền đi học của trẻ em.
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cùng với đệ nhất phu nhân Michelle và con gái Malia, đã đón tiếp Malala tại Nhà Trắng. Phát ngôn viên Nhà Trắng cho biết, ông Obama muốn ngỏ lời cảm ơn Malala vì những công lao của cô cho việc giáo dục trẻ em gái ở Pakistan.
Cuộc gặp gỡ này diễn ra trong cùng ngày Ủy ban Nobel loan báo người đoạt giải Nobel Hòa bình năm nay. Malala từng được cho là người có phần chắc sẽ đoạt giải, nhưng giải thưởng rốt cuộc đã lọt vào tay Tổ chức Cấm vũ khí hóa học. Tổ chức này hiện đang thực hiện kế hoạch hủy bỏ kho vũ khí hóa học của Syria.              
X.H
  (Nguồn : Đời sống & Pháp luật)