Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

NỒI BÁNH CHƯNG NGÀY TẾT VÀ NIỀM VUI XUM HỌP

(Cinet) - Bánh chưng gợi nhớ ngày Tết hay Tết gợi hương vị bánh chưng? Không biết tự bao giờ, món bánh truyền thống ấy đã trở thành thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên, thành món ăn đặc trưng trong ngày Tết. Với nhiều gia đình, chiếc bánh chưng vuông nhỏ bé không còn đơn thuần là món ăn mà đã trở thành niềm vui, niềm hân hoan sum họp trong những ngày đầu năm mới.

Ngày Tết cổ truyền, nhà nào cũng có dăm ba cặp bánh chưng để cúng gia tiên. Bánh chưng là nét văn hóa lâu đời mà có lẽ mãi mãi về sau cũng không thể biến mất trong tâm thức người Việt.
Cùng với sự phát triển của xã hội, hình ảnh nồi bánh chưng sôi sùng sục suốt đêm và những ánh lửa bập bùng trong đôi mắt người trông bánh nay đã thưa dần và gần như đã không còn thấy ở thành phố nữa. Mỗi năm Tết đến, tôi lại nhớ về những cái Tết thời thơ bé với nồi bánh chưng ấm cúng mà đến khi trưởng thành tôi mới nhận ra nó ấm áp nghĩa tình biết bao.

Bánh chưng - món ăn độc đáo của dân tộc

Dân tộc nào cũng có những món ăn truyền thống, song chưa thấy dân tộc nào có một món ăn vừa độc đáo, vừa ngon, vừa bổ, lại gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời và mang nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng, bánh dầy của Việt Nam.
Vào các dịp lễ tết ở miền Bắc, một trong các món ăn phổ biến nhất là bánh chưng, bánh dầy. Trong mâm cỗ đón Xuân, những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn khiến ta nhớ đến sự tích bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Có người quan niệm bánh chưng hình vuông để tượng trưng cho đất, là âm, dành cho mẹ; bánh dầy hình tròn để tượng trưng cho trời, là dương, dành cho cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ.
Có nhiều truyền thuyết dân gian cũng như có nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa giải thích khác nhau về nguồn gốc của bánh chưng. Riêng tôi rất ấn tượng với truyền thuyết từ thời vua Hùng Vương thứ 6, về cuộc thi tài để chọn người lên kế vị ngai vàng.
Truyền thuyết kể rằng: Ngay sau khi phá xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con. Vào dịp đầu xuân, vua cho mở hội và bảo các con rằng: Con nào tìm được thức ăn ngon lành để bày cỗ và có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho. Các Lang (các người con của vua Hùng) đã đua nhau làm ra những món lạ từ những nguyên liệu là sơn hào hải vị quý hiếm khắp nơi.
Truyền thuyết bánh chưng, bánh dầy
Riêng người con trai thứ 18 của vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, đã làm ra bánh chưng, bánh dầy. Cái giỏi và cái tâm của Lang Liêu là biết sử dụng những nguyên liệu thông thường có sẵn như: lá, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo… để làm thành món ăn, mà trong đó đã gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, mang ý nghĩa sâu xa để làm vật phẩm cúng tế tổ tiên, đất trời. Kết quả Lang Liêu được vua cha chọn nhường ngôi.
Từ đó, cứ đến Tết Nguyên đán, dân gian bắt chước làm theo, sau thành tục lệ để cúng Tổ tiên, cúng Trời Đất. Dần dần, bánh chưng đã trở thành món ăn truyền thống, độc đáo của dân tộc. Đây cũng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam với nhiều món ăn đặc sắc, hấp dẫn.

Bánh chưng trong ký ức tuổi thơ và niềm vui sum họp

Cho đến bây giờ, trong tâm trí tôi vẫn không mờ phai những kỷ niệm thơ ấu xung quanh nồi bánh chưng đêm trừ tịch. Cảm giác háo hức của một đứa trẻ lon ton chạy theo mỗi bước chân của bố mẹ đang hối hả cho các công việc ngày Tết. Có biết bao nhiêu thứ phải chuẩn bị: nào thịt, nào giò chả, dưa hành…, nào là đi chợ sắm Tết… Nhưng có lẽ cầu kì nhất là chuẩn bị những chiếc bánh chưng.
Để có được những chiếc bánh chưng vuông vắn, ngon lành thường phải mất từ 1 - 2 ngày với rất nhiều công đoạn. Tôi còn nhớ hồi ấy, từ những ngày 27, 28 Tết, các gia đình đã bắt đầu gói bánh chưng. Trước đó, các bà, các mẹ ai nấy đều tấp nập đi chợ mua gạo nếp thơm, đỗ xanh, thịt lợn, lá dong và một số vật dụng khác.  
Ngày ấy, kinh tế dẫu còn khó khăn nhưng những thứ đó thì không thể thiếu. Nhà nào mà có bà con ở quê mang lên cho yến gạo nếp thì quý lắm. Không khí Tết những ngày này đã thực sự rộn ràng. Khu nhà tôi ở, nhà nào cũng chỉ mười mấy m2, mà bày la liệt giữa nhà những thúng đầy gạo nếp trắng tinh, những mâm đầy đỗ xanh vo tròn rất ngon mắt, thêm những bát thịt rồi cả những khuôn bánh, lá dong xanh rờn nữa.
Những căn hộ nhỏ bé, chật chội với đủ thứ giữa nhà, cả nhà quây quần xung quanh. Không gian nhỏ bé lại càng chật hẹp hơn. Người lớn thì đôi tay thoăn thoắt, nhanh nhẹn mà khéo lắm nên gói bánh rất nhanh mà lại đẹp. Bánh chưa luộc mà nhìn đã ngon lắm rồi. Trẻ con chúng tôi thì chỉ ngồi… nghịch, ngồi xem là chính. Mà đứa nào cũng được bố mẹ, ông bà gói riêng cho một cái bánh nhỏ nhỏ xinh xinh. Trẻ con ở đâu cũng được “ưu tiên” như vậy và đứa nào cũng thích thú lắm.

Các công đoạn làm bánh chưng

























Đám trẻ con chúng tôi cứ hay lanh chanh. Ngồi xem người lớn gói bánh mà nghe tiếng bạn í ới ngoài cửa là chạy ra ngay. Mấy đứa gặp nhau là tíu tít: “Nhà cậu gói bánh xong chưa? Đêm có trông luộc bánh không? Tối ra chơi nhé…”. Xong là lại lanh chanh chạy vào hết nhà này đến nhà nọ xem mọi người gói bánh. Có những nhà còn ngồi ra tận ngoài hành lang gói bánh nữa. Ai cũng khẩn trương, nhanh tay cho kịp luộc bánh buối tối. Ấy thế mà chẳng ai gợn lên chút gì mệt mỏi, ưu phiền. Những câu chuyện phiếm vui vẻ và những tiếng cười cứ không ngớt xung quanh những chiếu bánh bề bộn trong những căn hộ nhỏ bé. Có lẽ vì vậy mà càng thấy ấm cúng hơn.
Chập tối, nhà nào nhà nấy đã gói xong những chồng bánh vuông vắn đều đặn. Ở giữa hành lang của tầng đã kê sẵn một chiếc thùng phuy lớn, dưới đã chất sẵn củi. Các gia đình trong tầng của khu tập thể chúng tôi cùng luộc bánh chung trong chiếc “nồi” ngất ngưởng ấy. Và khi thành phố lên đèn thì nồi bánh chưng của chúng tôi cũng đỏ lửa. Tối đến, tụi trẻ con chúng tôi hẹn nhau ăn cơm thật nhanh rồi chạy ra hành lanh ngồi bên nồi bánh. Trẻ con mà! Chỉ thích ngồi nhìn bếp lửa, ngồi nghịch lửa thôi. Rồi có khi bác hàng xóm mang ra cho bọn trẻ mấy củ khoai lang vùi vào bếp lửa là thích lắm. Rồi cả buổi tối, cả tầng không hẹn mà kéo nhau ra hành lang ngồi quanh nồi bánh chưng ý như là… đi họp tổ dân phố vậy. Người lớn thì vừa trông bánh, lại vừa có dịp ngồi bên nhau chuyện phiếm. Tiếng cười nói râm ran suốt cả buổi tối. Trẻ con chúng tôi thì chẳng biết người lớn nói chuyện gì mà cười vui thế, cũng chẳng đứa nào để ý vì mấy con mắt còn mải dán vào ánh lửa đỏ hừng hực kia. Đến tối thì chẳng đứa nào được ở lại trông bánh nữa vì bố mẹ bắt về nhà đi ngủ, chỉ còn lại vài ba người thức đêm trông bánh. Đó có lẽ là ngày mà cả xóm đều thức khuya nhất. Sáng hôm sau, tôi ngủ dậy thì bánh đã được vớt ra từ lúc nào rồi, sờ vào còn âm ấm. Ngoài hành lang thì chỉ còn lại dấu vết đen xì trên nền gạch men cũ kĩ. Sáng ra trẻ con nhìn mặt nhau, đứa nào đứa nấy má đỏ ửng vì ngồi cả tối bên bếp lửa. Mấy đứa trẻ con mặt nẻ hồng hào lại lon ton chạy đi chơi giữa trời rét buốt.
Vậy đấy! Chỉ có một buổi tối bên nồi bánh chưng mà biết bao ý nghĩa, ấm áp, chan hòa tình hàng xóm. Ngày nay, đời sống đã khác xưa, đã đầy đủ hơn nhiều lắm rồi. Người Hà Nội vẫn ăn bánh chưng ngày Tết như phong tục ngàn đời nay. Song, hình ảnh nồi bánh chưng đỏ lửa trong đêm quây quần thì gần như không còn nữa, để cho người ta bất chợt nhớ đến mà khát khao, mà nhớ thương. Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy, giờ cũng khôn lớn rồi. Chúng tôi còn trẻ nhưng cũng là cái tuổi bắt đầu biết hoài niệm rồi, để bây giờ ngồi nhớ về tuổi thơ mà thèm những nồi bánh chưng chan chứa tình làng nghĩa xóm ấy. Giờ đây, vẫn khu tập thể này, nhưng nồi bánh chưng ấy thì đã không còn từ lâu. Chạnh lòng mà thấy tiếc cho lũ trẻ con sau này chẳng còn được biết đến nồi bánh chưng ấm áp như thế nào…
Nguyên Hà
(Nguồn : cinet.gov.vn)

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

NGƯỜI CÔNG GIÁO TRONG TẾT NGUYÊN ĐÁN

                 

Ngày đầu xuân bao người đi xa cũng về với gia đình cũng về với ân tình, ngất ngây với nguồn yêu mến. Dâng đến lòng mẹ cha bông hoa là lòng biết ơn.

N
gày đầu xuân dâng lên Chúa lời kinh của gia đình, mong ước đời an bình, xin Ngài ban muôn ơn cho người con yêu thương, cho những người mà con yêu thương.

 
Ngày đầu xuân xin Chúa ban phúc cho mẹ cha suốt tháng năm dẫu khó khăn được vui trong mái nhà. Ngày đầu xuân xin Chúa nâng đỡ ông bà con với tháng năm mãi sắt son bền tâm cho đến cùng.
 
(Trích trong bài hát "Đầu xuân cầu cho gia đình")


Tết Nguyên đán được coi là ngày hội cổ truyền lớn nhất trong năm của dân tộc Việt Nam, đây là một truyền thống lâu đời, có từ thời Lý – Trần – Lê. Hàng năm được tổ chức long trọng trên khắp cả nước từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Mỗi dịp Tến đến xuân về, người người nhà nhà sum họp bên nhau, thăm hỏi, đi tết để tổng kết lại một năm và chào đón mùa xuân mới. Hòa mình vào dòng chảy dân tộc, người Công giáo cũng đón tết Nguyên đán theo phong tục tập quán của dân tộc, với bánh chưng, cành mai, cành đào, câu đối, nén nhang kính nhớ tổ tiên… Bên cạnh những phong tục đón tết truyền thống dân tộc, người Công giáo còn có nhiều nét đặc trưng trong những ngày tết cổ truyền.

Thánh lễ tạ ơn đêm giao thừa: 

Đối với người Công giáo, thánh lễ đóng một vài trò quan trọng nhất trong đời sống Đức tin, vì thánh lễ là nghi thức tâm điểm của người Công giáo, trong thánh lễ, người Công giáo múc kín nguồn ơn cứu độ từ tiệc Thánh thể và Lời Chúa, là nơi gặp gỡ với Thiên Chúa, nơi được nghe giảng giải Kinh Thánh, hiểu Thánh Kinh và nơi được giáo dục để thành một người Kitô hữu, cũng là nơi để gia đình sum họp sau cuộc sống bộn bề thường nhật. Cũng chính vì vậy trong đêm giao thừa, các gia đình Công giáo cùng nhau tụ họp bên thánh đường dâng thánh lễ tạ ơn những ơn lành Thiên Chúa đã ban trong năm cũ, và nguyện cầu năm mới an lành.
Thánh lễ ngày mồng một, ngày mồng hai và ngày mồng ba: 3 ngày Tết là những ngày vui của tất cả mọi người Việt Nam, nhưng người Kitô hữu thì có niềm vui đặc biệt hơn, bởi vì trong những ngày đầu năm mới này, họ cùng nhau mặc những bộ áo quần đẹp nhất, mới nhất và trang điểm đẹp nhất và với tâm hồn hạnh phúc nhất để đi lễ nhà thờ. Họ đến nhà thờ để cảm tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho họ sống thêm một tuổi, và cầu xin Chúa ban cho họ qua năm mới này được bình an hồn xác, đó chính là niềm hạnh phúc nhất của họ, bởi vì thời gian là của Chúa, xuân hạ thu đông cũng là do Chúa ra lệnh thứ tự vận hành, để cho vạn vật tốt tươi hài hòa ích lợi cho con người. Sáng sớm, cả gia đình tụ họp lại với nhau cùng đến thánh đường đón lễ đầu năm. Thánh lễ đầu năm tạ ơn hồng ân Thiên Chúa đã ban thêm một mùa xuân cho nhân loại, trong các thánh lễ này người Công giáo cùng cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, cầu cho quốc gia dân tộc được giàu mạnh, cầu bình an cho gia đình được hòa thuận yêu thương nhau.

Hái lộc Thánh đầu năm: 

Cũng như truyền thống hái lộc đầu năm của người Việt Nam, người Công giáo Việt Nam cũng giữ tục hái lộc đầu xuân nhưng hình biến đổi khác hơn, văn minh và mang tính nhân văn hơn. Thay vì người hái những chồi non, những nhánh cây nhỏ nhắn (tục này phá hoại cây xanh, làm ô nhiễm môi trường, thiếu văn minh) người Công giáo "hái lộc lời Chúa”. Đây thật là một nét đáng trân trọng, thể hiện sự tôn trọng thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan, nhưng lại thấm đượm niềm tin tôn giáo. Lộc Thánh đầu xuân chính là những câu được trích dẫn từ Kinh Thánh, sẽ trở nên chỉ nam cho đời sống mỗi tín hữu trong suốt năm mới.

Dọn mình đầu năm: 

Ngoài việc dọn dẹp nhà cửa, trang trí trong gia đình, các gia đình và người Công giáo thường dọn mình đầu năm. Ngoài việc chuẩn bị các giá trị vật chất, đầu năm các bậc làm cha làm mẹ thường khuyên con cái đi xưng tội, làm trong sạch tâm hồn mình bằng cách xua tan đi những giận hơn, ghen ghét oán than, tội lỗi trong năm cũ để đón một năm mới trọn lành hơn, tốt đẹp hơn.

Tảo mộ: 

Cũng như truyền thống tảo mộ của người Việt, trong những ngày đầu năm, người các gia đình người Công giáo cùng nhau viếng mộ ông bà tổ tiên. Có một điều khác biệt là người Công giáo chỉ thắp những nén nhang tượng trưng cho lòng thương nhớ và những lời cầu nguyện cho linh hồn các bậc tổ tiên đã ra đi sớm được hưởng nhan Thiên Chúa, người Công giáo không đốt vàng mã (một tập tục lạc hậu, vừa tốn kém vừa ô nhiễm môi trường) như những người bên lương.

Đọc kinh, cầu nguyện chung: 

Một số nơi, các gia đình Công giáo thức dậy rất sớm, có nơi 4 giờ sáng cả gia đình đã thức dậy, cùng đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn những người đã khuất, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, cầu nguyện bình an gia đình. Những ngày tết, các gia đình thức dậy rất sớm để quay quần đầm ấm bên nhau dâng lên Thiên Chúa những lời kinh nguyện cầu ơn bằng an, đầu ngày, đầu năm mới. Truyền thống này mang lại cho người Công giáo nhiều thói quen tốt, như thức dậy sớm, tránh thói quen ngủ nướng, gia đình quay quần yêu thương ngay những giây phút đầu ngày.
Thăm viếng nhau: Ngoài việc đi thăm viếng, chúc tết bà con họ hàng, người Công giáo còn đi thăm viếng nhà nhau trong một họ đạo xứ đạo, hay những người thân thiết không phân biệt lương giáo, địa vị xã hội. Các đoàn thể Công giáo thường làm việc từ thiện đầu năm, như thăm người ốm, người tàn tật quà tết cho những người hoàn cảnh khó khăn, làm việc bác ái như Chúa Giê-su đã dạy: “Hãy yêu thương nhau, như thầy đã yêu thương các con” ( Ga 13,34)
Còn nhiều những tập tục đón tết của người Công giáo khác đặc trưng từng vùng miền, trên đây chỉ nêu những nét chính yếu trong kho tàng còn chưa biết đến.
 
Những nét văn hóa tốt đẹp của người Công giáo trong những ngày tết góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. 
Cầu chúc một năm mới an lành, hạnh phúc đến với tổ quốc, dân tộc, đến với tất cả mọi người. 
Nguyện xinh Chúa chúc lành cho năm mới này!


Giuse Trần Cương
                                                                                                 (Nguồn tin: Cộng đoàn Vinh)


Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Ý NGHĨA VÀ NGUỒN GỐC TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM



1. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

Tết, còn gọi là Tết cổ truyền của dân tộc, luôn mang ý nghĩ rất sâu sắc. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi: nguồn gốc của Tết Nguyên Đán là như thế nào chưa?
Theo lịch sử Trung Quốc, Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ.

Đời Tam Vương:
- Nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần.
- Nhà Thương thích màu trắng nên chọn tháng Sửu, tức tháng Chạp, làm tháng đầu năm.
- Nhà Chu ưa màu đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng một làm tháng Tết.
Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ tạo thiên lập địa như sau:
- giờ Tý thì có trời,
- giờ Sửu thì có đất,
- giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.
Đời nhà Đông Chu, Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần.
Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thuỷ Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười.
Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng Giêng.
Từ đó về sau, trải qua bao thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc. Ông cho rằng:
- ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà,
- ngày thứ hai có thêm Chó,
- ngày thứ ba có thêm Lợn,
- ngày thứ tư sinh Dê,
- ngày thứ năm sinh Trâu,
- ngày thứ sáu sinh Ngựa,
- ngày thứ bảy sinh loài Người
- và ngày thứ tám mới sinh ra Ngũ Cốc.
Vì thế ngày Tết thường được kể từ ngày mùng một cho đến ngày mùng bảy tháng giêng (8 ngày).
Ngày nay, Việt Nam quy định viên chức và công nhân lao động được nghỉ Tết vào ngày 29 hoặc ngày 30 trước Tết và từ mùng một đến mùng ba (tổng cộng 4 ngày)
Nguyên nghĩa cũa Tết là “Tiết”. Văn hoá Việt - thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước - do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”, trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết là Tết Nguyên Đán.

Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình. Chiều 30 Tết, nhà nhà làm lễ “rước” gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn.

Trong ba ngày Tết diễn ra ba cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà:
- Thứ nhất là cuộc gặp gỡ của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo Quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.

- Thứ hai là cuộc gặp gỡ tổ tiên, ông bà,… những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.
- Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm Tết đền, dù đang ở đâu làm gì… hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

2. Ý nghĩa của Ngày Tết
Người Việt ăn mừng Tết với niềm tin thiêng liêng Tết là ngày đoàn tụ, là ngày làm mới, ngày tạ ơn và là ngày hi vọng.

Ngày Đoàn Tụ:
Tết luôn luôn là ngày đoàn tụ của mọi gia đình. Dù ai buôn bán, làm việc hay đi học ở xa, họ thường cố gắng để dành tiền và thời gian để về ăn Tết với gia đình. Đó là nỗi mong mỏi của tất cả mọi người, người đi xa cũng như người ở nhà đều mong dịp Tết để gặp mặt và quây quần cùng gia đình.
Tết cũng là ngày đoàn tụ với người đã khuất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình theo Phật pháp đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên đã qua đời về ăn cơm Tết với các con các cháu.

Ngày Tết người ta cũng thường hay thực hiện các nghi lễ, để dâng hương lên các vị thần theo huyền thoại là người ban phước cho gia đình chúng ta được nhiều sức khoẻ, nhiều tiền tài, nhiều may mắn và an lành hạnh phúc trong năm vừa qua.

Ngày Làm Mới:
Tết là ngày đầu tiên của năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc. Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa nhà cửa. Hoặc làm mới về mặt tình cảm và tinh thần của con người, để mối liên hệ giữa người thân được cảm thông hơn hoặc để tinh thần được thoải mái, tươi mát hơn. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế giường tủ được lau chùi, phủi bụi. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa gội đầu sạch sẽ, mặc quần áo mới bảnh bao. Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới để xả xui hay để tạo một sự tín nhiệm nơi người chủ nợ. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hoà với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối liên hệ được tốt đẹp.

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ con và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.

Ngày Của Lạc Quan Và Hi Vọng:
Năm cũ đã qua mang theo mọi xui xẻo và năm mới sắp đến mang theo đầy niềm tin lạc quan. Nếu năm cũ khá may mắn, thì tin sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.
Ngày Tết người ta đốt pháo nhiều để xua đuổi ma xui xẻo đi và đồng thời người ta múa rồng, múa lân sư tử khắp mọi nơi, nhất là những cửa hàng buôn bán để rước may mắn, thịnh vượng.

Mùa Tết cũng là mùa cưới hỏi: các cặp trai gái thích làm đám cưới vào dịp đầu năm, mùa xuân đất trời đang đẹp và đang mùa hi vọng. Họ hi vọng cho một cuộc đời mới, vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau và sẽ có đàn con ngoan.

Ngày Tạ Ơn:
Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn ân nghĩa mình đã được hưởng năm vừa qua. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, cấp chủ nhân cũng cám ơn nhân viên qua những buổi tiệc đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết.

Nguồn: 
 tgpsaigon.net

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

" XIN CHO CON MỘT TẤM LÒNG NHƯ CHÚA"


SUY NIỆM
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN - NĂM B
 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Văn hoá Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến, vẫn đề cao tình làng nghĩa xóm: "tối lửa tắt đèn có nhau". Sự liên đới yêu thương đùm bọc lẫn nhau tha thiết đến độ: "Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". Sự liên đới đó không chỉ dừng lại ở thôn xóm, dòng tộc mà bao quát cả dân tộc trong tình thương giữa người với người như câu ca dao ngày nào vẫn phảng phất du dương: "Bầu ơi thương lấy bí cùng - Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". 

Thế nhưng, truyền thống đó đang mất dần trong thế giới hôm nay. Một thế giới ích kỷ và hưởng thụ. Một thế giới theo chủ trương "Mackeno" đang làm tan rã tỉnh người. Người ta lo cho bản thân. Người ta sẵn sàng vì quyền lợi của mình mà chà đạp lên người khác, mà chồng chất nỗi đau lên tha nhân. Con người hôm nay chỉ nghĩ đến mình nên nhẫn tâm bỏ rơi đồng loại trong khổ đau và tuyệt vọng. Sống bên nhau, nhưng thương nhau thì ít mà đầy đoạ nhau thì nhiều. Sống với nhau nâng đỡ nhau thì ít mà loại trừ nhau thì nhiều. Đỉnh cao của sự tàn nhân, vô tâm trước khổ đau của đồng loại chính là thái độ thiếu trách nhiệm với nỗi khỗ của anh em.
Có một tai nạn xảy ra trên quốc lộ 1 A, một chiếc xe vận tải chở gỗ tràm đi theo hướng từ Bắc vào Nam, đã đâm trực diện một chiếc xe vận tải chở trái cây, chạy theo hướng từ Nam ra Bắc. Vụ tai nạn này đã khiến buồng lái của chiếc xe Bắc vào Nam bị bẹp dúm, còn chiếc xe từ Nam ra Bắc thì bị lật ngang, trái cây đổ tung tóe trên đường. Đáng lưu ý là trong khi cả hai tài xế và hai phụ xe của hai chiếc xe cùng bị trọng thương, cần cấp cứu thì dân chúng quanh đó lại đổ đến để... cướp trái cây. Mặc người bị nạn. Điều người ta quan tâm chính là hôi của, là ăn cắp hội đồng.
Xem ra cuộc sống hôm nay quá vô tâm! Có phải vì đói, vì thèm khát một quả trái cây mà hành động như vậy chăng? Chắc chắn là không. Chắc chắn là không ai nghèo đói đến độ không có một quả trái cây mà ăn. Có chăng là vì họ thiếu vắng tình người, sự liên đới và trách nhiệm với tha nhân! Không ai nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm trước sự sống còn của tha nhân. Không ai bận tâm trước những rủi ro bất hạnh của anh em. Tình người xem như đang mất dần trong xã hội đề cao vật chất và hưởng thụ hôm nay.
Phải chăng cách hành xử thiếu tình người đó đang là vấn đề cần phải cải thiện của xã hội hôm nay? Phải chăng khi người ta đề cao vật chất thì tình người lại bị coi thường và chà đạp? Dường như là vậy. Nhiều người quá đau khổ vì không tìm được sự nâng đỡ cùa anh em trong những lúc gian nan. Nhiều người quá tuyệt vọng vì sự lạnh lùng, thờ ơ và bỏ rơi của gia đình và bạn bè.
Lời Chúa hôm nay mô tả một ngày làm việc thật bận rộn của Chúa Giêsu. Ngài giảng dạy trong Hội đường. Ngài cứu chữa một người bị quỷ ám. Ngài đến tận nhà nhạc mẫu Phê-rô để chữa lành cho bà. Ngài còn dành thời giờ đón tiếp rất đông khách thập phương đến để cầu cứu Ngài. Ngài đã đặt tay và chữa lành bệnh tật cho họ. Cả ngày dường như Ngài chẳng nghỉ ngơi. Ngài đã dùng cả thời giờ của một ngày để phục vụ cho lợi ích tha nhân.
Vâng, nếu cuộc đời hôm nay có nhiều tấm lòng vị tha như Chúa, thì dòng đời sẽ không còn những cái khổ triền miên như ông Gióp. Nếu cuộc đời ai cũng biết có trách nhiệm với nhau, sẽ không còn những nỗi đau của cô đơn và tuyệt vọng như ông Gióp. Ông Gióp khi đối diện với nghịch cảnh của dòng đời đã không tìm được sự nâng đỡ từ bạn bè và người thân, ông còn bị người đời chế giễu và vợ con bỏ rơi. Nỗi khổ đau và sự cô đơn đã khiến ông kêu lên trong u buồn, sầu thảm: "Số phận của tôi phải chăng là những đêm đau khổ ê chề?".
Vâng, số phận của ông Gióp và số phận của hàng vạn người quanh ta vẫn đang cô đơn và tuyệt vọng vì lối sống ích kỷ và thiếu trách nhiệm của chúng ta. Vẫn còn đó những người chồng, người vợ đang tuyệt vọng vì đời sống thiếu trách nhiệm của người bạn đời. Vẫn còn đó những người con mặc cảm, tủi hận vì cha mẹ bỏ rơi, thiếu quan tâm. Vẫn còn đó những giọt nước mắt buồn đau của phận người bị ngược đãi, bị xúc phạm, bị chà đạp lên danh dự và phẩm giá làm người. Vẫn còn đó tiếng khóc than cho phận số nghèo đói, bệnh tật, già nua đang bị anh em đồng loại bỏ rơi.
Ước gì mỗi người chúng ta có được trái tim như Chúa để có thể chạnh lòng thương xót những mảnh đời khổ đau của anh em. Ước gì mỗi người chúng ta cũng có tấm lòng như Chúa để sẵn lòng dấn thân quảng đại vì hạnh phúc tha nhân. Xin cho mỗi người chúng ta luôn có trách nhiệm với nhau, với cuộc đời. Xin đừng để ai đau khổ, thất vọng vì sự thờ ơ và thiếu trách nhiệm của chúng ta. Amen.

(Nguồn : tonggiaophanhanoi.org)

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

" LY CÀ PHÊ TRÊN TƯỜNG"

Tôi ngồi cùng người bạn trong một quán cà phê nổi tiếng tại một thị trấn lân cận của Venice, Ý, thành phố của ánh sáng và nước.
Khi chúng tôi thưởng thức cà phê, một người đàn ông bước vào và ngồi xuống chiếc bàn trống bên cạnh chúng tôi. Anh gọi người phục vụ và nói:
- Hai ly cà phê, một ly trên bức tường kia.
Chúng tôi khá quan tâm khi nghe gọi thức uống như thế và quan sát thấy người đàn ông được phục vụ một ly cà phê nhưng trả tiền cho 2 ly.
Khi anh đi khỏi, người phục vụ dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.
Trong lúc chúng tôi còn ngồi đó, hai người đàn ông khác vào quán và gọi 3 ly cà phê, 2 ly trên bàn và 1 ly trên tường. Họ uống 2 ly cà phê nhưng trả tiền cho 3 ly và rời đi. Lần này cũng vậy, người phục vụ làm tương tự, anh dán một mảnh giấy lên tường, trên mảnh giấy ấy có ghi hàng chữ “Một Ly Cà Phê”.
Có điều gì đó làm chúng tôi thấy lạ và khó hiểu. Chúng tôi uống hết cà phê, trả tiền rồi rời đi.
Vài ngày sau, chúng tôi có dịp quay lại quán cà phê này. Trong lúc chúng tôi đang thưởng thức cà phê, một người đàn ông ăn mặc tồi tàn bước vào. Khi anh ngồi xuống ghế, anh nhìn lên tường và nói:
- Một ly cà phê trên tường.
Người phục vụ mang cà phê đến cho anh với sự tôn trọng như thường lệ. Người đàn ông uống cà phê và đi khỏi mà không trả tiền.
Chúng tôi ngạc nhiên chứng kiến tất cả sự việc, lúc người phục vụ tháo một mảnh giấy trên tường và bỏ nó vào thùng rác.
Giờ thì chúng tôi không còn ngạc nhiên nữa – sự việc đã rất rõ ràng. Sự tôn trọng tuyệt vời dành cho người nghèo được thể hiện bởi các cư dân ở thị trấn này đã làm đôi mắt chúng tôi đẫm lệ.
Hãy suy ngẫm những điều người đàn ông này mong muốn. Anh bước vào quán cà phê mà không phải hạ thấp lòng tự trọng… Anh không cần xin một ly cà phê miễn phí… không cần hỏi hay biết về người đang cho anh ly cà phê này… anh chỉ nhìn vào bức tường, gọi thức uống, thưởng thức ly cà phê của mình và rời khỏi quán.
Một ý nghĩ thật sự đẹp. 
Có lẽ đây là bức tường đẹp nhất mà bạn từng nhìn thấy. 

Nguồn: Academics/ citinews.net





Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

PHÂN BIỆT CỪU VÀ CHIÊN


NĂM CON DÊ - PHÂN BIỆT CỪU VÀ CHIÊN 


Cũng như nhiều người, tôi cũng đã từng ở trong sự mơ hồ khi phân biệt chiên và cừu đến nỗi từng cho rằng có lẽ “chiên” là một loài mà ở nước ta không có nên chỉ biết khái niệm vậy thôi. Dốc công nghiên cứu tìm kiếm câu trả lời, nay tôi đã có được sự phân biệt rõ ràng, xin chia sẻ cùng quý vị và các bạn.

                             Phân biệt Cừu và Chiên
Phân biệt Cừu và Chiên

Người Kitô hữu không lạ gì với từ ngữ con chiên. Cùng với Giáo hội, ta tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chiên Thiên Chúa, nhưng thực tế nhiều người chẳng biết con chiên thực tế là như thế nào. Cũng như nhiều người, tôi cũng đã từng ở trong sự mơ hồ khi phân biệt chiên và cừu đến nỗi từng cho rằng có lẽ “chiên” là một loài mà ở nước ta không có nên chỉ biết khái niệm vậy thôi. Dốc công nghiên cứu tìm kiếm câu trả lời, nay tôi đã có được sự phân biệt rõ ràng, xin chia sẻ cùng quý vị và các bạn.


Loài cừu là một loài vật mới được du nhập vào Việt Nam không lâu nên hầu như rất nhiều người Việt không biết đến các thuật ngữ riêng trong loài này.

Thực ra, cừu là danh từ chỉ chung cho loài, tuy nhiên nó thường được dùng để gọi những con đã hơn 1 tuổi.



Chiên là từ dùng để gọi những con cừu non dưới 1 năm tuổi. 
Chiên cũng được dùng để chỉ thịt của những con cừu non này. 
Còn thịt của những con hơn 12 tháng tuổi gọi bình thường là thịt cừu.


Trong tiếng Anh, người ta dùng nhiều từ khác nhau để gọi mỗi thành phần riêng biệt của giống cừu. Sheep là danh từ chung chỉ loài cừu. Lamb là từ chỉ những con cừu non dưới 1 năm tuổi, trong tiếng Việt chúng ta dịch là chiên. Những chú cừu đực được gọi là ram, còn những cô cừu cái lại được kêu là ewes. Ngoài ra cừu cái còn được gọi cách thông tục là yoe.


Như vậy, không cần phải đến tận quê hương Chúa Giêsu mới biết được thế nào là chiên, mà ngay tại Việt Nam, chúng ta cũng có thể tận mắt xem con nào là chiên, con nào là cừu tại những trang trại nuôi cừu tại Việt Nam.





Tài liệu tham khảo:

Oxford Advanced Learner’s Dictionary
Lạc Việt Từ Điển
Sheep Terminology, www.sheep101.info


Tác giả bài viết: Vinh Trần, CSC
Nguồn tin: www.dongthanhtam.net






Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

CON DÊ VỚI KITÔ GIÁO

Hình tượng con dê phổ biến trong Kinh thánh

Trong các kinh Cựu ước và Tân ước có đề cập đến hình tượng hai con dê dùng để hiến tế. Con thứ nhất là con dê tạ tội tức là con dê bị giết để tạ tội với Chúa, còn con dê thứ hai là con dê gánh tội là con dê bị yểm trù mọi tội lỗi của người Do Thái trút lên nó rồi đuổi nó vào sa mạc. Cả hai con dê đều liên quan đến nghi thức hiến tế và được đề cập rất cụ thể, từng chi tiết và sống động trong các tài liệu của Kitô giáo. Trong kinh Cựu Ước: Dê được nhắc đến trong kinh Cựu ước thông qua câu chuyện về Chúa gọi và chọn ông Áp-ra-ham để khởi đầu cho một dân riêng của Chúa.Trong Kitô giáo, hình ảnh con chiên, con dê rất gần gũi với người Do Thái từ mấy ngàn năm nay. Đức chúa Giêsu chào đời trong máng cỏ tại một hang có nhiều dê, chiên, lừa... thở hơi ấm. Ngoài ra, hình ảnh con chiên, con dê hy sinh, nhận lãnh làm của đền tội cho dân Do Thái không một lời than van thực ra là hình ảnh của chúa Giêsu gánh nhận trên vai mọi tội lỗi của nhân loại, như lời tiên tri Isaia đã nói trước 700 năm: "Người đã gánh mọi tội ác, mọi yếu đuối trên mình". Cũng chính vì sự so sánh này mà hàng ngày các giáo dân thường cầu nguyện "Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng tôi...". Trong Kinh thánh còn cho thấy dê chính là vật cưng của Quỷ Satan (Baphomet).
Ðể chứng minh lời hứa của mình về quyền sở hữu đất đại của ông Áp-ra-ham, Chúa đã truyền cho ông Ap-ra-ham tìm vật đính ước gồm một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy, và một bồ câu non làm vật tế lễ để thiết lập giao ước, các con vật phải ở hạn ba tuổi là vì chúng đang trong thời kỳ tinh tuyền, không vết nhơ, và không bị uế tạp. Ông Áp-ra-ham đã làm theo lời chỉ dạy. Ông đặt tất cả lễ vật lên trên bàn thờ. Người dâng tiến lễ vật sẽ đặt tay trên con dê. Con dê sẽ bị giết, và con cháu ông A-ha-ron sẽ rảy máu con dê chung quanh bàn thờ (trích Lv 3:12-13).
Con dê sẽ bị giết và vị tư tế dùng tay bôi máu con vật lên các góc của bàn thờ, số máu còn lại thì đổ xuống chân bàn thờ (Lv 4:22-26). Trong một đàn dê, người ta chỉ giữ một vài con dê đực, trong khi dê cái thì có thể nhiều. Vì số lượng dê đực hiếm hoi, nên trị giá một con dê đực có lẽ đắt hơn một con dê cái vào thời đó. Luật Do thái qui định dùng con dê để làm lễ xá tội cá nhân hay tập thể chỉ trong trường hợp họ phạm tội một cách vô ý. Trường hợp họ xúc phạm mệnh lệnh Chúa một cách cố tình và được người khác biết, thì không thể dùng con dê để làm của lễ xá tội.


         Con dê gánh tội hay còn gọi là oan dương



Con dê này gánh mọi tội lỗi cộng đồng Do Thái mà đi lạc lõng trong sa mạc. Thức ăn của dê là cỏ tươi mà giữa một sa mạc khô cằn, không cỏ, không nước, lại có thú dữ ăn thịt như sư tử và chó sói quanh quẩn, thì số phận của con dê gánh tội coi như đã được định đoạt. Vì phải gánh tội cho cộng đồng mà nó giờ đây phải sống trong đói khát và sợ hãi,và cuối cùng nó sẽ chết trong đau đớn, có khi là kiệt sức vì đói khát, có khi bị phanh thây bởi một con sư tử hay một đàn sói dữ tợn. Về người thả dê khi trở về phải làm những việc thanh tẩy để tránh sự uế tạp lây từ con dê đó. Anh ta phải giặt áo và tấm rửa kỷ lưỡng trước khi anh ta trở về với cộng đồng.



Trong ngày lễ Sa-ba-át của người Do thái, ngoài một vài con vật ở trên, cộng đồng Do thái đặc biệt tiến dâng hai con dê đực trước bàn thờ Chúa. Vị tư tế sẽ bắt thăm chọn giữa hai con: Một thăm chọn một con cho Chúa, thăm còn lại sẽ chọn con dê cho A-da-dên.. Vị tư tế sẽ sát tế "con dê cho Chúa" làm lễ tạ tội cho toàn dân (con dê tạ tội). Sau khi rảy máu con dê trên một cái nấp xá tội và làm một vài nghi thức thánh hiến bàn thờ con dê bị sát tế để tạ tội thì xác của nó được đem ra ngoài trại xa mà đốt đi. Sau đó người ta dẫn con dê cho A-da-dên còn sống tới. Vị tư tế đặt hai tay lên đầu con dê này, rồi xưng thú trên nó tất cả lỗi lầm của toàn dân. Ông trút tất cả những tội lỗi đó lên mình con dê gánh tội hay oan dương. Sau khi xưng thú tội cộng đồng xong, vị tư tế sẽ nhờ một người phục dịch dẫn con dê này thả sâu vào sa mạc.
Sách Dân số cũng đề cập rất nhiều đến lễ vật cho Chúa bằng các con vật kể trên. Nói về con dê, tựu trung thì lễ xá tội cần một con dê đực cho các đầu mục hay cho từng chi tộc, trong khi một con dê cái thì dành cho các thường dân. Lễ cầu an trong dân thì cần năm con dê đực. Lễ tạ tội cho vương quốc thì cần bảy con dê đực (2 Sb 29:21). Lễ khánh thành đền thờ Chúa thì cần mười hai con dê đực (Er 6:17). Ngay cả khi dân Do Thái trở về đất nước sau thời gian bị lưu đày. Họ cũng đã dùng mười hai con dê đực để làm lễ tạ tội (Er 8:36).
Trong Cựu ước cho rằng, Chúa đồng ý tha thứ lỗi lầm cho người có tội nếu họ mang tế vật, đặc biệt là con dê, đến trước bàn thờ Chúa để các vị tư tế sát tế nó. Máu chiên, bò, và dê đã trở thành biểu tượng và dấu ấn giữa Chúa và con người. Khi nào họ phạm tội thì việc đầu tiên là đi kiếm cho mình một con dê, rồi mang nó đến trước bàn thờ. Vị tư tế sẽ sát tế con vật và rồi nghiễm nhiên tội họ được tha. Tuy vậy việc sát tế lễ vật cần phải đi đôi với lòng thành. Kinh Thánh cũng nói đến chuyện Chúa đã chê bài lễ vật: Ngần ấy lễ lược của các ngươi, đối với ta, nào có nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã thấy ngấy. Máu bò, máu chiên dê ư, Ta đây chẳng có thèm đâu! (Is 1:11).

Trong kinh Tân Ước con số tám ngày liên quan đến chuyện con dê trong Cựu ước. Chúa đã nói với Mô-sê rằng
 Bê, chiên, hay dê, sau khi sinh, sẽ ở với mẹ nó bảy ngày, từ ngày thứ tám trở đi, nó sẽ được đoái nhận làm lễ tiến, làm lễ hỏa tế dâng Chúa (Lv 22:27). 
Ma-ri-a và Giu-se đã không tiến dâng một con dê hay con cừu, nhưng đã tiến dâng một đôi chim bồ câu non thể theo luật truyền dạy. Giao Ước cũ trong Cựu ước là máu của chiên, bò, và dê. Giao Ước mới trong Tân ước thì không dùng máu súc vật nữa.

Bò của ngươi, ta nào có tha thiết
Chiên của ngươi, chẳng lẽ ta ham hố!
Vì thú rừng là của ta hết thảy,
Cả ngàn muôn loài vật và núi đồi
Mọi thứ chim trời, ta đều nắm rất rõ,
Động vật nơi hoang dã chính thuộc về ta.
Ta mà đói, ta đâu cần nói cho các ngươi hay,
Vì trái đất với mọi loài, chính ta làm chủ.
Thịt bò há là thức ăn của ta ăn ư?
Máu chiên há là đồ để ta uống à?

(Nguồn : wikipedia)