Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

MAIL GỬI CHA

Không chỉ là người Cha linh hồn , Cha Cố An tôn BÙI HỮU NGẠN  còn là một người thầy đáng kính, mẫu mực để rất nhiều thế hệ trẻ  noi theo .
Nhân ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014 , kính mời quý Phụ Trách, quý cựu Huynh Trưởng , Huynh Trưởng, các đoàn viên HTDC cùng quý bạn đọc theo dõi "MAIL GỬI CHA" rất chân thành và cảm động của một cựu huynh trưởng Đà Nẵng gửi cho người Cha, người Thầy đáng kính của mình sau 41 năm 4 tháng ly biệt  .
                                                                             banlienlaccuuhuynhtruong



                      


Fr :   htdc@yahoo.com                                                


Ngày 20 tháng 11 năm 2014
                              
                         Cha kính nhớ
         Những dòng chữ này ,chúng con gửi Cha sau 41 năm 4 tháng kể từ ngày Cha mãi mãi ra đi,từ giã cõi đời ,thân xác trở về cát bụi để lại tiếc thương cho đại gia đình Hùng Dũng chúng con.
        Thời gian trôi qua,bao nhiêu đổi thay ,rất nhiều chuyện trong gia đình mình ,con muốn kể với Cha về những suy tư thao thức ,nguyện cầu tìm được nguồn an ủi phù trợ của Cha.
        Ngược thời gian trở về quá khứ ,50 năm là nửa thế kỷ khi chúng con còn là những thanh thiếu niên trẻ tóc xanh đầy sức sống được Cha vun trồng bằng bao sức lực,bao mồ hôi công,của,bao đêm thức trắng rèn luyện,huấn luyện chúng con trở thành những huynh trưởng ,là những Ki tô hữu hoạt động ,lồng ghép việc học hỏi Giáo lý qua sinh hoạt bằng hình thức vui chơi mang tính giáo dục ,Sống Lời Chúa trong tinh thần vui tươi hùng dũng bác ái với tất cả thiếu nhi .Cha đã tổ chức cho chúng con tìm hiểu phong trào qua các trại Lửa hồng ,Sao biển ,Thả lưới ..với 30 Xứ Đạo gia nhập ...Thế mà Cha đột ngột bỏ đi ,để lại chúng con bơ vơ khi Hùng Dũng đã thâm sâu vào máu thịt chúng con....Cha An tôn Trần văn Trường tiếp bước hoài bão của Cha đã an ủi chúng con vượt qua đau thương để phục vụ ,chúng con cúi đầu vâng Thánh ý Chúa ,
         Cha kính mến ,18 tháng sau, trong bối cảnh đất nước thay đổi hoàn toàn ,chúng con bàng hoàng lo sợ ,các xứ đạo kẻ ở người đi tha phương cầu thực ,cuộc sông vô cùng khó khăn ,mọi sinh hoạt đều không còn ,tiếng chuông vang lên kêu gọi các tín hữu còn lại đến vơi nhau trong lời cầu nguyện .Chúng con cùng tìm đến nhau trong hoài niệm tiếc nuối ,góp chút tiền xin lễ cho đoàn ,góp lon gạo mừng bổn mạng hằng năm ,không còn tiếng còi tích tè gọi đoàn ,có chăng là các lớp giáo lý ngày chủ nhật cho các em, chúng con tự đặt cho mình là cựu trưởng rồi hình thành từng nhóm như ở hải ngoại lập 1 đoàn Hùng tâm dũng chí,hay trong miền Nam tổ chức họp mặt trong lề giố Cha tháng 7 hằng năm .Còn chúng con mãi đến năm 2003 mới họp mặt giỗ Cha ,2004 tại Thanh Đức,2005 ở An ngãi ,2006 Trà kiệu những lần gặp nhau rât ấn tượng cảm xúc ,tiếc nhớ Cha .......
         Thế rồi ,một trang sử mới mở ra cho gia đình chúng ta .trong năm 2007 lễ Giỗ Cha và họp mặt ở Giáo xứ Cồn dầu các cựu trưởng ở các tỉnh phía Nam ra đông cùng chúng con tổ chức một đêm lửa trại thật ấn tượng ,cảm động nhất là chúng con nay đã da mồi tóc bạc,là những cụ ông bà nhảy lửa ,rồi từng đơn vị trình diễn văn nghệ ,các em thiếu nhi đến xem vỗ tay thật to .Điều quan trọng là Thiên Chúa đã ban ơn ,nhờ lời chuyển cầu của Cha, để Đức Cha nhận lời mời đến đồng tế lễ giỗ lần thứ 34 của Cha ,và Ngài gợi ý Giáo xứ nào muốn tái lập đoàn Hùng Tâm Dũng Chí ?? một vài cựu trưởng ở 1 số Giáo xứ xung phong giơ tay ??? tiếng vố tay vang lên vui vui quá vui ghê ,Cha Hạnh cười tươi nhất ,Đức Cha còn bật mí là ngày xưa Ngài là Kim tâm và còn nhớ Anh Đây là trưởng cơ .Năm nay chúng con đã tự may áo đồng phục mang khăn quàng như hòi còn Cha .Tạ ơn Chúa ,mọi sự còn ở phía trước,phong trào sắp được hối sinh sau hơn 30 năm ,Chủ chăn đã khơi ngọn Lửa hồng cho chúng con
           Chúng con được mời họp để lập ban chấp hành lâm thời ,ở Hòa Thuân cha Giuse Đinh công Hạnh quản xứ   mấy lần tim ngừng đập tưởng ngài đã về với Cha ,nhưng Chúa chưa thương ,ngài sống để tiếp nối sự nghiệp của Cha tái lập phong trào Hùng Dũng.
           Mọi sự lại bắt đầu ,Cha Giuse lại noi gương Cha dốc hết túi để sưu tầm in ấn tài liệu ,dù đang thời gian chữa trị tim,Ngài hội ý với Cha Thành để mời Cha Fx Nguyễn ngọc Hiến Tuyên úy .Cha An tôn Trần văn Trường sẵn sàng giúp đỡ chỉ đạo cung cấp nhưng tài liệu hình ảnh sách báo còn lưu giữ ,Cha Thành ở Sài gòn hổ trợ .các anh chị em cựu trưởng các Giáo xứ còn lưu giữ tài liêu,hình ảnh đều tập trung in ấn để có một tủ tài liệu rât giá trị,cung cấp cho các giáo xứ tái thành lập Hùng tâm dũng chí trong giáo phận .
          Trong thời gian này chúng con hăng say động viên nhau, nhiều người chưa hiểu về phong trào nhận định Hùng Dũng không có chiều sâu đạo đức ,chúng con buồn lắm nhưng chỉ biết cầu nguyện và nghiên cứu tài liệu ,ôn lại các bài hát ,băng reo tro chơi giúp các em có niềm vui hăng say học Giáo lý ......
.....chúng con cố nhìn vào sự hy sinh của Cha cho chúng con đến hơi thở cuối cùng ,âm thầm nghiên cứu phương pháp giáo dục ,Tân thủ bản về tông đồ thiếu nhi .
         Cha kính yêu '.Lửa hồng 'cháy sáng bùng lên sau hơn 3 thập niên âm ỉ  ,hơn 300 em thiếu nhi của 18 giáo xứ ,cùng với gân 200 cựu trưởng gần xa hội tụ về ngôi nhà rộng lớn ,Tòa Giám mục mới hoàn thành  phía Đông bờ biển Đà nẵng ...sau bao ngày xa nhau,hôm nay ta lại gặp ...tay bắt mặt mừng rôm rả hòa quyện cùng rì rào sóng biển ...tất bật dựng lều trại ,cờ Đoàn đội tung bay lô gô Hùng Dũng ,băng rô,pa nô  hình ảnh rực rờ trên tiền sảnh ,mọi người tât bât ,làm thủ tục nhập trại ,báo sô trại sinh tham dự ,già trẻ của 3 thế hệ ông bà,cha mẹ con cháu xum vầy vui quá cha ơi .......Một hồi còi dài vang lên chuẩn bị ,tích tè..tích tè,tích tè 3 chữ A tập họp trong trật tự ,nghi thứ khai mạc sau khi cha Hạnh làm phép cờ ,khăn quàng trao cho các đơn vị .
 LỬA HỒNG ...SÁNG ; HÙNG DŨNG ...SẴN SÀNG ; NHẤT TRÍ ... ĐỒNG TÂM; nhiều cánh tay giơ chào ngang tim còn ngọng ngịu ,rụt rè ,...cảm xúc dâng trào ....khăn quàng ,đồng phục  màu truyền thống, mũ trắng xanh trông thật đẹp mắt Bài ca phong trào vang lên .Hùng Tâm Dũng chí ta ngắm đích cao mà đi .Theo cờ Thánh giá.....Cha Hanh cha Thành,cha Hiến và ban điều hành trại sung sướng hạnh phúc nhìn các trại sinh đông vui .Hùng Dũng sống lại rồi Cha ơi '........
  Sau cơm chiều ,các đội tập trung để Cha Thành tập nhảy lửa ,Đức Cha châm đuốc lửa được lấy từ ngọn nến Phục sinh ,ngọn lửa hồng bùng lên .mọi người say sưa nhảy múa theo lơi ca điệu nhạc ,hình ảnh chủ chăn mang khăn quàng ngồi xem văn nghệ ,cùng hô lô tô bình dị ,thân thương và ấn tượng làm sao ..giờ kinh nguyện khi lửa tàn mưa giọt nhẹ nhẹ ,có phải là những giọt nước măt cha khóc thương chúng con không ??.......
 Thế rồi từ đó ,chúng con đi xây dựng phong trào ,gieo mầm tin yêu những nơi quý Cha xứ ưu ái phong trào Hùng Dũng ,với các phương tiện của mình xe chaly,honda cánh én...từ Cồn dầu đến Lệ sơn,có chủ nhật chay xô sáng từ Phú hạ qua Hòa ninh ,chiều về An thượng Gia phước tối An hòa,Thanh bình,đế La nang nữa  ,nơi đâu cũng được Quý Cha,quý chức xem chúng con như con của giáo xứ ,cùng sinh hoat,vui chơi hát múa cùng các em ,tập huấn cho các huynh trưởng thủ tục chỉ huy ,mật thư , gút......hay đi xa như Bình phong Tam kỳ Hà lam,Xuân Thạnh Hòa Lâm,Vĩnh điện  Trà kiệu lắc lư trên các chuyến xe buýt,mệt lắm cha ơi ,nhưng vẫn vui tười động viên nhau mình là HÙng Dũng mà;rồi cùng đọc luật huynh trưởng ..huynh trưởng đai độ luôn luôn hy sinh bât kể....hát 12 nguyên tắc Hùng dũng mọị lúc mọi nơi .là người công giáo ........để quên mình đã hơn u 60 rồi ,gối chồn chân mỏi ,tay run da mồi tóc bạc cả rồi ,cố gắng ôn luyện để tập múa đông diễn cho các em ,có thể vì tôn trọng tuổi chúng con mà các em hăng say cùng tham gia hòa nhập .
     Chúng con an tâm khi được Đức Cha ưu ái quan tâm,quý cha cố vấn như Cha Trường,Cha Hạnh,Cha Thành chỉ đạo từ xa,luôn động viên ,Cha Hiến linh hướng trẻ trung năng động ,cha Tuyên phó tuyên úy chúng con thường gọi la cháu đich tôn,cha Phong cháu nội của Cha  .Quý Cha linh hướng các Xứ Đoàn đã chăm lo luôn trăn trở về tương lai của giáo hội ,cùng anh chị em cựu trưởng trong nước và hải ngoại đã giúp đỡ tinh thần,vật chât.Tất cả tạo thành một sức mạnh tổng hợp cho phong trào hoạt động nhằm hổ trợ cho viêc dạy và học giáo lý
Mấy năm qua Liên đoàn tổ chức thi Giáo lý cụm gồm các xứ Đoàn và chung kết Giáo phận với nhiều hình thức hiện đại hiện nay. rất hiệu quả và bổ ích cho các em .tổ chức Trại huấn luyện,họp mặt và lễ giỗ Cha hằng năm .và nhiều hoạt động khác nữa .Làm thế nào nuôi dưỡng 22 xứ đoàn hiện nay  luôn trăn trở ,ưu tư của chúng con
 Chúng con đang vun đắp cho đội ngũ huynh trưởng trẻ là những giảng viên giáo lý kết thừa các em làm tông đồ cho chính các em
để là những KI TÔ HỮU nhiệt huyết với phong trào .Chúng con biết thật khó khăn trong xã hội, nhiều cam bẫy ,nhiều vui chơi hiện đại ,các em không còn thích thú những bài hát,trò chơi ,băng reo mang tinh giáo duc.vì vây phải luôn sáng tạo trong sinh hoạt cho phù hợp.tất cả đều ở phía trước ....
    Giờ đây Cha không còn đơn độc vì có nhiều cha Linh hướng cũng đã từ giã còi trần thế này ,nhiều cha trẻ cũng ra đi, các huynh trưởng trẻ vì bênh tật đang sinh hoạt vơi chúng con cũng đã ra đi ,hy vọng tất cả xum họp trên cõi phúc thật ,để cầu nguyện cho phong trào .
     Chúng con viết để nhớ thương Cha ,nhưng là chúng con viết cho chúng con ,cho đàn em con cháu chúng con mãi mãi sống nối gót chân cha gieo vui tươi hùng dũng bác ái .
     Chào tạm biệt Cha của Đại gia đình Hùng dũng chúng con

                                                        Phan Thị Tuyết Trâm 
                                                               (Đà Nẵng)



MỘT SỐ HÌNH ẢNH CŨ , MỚI ĐỂ NHỚ NGÀY XƯA
(Trâm Phan gửi) 




































Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

CHU VĂN AN - NGƯỜI THẦY CỦA MUÔN ĐỜI


   Vạn thế sư biểu của Việt Nam

                     
Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến Việt Nam. Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An - người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.
Vốn là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch, ông có công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam.
Vua Trần Minh Tông (1300–1357) vời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai. Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi), dạy học, viết sách cho tới khi mất.

Chu Văn An là nhà nho sống có lý tưởng, ông hành đạo để “chính sự và giáo hóa được đổi mới”. Suốt đời ông cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, đạo làm người mà ông thực hiện và giáo dục học trò là đạo làm người theo tinh thần Nho giáo. Với cốt cách thanh cao, tinh thần trong sáng, trí tuệ sâu sắc và đạo học vững vàng, ông là một nhân cách lớn, đứng đầu trong lịch sử giáo dục Nho học nước nhà.


Sự nghiệp của Chu Văn An là sự nghiệp của một nhà giáo, nhà thơ và sự nghiệp ở chốn quan trường với một "Thất trảm sớ" lưu danh thiên cổ. Trong những sự nghiệp vẻ vang ấy thì sự nghiệp giáo dục được coi là vẻ vang nhất, kì vĩ nhất để ông được đương thời và hậu thế suy tôn là "Người thầy của muôn đời".Chu Văn An (1292-1370) là người làng Quang Liệt, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Trong chính sử Việt Nam, không có nhiều tư liệu về ông. Tuy nhiên, qua những tài liệu ít ỏi, ông được coi là "bậc nho học tiêu biểu nhất của nước Việt", là "bậc thánh cao nhất", là "ngôi sao sáng nhất trên bầu trời văn hiến Việt Nam", được hậu thế tôn vinh là "Vạn thế sư biểu" của Việt Nam, tức là "Người thầy của muôn đời".
Khi còn ở quê, ông mở trường dạy học ở Huỳnh Cung, là phần đất giáp ranh giữa hai xã Thanh Liệt và Tam Hiệp (nay thuộc huyện Thanh Trì - Hà Nội). Đại Việt sử kí toàn thư chép: "Tiếng đồn xa gần, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ". Hai học trò nổi tiếng nhất của Chu Văn An là Lê Quát quê ở Thanh Hóa và Phạm Sư Mạnh quê ở Hải Dương, đây là hai vị quan xuất thân từ khoa bảng có nhiều công lao đóng góp cho nước nhà hồi đó.

Do tài năng, nhân cách, phương pháp đào tạo học trò và viết sách mà lịch sử đã tôn vinh "Chu Văn An là ông tổ đạo Nho của nước Nam ta", "Chu Văn An là nhà giáo dục đầu tiên của Việt Nam".Chu Văn An không chỉ là người thông tuệ kinh sách mà còn là một nhà giáo rất nghiêm khắc, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo. Những học trò của ông tuy đã làm quan đến hàm thượng thư như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát những khi về thăm đều được thầy dặn dò chỉ bảo cặn kẽ. Những người không giữ được phẩm hạnh thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào.

Chu Văn An được sử sách khẳng định: "Ông thực xứng đáng là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu". Không chỉ vì tài năng, tiết hạnh trao truyền cho môn sinh mà ông còn có công mở đầu cho việc viết sách giáo khoa dùng để giảng dạy ở Quốc Tử Giám.
Với chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Chu Văn An là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc học ở Việt Nam. Trải qua hơn 30 năm ở cương vị này, từ việc dạy dỗ các thái tử đến việc viết sách giáo khoa, đề xuất các tiêu chí lựa chọn người vào học, chương trình giảng dạy, thi cử để đào tạo và tuyển chọn nhân tài cho đất nước, những cống hiến của Chu Văn An với sự nghiệp giáo dục của nước nhà quả là "không ai sánh bằng".
  


                    

Chu Văn An là người Việt đầu tiên được thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám

Sinh thời, Chu Văn An đã nói: "Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được". Tư tưởng của Chu Văn An đã thể hiện rõ tầm quan trọng của giáo dục đối với sự thịnh suy, hưng vong của mỗi quốc gia. Chu Văn An là một trong những người đặt nền móng cho việc đào tạo nhân tài bằng Nho học, không chỉ truyền đạt cho các nho sinh những tri thức thông qua Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử... mà còn giáo dục về đạo lý làm người, trung với nước, hiếu với dân.
Chu Văn An đã đi tiên phong trong việc mở trường dạy học "học trò đẩy cửa", hoàn chỉnh lối học, lối thi cử cho nền giáo dục Việt Nam thời kì Trung Đại. Khi về Chí Linh ở ẩn, ông vẫn tiếp nhận học trò. Theo ông, việc dạy học phải dành cho tất cả mọi người: "Việc dạy dỗ của thành nhân không phân biệt người đến học thuộc loại nào".

Truyền thống giáo dục nước ta được khơi nguồn từ tinh thần hiếu học của dân tộc, được khích lệ bởi sự phát triển của khoa cử theo tinh thần Nho học trong các triều đại phong kiến và kết tinh trong tư tưởng, nhân cách của nhiều nhà nho tiêu biểu, như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Đức Đạt, Đặng Huy Trứ, Phan Bội Châu, v.v.. Trong đó, Chu Văn An được coi là một trong những tấm gương tiêu biểu nhất của nền giáo dục Nho học Việt Nam. Nguyên nhân đưa Chu Văn An đến vị trí đó phải chăng chính là bởi những cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và nhân cách của ông với tư cách một hình mẫu tiêu biểu của đạo làm người.
Suốt đời làm giáo dục và chính trong giáo dục, ông thực hiện lý tưởng sống của mình và qua đó, tạo nên nhân cách nhà nho hành động, nhà giáo dục thực tiễn. Để chính sự được đổi mới theo hướng có lợi cho dân, ông đã hành động theo đúng tính cách kẻ sĩ. Con đường hành đạo mà ông thực hiện là con đường của nhà nho chân chính.

Thảo Phương (Thethaovietnam.vn)

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

VÌ CHÚNG TA CẦN ĐẾN NHAU

Ai đó đã nói rằng:
“Tất cả những gì ra đi rồi sẽ quay trở lại………
Hãy làm việc như thể bạn không cần tiền,
Hãy yêu như thể bạn chưa bao giờ bị tổn thương,
Hãy nhảy múa như thể không có ai nhìn thấy bạn,
Hãy hát lên như thể không có ai nghe thấy bạn,
Và hãy sống như thể thiên đường đang hiện diện trên trái đất này.”


Đôi khi, vì những thăng trầm trong cuộc sống hằng ngày mà chúng ta đã quên đi những điều nhỏ bé quan trọng. Chúng ta quên nói lời “Xin chào“, “Làm ơn”, “Cám ơn” hoặc quên chúc mừng ai đó vừa trải qua một sự kiện quan trọng trong cuộc đời họ. Chúng ta đơn giản quên đi một lời khen hay một cử chỉ ân cần, quên mất niềm vui khi làm những việc đó.

Hãy gửi thông điệp này đến tất cả những người mà bạn coi là bạn và bạn có thể khiến cho ngày của ai đó trở nên tươi sáng hơn. Nếu bạn làm điều này thì có thể có ai đó sẽ mỉm cười nhờ bạn.

Đôi khi, ta tự hỏi tại sao có một số người thường xuyên viết thư cho ta hay đơn giản chỉ gửi/chia sẻ cho ta những câu chuyện cười mà không kèm một lời nào cả? Có thể đơn giản bởi vì họ chỉ muốn giữ gìn một sự liên hệ!

Đó cũng chính là một cách để nói lên rằng họ nghĩ đến bạn, rằng bạn là một người quan trọng đối với họ, hay đơn giản chỉ là họ rất mến bạn!

Sưu tầm.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

THƠ THẾ KIÊN


MỪNG LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

                          


KINH NGUYỆN 

     Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
     Đội ơn Thiên Chúa muôn trùng,
Ban cho các đấng anh hùng Việt Nam
     Một lòng chối bỏ trân cam,
Mặc ai dụ dỗ chẳng ham phúc trần.
     Máu đào dâng hiến trọn thân,
Quyết tâm theo Chúa- chứng nhân Nước Trời.
    Ngày nay cho đến muôn đời,
Thanh nhàn vĩnh phúc, gương soi chiên đoàn.
     Chúng con còn ở trần gian,
Nguyện xin các Thánh thông ban hộ phù.
     Ơn thiêng: sức mạnh, thân tu
Nếu không tử đạo, cần cù siêng năng,
     Vượt qua tục luỵ, lưới giăng
Noi gương các Thánh, Chúa hằng xót thương.
     Chờ ngày Chúa gọi lên đường
Về cùng các Thánh đồng hưong Nước Trời…
A men                                

Thế Kiên Dominic




TIÊU CỰC 
(Ảnh hưởng T.M. Mt,25, 14-30 CNTNA33)

Lớp giáo lý em kia hỏi chị
Rằng : Tiêu cực ý nghĩa làm sao?
--Chị rằng: Em thấy nơi nao?
 --Em thường nghe nói biết bao nhiêu lần…

Khó giải nghĩa chị tần ngần mãi
Một phút sau mới “ nại” nên lời:
Dụ ngôn Chúa có một người
Gia nhân tệ bạc,biếng lười, ngu si.

Bạc chủ giao không hề khai thác,
Lại đem về giấu cất một nơi,
Nghĩ rằng không mất thì thôi,
Chủ về, nộp đủ, ắt thời khỏi chê…

Xảy tới, khi chủ về đúng hẹn,
Các gia nhân cùng đến kiểm ngân.
Người ta lãnh thưởng chuyên cần.
Riêng mình bị mắng là quân biếng lười.

Đấy tiêu cực việc đời là thế
Phần chúng ta phải nghĩ sao đây?
Hồng ân Chúa xuống hằng ngày
Đã sinh  hoa lợi hay rầy bỏ quên,

         Chị em ta tự kiểm xem!!!   
………………………………………                                 
                                          Thế  Kiên Dominic



TÍN HỮU LẬP CÔNG 

Tín hữu sống đời để lập công,
Vâng theo thánh ý Chúa quan phòng.
Niềm tin, ngưỡng vọng luôn tươi sáng.
Thân xác, linh hồn mãi sạch trong.
Sống với tha nhân, làm muối mặn.
Vui trong xã hội, ủ men nồng.
Ngày về, lãnh thưởng nơi nhà Chúa.
Tín hữu sống đời để lập công . . .

                        Thế Kiên Dominic


Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

LỄ KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN - NĂM A -16/11/2014

 Hôm nay lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Đúng ra phải nói Các Thánh Tử Đạo ở Việt Nam, vì trong số 118 thánh có 23 vị là người nước ngoài :

- 10 vị người Pháp và
- 13 vị người Tây Ban Nha.
Trong số 118 thánh, có
- 8 giám mục,
- 50 linh mục,
- 15 thầy giảng,
- 1 chủng sinh và
- 44 giáo dân.
Các thánh bị giết suốt  5 triều đại :
- thời Trịnh Nguyễn : 5 vị,
- thời Tây Sơn : 2 vị,
- thời Minh Mạng : 58 vị,
- thời Thiệu Trị : 3 vị,
- thời Tự Đức : 50 vị.
Các vị đã phải chịu đủ mọi loại hình khổ :
- 1 vị bị bá đao (cắt từng miếng thịt, đủ 100 miếng),
- 4 vị bị lăng trì (chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu,
- 6 vị bị thiêu sinh (đốt sống),
- 76 vị bị trảm (chém đầu),
- 22 vị bị giảo (tròng giây qua cổ, hai người cầm hai đầu giây kéo cho đến chết),
- 9 vị chết rũ tù.

Một điều lạ là trong số 118 vị thánh chỉ có 1 thánh nữ Anê Lê thị Thành, nhất là không có một nữ tu nào, đặc biệt các nữ tu dòng Mến Thánh Giá đã được thành lập từ năm 1670. Nhưng trong cuốn “Sống Đạo”, cha Hồng Phúc viết : “Đã có một thỉnh nguyện thư xin phong Chân Phước cho một con số không lồ là 1315 vị ‘Tôi tớ tử đạo Việt Nam’ được đệ trình ngày 14-11-1917. Trong đó có hơn 200 nữ tu dòng Mến Thánh Giá, với lý lịch rõ ràng, đã đóng góp xương máu để xây dựng Giáo Hội Việt Nam từ lúc ban đầu” (trang 448).

Đó mới chỉ là những vị đã được phong thánh hay đang xin phong chân phước, chứ những người chết vì đạo, vì Chúa, con số còn đông hơn nhiều. Trong cuốn “Lịch Sử Những Cuộc Bách Đạo tại VN” in tại Paris, ông Trần Minh Triết viết : “Các vị tử đạo Việt Nam, nếu xếp hàng 4 mà diễn hành trước khán đài, thì phải kéo dài tới 6 tiếng đồng hồ”.

Qủa vậy, cứ nhìn những hình phạt vua chúa giáng xuống , thì cả hàng trăm ngàn người Công giáo đã chết vì Chúa. Trong hai thời vua Minh Mạng và Tự Đức là nhiều nhất. 118 vị thánh thì có 105 vị chết dưới thời hai ông.

Đọc lại sắc chỉ cấm đạo của các vua, mới thấy cha ông chúng ta bị đối xử khốn khổ dường nào, chẳng hạn chiếu chỉ “Phân Sáp” của vua Tự Đức ban hành ngày 5-8-1861 như sau :
- “ Điều 1 : Phàm các tín đồ Datô giáo, bất luận nam phụ lão ấu, kể cả những người đã xuất giáo lâu năm (nghĩa là đã chối đạo), đều phải phân sáp vào các làng lương dân”.
- “Điều 2 : Mỗi làng lương dân phải nhận canh giữ một số tín đồ Datô giáo, theo thể thức này là cứ 5 lương dân phải nhận canh giữ quản thúc 1 người Datô giáo”.
- “Điều 3 : Các làng Datô giáo phải bị triệt hạ bình địa”. “
- “Điều 4 : Tất cả ruộng nương, vườn đất thuộc tín đồ Datô giáo đều phải bị phân chia cho các làng lương dân kế cận, để những người này canh tác và nộp thuế cho triều đình”. “
- “Điều 5 : Mỗi tín đồ Datô giáo phải bị thích tự vào má, một bên chữ ‘Datô tả đạo’, một bên tên xã, huyện của tội nhân”.

Làng mạc thì bị tàn phá, của cải thì bị tịch thu, bản thân thì bị truy lùng. Nếu có ai chạy được, thì chạy lên núi cao, chạy vào rừng rậm, như ở La Vang, Huế. Nếu không chạy thì bị quân lính bao vây, bắn phá, như ở Trà Kiệu, Quảng Nam. Quân Văn Thân đã bao vây Trà Kiệu tất cả 21 ngày. Họ đánh bằng súng nhỏ, súng đại bác, voi giầy; trong khi đó giáo dân chỉ có giáo mác và kinh Mân Côi.
Gần chúng ta như ở Trảng Bàng, Tây Ninh nhà thờ bị đốt, dân bị đuổi ra khỏi làng; ở họ Thơm, Bà Rịa gần 100 giáo hữu bị ném xuống giếng; ở Tân Triều, Biên Hòa bị bắn phá; ở Búng, Bình Dương nhà thờ nhà xứ bị đốt cháy…

Cha Bùi Đức Sinh đã viết : “Từ năm 1858 đến 1862, 5 năm ác liệt nhất : 120 linh mục bị giết, 50 nữ tu viện bị phá hủy, 2000 nữ tu phải chạy trốn, gần 100 nữ tu bị giết, các chủng viện phải đóng cửa, một số lớn thầy giảng chủng sinh phải hy sinh, số câu biện bị bắt lên tới 10.000, qúa nửa đã chết vì đạo, trên 100 làng Công giáo bị phá bình địa, 2000 họ đạo bị tịch thâu tài sản ruộng đất, nhà thờ nhà chung nhà trường bị triệt hạ, các lũy tre cũng như các rặng cây cao bị chặt nhẵn nhụi. Từ Nam Quan đến cà Mau 300.000 giáo dân bị phân sáp, gia đình tan tác, vợ chồng con cái mỗi người một ngã, các phụ nữ chưa chồng hoặc goá chồng phải kết hôn với người ngoại đạo, các thiếu nữ vô tội phải làm tôi các quan hay bị trao nộp cho kẻ dâm ô phóng đãng. Gần 40.000 giáo dân chết trong các cuộc đại khủng bố, những ai sống sót thì cũng khổ sở bơ vơ” (Giáo Hội Công Giáo Ở VN, Tập II, trang 477).

Với chết chóc, tàn phá, khổ sở như thế, nên sử gia Launay, người Pháp đã ca ngợi rằng :Hỡi Gíáo Hội Việt Nam, 1 trong những Giáo hội bị bắt bớ hà khắc nhất trong các Giáo hội trên thế giới, 1 trong những Giáo hội kiên vững lạ lùng. Chúng tôi cúi đầu kính chào. Và bởi vì hy sinh càng lớn lao thì vinh quang càng sáng chói. Giáo Hội Việt Nam xứng đáng được danh thơm muôn thuở, ngang hàng với những Giáo hội anh hùng nhất ở Tây phương.

Ngày 11-6-1933 trong nghi lễ tấn phong Giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám mục người Việt Nam tiên khởi, Đức Giáo hoàng Piô XI đã tặng Giáo hội Việt Nam danh hiệu “Trưởng Nam của các Giáo hội tại Á Đông” tương tự như Giáo hội Pháp là “Trưởng Nữ của các Giáo hội ở Aâu châu”.

(Nguồn : giaophandanang.org)



Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

BÍ ẨN SAU BỨC ẢNH EINSTEIN THÈ LƯỠI

Lâu nay, người ta đã không hiểu được vì sao trong số rất nhiều bức ảnh chụp rất nghiêm túc của mình, lại có một bức ảnh nhà bác học Einstein lại thè lưỡi. Mới đây, câu chuyện thú vị liên quan tới bức ảnh này đã được tiết lộ.

Lúc đó, nhà nhiếp ảnh Sass đề nghị Einstein cho chụp bức chân dung của ông với đề nghị ông phải “diễn” một chút: làm ra vẻ trầm ngâm, như đang suy tư về một vấn đề lớn lao gì đó cho giống với hình ảnh thường thấy ở các nhà khoa học nhưng chưa thực hiện được mong muốn của mình. Cơ hội gặp Einstein đã đến vào dịp sinh nhật của ông vào ngày 14/3/1951, cách nay đúng 62 năm.
Bức ảnh nổi tiếng của Einstein.

Hôm ấy, Trường ĐH Princeton tổ chức kỷ niệm sinh nhật thứ 72 cho ông. Tối hôm đó, Einstein bị các phóng viên “bao vây” xung quanh. Arthur Saas, đợi từ đầu cho đến khi ông “trốn” ra được khỏi đám đông và bắt đầu chui vào trong xe ô tô.

Ông đã cẩn thận ngồi xen giữa vợ chồng Tiến sĩ Eydelot. Saas bám vào cửa xe, nói theo: “Khoan đã, thưa giáo sư, chẳng lẽ vào ngày sinh mà ông cũng không cười được một cái để chụp ảnh hay sao?”.
Einstein đã quá mệt mỏi về những chuyện như vậy, ông thè lưỡi ra rất nhanh và quay mặt đi, nghĩ rằngkhông ai có thể chụp kịp. Nhưng Saas thì lại kịp. Về toà soạn, mọi người thấy bức ảnh, đã ngồi lại thảo luận một cách nghiêm túc với một nhân vật “cỡ bự” đến như vậy có nên đưa ra bức ảnh này không và quyết định cứ đăng. Thật may, kết quả rất thuận lợi.
Chính nhà bác học rất thích thú, tự nhận là bức ảnh chụp ông thành công nhất. Lúc công bố, vẫn là bức ảnh ông chụp chung với vợ chồng Tiến sĩ Eydelot. Nhưng tự ông cắt lấy riêng chiếc mặt mình, sau đó dán vào chiếc bưu ảnh chúc mừng năm mới gửi cho các bạn bè.
Một trong những tấm bưu ảnh ấy ông gửi cho bạn là nhà báo K. Smith, có chữ ký và dòng chữ viết tay của nhà bác học thiên tài: “Chắc bạn thích cái điệu bộ này, vì nó gửi đến toàn nhân loại cái nhăn mặt đùa cợt”.
Mấy chục năm trôi qua, Einstein đã mất từ lâu, và chỉ còn lại 9 tấm ảnh in lần đầu tiên trên báo được mang bán đấu giá. Trong số đó, một tấm ảnh còn lại đến năm 2009 đã bán được 74.000 đôla.

Bảo Châu (Theo mirfactov.com)