Cũng như nhiều người, tôi cũng đã từng ở trong sự mơ hồ khi phân biệt chiên và cừu đến nỗi từng cho rằng có lẽ “chiên” là một loài mà ở nước ta không có nên chỉ biết khái niệm vậy thôi. Dốc công nghiên cứu tìm kiếm câu trả lời, nay tôi đã có được sự phân biệt rõ ràng, xin chia sẻ cùng quý vị và các bạn.
Phân biệt Cừu và Chiên
Người Kitô hữu không lạ gì với từ ngữ con chiên. Cùng với Giáo hội, ta tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chiên Thiên Chúa, nhưng thực tế nhiều người chẳng biết con chiên thực tế là như thế nào. Cũng như nhiều người, tôi cũng đã từng ở trong sự mơ hồ khi phân biệt chiên và cừu đến nỗi từng cho rằng có lẽ “chiên” là một loài mà ở nước ta không có nên chỉ biết khái niệm vậy thôi. Dốc công nghiên cứu tìm kiếm câu trả lời, nay tôi đã có được sự phân biệt rõ ràng, xin chia sẻ cùng quý vị và các bạn. Loài cừu là một loài vật mới được du nhập vào Việt Nam không lâu nên hầu như rất nhiều người Việt không biết đến các thuật ngữ riêng trong loài này.
Thực ra, cừu là danh từ chỉ chung cho loài, tuy nhiên nó thường được dùng để gọi những con đã hơn 1 tuổi. Chiên là từ dùng để gọi những con cừu non dưới 1 năm tuổi. Chiên cũng được dùng để chỉ thịt của những con cừu non này. Còn thịt của những con hơn 12 tháng tuổi gọi bình thường là thịt cừu.
Trong tiếng Anh, người ta dùng nhiều từ khác nhau để gọi mỗi thành phần riêng biệt của giống cừu. Sheep là danh từ chung chỉ loài cừu. Lamb là từ chỉ những con cừu non dưới 1 năm tuổi, trong tiếng Việt chúng ta dịch là chiên. Những chú cừu đực được gọi là ram, còn những cô cừu cái lại được kêu là ewes. Ngoài ra cừu cái còn được gọi cách thông tục là yoe. Như vậy, không cần phải đến tận quê hương Chúa Giêsu mới biết được thế nào là chiên, mà ngay tại Việt Nam, chúng ta cũng có thể tận mắt xem con nào là chiên, con nào là cừu tại những trang trại nuôi cừu tại Việt Nam.
Tài liệu tham khảo: Oxford Advanced Learner’s Dictionary Lạc Việt Từ Điển Sheep Terminology, www.sheep101.info
Trong các kinhCựu ướcvàTân ướccó đề cập đến hình tượng hai con dê dùng để hiến tế. Con thứ nhất là con dê tạ tội tức là con dê bị giết để tạ tội với Chúa, còn con dê thứ hai là con dê gánh tội là con dê bị yểm trù mọi tội lỗi củangười Do Tháitrút lên nó rồi đuổi nó vàosa mạc. Cả hai con dê đều liên quan đến nghi thức hiến tế và được đề cập rất cụ thể, từng chi tiết và sống động trong các tài liệu của Kitô giáo. Trong kinh Cựu Ước: Dê được nhắc đến trong kinh Cựu ước thông qua câu chuyện về Chúa gọi và chọn ông Áp-ra-ham để khởi đầu cho một dân riêng của Chúa.Trong Kitô giáo, hình ảnh con chiên, con dê rất gần gũi với người Do Thái từ mấy ngàn năm nay. Đức chúa Giêsu chào đời trong máng cỏ tại một hang có nhiều dê, chiên, lừa... thở hơi ấm. Ngoài ra, hình ảnh con chiên, con dê hy sinh, nhận lãnh làm của đền tội cho dân Do Thái không một lời than van thực ra là hình ảnh của chúa Giêsu gánh nhận trên vai mọi tội lỗi của nhân loại, như lời tiên tri Isaia đã nói trước 700 năm: "Người đã gánh mọi tội ác, mọi yếu đuối trên mình". Cũng chính vì sự so sánh này mà hàng ngày các giáo dân thường cầu nguyện "Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng tôi...". Trong Kinh thánh còn cho thấy dê chính là vật cưng của Quỷ Satan (Baphomet).
Ðể chứng minh lời hứa của mình về quyền sở hữu đất đại của ông Áp-ra-ham, Chúa đã truyền cho ông Ap-ra-ham tìm vật đính ước gồm một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy, và một bồ câu non làm vật tế lễ để thiết lập giao ước, các con vật phải ở hạn ba tuổi là vì chúng đang trong thời kỳ tinh tuyền, không vết nhơ, và không bị uế tạp. Ông Áp-ra-ham đã làm theo lời chỉ dạy. Ông đặt tất cả lễ vật lên trên bàn thờ. Người dâng tiến lễ vật sẽ đặt tay trên con dê. Con dê sẽ bị giết, và con cháu ông A-ha-ron sẽ rảy máu con dê chung quanh bàn thờ (trích Lv 3:12-13).
Con dê sẽ bị giết và vị tư tế dùng tay bôi máu con vật lên các góc của bàn thờ, số máu còn lại thì đổ xuống chân bàn thờ (Lv 4:22-26). Trong một đàn dê, người ta chỉ giữ một vài con dê đực, trong khi dê cái thì có thể nhiều. Vì số lượng dê đực hiếm hoi, nên trị giá một con dê đực có lẽ đắt hơn một con dê cái vào thời đó. Luật Do thái qui định dùng con dê để làm lễ xá tội cá nhân hay tập thể chỉ trong trường hợp họ phạm tội một cách vô ý. Trường hợp họ xúc phạm mệnh lệnh Chúa một cách cố tình và được người khác biết, thì không thể dùng con dê để làm của lễ xá tội.
Con dê này gánh mọi tội lỗi cộng đồng Do Thái mà đi lạc lõng trong sa mạc. Thức ăn của dê là cỏ tươi mà giữa một sa mạc khô cằn, không cỏ, không nước, lại có thú dữ ăn thịt như sư tử và chó sói quanh quẩn, thì số phận của con dê gánh tội coi như đã được định đoạt. Vì phải gánh tội cho cộng đồng mà nó giờ đây phải sống trong đói khát và sợ hãi,và cuối cùng nó sẽ chết trong đau đớn, có khi là kiệt sức vì đói khát, có khi bị phanh thây bởi một con sư tử hay một đàn sói dữ tợn. Về người thả dê khi trở về phải làm những việc thanh tẩy để tránh sự uế tạp lây từ con dê đó. Anh ta phải giặt áo và tấm rửa kỷ lưỡng trước khi anh ta trở về với cộng đồng. Trong ngày lễ Sa-ba-át của người Do thái, ngoài một vài con vật ở trên, cộng đồng Do thái đặc biệt tiến dâng hai con dê đực trước bàn thờ Chúa. Vị tư tế sẽ bắt thăm chọn giữa hai con: Một thăm chọn một con cho Chúa, thăm còn lại sẽ chọn con dê cho A-da-dên.. Vị tư tế sẽ sát tế "con dê cho Chúa" làm lễ tạ tội cho toàn dân (con dê tạ tội). Sau khi rảy máu con dê trên một cái nấp xá tội và làm một vài nghi thức thánh hiến bàn thờ con dê bị sát tế để tạ tội thì xác của nó được đem ra ngoài trại xa mà đốt đi. Sau đó người ta dẫn con dê cho A-da-dên còn sống tới. Vị tư tế đặt hai tay lên đầu con dê này, rồi xưng thú trên nó tất cả lỗi lầm của toàn dân. Ông trút tất cả những tội lỗi đó lên mình con dê gánh tội hay oan dương. Sau khi xưng thú tội cộng đồng xong, vị tư tế sẽ nhờ một người phục dịch dẫn con dê này thả sâu vào sa mạc.
Sách Dân số cũng đề cập rất nhiều đến lễ vật cho Chúa bằng các con vật kể trên. Nói về con dê, tựu trung thì lễ xá tội cần một con dê đực cho các đầu mục hay cho từng chi tộc, trong khi một con dê cái thì dành cho các thường dân. Lễ cầu an trong dân thì cần năm con dê đực. Lễ tạ tội cho vương quốc thì cần bảy con dê đực (2 Sb 29:21). Lễ khánh thành đền thờ Chúa thì cần mười hai con dê đực (Er 6:17). Ngay cả khi dân Do Thái trở về đất nước sau thời gian bị lưu đày. Họ cũng đã dùng mười hai con dê đực để làm lễ tạ tội (Er 8:36).
Trong Cựu ước cho rằng, Chúa đồng ý tha thứ lỗi lầm cho người có tội nếu họ mang tế vật, đặc biệt là con dê, đến trước bàn thờ Chúa để các vị tư tế sát tế nó. Máu chiên, bò, và dê đã trở thành biểu tượng và dấu ấn giữa Chúa và con người. Khi nào họ phạm tội thì việc đầu tiên là đi kiếm cho mình một con dê, rồi mang nó đến trước bàn thờ. Vị tư tế sẽ sát tế con vật và rồi nghiễm nhiên tội họ được tha. Tuy vậy việc sát tế lễ vật cần phải đi đôi với lòng thành. Kinh Thánh cũng nói đến chuyện Chúa đã chê bài lễ vật: Ngần ấy lễ lược của các ngươi, đối với ta, nào có nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã thấy ngấy. Máu bò, máu chiên dê ư, Ta đây chẳng có thèm đâu! (Is 1:11).
Trong kinh Tân Ước con số tám ngày liên quan đến chuyện con dê trong Cựu ước. Chúa đã nói với Mô-sê rằngBê, chiên, hay dê, sau khi sinh, sẽ ở với mẹ nó bảy ngày, từ ngày thứ tám trở đi, nó sẽ được đoái nhận làm lễ tiến, làm lễ hỏa tế dâng Chúa(Lv 22:27).
Ma-ri-a và Giu-se đã không tiến dâng một con dê hay con cừu, nhưng đã tiến dâng một đôi chim bồ câu non thể theo luật truyền dạy. Giao Ước cũ trong Cựu ước là máu của chiên, bò, và dê. Giao Ước mới trong Tân ước thì không dùng máu súc vật nữa.
Dù có những đề nghị mừng Tết nguyên đán vào ngày đầu năm dương lịch cho phù hợp với thời hiện đại, cho đến nay, xã hội Việt Nam vẫn giữ truyền thống cử hành Tết nguyên đán vào những ngày đầu năm âm lịch. Với người Việt Nam, ngày Tết không chỉ đơn thuần là ngày nghỉ lễ nhưng còn mang ý nghĩa nhân văn và giá trị thiêng liêng hết sức đặc biệt. Dù ở trong nước hay đang sinh sống làm việc ở nước ngoài, người Việt vẫn cử hành Tết nguyên đán cách long trọng hết sức có thể.
Hội Thánh Công giáo Việt Nam hiện diện giữa lòng dân tộc và hít thở bầu khí văn hoá truyền thống đáng kính ấy, cho nên đã tìm cách hội nhập và Phúc Âm hoá nền văn hoá dân tộc. Nỗ lực này được thể hiện rõ nét trong cách người Công giáo Việt Nam cử hành Thánh Lễ trong những ngày Tết. Theo đó, ba ngày Tết tập trung vào ba tương quan căn bản trong cuộc sống con người.
Ngày Mồng Một Tết là ngày hướng lòng lên Thiên Chúa, “Đấng vô thủy vô chung, là căn nguyên và cùng đích của vạn vật”, để tạ ơn Chúa đã ban cho một năm mới, và cầu xin Chúa ban cho mọi người “được bình an mạnh khỏe, càng thêm tuổi càng thêm nhân đức, hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh thánh” (Lời nguyện nhập lễ - Thánh Lễ Giao Thừa, Tân Niên).
Ngày Mồng Hai Tết là ngày kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ, xin Chúa trả công bội hậu cho “những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con sống cho phải đạo với các ngài” (Lời nguyện nhập lễ). Đồng thời, khi kính nhớ tổ tiên ông bà, người Công giáo cũng hiểu rằng chính Thiên Chúa đã ban sự sống cho tổ tiên ông bà, để các ngài truyền lại cho con cháu. Vì thế, truyền thống tôn kính ông bà tổ tiên được đặt vào đúng vị trí của nó trong trật tự tạo dựng.
Ngày Mồng Ba Tết là ngày nhìn ra thế giới và vạn vật chung quanh, ý thức trách nhiệm phải lao động để làm chủ thiên nhiên, cho nên xin Chúa ban ơn trợ giúp để “công ăn việc làm trong năm mới nêu cao tình tương thân tương ái, góp phần vào sự nghiệp chung là hoàn thành chương trình sáng tạo của Chúa” (Lời nguyện nhập lễ).
Khi tập trung vào ba tương quan căn bản trong cuộc sống làm người (Thiên-Địa-Nhân), Hội Thánh cũng mời gọi con cái mình sống ý nghĩa của thời gian với ba chiều kích: nhìn về quá khứ trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và cảm tạ các bậc sinh thành, hướng đến tương lai trong tâm tình phó thác cậy trông nơi Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử, nhìn vào hiện tại để dấn thân xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Phải nói rằng đây là một nỗ lực tuyệt vời trong công cuộc Phúc Âm hoá: (1) Khám phá những vẻ đẹp và giá trị tích cực trong truyền thống văn hoá dân tộc; (2) Làm nổi bật mối quan hệ mật thiết giữa văn hoá dân tộc và những giá trị Phúc Âm; (3) Nâng những giá trị văn hoá truyền thống lên một tầm cao mới của đức tin Kitô giáo, khi đặt việc tôn kính Tổ tiên trong trật tự tạo dựng, hoặc khi liên kết việc xây dựng thế giới với việc xây dựng Nước Trời.
Ước mong mẫu gương Phúc Âm hoá này còn được ứng dụng vào nhiều lãnh vực khác trong đời sống Hội Thánh, từ ngôn ngữ diễn tả đức tin đến cách thể hiện đức tin Kitô giáo, để Phúc Âm ngày càng gần gũi với người dân và xã hội Việt Nam hơn.
Nhân ngày 31/01 , ngày mất , và là ngày lễ kính Thánh Gioan Bosco hàng năm , MỜI CÁC BẠN XEM PHIM : GIẤC MƠ LÚC 9 TUỔI CỦA DON BOSCO
Đó là GIOAN, con của gia-đình Bosco, cậu bé có nụ cười trong sáng, vầng trán bướng-bỉnh, đôi mắt đen nhánh, tóc rối bù như lông chiên. Thuở mới lớn lên, ngày ngày Gioan Bosco dắt đàn bò đi vào các vùng núi đồi miền Piémont, nước Ý. Cậu tập cuốc đất, phát cỏ, sử-dụng liềm, mác, và tập vắt sữa bò. Từ thuở đó cậu đã hiểu thế nào là đói khát và đã từng chứng-kiến cảnh chết-chóc ly-biệt.
Nạn đói hoành-hành năm 1817, lúc Gioan vừa mới lên hai tuổi, khi sương giá mùa xuânvà những cơn hạn-hán khủng-khiếp tàn phá tất cả mùa màng. Nông-dân phải giết gia-súc để ăn thịt. Người ta gặp thấy trong các mương rãnh, xác những kẽ hành-khất chết đói, miệng còn ngậm cỏ...
Và cả cái chết nữa, như cha cậu đã ngã qụy xuống vì chứng sưng phổi vào một buổi chiều tháng năm rất đẹp trời nhưng cũng thật buồn thảm.
Mẹ cậu, bà Ma-ga-ri-ta, mới 29 tuổi đã góa chồng. Nhưng bà sống thắt lưng buộc bụng, vỡ đất làm rẫy, nuôi dạy con cái cách dịu-dàng mà nghiêm nhặt. Bà ở trong ngôi nhà gạch tồi-tàn vừa là chỗ ở, vừa làm kho lẫm, vừa làm chuồng bò. Hai bao bắp để trong bếp và hai con bò cái nằm sau liếp vách ngăn. Phòng ngủ ngay dưới mái nhà và nệm lót bằng lá bắp. Nhưng chính ở đó, ngay trong cảnh nghèo nàn trơ-trụi ấy, cuộc đời bé Gioan Bosco đã bừng sáng lên.
Chỉ một giấc mơ bình-thường đã khiến cậu tin rằng trọn cuộc đời mình được Chúa Giêsu Kitô mời gọi để chăm lo cho các trẻ em bị ruồng bỏ. Năm lên 9, bé Gioan mơ thấy mình đứng giữa một đám trẻ bụi đời ngổ-ngáo. Chúng chửi thề, văng tục, và Gioan đã trả đũa lại bằng những cú đấm ngoạn-mục. Nhưng một người với diện-mạo sáng ngời đã gọi tên Gioan và bảo:"Con phải chinh-phục chúng, không phải bằng tay chân như thế, mà là bằng khổ đau và lòng yêu mến". Gioan hỏi: "Ngài là ai mà đòi con phải làm những việc không thể nào làm nổi như vậy?"; và người lạ mặt đã trả lời: "Ta là Con của Bà mà mẹ con vẫn dạy con cầu nguyện với Bà mỗi ngày ba lần". Cũng trong giấc mơ đó, Ðức Trinh-Nữ Maria đã hiện ra với cậu. Bằng những hình-ảnh khác, Người loan báo cho cậu cũng một sứ-mạng ấy: chăm sóc các trẻ em bị bỏ rơi.
Thế là bắt đầu cuộc phiêu-lưu! Từ lúc còn rất nhỏ, Gioan đã nói rằng cậu ao-ước trở thành linh-mục. Trong thời-gian đợi chờ, cậu tụ-tập bạn-bè ở ngoài đồng để diễn-thuyết, làm hề và biểu-diễn cả ảo-thuật nữa. Nhưng lúc nào cũng thế, trước khi tới màn cuối, "ông bầu" lại lôi cỗ tràng hạt trong túi ra, qùy xuống và mời cả đám trẻ cùng cầu-nguyện.
Gioan say mê đọc sách và nuôi chim. Ngồi dưới bóng cây im mát, cậu ngấu-nghiến đọc những cuốn sách mượn được của một vị linh-mục ở một xứ đạo hẻo-lánh. Rồi trèo lên cây, cậu gỡ tổ chim và bắt những con sáo nhỏ, đem về nuôi trong lồng làm bằng cành cây dương-liễu, rồi dạy chúng hót. Chuyện học-hành ư? Chỉ khi nào ngoài đồng ruộng hết bóng người thì cậu mới tới trường. Cậu không chịu học-hành đến độ đã gây-gổ với người anh cả và đã phải bỏ nhà đến làm việc tại một làng kế bên. Sau bao năm lao-động ròng-rã, cuối cùng mới gặp được dịp may: một vị linh-mục già thấy cậu thông-minh thì yêu mến, nhận nuôi và dạy cho cậu học tiếng La-tinh. Sau khi Cha qua đời, được mẹ giúp đỡ và cũng được nhiều ân-nhân tiếp tay, cậu theo học tại trường trung-học ở tỉnh bên. Hằng ngày đi bộ mười cây số, bất kể mưa gió hay nóng bức bụi-bặm. Tất cả chỉ để làm linh-mục! Gioan sẽ không bao giờ quên điều ấy. Và rồi sau sáu năm học ở chủng-viện, năm 1941, cậu đã trở thành linh-mục DON BOSCO!
Người ta mau chóng trao cho Ngài những công việc của một linh-mục tuyên-úy. Nhưng Ngài chỉ muốn một điều là các trẻ em. Thời-kỳ ấy là thời-kỳ cách-mạng kỹ-nghệ, thành-phố Turin là nơi hấp-dẫn đã lôi kéo hàng ngàn người di-dân đến kiếm sống. Các thanh, thiếu-niên làm việc ngắn hạn ở các xưởng đóng tàu, rổi lang-thang thất-thểu dọc bờ sông Pô, không một đồng xu dính túi. Những em khác vào tù. Don Bosco đi gặp họ tất cả, và Ngài được sự giúp đỡ của Cha Don Cafasso, vị linh-mục của "giới bần cùng". Ngài dám trèo lên các xe bò chở tử-tội để an-ủi họ suốt lộ-trình cho đến pháp-trường.
Ngài lôi kéo được Don Bosco đi vào trại giam; ở đó vị linh-mục trẻ tuổi người vùng Piémont buồn rầu đảo mắt nhìn cảnh tù đày, cái nhìn đó cũng ngăn đe mấy cậu bé đang chen-chúc trong các xà-lim hôi-hám, chúng tiều-tụy đi vì nạn chí rận, ăn toàn bánh mì đen và uống nước lã. Thật vô cùng khủng-khiếp! Don Bosco bàng-hoàng kinh-hãi, Ngài gào lên trong cổ họng: "Quá nhiều thanh-niên bị nhốt ở đây, bởi chẳng có ai săn-sóc đến họ. Tôi phải giúp-đỡ, dạy-dỗ họ. Tôi muốn cứu giúp những kẻ bất hạnh này". Và Ngài sẽ làm như Ngài đã nói thế!
Ít lâu sau, có một lần kia khi Ngài chuẩn-bị dâng thánh-lễ tại nhà thờ Thánh Phan-xi-cô Át-si-gi-ô, Chúa đã dẫn đến cho Ngài một cậu bé tên là Ba-tô-lô-mê-ô Ga-ren-li, em mới từ xa đến thành-phố này kiếm sống. Đầu cạo trọc-lóc, áo dính đầy vết vôi. Don Bosco qùy xuống và dạy em cầu nguyện. Sau đó Ga-ren-li trở lại, dẫn theo năm đứa, mười đứa, rồi tới một trăm đứa, bạn bè của nó, đứa nào cũng bị Don Bosco chinh-phục bằng tình yêu thương Ngài dành cho chúng. Ngài giảng dạy về Thiên-Chúa cách cụ-thể, nhờ những sự-kiện hấp-dẫn và những chi-tiết lý-thú làm chúng say mê.
Họ quấn-quýt và không rời bỏ nhau nữa. Trong các nhà nguyện cũ, trên những bãi đất trống vùng ngoại-ô, và trong các vựa lúa, các em kéo đến ngày một đông hơn để nghe Ngài giảng, để được Ngài dạy-dỗ huấn-luyện nên người và nên con cái Chúa.
Vì lo-lắng cho tương-lai các em, Don Bosco mở các xưởng dạy nghề. Ngài nghĩ ra việc ký giao-kèo lao-động để kiếm việc cho các em, trước khi lao mình vào việc viết lách và xuất-bản, nhằm mục-đích giáo-dục và phát-triển đức tin Công-Giáo nơi các em. Công-trình lớn mạnh. Nhờ có các ân-nhân tài-trợ nên Ngài đã xây-dựng được nhiều nhà cho các em. Don Bosco đặt trọn niềm tin nơi Chúa Quan-Phòng.
Chẳng bao lâu, một "Tổ Ấm" hình-thành với 15, 20, rồi 600 em nội-trú. Vì không muốn cho tương-lai các em quá tồi-tệ, Cha Don Bosco cho dựng thêm nhà cửa, mở một lớp học tối, rồi mời các linh-mục và những người thiện-nguyện đến dạy cho các em. Họ làm việc trong nhà bếp, trong phòng mặc áo lễ ở gian bên của cung thánh. Trên hết mọi sự, họ rất mực yêu thương nhau, vì sư-phạm của Cha Gioan là Sư-Phạm Của Tình Thương. Lý-thuyết mà làm gì? Ngài không mong xây-dựng một "kiểu" giáo-dục lỗng-lẫy. Ngài nói: "Hệ-thống giáo-dục của tôi ư? Chính tôi, tôi cũng chẳng biết nữa."..."Tôi chỉ có công này, là tiến về phía trước theosự dẫn-dắt của Chúa, rồi tùy hoàn-cảnh mà xử-trí".
Quả thế, Ngài chủ-trương một đường lối sư-phạm "ngay tại chỗ", đặt tin-tưởng vào bản-chất của con người đã được Thiên-Chúa cứu-độ và tin vào sự hiện-diện hữu-hiệu của nhà giáo-dục. Don Bosco ước-đoán được những nỗi cùng khổ và âu-lo của từng em một. Ngài biết rằng tuổi thanh thiếu-niên là tuổi đầy-dẫy những nghi-ngờ, những phiền-muộn, tuổi của phẫn-nộ và thất vọng. Thế là Ngài đến với chúng, nói một câu khôi-hài, kiên-trì mời gọi chúng đối-thoại, cũng như vui-vẻ, thành-thực, cởi mở thoải-mái, một sự thoải mái tự-nhiên không hề bó-buộc vẫn là đặc-điểm nổi bật nhất trong tình yêu giáo-dục của Ngài. Ngài đã sống câu châm-ngôn sau đây, dựa theo lời thánh Phao-lô: "Một vị thánh buồn là một vịthánh đáng buồn" (Un saint triste est un triste saint).
Và Ngài đã nên thánh. Ngài được phong thánh năm 1934, sau khi sống một cuộc đời luôn luôn bận-bịu lo-lắng cho các em thiếu-nhi và sáng lập ra tu-hội Sa-lê-giêng để tôn-kính thánh Phan-xi-cô Sa-lê-gi-ô. Cũng như vị thánh này, Ngài đã tìm được sức sống cho đời mình qua tình yêu thương con người và qua Tin Mừng của Đức Kitô, ở đó Ngài khám phá ra dung-mạo một Thiên-Chúa có thể chia sẻ mọi yếu-hèn của chúng ta.
Ngay cả đến cuối đời, sau khi được Ðức Thánh Cha tiếp-kiến, trong các cuộc hành-trình khắp năm châu bốn bể để kiếm tiền in những tác-phẩm Ngài viết, Ngài cũng rất gần-gũi các trẻ em vất-vưởng của mình. Lúc nhắm mắt lìa đời, rạng sáng ngày 31 tháng giêng năm 1888, Ngài nói với các tu-sĩ Sa-lê-giêng đang săn-sóc Ngài rằng:
"Hãy làm tốt cho mọi người,
đừng gây điều xấu cho ai cả!
Hãy nói với các bạn trẻ của Cha rằng:
Cha đợi họ trên Thiên-Đàng!
Tác giả: Gs. Ben. Đỗ Quang Vinh
(Toronto, Canda)
chuyển-ngữ từ bài viết của Benoît Fidelin trong tạp-chí Pèlerin Magazine.
Lần trước, tôi đã nói rằng : chủ yếu của giáo dục là loại trừ khuynh hướng vị kỷ, nghĩa là khuynh hướng luôn qui hướng về mình, và dạy cho con cái biết sống vị tha,nghĩa là sống hướng về kẻ khác. Nếu khi lớn lên, con cái mình chỉ biết mình mà không quan tâm đến kẻ khác, thì phải gọi là sự giáo dục của chúng ta đã thất bại.
Hôm nay tôi muốn chia sẻ với anh chị em về một vài nguyên tắc giáo dục theo Thánh Gioan Bosco. Như anh chị em biết, giáo dục là vấn đề quan trọng, cha mẹ nào cũng quan tâm. Tuy nhiên, giáo dục thì phải có những nguyên tắc hướng dẫn, chứ không phải là việc tuỳ tiện, gặp chăng hay chớ. Dĩ nhiên, trong vấn đề giáo dục, thánh nhân cũng đã nhiều lần thất bại. Dầu vậy, những nguyên tắc giáo dục của Người thật đáng trân trọng học hỏi. Nó gồm những điểm chính yếu sau đây: phòng ngừa và dựa trên ba chữ : ái, trí , đạo. Ta phân tích.
I. GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA
1. Phương pháp giáo dục này bắt nguồn từ chính kinh nghiệm bản thân của vị thánh này. Hồi còn nhỏ, ngài đã làm bể một cái ly uống nước. Khi mẹ về, ngài đã vòng tay xin lỗi mẹ và dĩ nhiên là được mẹ tha thứ. Khi lớn lên, Gioan Bosco hiểu rằng khi một cái ly đã bể rồi thì vô phương làm lại cho nó lành lặn như trước. Cho nên vấn đề là làm sao đừng làm cho cái ly bể. Đó là tiền thân của “phương pháp phòng ngừa” trong giáo dục của Thánh Gioan Bosco.
2. Trong giáo dục, vấn đề phòng ngừa rất quan trọng. Chúng ta cứ nghĩ đến vấn đề chủng ngừa cho trẻ sơ sinh những bệnh như uốn ván, đậu mùa, sởi… thì sẽ dễ hiểu. Y học ngày hôm nay người ta còn khuyên chích ngừa những bệnh như siêu vi Bï, sốt rét và bây giờ là bệnh HIV, bệnh Sars (viêm phổi cấp). Đối với súc vật như trâu bò, chó mèo người ta cũng chích ngừa định kỳ hằng năm những bệnh như bệnh dại ở chó, bệnh dịch ở gà, bệnh lở mồm long móng ở trâu bò …Để cho bệnh phát ra rồi thì hậu quả thật khó lường.
Đối với con vật, ngừa bệnh còn quan trọng như thế, huống chi là con người. Cha mẹ cần ngừa cho con nhiều điều như xem những sách vở, tranh ảnh xấu, chơi với bạn xấu…nhưng theo tôi điều cần ngừa hơn cả là khuynh hướng vị kỷ, nghĩa là luôn hướng về mình. Trẻ mà có khuynh hướng này, thì sau này khó lòng mà sống tốt và không thể uốn lại được. Phải tập cho con sống vị tha như dạy con thương người nghèo, chia sẻ những gì mình có với kẻ khác.
3. Để áp dụng phương pháp phòng ngừa, theo Thánh Gioan Bosco, phải luôn đồng hành với con cái, hiện diện với chúng, ví dụ như dành thời gian để gần gũi các cháu lúc vui lúc buồn, hỏi han về việc học hành, bạn bè của các cháu…Rất nhiều lúc chúng có những u uẩn trong lòng, cha mẹ cần biết nếu không nhiều khi có những sự cố sẽ xảy ra ngoài ý muốn chúng ta. Cho dầu bận bịu cách mấy đi nữa, chúng ta không được khoán trắng cho bất cứ ai. Lâu lâu, cùng đi chơi với các cháu như đi biển, đi cáp treo, đi picnic ngoài trời…là tốt.
Chính khi gần gũi chúng, mà ta sẽ thấy chúng để lộ cá tính, điều hay cũng như điều dở…để rồi chúng ta biết mà uốn nắn kịp thời. Bệnh nhẹ thì dễ chữa, để cho bệnh trầm trọng hay di căn rồi như bệnh ung thư thì khó mà chữa trị được.
II. ÁI – TRÍ - ĐẠO
Đây là phương pháp giáo dục chúng ta rất cần biết. Đây là lộ trình phải theo trong vấn đề giáo dục. Chúng ta thường thiếu sót trong giáo dục vì chỉ dừng lại nơi chữ ái (yêu thương) và trí (học hành) mà quên hẳn hoặc lơ là, hoặc cho là không quan trọng chữ “đạo”. Chính vì thế mà con cái sau này sẽ không có một cuộc sống quân bình. Tôi xin giải thích ba chữ nói trên.
1.Giáo dục chữ “ái”.
Ái có nghĩa là yêu thương. Điều này thì cha mẹ nào cũng có. Cha mẹ nào cũng yêu thương con cái mình hết lòng, đến độ hi sinh quên mình. Điều này thì chẳng ai dám nghi ngờ.
Tuy nhiên, thương thì cũng có nhiều cách thương và dường như không phải cách yêu thương nào cũng hợp lý và có lợi cho con cái, như chúng ta vẫn thấy trong thực tế. Có những cách yêu thương làm cho con cái thăng tiến, nên người. Cũng không thiếu những cách yêu thương làm cho con cái không thăng tiến và không nên người.
a/ Cách yêu thương không có lợi cho con cái, đó là sự nuông chiều, nhất là khi cha mẹ là người có điều kiện. Trong gia đình, đứa nào được nuông thì đứa đó hư. Đây dường như là chuyện qui luật. Trong thời buổi hôm nay, cha mẹ thường ít con nên hay nuông chiều con, cho nên con dễ hư hơn thời trước. Đó là chưa kể đến ảnh hưởng của xã hội bên ngoài. Đứa con được nuông, không những dễ hư hỏng, nhưng còn khó nên người. Ra khỏi cánh cha mẹ là không còn biết phải sống như thế nào, bởi vì chúng đã quen “sống dựa hơi” vào cha mẹ. Nó sẽ không có ý chí phấn đấu ở đời. Chúng ta thấy những đứa con gọi là “con một”, “con út” thường dễ hư hơn, vì cha mẹ thường có khuynh hướng nuông chiều. Những thanh niên đua xe ngoài Hà Nội thường ứng vào những gia đình khá giả, nuông con. Trên TV, một người mẹ có đứa con chết vì đua xe, đã phát biểu như sau : “Tôi đã sai lầm vì nuông chiều cháu, bây giờ hối thì đã muộn. Tôi muốn khuyên các bậc làm cha mẹ đừng rơi vào trường hợp của tôi”.
b/ Có cách yêu thương làm cho con cái nên người. Nghĩa là vẫn yêu thương con cái, nhưng có những lúc phải dám nói “không” với chúng, chứ không phải chúng muốn gì, đòi gì là răm rắp làm theo. “Không”, con làm điều này là không được, không tốt, bố mẹ không đồng ý. Dần dần con cái hiểu rằng chỉ những gì hợp lý, tốt, có lợiù thì cha mẹ mới chiều theo.
2. Giáo dục chữ “trí”
Dạy chữ “trí” ở đây không có nghĩa là dạy chữ, nhưng là dạy cho con cái biết sống theo lẽ phải; biết cái gì là đúng, cái gì là sai; cái gì nên làm và cái gì nên tránh.
Có một triết gia Hy Lạp, Ông Socrate, nói rằng : con người ta phạm tội là vì ngu dốt. Cho nên cần phải học để biết đúng và sai. Điều này lại càng chính xác, nhất là đối với trẻ em : chúng chưa có trí khôn, chưa phân biệt được hay và dở, đúng và sai, cho nên rất nhiều hành động chúng làm chỉ vì dại mà thôi.
Ở tuổi thiếu niên và thanh niên, các cháu tuy đã đi học, thậm chí học đại học đi nữa, nhưng vì chưa từng trải như cha mẹ, còn thiếu kinh nghiệm sống, cho nên có nhiều việc làm nông nổi, thiếu thực tế. Vai trò cha mẹ vì thế vẫn còn cần thiết để góp ý, hướng dẫn thêm để các cháu có những chọn lựa, quyết định sáng suốt.
3. Giáo dục chữ “đạo”
Đây là điều người ta thường quên sót nhất trong vấn đề giáo dục. Người ta thương con, lo lắng cho con mọi sự, nhưng không sốt sắng trong việc đưa con đến với đạo.
Đạo là gì ?
Thưa là con đường. Trong Tin mừng, Chúa Giêsu cũng xưng mình : “Ta là Đường” hay “Ta là Đạo”.
Giáo dục vì vậy là phải làm sao để dẫn con cái đến với đạo, đến với Chúa. Nếu không, sự giáo dục của chúng ta không còn phải là giáo dục kitô giáo nữa. Phải hướng con cái về với Chúa để được Chúa thánh hoá, nâng đỡ và ban sức mạnh cho chúng.
Về điều này thì cha mẹ phải làm gương sáng. Nếu cha mẹ không có lòng mến Chúa thì không bao giờ con cái có thể đến với Chúa được. Nhất là người mẹ. Cứ nhìn vào thực tế thì rõ : những bà mẹ nhân đức thì bao giờ cũng đốc thúc con sống đạo. Những bà mẹ nguội lạnh thì con khô khan. Cha mẹ là tất cả. Cha mẹ là chìa khoá của mọi thành đạt. Không có cái gì và chẳng có ai có thể thay thế vai trò của cha mẹ được. Vai trò của cha mẹ là vai trò có tính quyết định trên đứa con.
II. PHƯƠNG PHÁP DỰ PHÒNG TRONG VIỆC
GIÁO DỤC TUỔI TRẺ.
Tập khảo luận nhỏ về phương pháp dự phòng này đã phát sinh do một bài diễn
thuyết Don Bosco đọc tại Nice ngày 12/3/1877, nhân dịp khai trương ngôi nhà
Sa-lê-diêng đầu tiên trên đất Pháp. Bài diễn thuyết này nhắm mục đích trình bày
cho những người sắp theo đuổi công cuộc của ngài tại Pháp, biết phương pháp sư
phạm vẫn được thực hành trong các nhà Sa-lê-diêng tại nước Ý.
Sau nhiều lần được tha thiết yêu cầu hãy ghi lại những nét chính của một phương
pháp đã mang lại những thành quả lớn lao, Don Bosco đã viết ra tập khảo luận
này. Nó đã có hình thức sau cùng trong cuốn Quy luậtcủa các
nhà thuộc hội thánh Phan-xi-cô đệ Sa-lê được xuất bản cũng năm đó... Như thế là
cách nay một thế kỷ.
Không nên đọc thiên khảo luận này như một hệ thống chặt chẽ, với những suy xét
lý thuyết về vấn đề giáo dục nhưng phải coi đây như là một tập hợp những nhận
định mà Don Bosco đã ghi lại sau kinh nghiệm lâu năm của một nhà giáo dục. Như
chính lời ngài nói, 'sơ đồ' của 'phương pháp vẫn được sử dụng' trong các nhà
Sa-lê-diêng.
Tập khảo luận được chia làm ba phần: Phần thứ nhất dành để giải thích 'phương
pháp dự phòng là gì, và tại sao phải chuộng phương pháp đó hơn'. Nơi phần hai,
Don Bosco bàn về cách áp dụng thực hành phương pháp này. Và nơi phần ba, ngài
nói về những lợi điểm của phương pháp này.
Trong đoạn dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày nội dung của tập khảo luận
cách ngắn gọn nhưng trung thực.
Giới thiệu phương pháp dự phòng
Người ta có thể định nghĩa phương pháp dự phòng bằng cách đối chiếu với phương
pháp vẫn thường được sử dụng trong việc giáo dục thiếu niên. Vậy Don Bosco đã
bắt đầu giới thiệu này bằng cách sử dụng sự đối chiếu đó, đúng như các nhà ngữ
học nhóm cơ cấu luận đã lý thuyết hóa sau này. "Tôi xin nhắc lại ý nghĩa
không phải là một ngữ nghĩa tròn đầy như tôi có thể kiếm thấy trong cuốn tự
điển... nhưng chủ yếu đó là một tương quan". (Roland Barthes).
Phương pháp đàn áp
'Phương pháp này nhắm làm cho những người dưới quyền biết rõ luật pháp, rồi
giám sát họ để phát hiện ra những kẻ phạm pháp, ra những hình phạt mà chúng
đáng chịu, nếu cần'. Theo nhận xét của Don Bosco thì phương pháp này 'dễ dàng
và ít mệt nhọc, tỏ ra thích hợp cho quân đội'. Nó đòi hỏi một sự xa cách giữa
những người có quyền trên và những người dưới quyền, giữa nhà giáo dục và các
thanh thiếu niên, để gia tăng uy quyền của người cầm quyền... Người này phải
tránh giao tiếp thân tình với những người dưới quyền mình, nhưng phải luôn luôn
có mặt tại đó để ngăm đe và sửa phạt.
Phương pháp dự phòng
Phương pháp này ngược hẳn với phương pháp trên kia. Nó nhằm đặt các thiếu niên
'vào trong tư thế không thể phạm lỗi được'. Don Bosco gọi những nhà giáo dục là
những "hộ trực", thay vì gọi họ là những "giám thị" như
thói quen thời đó, bởi vì các nhà giáo dục không có mặt ở đó để hăm dọa và sửa
phạt đứa bé, nếu nó lỗi phạm. Nhưng trái lại, các ngài phải lưu tâm đến từng
em, ân cần sửa chữa những lỗi lầm một cách nhân từ, để các em đừng sai phạm như
thế nữa. 'Phương pháp này hoàn toàn dựa trên lý trí, tôn giáo và tình cảm. Nhân
đó nó loại bỏ các hình phạt nào thô bạo, và cũng muốn xóa bỏ cả những hình phạt
nhẹ nhàng nữa'.
Trước hết đứa trẻ biết rằng nó sẽ không bị các nhà giáo dục hạ thấp hoặc làm
nhục, cho nên chúng sẽ không mất tinh thần vì những lỗi đã phạm. Thay vì bực
tức với những lời răn bảo, trái lại nó sẽ coi những lời này là những chỉ bảo
thân tình và có tính dự phòng, và nó còn hiểu tại sao cần có sửa phạt, nếu vấn
đề đó được đặt ra.
Lý do thứ hai, và cũng là lý do chủ yếu hơn, 'đó là tính vô tâm của đứa trẻ,
chỉ một giây đồng hồ cũng đủ để làm nó quên những điều lệ về kỷ luật, và những
hình phạt dành cho những sự sai phạm'. Nhiều khi các thiếu niên phạm pháp đã
không thấy rõ những hậu quả của hành vi mình, và chắc chúng có thể tránh khỏi
những hành vi đó, 'nếu có một lời thân tình để kịp cảnh cáo chúng', (Don Bosco
nghĩ tới những thiếu niên ngài đã gặp trong các nhà tù ở Tô-ri-nô).
Thứ ba, nếu phương pháp đàn áp có thể hãm bớt sự mất trật tự, 'nhưng lại khó
lòng làm được cho những kẻ phạm pháp sửa mình'; Don Bosco đã rút ra nhận thức
sau đây từ kinh nghiệm sư phạm của ngài: Các em sẽ khó quên những hình phạt đã
phải chịu, và thường các em giữ một kỷ niệm cay đắng về những chuyện đó. Những
hình phạt như thế còn có thể khiến các em có ý muốn trả thù: Như thế, có nghĩa
là đáng ra là thuyết phục các em đừng phạm lỗi nữa, các hình phạt lại như xúi
dục các em lỗi phạm thêm, trong tinh thần báo thù. Trái lại, trong tinh thần dự
phòng không có sự bất lợi đó: Bởi vì, thay vì làm cho đứa trẻ coi nhà giáo dục
là một kẻ thù mà nó muốn trả thù, phương pháp này cho đứa trẻ nhận thấy nhà
giáo dục là một người bạn, giúp cho nó trở nên tốt hơn, tránh cho nó những
phiền lụy, những sửa phạt và khỏi bị mất mặt với mọi người.
Sau cùng, một lý do nữa làm cho phương pháp dự phòng đáng chuộng hơn phương
pháp đàn áp, vì phương pháp này 'đào tạo được những thiếu niên biết suy nghĩ,
lúc nào nhà giáo dục cũng có thể nói cho các em nghe tiếng nói của trái tim.
Khi đã chiếm được trái tim của kẻ mình dạy dỗ, nhà giáo dục có thể có một ảnh
hưởng lớn lao với các em'. Cả sau khi đã bước vào đời hoạt động, người thanh
niên vẫn thích trở lại thăm thầy cũ của mình, ông vẫn có thể lắng nghe và cố
vấn cho em.
Tất nhiên, Don Bosco đã nói rõ là kể như thể chưa kể hết các lý do cũng đã bắt
ta phải quý chuộng phương pháp dự phòng.
Áp dụng Phương pháp dự phòng
Đối với Don Bosco, tất cả việc thực hành phương pháp này dựa trên những lời sau
đây của thánh Phao-lô về đức bác ái: "Tình thương thì nhẫn nại, tình
thương thì phục vụ, nó không ghen tuông không huênh hoang, không kiêu căng, không
làm điều xấu, không tìm kiếm tư lợi, không bực tức, không để lòng hiềm thù,
không vui vì sự bất công, nhưng tìm thấy niềm vui trong chân lý. Tình thương
thì tha thứ mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự".
Nếu bỏ qua gốc rễ phúc âm của nền sư phạm này, nhất định người ta sẽ làm cho nó
biến chất hoàn toàn. Mà một sự thấm nhuần phúc âm đã được nhận thấy trong công
cuộc của Don Bosco, qua sự giữ đạo mà tất nhiên chúng ta phải đặt vào, khung
cảnh thời đại của ngài (nước Ý Công Giáo thế kỷ XIX). Ngày nay, cách giữ đạo
này đã được thành vấn đề, không những vì bầu khí duy vật ngày nay, mà cũng vì
phong trào thần học nữa. Chúng tôi luôn nói tới tầm quan trọng mà Don Bosco đã
dành cho việc năng lãnh nhận các bí tích: ngài cho cách giữ đạo đó là nền tảng
đích thực cho việc áp dụng phương pháp giáo dục của ngài.
Cũng vậy, chương dành cho việc đề phòng luân lý này cũng được đặt trong khuôn
khổ ý thức hệ của thời đó, một thời đại thấm nhuần chủ nghĩa nghiêm khắc luân
lý và nghi ngờ tất cả những gì liên hệ đến tính dục (chương sách đó đề cập việc
phải hết sức trông chừng, đừng để lọt vào nơi ở của các em những sách vở, những
trẻ em hoặc người lớn đáng nghi ngờ về luân lý... và phải liệu đừng khi nào để
các em ở một mình với nhau).
Tuy nhiên, thật là sai lầm nếu người ta thản nhiên nhắm mắt bỏ qua những lời
khuyên của Don Bosco về việc áp dụng phương pháp của ngài, lấy cớ đó là những
khuyến cáo liên quan đến môi trường ý thức hệ đã lỗi thời. Vấn đề không phải là
gạt bỏ những điều ngài đã viết đó. Chúng tôi sẽ có dịp trở lại vấn đề này nơi
phần kết luận của tập sách này.
Còn bây giờ chúng ta phải đề cập đến những đòi hỏi thực hành mà Don Bosco đã
nhấn mạnh về phương pháp dự phòng nơi đoạn sách của ngài.
Trước hết, phương pháp này đòi hỏi các vị giám đốc và các hộ trực của ngài
phải hoàn toàn sẵn sàng giúp đỡ các em: Các vị phải hoàn toàn
hiến thân cho các em, 'tất cả những khi các vị không mắc công việc của luật
nhà'.
Đàng khác, Don Bosco dành một tầm quan trọng lớn lao cho những giải trí và
những trò chơi, và ngài nhấn mạnh về sự phải để các em được tự do. "Phải
để cho các em được tha hồ tự do chạy nhảy la hét thỏa tình. Thể dục, âm nhạc,
ngâm thơ, sân khấu và các cuộc đi dạo sẽ mạnh mẽ cho việc giữ kỷ luật, và sức
khỏe, cả sức khỏe thể lý lẫn sức khỏe tinh thần".
Sau cùng, Don Bosco nhấn mạnh về một việc nữa mà ngài coi là chủ yếu: đó là lời
khuyên bảo ban tối. "Mỗi tối trước khi các học sinh đi ngủ, vị giám đốc
hoặc vị thay thế ngài phải nói chung một vài lời thân tình với các em... Ngài
phải gắng rút ra những bài học từ những biến cố trong ngày, những biến cố trong
nhà cũng như những biến cố bên ngoài". Và Don Bosco nói thêm: "Đừng
bao giờ nói lâu quá hai ba phút". Một lần nữa, điều này chứng tỏ Don Bosco
rất hiểu biết trẻ em.
Người ta có thể ngạc nhiên vì tầm quan trọng Don Bosco dành cho ba phút nhắn
nhủ mỗi buổi tối như thế. Đúng như E. Ceria đã công nhận: " Những ai sống
ngoài bầu không khí Sa-lê-diêng, sẽ khó mà nhận ra rằng vài lời nhắn nhủ các em
đã mệt đừ vào cuối một ngày như thế lại có thể làm nên những việc kỳ diệu".
Đối với Don Bosco, vài lời nhắn nhủ ban tối đó là "bí quyết cho mọi sự
tiến hành tốt nơi một nhà và là bí quyết của sự thành công giáo dục".
Lợi ích của phương pháp dự phòng
Don Bosco không phải là không nhận thấy những khó khăn của một phương pháp sư
phạm như thế. Tuy nhiên, vì đó là phương pháp 'thỏa mãn và đầy lợi ích' cho các
em, nên nhà giáo dục là 'người phải hiến mình cho thiện ích của thiếu niên',
phải sẵn sàng đón nhận tất cả mọi phiền phức và nhọc mệt.
Tuy nhiên, xét cho cùng, nếu phương pháp dự phòng có gây một số những bất tiện
cho nhà giáo dục thì nhìn lại người ta sẽ thấy là những sự phiền hà đó tương
đối ít, so với số lớn những lợi điểm của phương pháp này nếu nhà giáo dục chu
toàn nhiệm vụ của mình cách nhiệt thành. Ngoài những lợi điểm đã kể ra trên
kia, Don Bosco đã kể thêm những điểm sau đây:
- Thanh thiếu niên sẽ giữ mãi niềm tôn kính đối với nhà giáo dục của mình.
"Họ sẽ mãi mãi vui khi nhớ đến sự đào tạo mà họ đã nhận được".
- Chắc chắn tình trạng các em sẽ không trở nên xấu hơn, dù 'tính nết, tính khí
và đạo hạnh' của em là thế nào đi nữa lúc em được nhận vào trường. Trái lại,
Don Bosco tin chắc rằng, dầu sao em vẫn có thể đạt được một sự cải thiện nào
đó. Nhờ kinh nghiệm lâu dài của ngài bên cạnh những thiếu niên 'nghèo khổ và bị
bỏ rơi', ngài đã rút ra niềm xác tín này, một niềm xác tín không thể bị lay
chuyển.
Don Bosco kết thúc tập khảo luận nhỏ của ngài bằng một lời bàn về các hình
phạt. Ngài viết: "Nếu có thể, đừng bao giờ dùng đến hình phạt". Tuy
nhiên ngài có đủ lương tri để nhận thức rằng trong lãnh vực giáo dục mà cứ núp
đàng sau những tôn chỉ to lớn, là chuyện hão huyền. Cho nên ngài đã đưa ra thêm
vào lời khuyên đối với những trường hợp bó buộc phải 'làm mạnh'. Theo ngài,
những sự sửa phạt không bao giờ nên có tính cách hạ nhục (không bao giờ phạt
các em nơi có công chúng, nhưng tại nơi riêng, xa con mắt các em khác). Đàng
khác, vẫn theo Don Bosco, không bao giờ nên dùng các hình phạt như đánh đập.
Những hình phạt như thế "làm các em bực tức nhiều lắm và cũng hạ phẩm giá nhà
giáo dục". Phương pháp dự phòng hoàn toàn dựa trên sự thân tình giữa các
nhà giáo dục và các em thiếu niên, cho nên những hình phạt loại này không nên
được xử dụng. Đàng khác, như chính Don Bosco đã nhận xét: "Người ta nghiệm
thấy rằng một cái nhìn yêu thương sẽ có hiệu quả đối với nhiều em hơn là một
cái tát".
Và Don Bosco kết luận: "Nếu phương pháp này được thực thi trong các nhà
của chúng ta, thì tôi tin rằng không cần dùng đến roi vọt và các hình phạt tàn
bạo khác, chúng ta vẫn sẽ đạt được những thành quả tuyệt mỹ. Tôi đã lo cho các
thiếu niên từ quãng bốn mươi năm nay, nhưng tôi nhớ chưa bao giờ sử dụng những
thứ hình phạt đó. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa tôi đã luôn luôn đạt
được, không những là cái tối thiểu, mà còn đạt được tất cả những gì
tôi ước ao, và đó là đối với những đứa trẻ người ta đã mất hết mọi hy
vọng đạt được thành quả khả trợ".
III. TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DỰ PHÒNG
Như chúng tôi đã nhấn mạnh nơi đầu phần nhập đề này, kinh nghiệm và sự suy nghĩ
của Don Bosco không làm thành một hệ thống sư phạm theo nghĩa chặt. Tuy nhiên
đó cũng không phải là một mớ hỗn tạp những nhận xét giáo dục và những suy tư sư
phạm. Thật ra vẫn có tính thống nhất giữa các nhận xét và các suy tư này, một
sự thống nhất mà Don Bosco đã sống, hơn là đã trình bày rõ ràng. Đây là một
kinh nghiệm, một nghệ thuật giáo dục, gồm những thực hiện và những nguyên tắc
trong lãnh vực sư phạm, một kinh nghiệm xuất phát từ một cảm hứng thống nhất và
mang một kiểu cách đặc trưng.
Kiểu cách Sa-lê-diêng
Kiểu cách giáo dục này liên kết chặt chẽ với nhân cách của vị đã quan niệm ra
nó, và liên kết chặt chẽ với những cộng đoàn của những nhà giáo dục đã được
ngài thông truyền kinh nghiệm sống của ngài, rồi kiểu cách giáo dục đó đã được
diễn tả dưới một hình thức quy chiếu về truyền thống Sa-lê-diêng.
Tuy nhiên truyền thống này và kiểu cách Sa-lê-diêng này không nên được quan
niệm như là một di sản đã dứt khoát hoàn thành, và nay chỉ còn việc đón nhận và
truyền đạt như một gia sản bất di bất dịch. Trái lại, phải coi kiểu cách
Sa-lê-diêng như một kinh nghiệm sống, cần phải được đảm nhận lấy với một ý thức
được đổi mới, và phải được tiếp tục với một tinh thần trung thành sáng tạo.
Một cảm hứng thống nhất
Cảm hứng thống nhất mà chúng tôi nhắc tới trên đây bắt nguồn từ trong Phúc âm,
và theo thiển ý thì nó có ba đường nét chủ yếu sau đây:
- Trước hết phải hết sức tôn trọng sự tự do của người thiếu niên. Về điểm này,
A. Aufray mà chúng tôi đã có dịp trích dẫn, đã viết như sau: "Hệ thống
giáo dục này để cho đứa trẻ triển nở, cởi mở, tự tìm lấy đường đi nước bước. Hệ
thống này dành một phần hết sức lớn cho sự tự do".
- Phải nói với tất cả con người của cậu thiếu niên, phải nắm lấy em trong tất
cả mọi chiều kích của em, kể cả chiều kích tinh thần.
- Sau cùng, và đây là nét đặc sắc đặc biệt, mối quan hệ sư phạm của phương pháp
này: Một mối quan hệ dựa trên tình thân ái.
Ba nét đặc trưng mà chúng tôi vừa nêu lên trên đây, thật ra chỉ là tìm cách
diễn tả bằng ngôn ngữ hiện tại chính công thức mà Don Bosco đã đề ra:
"Phương pháp dự phòng hoàn toàn dựa trên lý trí, tôn giáo và tình thân
ái".
Chúng tôi sẽ dành cho 3 đường nét chủ yếu này mỗi đường nét một chương, trước
khi trở lại điểm chủ chốt của tất cả hệ thống nơi phần kết luận. Điểm chủ chốt
này được các tu sĩ Sa-lê-diêng lấy làm phương châm của mình: "Giảng Phúc
âm bằng giáo dục và giáo dục bằng giảng Phúc âm".
Duoc tin Cu Ba Anna Than Mau cua Chi Sen va Phuoc Cuu Huynh Truong HTDC An Hoa, vua qua doi luc 8gio 30 sang Chua Nhat ngay 25 thang 1 nam 2015 tai Suoi Nghe, Ba Ria , Vung Tau. Thay mat toan the anh chi em HTDC xin thanh that chia buon cung hai chi Sen Phuoc, va toan gia quyen, Xin Thien Chua giau long thuong xot, som dua Linh Hon Cu Ba Anna som ve huong Ton Nhan Chua tren Nuoc Troi.