Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015

ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI CHA TỐT

1. Tôn trọng mẹ của con bạn
Một khi trẻ nhận thấy rằng cha thật sự thương yêu mẹ và cha mẹ tôn trọng nhau, chúng dễ dàng cảm thấy chúng cũng được thương yêu và tôn trọng.
2. Dành thời gian cho con cái
Cách một người cha dành thời gian chơi với con sẽ cho thấy con quan trọng đến múc nào. Nếu bạn luôn tỏ ra bận rộn với chính mình, chúng sẽ có cảm giác bị bỏ rơi, cho dù bạn có nói gì đi nữa.
3. Tìm cơ hội để lắng nghe
Thường những dịp cha con trò chuyện với nhau là khi con phạm một lỗi lầm nào đó. Hãy bắt đầu trò chuyện với con khi con còn nhỏ, để các vấn đề nan giải trở nên dễ dàng hơn khi chúng lớn lên. Hãy dành thời gian để lắng nghe ý kiến của con và những vấn đề con gặp phải.
4. Trở thành tấm gương cho con cái
Một bé gái lớn lên trong tình yêu thương của cha sẽ hiểu rằng bé xứng đáng được những chàng trai tôn trọng. Người cha cũng có thể dạy cho con trai những điều quan trọng trong cuộc sống, bằng cách thể hiện sự trung thực, khiêm tốn và tinh thần trách nhiệm.
5. Trở thành thầy giáo của con
Rất nhiều bậc phụ huynh nghĩ rằng dạy dỗ con cái là việc của người khác như bà, mẹ, thầy cô giáo. Tuy nhiên, nếu một người cha dạy con thế nào là đúng, là sai và khuyến khích con luôn cố gắng thì con cái sẽ có những lựa chọn tốt nhất.
6. Cùng ăn cơm với nhau
Cùng nhau dùng bữa là một phần rất quan trọng của cuộc sống gia đình hạnh phúc. Bữa ăn còn là cơ hội để trẻ có thể nói về những dự định tương lai và được nghe những lời khuyên của cha mẹ.
7. Hãy đọc sách cho con
Trẻ học hỏi tốt nhất thông qua làm và đọc, cũng như quan sát và lắng nghe. Hãy bắt đầu đọc sách cho trẻ khi trẻ còn nhỏ. Khi chúng  lớn hơn, khuyến khích trẻ tự đọc.
8. Nhận thức rằng công việc của một người cha là công việc của cả cuộc đời
Ngay cả sau khi con bạn đã lớn và sẵn sàng bay nhảy, chúng vẫn tìm lời khuyên và sự thông thái từ người cha. Cha vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con khi con đã khôn lớn, và thậm chí, khi lập gia đình và xây dựng cuộc sống của riêng mình.
MINH TRIẾT (Theo The Oprah Winfrey Show)


Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

GIÁO DỤC CON CÁI TRONG GIA ĐÌNH TÍN HỮU

Chúng ta thường được cha mẹ dạy dỗ trở nên những đứa con ngoan, nhưng rất ít khi được giáo dục để trở nên những ông bố bà mẹ tốt. Ở trường học, tuy được học rất nhiều môn, nhưng không môn nào dạy nghệ thuật làm cha mẹ, mà chúng ta phải áp dụng rất nhiều từ khi có con. Vì thế, khi làm cha mẹ nhiều người đã không biết cách giáo dục con cái thế nào cho hữu hiệu, và mày mò tự học nghệ thuật giáo dục con cái theo kiểu “nghề dạy nghề” hay theo sách vở nặng về lý thuyết. Sau đây là một số kinh nghiệm giáo dục con cái trong gia đình:
1. Con người “nhân vô thập tòan”:
Cha mẹ đừng đòi con cái của mình phải thật hoàn hảo, phải luôn làm cho mình hài lòng. Nếu xét lại, thì chính chúng ta, cũng có nhiều bất toàn. Do đó, tuy có thể đòi hỏi con cái phần nào để chúng cố gắng, nhưng chúing ta cần biết thông cảm với những khuyết điểm tật xấu của con cái. Cần biết hài lòng với thiện chí và cố gắng của chúng.
2. Đừng kỳ vọng quá mức vào con:
Thông thường, khi có con, ai cũng kỳ vọng con mình phải là người thế này, thế kia. Ta mong con ta phải giỏi hơn ta, và sẵn sàng hy sinh tất cả để con đạt được những gì ta kỳ vọng nơi chúng. Nhưng trong nhiều trường hợp, những kỳ vọng đó lại vượt quá khả năng thực hiện của chúng. Có thể chúng không có nhiều tài năng và nghị lực như cha mẹ, hoặc có khuynh hướng bẩm sinh khác với cha mẹ. Do đó, cha mẹ tránh lấy mình làm khuôn mẫu để ép con cái phải như mình. Kỳ vọng quá cao dễ làm cho con bị mặc cảm tự  ti và buồn chán nếu không có khả năng đạt tới, đồng thời cũng dễ làm cha mẹ thất vọng về chúng.
3. Chấp nhận giới hạn của con:
Chấp nhận không có nghĩa là không bắt chúng cố gắng để nên tốt đẹp hơn, mà là chấp nhận mức độ chúng đạt được sau khi chúng ta đã hết sức động viên và đã tạo mọi điều kiện cho chúng. Cũng đừng ép con cái phải giỏi như trẻ khác ta biết. Để chấp nhận trẻ, ta cần đặt mình vào hòan cảnh của chúng và nhìn sự vật theo quan điểm của chúng.
4. Đối thoại với con:
Nên bỏ ra mỗi ngày ít nhất 15 hay 30 phút để tiếp xúc với con cái, bằng việc nói chuyện, trao đổi tư tưởng, cảm nghĩ và tâm tình với chúng. Thời gian thuận tiện đối thọai là trong các bữa ăn. Phải khuyến khích bằng cách lắng nghe chúng nói, chứ không phải chỉ biết nghe lời dạy của cha mẹ mà thôi. Phải tập trò chuyện với chúng như hai người bạn, nhất là khi chúng được 10 tuổi trở lên. Đừng để xảy ra tình trạng con bắt chước bạn bè xấu ra hư hỏng: hút chích sì-ke và tham gia các vụ cướp lúc nào mà cha mẹ chẳng hề hay biết.
5. Tạo mối quan hệ tình cảm:
Con cái chúng ta rất cần được yêu thương, khuyến khích, hỗ trợ để phát triển. Do đó, cha mẹ cần biểu lộ tình cảm qua ánh mắt, qua những cử chỉ âu yếm, những lời nói ngọt ngào, những hy sinh cụ thể và thường xuyên. Khi còn nhỏ, con chúng ta rất nhạy cảm trước tình thương của cha mẹ và chúng cần có tình thương đó để có thể phát triển, cũng giống như cần đồ ăn thức uống vậy.
6. Cần tạo được niềm tin tưởng nơi con:
Trẻ cần được bảo đảm tốt đẹp về vật chất cũng như tinh thần. Chúng mong tìm được những bảo đảm đó nơi cha mẹ của chúng. Vì thế, cha mẹ phải trở nên chỗ dựa vững chắc cho con cái về mọi mặt. Phải sống làm sao để chúng cảm thấy an tâm. Mọi lời cha mẹ nói phải đúng để chúng tin tưởng, mọi việc cha mẹ làm phải tốt để chúng bắt chước. Phải làm sao để chúng tin vào tình yêu, sự thành thật, khả năng hy sinh và sự cao thượng của cha mẹ. Ta muốn con cái chúng ta tốt tới mức nào thì chính chúng ta cũng phải sống tốt với mức độ đó. Hành động của cha mẹ dù tốt hay xấu đều gây ảnh hưởng không nhỏ tới con cái.
7. Tôn trọng phẩm giá của con:
Con cái chúng ta có quyền và rất cần được cha mẹ đối xử như những con người. Đừng đối xử với chúng như những nô lệ hay đầy tớ trong nhà. Hãy tôn trọng tự do của chúng, Đừng cấm đoán chúng những gì vô hại. Cũng nên tôn trọng giờ làm việc, giờ ngủ nghỉ của chúng vừa phải. Nếu cần phải sửa phạt thì thì nên sửa phạt đúng mức, hợp lý. Đừng phê phán quá đáng hoặc chửi rủa thậm tệ, xúc phạm tới phẩm giá hoặc làm tổn thương tự ái của con quá mức. Đừng bêu xấu con cái trước mặt người khác hoặc những trẻ em khác. Có tôn trọng chúng thì chúng mới biết tự trọng và tự tin sau này.
8. Phát triển tính độc lập:
Khi còn nhỏ, con cái bị lệ thuộc cha mẹ mọi mặt. Trong thời gian ấy chúng ta bắt chúng phải vâng lời để biết phận biệt phải trái cho đúng. Nhưng ta phải huấn luyện chúng dần dần trở nên trưởng thành, có khả năng tự lập về mọi mặt. Đừng bắt chúng phải lệ thuộc vào cha mẹ mãi khi đòi chúng phải làm theo ý muốn của cha mẹ. Đó cũng là cách để chúng ta tự giải phóng chính mình. Nên ý thức rằng con cái không phải thuộc về cha mẹ mãi mãi, mà chúng thuộc về Chúa và xã hội. Đòi con cái phải lệ thuộc mình mãi mãi chính là dấu hiệu của những cha mẹ thiếu kinh nghiệm. Cần phải biến con cái thành những người bạn ngang hàng với mình. Có như thế chúng mới có điều kiện đễ trưởng thành và tự lập.
9. Hãy trao trách nhiệm cho con:
Phải tập cho con cái tinh thần trách nhiệm ngay từ khi chúng còn nhỏ, bằng cách trao cho chúng những trách nhiệm trong gia đình từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn. Phải tập cho con cái dần dần quán xuyến được mọi việc như: đi chợ, quét nhà, nấu bếp…Và khi chúng khôn lớn, phải tập cho chúng đảm nhiệm những việc lớn hơn như công việc kinh doanh, giao tiếp, điều hành quản trị cơ sở kinh tế gia đình,… Phải tập cho chúng làm những công việc của cha mẹ để khi cần chúng có khả năng thay thế cha mẹ. Nên sớm trao trọng trách cho con đang khi chúng ta còn có thể đứng sau để trợ giúp chúng. Đừng để tới lúc ta không làm được nữa mới trao trách nhiệm thì đã muộn, vì khi đó nếu chúng mắc sai lầm nghiêm trọng thì chúng ta sẽ không thể khắc phục kịp thời được nữa.
10. Hãy năng cầu nguyện và nêu gương sáng đức Tin cho con:
Kèm theo gương sáng và lời dạy bảo, cha mẹ còn phải năng cầu nguyện cho con có lòng tiu cây yệu mến Thiên Chúa. Hãy tạo thói quen tốt giúp con tham dự thánh lễ chiều và đọc kinh tối chung gia đình hằng ngày. Trong giờ kinh tối, cha mẹ nên phân công cho từng thánh viên và cha mẹ nên dùng Lời Chúa mà dạy dỗ bảo ban con cái. Nhờ sống trong bầu khí đạo hạnh như thế, hy vọng con cái chúng ta sẽ có được đức tin trưởng thành và chu tòan được sứ mệnh làm chứng nhân của Chúa sau này.   

LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

CÙNG LÚC ĐỨNG Ở TRÊN HAI , BA QUỐC GIA

Những nơi bạn có thể đứng cùng lúc trên hai quốc gia

Nhiều nơi trên thế giới có ranh giới giữa các quốc gia chỉ là một vạch kẻ mong manh và bạn dễ dàng cùng một lúc đặt
chân lên hai đất nước.
Trên thế giới vẫn tồn tại các đường biên giới hòa bình khiến nhiều du khách khi ghé thăm đều thích thú chụp ảnh trong tư thế hai chân đứng ở hai đất nước khác nhau.

1-1807-1419846388.jpg
Bỉ và Hà Lan nổi tiếng với đường biên giới zích zắc. Vì vậy mà nhiều du khách khi đến đây đều cố gắng chụp một bức ảnh làm kỷ niệm, ghi lại hình ảnh của chính mình với tư thế mỗi chân đặt

trên một đất nước khác nhau.



2-8482-1419846389.jpg
Một du khách chụp ảnh tạo dáng khi cùng lúc đứng trên hai đất nước Thụy Điển - Na Uy.
3-9862-1419846389.jpg
Chỉ cần một bước nhỏ, người đàn ông này có thể đứng cùng lúc tại hai quốc gia Mỹ - Canada.
4-9443-1419846389.jpg
Công dân hai nước dùng luôn đường biên giới Mexico - Mỹ làm lưới chơi bóng chuyền.
7-5022-1419846390.jpg
Người đàn ông này cũng đang đứng trên hai quốc gia Đức và Hà Lan.
10-9999-1419846390.jpg
Danh giới giữa Thụy Sĩ và Italy chỉ cách nhau chưa đến một bước chân.
5-6695-1419846389.jpg
Đứng tại địa điểm này, du khách có thể cùng lúc có mặt trên 3 đất nước: Bỉ, Hà Lan và Đức.
6-6917-1419846390.jpg
Ranh giới Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha chỉ cách nhau một bước chân.
8-3670-1419846390.jpg
Chỉ cần đứng ở những vị trí khác nhau quanh 3 chiếc bàn này, bạn sẽ được tính là từng đặt chân tới 3 quốc gia Áo, Slovakia, Hungary.
9-4669-1419846390.jpg
Biên giới giữa hai nước Ấn Độ - Trung Quốc.
11-3156-1419846391.jpg
Khi đứng tại Cape Agulhas, bạn sẽ có cơ hội cùng lúc xuất hiện ở






hai biển lớn: Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương.

Anh Minh (theo Scoopwhoop)

(Nguồn : vnexpress.net)

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

LINH MỤC NGƯỜI LÀ GÌ ?

AE thân mến,

Xin gửi đến anh em  công giáo bài viết rất hay từ câu truyện của linh mục Trần Tuyên.



Chuyện thật, người Thật, Linh mục người là gì?

Một sáng sớm mùa Đông Canada, tuyết vẫn còn phủ trắng, cao đến mắt cá chân trên các lối đi. Bà Catherine, bà bếp Cha Sở bước chầm chậm và cẩn thận quay về nhà xứ sau Thánh Lễ ban sáng. Vừa đặt chân trên bậc thềm nhà xứ, thấy tôi đang quét tuyết, bà vui vẻ chào tôi và bảo :” Peter, mang cây chổi quét tuyết tới đây!” Tôi tươi cười tiến tới gần bà với cây chổi quét tuyết đu đưa trên tay, chưa đón ra ý bà muốn nhờ tôi chuyện gì. Bà Catherine tự nhiên kéo váy đầm cao lên một chút và chìa đôi giày bám đầy tuyết, thản nhiên bảo tôi: “Lấy chổi phủi dùm tuyết bám giày, để tôi đi vào không làm dơ thảm nhà xứ!”

Nụ cười vụt tắt trên môi. Tôi không nghĩ là mình không hiểu tiếng Anh. Rõ ràng quá mà: Lấy chổi phủi sạch tuyết bám giày bà đầm Catherine. Tôi cúi mặt chần chừ. Bà Catherine vẫn giữ cao váy đầm, giơ đôi giày bám đầy tuyết , thúc giục: “Phủi dùm mau đi để tôi còn kịp vào chuẩn bị cà phê sáng cho Đức Ông Robert!” Im lặng và cẩn thận, tôi cầm chổi, nhẹ nhàng phủi tuyết bám giày bà Catherine, từng chếc một. Bà cười mãn nguyện, cám ơn tôi và nhanh nhẹn đẩy cửa bước vào nhà xứ.

Cửa chánh nhà xứ đóng ‘rầm’ một tiếng chận đứng ánh mắt buồn của tôi đang dõi theo bà Catherine. Tôi xấu hỗ cúi xuống đưa mắt nhìn lại chính mình, lần dò xuống tận bàn chân. Dù khoát chiếc áo Mùa Đông để ra ngoài trời quét tuyết, nhưng bên trong tôi vẫn đàng hoàn nghiêm túc với tu phục linh mục: áo sơ mi dài tay màu đen, cổ côn trắng hẳn hoi, quần đen ủi thẳng nếp, giày da mùa Đông loại đắt tiền cổ cao, đế dày. Tôi học và chịu chức linh mục ở Canada, dáng vẻ phong thái lịch lãm không kém người da trắng. Nếu hoàn cảnh đất nước cho phép, tôi về lại quê nhà, chắc sẽ được đánh giá cao, không thua các linh mục được du học ngày xưa. Tôi nghĩ vậy.

Cái nhục phủi tuyết bám giày bà đầm len vào máu, bốc cao tận đỉnh đầu. Ném chổi quét tuyết trả lại góc tường nhà xứ. Lặng lẽ, tôi trở lại phòng làm việc, đóng cửa khá mạnh tay, để toàn thân rơi phịch nặng nề trên chiếc ghế bành làm việc.  Tại sao bà Catherine không gọi tôi là CHA? Vì tôi mới làm linh mục và còn làm phó cho Đức Ông Robert chăng? Tại sao bà Catherine dám bảo một linh mục phủi tuyết bám giày bà? Bà là bà đầm da trắng, còn tôi là tên tóc đen, da vàng đến từ một nước nghèo chăng? Da màu phải phục vụ da trắng hay người nghèo phải phủi tuyết bám giày người giàu chăng? Nhiều câu hỏi tương tự quanh đi quẩn lại trong tôi.

Cái nhục của một linh mục đã phủi tuyết bám giày bà đầm được tô đậm nét. Lòng tự ái dân tộc, niềm tự hào nòi giống rực lửa trong tôi. Tôi mạnh dạn, hung hăng đứng lên, định đi tìm bà Catherine và Đức Ông Robert để làm lớn chuyện, làm cho ra lẽ. Bà Catherine phải xin lỗi tôi về chuyện đã không gọi tôi là Cha và vì đã dám bảo một ông Cha phủi tuyết bám giày bà. Gọi một linh mục bằng tên, thiếu lòng đạo đức rõ ràng. Bảo một linh mục phủi tuyết bám giày, thiếu lòng kính trọng chức thánh không thể chối cãi.

Cái đứng dậy quyết liệt, cái vung tay tức giận làm văng cây Thánh Giá trên bàn làm việc xuống sàn nhà. Ảnh Chúa Chuộc tội từ lâu vẫn đứng vô tri trên bàn làm việc, ngay trước mặt tôi, rất kề cận, nhưng nhiều khi tôi đã không thấy, hay thấy như một thứ trang trí tôn giáo cần thiết trong phòng làm việc của một linh mục. Tôi bước đến, chậm rãi cúi nhặt ảnh Thánh Giá lên. Chúa nằm úp mặt trên sàn thảm, một cánh tay gảy lìa thân. Chúa trông thảm hại hơn bình thường. Cánh tay gảy lìa còn tòong teng nhờ đinh đóng chặt. Im lặng nhìn Thánh Giá, cố ráp cánh tay gảy của tượng Chúa vào thân, đặt trở lại trên bàn làm việc. Tôi quay lại ghế ngồi, ánh mắt vẫn không rời Thánh Giá. Tủi nhục và thảm hại của Thánh Giá làm cái tủi nhục phủi tuyết bám giày bà đầm lắng xuống dần. Ý nghĩa về chức linh mục của Chúa Giêsu dâng cao, lấn chiếm tôi.

Ánh mắt vẫn không rời tượng Chúa Giêsu chết treo trên Thánh Giá. Ngài là Linh Mục Thượng Tế, đang giang tay tế lễ trên Thánh Giá. Chính Ngài lập Bí Tích Truyền Chức Thánh để thông ban cho tôi chức linh mục của Ngài. Không ai gọi Ngài là CHA cả, nhưng gọi là Chúa và là Thầy (Gioan 13:13). Vậy tiếng CHA dùng để gọi các linh mục, tiếng ĐỨC CHA dành để gọi các Giám Mục, tiếng ĐỨC THÁNH CHA dùng để gọi Giáo Hoàng La Mã đến từ đâu? Không đến trực tiếp từ Chúa. Chính Chúa đã có lần dạy các Tông Đồ là ‘đừng tôn xưng ai dưới đất là Cha, vì chúng con chỉ một Cha duy nhất trên trời” (Matt. 23:9). Nói thế, Chúa không có ý chỉ thị rõ ràng rằng ‘đừng gọi các linh mục Công Giáo là Cha’ như người Tin Lành suy diễn nhằm chỉ trích linh mục Công Giáo. Chúa đã khiển trách môn đệ mình vì chuyện ‘tranh chức’ đòi làm lớn, ngồi chỗ nhất giống như người Biệt Phái và dạy họ rằng “Ai muốn làm lớn phải làm đầy tớ anh em mình.” (Matt.20:24-27), cũng như dừng bao giờ tự tôn mình lên ngang hàng với Chúa, vì chúng ta chỉ có một Chúa, người Cha duy nhất trên Trời. 

Tiếng gọi CHA dành cho linh mục, ĐỨC CHA dành cho Giám Mục hay ĐỨC THÁNH CHA, dành cho Giáo Hoàng được xử dụng trên toàn thế giới, đến từ truyền thống của Giáo Hội nhằm tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ những người có chức thánh linh mục. Từ việc tin Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế, là Linh Mục Thượng Tế, Kitô hữu đem lòng mộ mến, kính trọng Linh mục, Giám Mục và Giáo Hoàng. Họ được coi như những người thông phần với chức Linh Mục của Chúa Kitô, như những người hy sinh và hiến tế đời mình cho phần rỗi nhân loại. Phaolô nói khá nhiều về chức linh mục thượng phẩm của Chúa Kitô (Thư Do Thái 4: 14- 5: 1-10) cũng như về vai trò trung gian giữa Trời và Đất đã ảnh hưởng sâu đậm nơi những kẻ tin. Người tin Chúa Kitô được dạy để đồng hoá linh mục với Chúa Kitô. Linh mục là hiện thân của Chúa Kitô, là một Chúa Kitô khác, là người CHA tinh thần, người CHA chăm sóc phần hồn cho các tín hữu, người tái sinh chúng ta qua bí tích rửa tội. 
Cũng rất có thể nó đến từ cách xưng hô kính trọng dành cho những bô lão, những bậc đứng tuổi, đáng kính trong Giáo Hội sơ khai. Từ Presbyteroi, nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là người đứng tuổi, bậc đáng kính, được dùng để chỉ linh mục ngay từ buổi đầu.  

Bà Catherine thiếu lòng kính trọng thánh chức linh mục vì đã không gọi tôi, một linh mục là CHA. Tôi thấy mình thiếu lý chứng để kết án bà. Người Tây Phương đặt tên để gọi. Họ thích được gọi đích danh. Một linh mục biết nhiều tên của nhiều người và gọi đúng tên, bất luận già trẻ lớn bé, sẽ được giáo dân quí mến đặc biệt. Khi được gọi đúng tên, người Tây Phương cảm thấy mình thực sự được quan tâm. Người Á Đông, đặc biệt Việt Nam mình, đặt tên để tránh gọi tên hay đặt tên để giấu tên. Gọi tên ‘cúng cơm’ một người lớn, chuyện bất kính, không thể chấp nhận được. Người mình thường xưng hô bằng ngôi thứ: Bác Ba, Cô Chín, Cậu Út thay cho tên. Trong những xứ đạo người Bắc, chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ được gọi là Ông Chánh hay Chánh Trương. Giáo lý viên dạy kinh bổn được gọi là Bà Quản hay Quản Giáo. Người xướng kinh trong nhà thờ được gọi là Ông Trùm. Người chăm sóc việc nhà thờ, nhà Cha được gọi là Ông Bõ. Việc tránh gọi tên đi đến kết quả: không còn ai biết tên thật của nhau. Cách nào đó đã thiếu quan tâm đến cá nhân, đến hữu thể mà chỉ chú trọng đến ngôi thứ, chức vụ hay địa vị là cái tùy thể, tháp gắn vào hữu thể.

 Năm 1974 tôi biết rõ một thiếu tá quận trưởng mất chức vì dám gọi vị Giám Mục Công Giáo là “Ông Đạo”. Ai cũng cho là đáng đời, vì làm tới quận trưởng mà không biết gọi Giám Mục là Đức Cha. Cũng là những kết án không hợp lý và bất lợi: Một quận trưởng không Công Giáo, làm sao biết được cách xưng hô kiểu Công Giáo? Người ngoài Công Giáo và nếu chịu ảnh hưởng Khổng Giáo chút ít, khó có thể gọi một ai khác ngoài cha đẻ của họ ở nhà là cha. Vị quận trưởng bị cất chức nầy có nhận ra lỗi “ăn nói vô đạo” của mình không? Không! Ông ta đâu có lỗi để nhận ra. Nhưng trên thực tế, ông ta đã nhận một bất công. Gánh chịu bất công dễ đưa lòng người tới oán hận.  Phải thú nhận rằng trong quá khứ, chúng ta, do hoàn cảnh đưa đẩy, đã sống theo kiểu “làm cha thiên hạ” hay “lấy thịt đè người”. Chúng ta đòi người khác cho cái mà họ không có và không buộc phải cho. Chúng ta nghĩ thế nào, dễ hay khó, tự nhiên hay bất thường khi nghe một cụ già bảy mươi tuổi, trong tiếp xúc xã giao thường ngày, gọi một linh mục trẻ mới ba mươi tuổi là cha và xưng là con?

Bà Catherine đã gần bảy mươi tuổi, sấp xỉ tuổi mẹ tôi ở quê nhà. Chưa một lần xác định bằng lời, nhưng xem chừng bà thay Mẹ tôi chăm sóc cho tôi trong mấy tháng qua: Bà nấu cơm cho tôi, giặt giũ cho tôi, bà pha chế những món ăn hoà hợp giữa khẩu vị Tây-Ta cho tôi vừa miệng. Bà hay dò hỏi xem Mẹ tôi làm gì cho tôi khi tôi đau ốm hay khi tôi buồn. Bà nhắc tôi đi ngủ sớm và dâng thánh lễ chậm rải, sốt sắng. Bà thương chỉ bảo cho tôi phát âm từng chữ tiếng Anh cho đúng giọng và chính xác. Bà cũng hay nhờ tôi khuân vác hay di chuyển những vật nặng trong nhà xứ giống như Mẹ tôi ở nhà vậy. Chuyện bà gọi tôi bằng tên cũng là chuyện tự nhiên như Mẹ gọi con. Có bà mẹ nào, trong sinh hoạt thường nhật, gọi con mình làm linh mục là cha bao giờ? Chuyện bà nhờ tôi phủi tuyết bám giày sáng nay, trong trí bà, có thể không như chuyện giáo dân nhờ linh mục, nhưng là chuyện mẹ nhờ con. Thật đơn giản!

   Hơn bao giờ hết, tôi thấy mình thật cận kề với Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang đặt trước mặt tôi, trên bàn làm việc. Chúa Kitô, linh mục thượng phẩm, đang giang tay, hiến tế chính thân mình trên Thánh Giá. Tôi, một linh mục, một Chúa Kitô khác, tôi giang tay dâng lễ hàng ngày trên bàn thờ. Tay giang, nhưng không dâng hiến, không ban phát, không cho đi, nhưng đòi hỏi: đòi được kính trọng đặc biệt, đòi được gọi bằng CHA mới thoả lòng. Tôi làm linh mục, một Chúa Kitô khác, nhưng đôi khi tôi thật khác Đức Kitô: Chúa Kitô, đến để phục vụ, còn tôi, tôi sôi máu tức giận khi phải phục vụ.

Tôi đứng lên, tìm bà Catherine trò chuyện. Bà đang ở nhà bếp chuẩn bị cơm trưa. Tôi vui vẻ đến gần hỏi xem bà có cần tôi giúp chuyện chi không. Bà Catherine vui vẻ nhờ tôi chuẩn bị Salad và cà chua. Tôi vừa làm giúp bà vừa hát nho nhỏ trong miệng. Bà Catherine đến gần, ngọt giọng bảo tôi: “Peter, you look so happy today!” Lại cũng Peter suông! Nhưng tôi lại yêu nó. Tôi mỉm cười đắc ý trả lời: “Yes, Mom, I deeply realize that I am a priest forever!” Chữ “linh mục” tôi nhấn mạnh và kéo dài. Suốt năm tháng qua, từ ngày chịu chức, tôi đã làm CHA và buồn vì không được gọi là Cha. Hôm nay, tôi mới thực sự làm linh mục, làm người được chia sẻ chức linh mục với Chúa Kitô, Đấng đến giang tay tế chính thân mình cho phần rỗi của những người con. 

Bà Catherine ơi! Cám ơn bà thật nhiều! Bà đã không kêu tôi bằng Cha, nhưng bằng tên và đã nhờ tôi phủi tuyết bám giày bà. Bà không thật sự thiếu lòng kính trọng tôi, hay coi thường chức linh mục trong tôi. Nhưng bà cho tôi cơ hội nếm và sống ý nghĩa chức linh mục. Linh mục, kẻ giang tay để tế lễ, để dâng hiến, để cho đi, để ban phát và phục vụ như một Đức Kitô khác. Bà thật sự giúp tôi khước từ ước vọng làm CHA hay thích được gọi là CHA theo ý nghĩa muốn được nâng cấp, mang tính ích kỷ thu gom của mình. Linh mục, người Cha tinh thần hay cha linh hồn, người  sinh cho Chúa nhiều con cái qua bí tích Rửa Tội, nhưng nhiều khi được gọi CHA làm tôi dễ thấy mình cao cả và quên đi vai trò hy sinh, giang tay cứu độ mà Đức Kitô, Linh Mục Thượng phẩm đã chọn gọi tơi để thi hành.

Lm. Phêrô Trần Tuyên




Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

HÀNH TRANG CUỘC ĐỜI : HƯ VÔ

 Nếu Biết Thế!

Tất cả mọi thứ mình có hiện tại là của riêng mình, 
và bạn không thể mang theo được gì cả khi ra đi !!!

                      


Một người hấp-hối chết, nhìn thấy Chúa ưu-ái trao cho chiếc va-li, 
Chúa nói : Đến giờ con ra đi rồi !
Ngạc- nhiên người này hỏi : Bây giờ sao ?  Sớm quá, con còn nhiều việc chưa làm !
Chúa nói : Rất tiếc vì tới giờ con ra đi thôi !
Người này hỏi : Có gì trong va-li hở Chúa ?
Chúa đáp : Hành trang của con đó .
Sở hữu của con, y phục, tiền-bạc ?
Chúa đáp : Các vật đó không phải của con, chúng thuôc về trái đất !
Vậy có phải ký ức của con ?
Chúa đáp : Không phải của con, của thời gian !
Phải chăng tài năng của con ?
Chúa nói : Không phải của con, của hoàn cảnh

Có phải bạn bè hay gia đình con ?

Chúa nói : Rất tiếc cũng không phải của con, chỉ là tiến trình cuộc đời
Phải chăng  vợ con của con ?
Chúa nói: Không phải của con, mà là tâm-tư con
Có phải là thân xác của con ?
Chúa nói : Cũng không phải của con, nó là cát bụi !
Phải chăng tâm linh con ?
Chúa nói : Không, của ta !
Phập phồng người chết nhận chiếc va-li Chúa trao,
Liền mở ra xem, bên trong không có gì cả, trống rổng !
Bàng hoàng người chết nói không  có cái gì là cúa tôi cả !
Chúa nói : Đúng thế, tất cả thời gian con sống là của riêng con 

Đời sống là thời gian đó của riêng mình !

Bởi thế, nên tận hưởng thời gian đó, khi mình có !
Đừng để những gì mình có qua đi
Sống đi, vui sống đời mình
Đừng bỏ qua nguồn vui khi có, vì chính đó là sở hữu của mình !
Tất cả mọi thứ mình có hiện tại là của riêng mình, và bạn không thể mang theo được gì cả khi ra đi !!!


Nếu Biết Thế!
Nếu biết thế xin đừng ham cố
Bởi không ai mang được xuống mồ
Một mai khi về cõi hư vô
Của trần gian dù là vô số

Nếu biết thế màng chi danh lợi
Lợi danh như bọt biển phù vân
Có gì tồn tại mãi cõi trần
Mà mê muội dốc lòng đeo đuổi

Nếu biết thế xin dừng nghiệp chướng
Hãy biết đủ làm kẻ thiện lương
Nếu dư hãy đầu tư thiên đường
Để  một mai còn được an hưởng







Mai Phiệt chuyển




Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

ĐỂ CÓ MỘT KẾ HOẠCH LÀM VIỆC HIỆU QUẢ


Bạn có những mong muốn, những dự định và mục tiêu cho riêng mình, điều đó chỉ ra thiên hướng sử dụng qũy thời gian của mỗi cá nhân. Thời gian của đời người là hữu hạn và mỗi người lại có những đam mê khác nhau, nên cách sử dụng chúng cũng khác nhau. Và mỗi dự định cũng nên có thứ tự ưu tiên nhất định, đó là vì sao mà bạn nên có một lịch trình công việc cụ thể. Một kế hoạch làm việc chính là sự tương thích giữa niềm đam mê và nguyện vọng cá nhân với thời gian phù hợp mà bạn sở hữu.

Lập một lịch trình làm việc là một quá trình bạn sắp xếp thời gian thích hợp cho từng công việc, là việc lên kế hoạch để đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian hoạch định. Bằng thói quen phác thảo kế hoạch làm việc, bạn sẽ có rất nhiều thuận lợi trong việc quản lý thời gian của mình:

- Hiểu rõ điều mình thật sự mong muốn đạt được, đương nhiên mơ ước là vô vàn nhưng bạn sẽ phải cân nhắc cái gì là thật sự đáng để hy sinh thời gian vì nó.

- Tận dụng hết mọi nguồn thời gian sẵn có: bạn biết đấy, ai cũng có 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần và 3 năm để học cấp 3, nhưng có những người trong 18 năm học đã có thể nói được 2 ngoại ngữ, có người không xong nổi tú tài, ngoài sự chênh lệch về khả năng tiếp thu, sự khác biệt ấy còn phụ thuộc vào cách sử dụng thời gian của mỗi người.

Do đó: Nếu bạn thấy mình đã từng bỏ phí thời gian thì hãy học cách sống có kế hoạch ngay từ bây giờ.

- Dành đủ thời gian cho những điều quan trọng mà bạn chắn chắn rằng mình phải đạt được. Một người sống có kế hoạch có thể là một người bận rộn nhưng không bao giờ là một người quay mòng mòng với núi công việc và luôn chép miệng: "Ôi, tôi không có thời gian".

- Luôn có những khoảng thời gian dự trù cho những việc bất ngờ cần giải quyết gấp. Bạn có một kế hoạch, và có thể nó đã được điền kín, nhưng thế không có nghĩa là bạn từ chối đi thăm ông ngoại bị bệnh

-> Kế hoạch chỉ đem lại hiệu quả nếu đấy là một kế hoạch linh hoạt.

- Giảm khả năng bị stress vì bạn có thể làm chủ cuộc sống của mình một cách hợp lý.

Những công cụ để hỗ trợ việc bạn lập kế hoạch, đó là nhật ký, sổ tay, lịch làm việc, đương nhiên bạn không thể ghi thời khóa biểu của mình lên… não bộ rồi. Dù bạn có tự hào về trí nhớ của mình đến đâu thì cũng nên viết nó ra nếu không bạn lại phung phí khoản thời gian vừa tiết kiệm được để… nhớ ra lịch làm việc của mình.

Sau đây là những bước đơn giản để lên một kế hoạch:

+ Đầu tiên bạn nên bắt đầu bằng việc tìm kiếm thời gian rảnh cho những dự định của mình. Đương nhiên bất kỳ ai cũng luôn phải dành thời gian cho những hoạt động thường nhật, ngoài chúng ra, hãy tận dụng thời gian còn lại để làm những gì bạn muốn.

+ Kế đến, lấp đầy những hoạt động bạn cần làm vào những khoảng thời gian đấy. Song song với quá trình này là bạn phải luôn luôn để tâm đến trình tự ưu tiên của chúng. Sự ưu tiên ấy có thể là do sở thích của bạn. Vâng hôm nay tôi muốn học nấu ăn trước khi làm bài tập hoặc tôi phải đi cắt tóc cái đã trước khi gặp cô bạn mới. Sự ưu tiên ấy phụ thuộc ở chính bạn. Đương nhiên bạn phải ưu tiên bài kiểm tra cuối khóa trong hai ngày tới hơn là một buổi đi dã ngoại cuối tuần. Trong một số trường hợp bạn phải bỏ qua những việc nhỏ để hướng đến những mục tiêu lớn. Và cũng có khi không phải chỉ là sự tương quan giữa những việc lớn và nhỏ, bạn phải hy sinh mơ ước này để đuổi theo một mục tiêu khác. Bạn biết đấy đó vừa là sự khó khăn vừa là nét thú vị của cuộc sống. Luôn có những người phải hy sinh gia đình vì công việc hoặc ngược lại. Và cho dù có một kế hoạch hoàn hảo đi chăng nữa, đôi khi bạn cũng mất mát một đìều gì đấy. Tuy nhiên tôi mong sự mất mát này chỉ là tạm thời vì bạn sẽ lại đặt ra kế hoạch để lấy lại những gì đã mất!

+ Dành ra những khoảng thời gian cần thiết giải quyết sự cố. Điều này lại phụ thuộc vào kinh nghiệm của bạn. Bạn đang thực hiện một công việc có tính rủi ro cao, hãy dành thời gian dự phòng nhiều lên. Công việc thực tế luôn khác hẳn với lý thuyết và cũng như những gì ta trù định. Đó là lý do tại sao người ta rất dễ lúng túng với những công việc mới. Bạn không thể nào biết được những việc bất ngờ phát sinh và sắp xếp kịp thời gian để giải quyết chúng. Những người chưa thạo việc đôi khi còn phải lấy quỹ thời gian cá nhân để giải quyết công việc. Nhưng khi bạn đã có kinh nghiệm , hãy luôn dành một khoảng thời gian hợp lý cho những sự cố phát sinh. Một người có trình độ chuyên nghiệp là một người lường trước được càng nhiều càng tốt những khả năng có thể xảy ra, những đều có thể cản trở công việc của mình. Do đó bạn càng hoàn thiện mình bản kế hoạch của bạn càng hoàn hảo hơn.

+ Ngoài ra lời khuyên cho bạn là nên lập một kế hoạch linh hoạt, tùy từng trường hợp mà có thể bạn phải thay đổi kế hoạch vào giờ chót. Vâng vì bạn đâu phải là một cái máy. Nhưng lý do để thay đổi kế hoạch nên đươc kiểm tra về độ logic, đương nhiên tôi không khuyên bạn đổi kế hoạch đến trường hôm nay bởi vì mình mới nổi cái mụn to và xấu quá (!!!)

Sắp đặt một lịch trình làm việc tức là bạn đang lên kế hoạch cho việc sử dụng thời gian của mình. Có một kế hoạch cụ thể bạn vừa tránh được những căng thẳng trong công việc vừa làm việc hiệu quả hơn.

* Cách sắp xếp lịch trình được tóm gọn như sau:

- Vạch ra khoảng thời gian trống của cá nhân.
- Điền vào từng khoảng thời gian những công việc cụ thể: đầu tiên là những việc quan trọng nhất tiến hành trước, những việc còn lại theo sau.
- Luôn dành thời gian cho những sự việc bất ngờ.
- Kế hoạch có thể thay đổi khi cần thiết nhưng bình thường thì nên cố gắng làm đươc những gì đã đề ra.


Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

CUỘC GẶP GỠ LỊCH SỬ


Sông Jordan chảy dọc theo biên giới giữa Israel, Bờ Tây và Vương quốc Jordan




SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT TN 1B - CHÚA NHẬT CHÚA CHỊU PHÉP RỬA 

Trong các dòng sông nổi tiếng khắp thế giới thì dòng sông Jordan bé nhỏ là dòng sông quen thuộc nhất đối với người Kitô hữu. Chính tại đây Chúa Giêsu đã đến khai mạc sứ vụ công khai bằng cách đón nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả.
Sau 30 năm sống âm thầm, ẩn dật ở Nazareth, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai về Nước Thiên Chúa. Người đến chịu Phép rửa ở sông Jordan.
Như một thân thể của xứ Palestine, góp phần quan trọng trong lịch sử Israel ngay từ những ngày đầu Thiên Chúa chọn dân Do thái. Từ Jordan chuyển từ tiếng Do thái, hayyarden, có nghĩa “chảy xuôi dòng thời gian”. Bắt nguồn từ Syria, do ba phụ lưu hợp thành. Sông dài 300km, rất nhiều chỗ cạn, nhiều chỗ uốn khúc, chảy qua biển hồ Galilê và cuối cùng đổ vào Biển Chết. Lòng sông rất dốc, thượng lưu ở độ cao 45 mét, đến cửa sông là 390 mét với mặt nước biển, lưu vực 93 mét khối/s. Mặc dù là con sông rộng nhất của Palestin, sông Jordan khác với những con sông của nhiều nước ở chỗ: Khúc sông từ Biển Hồ Galilê đến Biển Chết có đến 27 ghềnh thác khó lưu thông, lắm chỗ nước chảy qua tạo thành những thung lũng như đầm lầy, nhiều nơi có thú dữ, cây cối hai bên dòng sông mọc tươi tốt, không có thành phố lớn nào được thành lập dọc theo dòng sông.
Kinh Thánh nói nhiều đến dòng sông này, khởi đầu là việc liên hệ giữa Abraham và ông Lot ở sông Jordan (St 13,10). Giacob từ Kharan trở về đã vượt qua sông Jordan, các chi tộc vượt sông Jordan cách kỳ diệu dưới sự hướng dân của Giosuê (Gs 3,14-17). Con sông là ranh giới vì dân du mục vượt qua sông vào Cannaan để cướp bóc. Người Israel tìm nơi nương náu bên kia tả ngạn sông Jordan (Tl 6,33; 2Sm 17,22) và được xem như sự che chở: “Trong bụi rậm sông Jordan…” (Gr 12:5; 49:19; 50:44) quan Naaman nước Aran nghe lời ngôn sứ Êlisê xuống sông tắm 7 lần nên được khỏi bệnh phong hủi (2V 5,1-19). Ngôn sứ Êdêkiel (chương 47) diễn tả sức sống sung túc của sông Jordan, nước sông chảy đến đâu thì trao ban sự sống đến đó. Với Kinh Thánh Tân ước, sông Jordan là nơi Gioan làm phép thanh tẩy, thống hối và Chúa Giêsu nhận lãnh phép rửa để mở đầu hoạt động công khai.
Đọc Thánh Kinh tôi cứ nghĩ Jordan là một con sông lớn lắm, ai dè khi đi hành hương Đất Thánh, đến nơi đây, đứng tại nơi Chúa chịu phép rửa, tôi thấy nó bé nhỏ như một con kênh giữa miền Tây sông nước.
Nếu đem so sánh với sông Cửu Long mênh mang thuyền qua lại thì dòng nước Jordan nơi Gioan làm phép rửa cho Chúa Giêsu có thể gọi là con kênh nhỏ. Nếu đặt bên cạnh sông Hồng cuồn cuộn siết chảy thì dòng Jordan chỉ là con lạch. Nếu đứng kề bên sông Hương thơ mộng lững lờ trôi thì Jordan chỉ là con suối nhỏ. Đứng bên bờ này sông Jordan ném hòn đá qua bờ kia, nó có thể đi xa hơn. Tôi đã ném thử hòn đá nhỏ và thấy nó đi xa gấp mấy lần khoảng cách hai bờ sông. Thế mà Chúa Giêsu đã chọn dòng nước bé nhỏ này, không phải như Môisen hay Giôsua giơ tay cho dòng nước rẽ đôi, nhưng để dìm mình xuống dòng nước nhỏ cùng với đoàn người chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả.
Thiên Chúa, Đấng cho Cửu Long giang tuôn chảy tưới mát đồng bằng miền Nam; Đấng cho sông Hồng tuôn nước lũ bồi đắp phù sa cho đồng bằng miền Bắc; Đấng cho Hương giang lững lờ lãng mạng gợi hồn thơ, đã chọn dìm mình vào dòng nước Jordan bé nhỏ.
Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” (Mc1,5) và chịu “phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” (Mc 1,4) lại có Chúa Giêsu. Ngài là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối? Ngài là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy? Đây là sự hạ mình sâu thẳm của Đấng Thánh. Dân chúng đến xin Gioan làm phép rửa thì chúng ta hiểu được, vì mọi người đều có tội, nên đã phải thú tội để biểu lộ lòng hoán cải và xin ơn tha thứ của Thiên Chúa. Còn Chúa Giêsu, Người là Đấng vô tội, là Đấng Thánh, vì thế Gioan đã thốt lên: “Chính tôi cần phải được Ngài thanh tẩy cho, thế mà Ngài lại đến với tôi” (Mt 3,14). Gioan bối rối khước từ, bởi lẽ Đấng mà ông không đáng xách dép, Đấng là thẩm phán quyền uy, Đấng ban phép rửa trong Thánh Thần, Đấng ấy lại cúi mình xin ông làm phép rửa, thế nhưng, Người đã trả lời: “Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,17).Gioan đã kêu gọi dân chúng chịu phép rửa “để tỏ lòng sám hối và được ơn tha tội”.Chúa Giêsu là Đấng Thánh, Người không có tội gì để mà sám hối và Người cũng chẳng cần đến ơn tha tội. Vậy, Chúa Giêsu chịu phép rửa là chính bởi vì Người muốn dấn thân nhập cuộc liên đới với nhân loại, Người muốn đi tới cùng, chấp nhận mang vào thân kiếp người tội lỗi cần được thanh tẩy và đổi mới. Thánh Phêrô đã viết trong thư thứ nhất thật sâu sắc “ tội lỗi của chúng ta, Người đã mang lấy vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1Pr 2,24). Chúa Giêsu không chỉ tha tội, xoá tội mà còn gánh lấy tội nhân loại, đem nó vào thân thể Người để biến đổi, gạn lọc, đổi mới thành hương thơm sắc đẹp. Người đã biến đổi ngay chính trong bản thân mình tất cả tội lỗi của trần gian, làm cho nó trở nên thánh đức.Nói theo Lão Tử, người sống 500 năm trước Chúa Giáng Sinh, thì việc làm của Chúa Giêsu khi chấp nhận dìm mình trong dòng nước sông Jorđan chính là thực hiện lý tưởng “đồng kỳ trần” ( toả kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hoà kỳ quang, đồng kỳ trần; nghĩa là làm bớt chỗ bén nhọn, bỏ phân chia, hoà ánh sáng, đồng bụi bặm. {Đạo đức kinh IV,2; LVI,2}. Ý nói: nếu muốn hoà giải, hoà hợp với người khác thì phải bỏ óc kỳ thị phân chia, giảm bớt những gì là sắc bén nơi mình có thể gây nguy hại cho người khác, hoà cái sáng của mình với cái sáng của tha nhân, và cũng chia sẽ thân phận ‘bụi bặm” với người ta. Nói tóm lại là đừng nghĩ mình hơn người mà xa cách kỳ thị, nhưng phải thấy được cái sáng của người, đồng thời cũng thấy được cái bụi bặm nơi mình (x.Trái chín đầu mùa,trang 133. Lm Thiện Cẩm).Trước sự hạ mình thẳm sâu của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã tôn vinh Người bằng việc sai phái Thánh Thần hiện xuống và bằng lời tuyên bố: Đây là con Ta yêu dấu.
Đây là một cuộc gặp gỡ lịch sử Cưụ ước – Tân ước. Biến cố không chỉ loan báo trước cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu mà còn loan báo về sự phục sinh vinh quang của Người. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân – Cựu ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô, vị ngôn sứ của thời kỳ mới. Cuộc gặp gỡ này không phải là một cuộc tranh cãi dành ưu thế, nhưng thật thú vị tuyệt vời khi cả hai đại biểu đều khiêm nhường đón nhận nhau trong sứ vụ. Chúa Giêsu từ tốn bước xuống dòng nước Jordan và xin Gioan làm phép rửa cho mình.Gioan hân hạnh xin Chúa Giêsu rửa cho mình vì ông nhìn thấy đây mới chính là nhân vật ban phép rửa trong Thánh Thần như ông đã loan báo. Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này, Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mở ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là Con Ta yêu dấu. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao. Từ nay Chúa Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với niềm hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp theo thánh ý Chúa Cha.
Cuộc gặp gỡ giữa hai Đấng tại sông Jorđan đã làm nên lịch sử và đã được Giáo hội chọn làm khởi điểm cho mùa thường niên là mùa phụng vụ cử hành các mầu nhiệm cuộc đời rao giảng tin mừng của Chúa Giêsu. Biến cố này không chỉ là cuộc bàn giao cũ mới mà còn là điểm giao duyên giữa trời và đất, giữa Thần khí và nước, giữa Tân ước và Cựu ước. Từ nay nhân loại được tái sinh trong đời sống mới. Qua Bí tích Rửa tội của Chúa Giêsu, chúng ta nhận đước ấn tín của Chúa Thánh Thần, trở nên con cái Thiên Chúa.
Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan là một sự hạ mình sâu thẳm, một sự khiêm nhường cao cả đã làm cho cửa trời mở ra, ân sủng tuôn đổ, ơn cứu độ được trao ban và lan truyền. Mỗi người Kitô hữu qua bí tích rửa tội, được thần linh ngự xuống, được nghe tiếng Chúa Cha vang dội:này là con yêu dấu của Ta,Ta đặt trọn vẹn yêu thương trên con.Tâm hồn mỗi người trở nên Đền Thờ Ba Ngôi Thiên Chúa. Ước mong mỗi tín hữu chúng ta luôn nhớ mình đã được xức dầu, được mặc áo trắng tinh tuyền, được trao nến sáng Phục sinh, được thanh tẩy trong nước và Thánh Thần để sống xứng đáng mỗi ngày với ân huệ đã lãnh nhận.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
(Nguồn:daobinh.com)

Một đoạn sông Jordan  (bề ngang hiện nay nhiều chỗ chỉ còn vài mét)