Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

19/3 LỄ KÍNH THÁNH CẢ GIUSE


Suy Niệm:
Trung Thành Với Thánh Ý Thiên Chúa

      Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cả Giuse, mặc dù thánh nhân chỉ xuất hiện vài lần trong các sách Tin Mừng. Nhưng chừng ấy cũng đủ để Giáo Hội có cơ sở để tôn vinh Người trong vai trò cha nuôi của Chúa Giêsu và là bạn trăm năm của Ðức Maria.
      Thánh Giuse là mẫu người thầm lặng ít nói. Các sách Tin Mừng không ghi lại lời nào của Người, ngay cả lúc tìm gặp Chúa Giêsu trong đền thờ, thì cũng chính Ðức Maria là người lên tiếng nói với Chúa Giêsu. Thánh Giuse ít nói nhưng người chăm chú lắng nghe các lệnh truyền của Chúa và mau mắn làm theo, nhiều khi các lệnh truyền ấy có vẻ ngang trái bất ngờ. Khi nhận Ðức Maria làm vợ và đưa Mẹ về nhà mình; khi đem gia đình trốn sang Ai Cập; khi hồi hương trở về Nazareth, thánh Giuse luôn luôn trung thành với thánh ý Thiên Chúa mà không đòi hỏi một điều kiện nào. Hễ Thiên Chúa gọi thì Người lắng nghe; Thiên Chúa nói thì Người vâng lời. Thánh Giuse đúng là một người sống đức tin bằng hành động, không lý luận, không thắc mắc, tâm hồn và thân xác Người luôn sẵn sàng dâng hiến để thánh ý Thiên Chúa được thi hành. Và quả thật, nhờ sự cộng tác đắc lực của thánh Giuse, mà kế hoạch nhập thể của Chúa Giêsu được diễn ra hết sức tốt đẹp. Không đòi hỏi được tuyên dương, thánh Giuse đã làm trọn sứ mạng mà Thiên Chúa trao phó cho Người.

      Lạy Thánh Cả Giuse, nhiều khi con ham nói mà ít chịu lắng nghe tiếng Thiên Chúa, ham suy luận mà ít chịu vâng phục cách triệt để thánh ý Thiên Chúa. Xin thánh nhân dạy con biết noi gương Người, biết tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong thinh lặng và biết sống đức tin bằng hành động. Xin thánh nhân nâng đỡ những người cha trong gia đình để họ sống trọn sứ mạng làm chồng, làm cha. Xin thánh nhân phù trợ Giáo Hội Việt Nam trong vai trò hướng dẫn những người Kitô và làm chứng cho đức tin Kitô giữa lòng dân tộc.



CẦU XIN THÁNH GIA 
Lm. JB. Nguyễn Sang 

                                                                            

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

CẦU THANG CỦA THÁNH GIUSE

                       
Thánh Giuse được Giáo hội  ngày càng yêu kính. Có nhiều câu chuyện về ngài. Câu chuyện chiếc cầu thang kỳ lạ sau đây được nhiều người đưa lên mạng Internet. Giáo hội không xác quyết  đấy  là công trình do thánh Giuse thực hiện nhưng lòng  đạo đức bình dân lại tin như  thế với 250.000 khách hành hương mỗi năm. Không đi sang SANTA FE được, chúng ta hãy đọc và xem những ai đã đến và  trình thuật lại những gì tai nghe mắt thấy. Dĩ nhiên không cần đến câu chuyện nầy, chúng ta vẫn yêu kính thánh Giuse bình thường nhưng trong tháng kính thánh Giuse năm nay, đây là một câu chuyện nên biết. Xin cám ơn các tác giả.


                           


Tôi theo nhóm người trượt tuyết ngày 31/12/2011 từ Dallas trực chỉ hướng tây bắc tới thành phố Santa Fe, tiểu bang New Mexico, với chủ đích là kiểm chứng ‘Cầu thang Thánh Giuse’ tại nguyện đường Loretta.

Đã từ lâu, tôi đã nghe nói nhiều về chiếc cầu thang kỳ lạ này, được cho là chính Thánh Giuse kiến tạo, nay có dịp thuận tiện, nên mặc dù mùa đông giá lạnh với đường xá nguy hiểm vì băng tuyết, tôi quyết định phải theo nhóm người, vượt ngàn dặm hiểm nguy để có thể tới chứng kiến tận mắt và sờ tận tay chiếc cầu thang có một không hai bên Tây bán cầu này.

Nguyện đường Loretta tọa lạc tại số 207 Old Santa Fe Trail, khởi công xây dựng năm 1873 và tới năm 1878 mới hoàn thành, chiều dài 30 mét 5, chiều ngang 8 mét, chiều cao 21 mét 3. Với kích thước này, cách đây 134 năm, nguyện đường Loretta được coi là một nguyện đường lớn nhất tại Santa Fe, thủ đô tiểu bang New Mexico.



 

Đức Cha Jean Baptiste Lamy, người Pháp, đã mời kiến trúc sư Antoine Monly và con trai là Projectus Monly từ Paris sang vẽ kiểu và xây Nhà thờ chính tòa St Francis, đồng thời khuyến khích các nữ tu nhờ hai cha con ông Monly xây nguyện đường Loretta theo mô hình nhà thờ Sainte Chapelle tại Paris, mà họ đã tham gia trong công tác trùng tu vào đầu thập niên 1800. Theo mô hình phổ thông các nhà thờ bên Âu châu thời đó thì không có cầu thang lên gác lửng dành cho ca đoàn, vì cầu thang sẽ chiếm nhiều chỗ trong lòng nhà thờ. Vả lại, vào thế kỷ thứ 19, chỉ có phái nam được hát trong ca đoàn, nên họ dùng thang gỗ để leo lên gác ca đoàn mà không cần cầu thang.

Sau khi khánh thành nguyện đường và cha con ông Monly đã rời khỏi thành phố, thì thực tế đem lại một vấn đề hết sức nan giải: ca đoàn gồm toàn các nữ tu và nữ sinh với tu phục và váy đầm dài tới gót chân, không thể leo lên gác ca đoàn bằng thang gỗ. Các nữ tu đã mời nhiều tay thợ chuyên nghiệp đến làm cầu thang, nhưng sau khi quan sát, đo đạc, tính toán, tất cả đều lắc đầu nói không thể thực hiện được, vì gác ca đoàn thì cao, lòng nhà nguyện lại hẹp, cầu thang sẽ chiếm qúa nhiều chỗ kê ghế. Giải pháp còn lại là hoặc vẫn phải dùng thang leo lên gác ca đoàn, hoặc nới rộng nguyện đường dành chỗ làm cầu thang. Và dĩ nhiên, giảp pháp này cũng không thể chấp nhận. Sau cùng, Mẹ Bề Trên Magdalenđưa ra quyết định: khi khởi công xây dựng nguyện đường, công trình được đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse, quan thầy nghề thợ mộc, thì nay khi gặp khó khăn, công việc cũng phải được giao cho Thánh Giuse lo liệu.

Trong cuốn niên giám của Dòng còn ghi lời phát biểu của Bà: “Chúng ta tôn kính Thánh Giuse mỗi ngày thứ tư hàng tuần để xin Người trợ giúp, và đã nhiều lần, chúng ta chứng kiến sự can thiệp đầy quyền thế của Thánh Giuse”. Ngay hôm đó, các nữ tu bắt đầu làm tuần 9 ngày cầu xin Thánh Giuse. Sau 8 ngày liên tục cầu nguyện với đầy lòng tin tưởng và phó thác nơi Thánh Giuse, thì đột nhiên vào ngày thứ 9, xuất hiện một ông già râu tóc bạc dắt theo một con lừa tới xin làm cầu thang lên gác ca đoàn. Ông thợ mộc chỉ mang theo một ít đồ nghề đơn giản: 1 cái cưa, 1 thước đo hình chữ T và 1 cái búa. Ông cũng không đòi tiền công trước hoặc tiền ứng mua vật liệu. Với tinh thần đơn sơ, các nữ tu nghĩ rằng, sẽ thanh toán tiền công và tiền vật liệu sau khi công việc hoàn tất, nên không cần hỏi tên tuổi ông thợ. Sau khi giao công việc, vì đức khiết tịnh, các nữ tu không tiện liên lạc với ông và để mặc ông thợ tiến hành công tác, đồng thời tạm dùng một phòng học để cầu nguyện và cử hành phụng vụ.

Sau thời gian 7-8 tháng, các nữ tu được thông báo cầu thang đã hoàn tất, nhưng không tìm thấy ông thợ đâu cả: ông thợ đã đột nhiên bỏ đi mà không đòi tiền công và tiền vật liệu, cũng không để lại tên tuổi hoặc địa chỉ. Các nữ tu đã nhờ tìm kiếm khắp nơi và còn nhắn tin trên các báo địa phương, tuy nhiên, không ai nghe biết về ‘ông thợ kỳ lạ’ này. Sau cùng, Mẹ Bề Trên đã phải đến xưởng gỗ để thanh toán tiền vật liệu, nhưng mọi người làm việc tại đây cho biết không có ai đến mua gỗ làm cầu thang cho nguyện đường. Do không tìm ra tông tích ông thợ ‘huyền bí’ này, nên người đương thời đều kết luận đó chính là Thánh Giuse đã đáp lời cầu xin của các nữ tu. Hiện nay, tại Nhà Mẹ các nữ tu Loretta ở tiểu bang Kentucky, trong sách kinh hàng ngày, có hình vẽ ông thợ mộc đầu tóc bạc phơ dắt theo con lừa với túi đồ nghề gồm 1 cái cưa, 1 cây thước và 1 cái búa.

Năm 1971, một trận hỏa hoạn lớn thiêu hủy nhiều ngôi nhà của học viện và khu vực chung quanh. Tuy nhiên, như một phép lạ, nguyện đường Loretto vẫn đứng y nguyên, không hề hấn gì.

Sau hơn 8 giờ lái xe trong đêm với tốc độ trung bình 120 cây số/giờ, chúng tôi tới ranh giới Texas và New Mexico khi trời hừng sáng. Và kìa, trước mặt chúng tôi và hai bên xa lộ 40, trải dài những cánh đồng tuyết chạy mút tới chân trời. Thảm tuyết bao la phản chiếu ánh mặt trời tạo nên một phong cảnh kỳ ảo, khiến chúng tôi có cảm tưởng như đang đi trên một hành tinh nào khác trong giải ngân hà. Quả thực, chúng tôi thật may mắn vì mặc dù vào mùa đông, bầu trời New Mexico lúc này trong sáng với mặt trời trên cao tỏa ánh sáng dịu hiền, làm ấm lòng khách viễn du, nhưng không đủ sức nóng để làm tan chảy những cánh đồng tuyết trải dài từ ranh giới Texas tới thành phố Santa Fe.

Chúng tôi tới nguyện đường Loretto kiến trúc theo kiểu Gothic lúc 4 giờ 30 chiều, đúng vào ngày đầu năm dương lịch và phải đợi khá lâu mới đến lượt vào bên trong nguyện đường, vì nhiều đoàn hành hương đã tới trước. Có những đoàn từ các tiểu bang miền Bắc như Minnesota, Michigan, từ miền Đông như New York, Pennsylvania. Chúng tôi cũng gặp 1 đoàn người Việt từ California. Đặc biệt có 2 đoàn, 1 từ Canada và 1 từ Pháp. Điều này cho thấy ‘Cầu thang Thánh Giuse’ đã được biết đến khắp nơi, mỗi năm có khoảng 250 ngàn khách hành hương đến nguyện đường Loretta để xem cầu thang, và đúng như nữ tu Januarius, Giám đốc học viện Loretto năm 1960, cho biết, du khách từ khắp nơi trên thế giới đến chiêm ngưỡng cầu thang lạ lùng này, trong số đó, có cả kỹ sư, kiến trúc sư, khoa học gia đến tìm hiểu, nghiên cứu và nói rằng, họ không thể hiểu làm thế nào một chiếc cầu thang như vậy có thể tồn tại sau gần 1 thế kỷ sử dụng. Quả thực, cầu thang đã thách đố những phân tích khoa học cũng như khoa kiến trúc và ngành thủ công nghệ.

Bước qua cửa vào cuối nguyện đường, du khách sẽ lập tức bị thu hút bởi những tác phẩm nghệ thuật:

- Bàn thờ gỗ được làm từ bên Ý, chạm trổ bằng tay theo kiểu Gothic, rồi sơn cho giống màu đá cẩm thạch. Bàn thờ nguyên thủy này được đặt trong nguyện đường từ năm 1910 đến nay, hơn 100 năm vẫn không thay đổi. Phía dưới bàn thờ có khắc nổi hình Bữa Tiệc Ly của Leonardo da Vinci.

- Trong gian cung thánh, phía bên phải gần bao lơn, có tượng Thánh Giuse tay trái cầm cây gậy, tay phải ẵm Chúa Hài Đồng. Cũng trong gian cung thánh, phía bên trái gần bao lơn, có tượng Đức Mẹ ban ơn đứng trên qủa cầu, chân trái đạp đầu con rắn, chân phải có chuỗi Mân Côi và dưới đó là các ngôi sao. Cả hai bức tượng đều có kích thước lớn hơn người bình thường.

- Hai tượng thiên thần bổn mạng đứng 2 bên phía trên bàn thờ và tượng thiên thần ngồi bưng bình nước thánh lớn là công trình nghệ thuật của nhóm nghệ nhân M.M. K. Brokaw nổi tiếng đương thời.

- Tượng Trái Tim Chúa Giêsu, đặt trên tường phía bên trái, tay trái chỉ Trái Tim Cực Thánh, tay phải xuôi xuống với bàn tay mở rộng như ban ơn cho những ai đến với Người.

- Chặng đường Thánh giá hai bên tường biểu lộ nét sinh động của nghệ nhân, khi diễn tả được nỗi bi thương của Chúa và Đức Mẹ cũng như sự tàn ác của ‘quân dữ’. Thực ra, chặng đường Thánh giá là do sáng kiến của thánh Phan-xi-cô từ thế kỷ 13 nhằm giúp tín hữu, trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh, sốt sắng nhớ lại hành trình khổ nạn của Chúa khi vác Thập giá lên đồi Can-vê; nhờ đó, những người không biết đọc cũng có thể trải nghiệm cuộc thương khó của Người. Khởi đầu, người ta dựng những cây thánh giá nhỏ bằng gỗ ở những khoảng cách khác nhau, và tín hữu dừng lại mỗi chặng trong khi suy tưởng về quãng đường thập giá Chúa đã đi qua. Sau cùng, các họa sĩ và các nhà điêu khắc đã vẽ hoặc tạc nên những cảnh sống động về chặng đường khỗ nhục cuả Chúa vác Thánh giá lên đồi để chịu đóng đinh. Phải chính mắt trông thấy những chặng đường Thánh giá tại nguyện đường Loretta, chúng ta mới thấy tài nghệ tuyệt vời của các nhà đúc tượng, khi thực hiện những tác phẩm nghệ thuật này. Chặng đường Thánh giá Loretta hiện nay là một kho tàng nghệ thuật vô giá, mặc dù được thực hiện từ năm 1800. Tất cả những bức tượng và chặng đường Thánh giá đều bằng đá cẩm thạch nghiền nát, rồi đổ vào khuôn, nung trong lò như kỹ thuật làm đồ gốm, sau đó các nghệ nhân tô vẽ bằng tay.

- Kỹ thuật sơn kính màu tại nguyện đường Loretta đã đạt tới mức hết sức tinh vi, không thua gì các thánh đường nổi danh bên Âu châu như nhà thờ Fatima Bồ Đào Nha, nhà thờ Thánh An-tôn Lisbon, nhà thờ chính tòa Burgos, đại thánh đường Thánh I-nha-xi-ô Loyola Tây Ban Nha, nhà thờ Sacré Coeur, nhà thờ Notre Dame Paris ở Pháp — những nơi mà tôi có dịp viếng thăm trong chuyến hành hương Fatima-Lộ Đức tháng 10 năm 2011. Kính màu trên vòm cửa cuối nguyện đường vẽ biểu tượng của Chúa Giêsu bằng 2 cây Thánh giá đặt chéo lên nhau với ánh hào quang màu xanh dương. Hai bên phía dưới là chữ Hi-lạp Alpha và Omega, nói lên Chúa Ki-Tô là khởi đầu và là sau hết. Cửa kính tròn sau gác ca đoàn có hình bông hồng lớn, được gọi là ‘Rose window’, vẽ chữ M, lồng trên chữ A (Ave Maria), lời chào kính Đức Mẹ Maria vì khi thành lập Hội Dòng Loretto ngày 25/4/1812 tại Kentucky, các nữ tu đã chọn Đức Mẹ làm bổn mạng. Ngoài ra, còn 2 kính màu lớn, một vẽ ảnh Thánh Stanislas ẵm Chúa Hài Nhi, bổn mạng của các tập sinh và các thiếu nữ, một vẽ ảnh Thánh Catherine thành Alexandra tay ôm cành thiên tuế, bổn mạng các trinh nữ và các nữ sinh.

Tuy nhiên, đích điểm của khách hành hương chính là ‘CẦU THANG THÁNH GIUSE’. Thật vậy, suốt thời gian ở trong nguyện đường, lúc nào tôi cũng thấy khách hành hương, hết lớp này đến lớp khác, chăm chú quan sát cầu thang từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào, rồi bàn tán, thảo luận, và đi từ ngạc nhiên đến trầm trồ không tiếc lời khen ngợi. Sau đó, nhiều người đến qùy dưới chân tượng Thánh Giuse cầu nguyện trước khi quyến luyến ra về, sau khi đã chụp hàng chục tấm ảnh, hoặc quay phim làm kỷ niệm.

Cầu thang nằm sát tường bên phải, phía cuối nguyện đường, có hình xoắn ốc, vòng 2 lần, mỗi vòng 360 độ, không có cột chịu lực ở giữa. Toàn bộ sức nặng tựa trên chân cầu thang và phần nối với gác ca đoàn. Điều này trái hẳn với nguyên lý về trọng lực (law of gravity) khiến các khoa học gia không sao giải thích được. Kiến trúc sư Urban C. Weidner cũng là chuyên gia nghiên cứu gỗ cho biết, ông chưa bao giờ thấy cầu thang hình xoắn ốc bằng gỗ mà không có cột chịu lực ở giữa. Theo ông, nó sẽ sụp đổ ngay khi có người đặt chân bước lên. Thế mà các nữ tu và nữ sinh phải lên xuống cầu thang mỗi ngày một hay nhiều lần để hát phụng vụ. Năm 1959, cả ca đoàn học viện Loretto đứng hát trên các bậc thang mà nó vẫn vững chắc như làm bằng xi-măng cốt sắt.

Cầu thang có 33 bậc cùng một kích thước, tượng trưng cho 33 năm Chúa sống ở trần gian, 2 bên các bậc thang không có song chắn an toàn khi lên xuống, cũng không có tay vịn. Một nữ sinh thời gian làm cầu thang mới 13 tuổi, sau vào tu dòng Loretto lấy tên Mary, kể lại rằng chính cô và các bạn là những người đầu tiên bước lên cầu thang, nhưng vì sợ quá nên phải bò lên từng bậc, rồi khi xuống, phải cho hai chân xuống trước, rồi bám bậc phía trên, từ từ tụt xuống. Chính vì thế, sau 7 năm, các nữ tu và nữ sinh phải ‘bò lên bò xuống’ các bậc thang để lên gác ca đoàn, Phillip August Hesch, chuyên viên bảo trì nhà thờ chính tòa St. Francis, được mời tới làm tay vịn và song chắn 2 bên cầu thang cũng như quanh gác ca đoàn. Điều đặc biệt là cầu thang không có dù 1 chiếc đinh, hoặc keo dán để liên kết các vật liệu với nhau. Ông thợ ‘bí mật’ đó chỉ dùng các chốt gỗ hình vuông để liên kết một cách tài tình, chính xác và hết sức mỹ thuật.

Cầu thang được ráp nối bằng 93 tấm gỗ, dài từ 0.9 đến 1.5 m, gồm 10 tấm dùng làm sườn phía ngoài (nên có 9 đường nối), 8 tấm làm sườn phía trong (7 đường nối), 33 tấm làm bậc thang, 33 tấm kê giữa 2 bậc thang, phần còn lại dùng làm đoạn vòng dưới chân cầu thang. Kỹ thuật ráp nối thật lạ lùng và tinh xảo, và như trên đã nói, ông thợ không dùng đinh, cũng không dùng keo dán, chỉ nối kết bằng những chốt gỗ hình vuông mà thôi. Kiến trúc sư kiêm chuyên gia nghiên cứu gỗ Urban Weidner đã có nhận xét: một trong những điều làm sửng sốt các kỹ sư và các nhà kiến trúc là những tấm gỗ được ghép nối thành sườn cầu thang với độ cong tuyệt hảo, mỗi tấm gỗ có độ cong thật chính xác, đường ghép nối lại hết sức tinh vi, không tìm thấy một khuyết điểm nào. Ông Weidner vẫn băn khoăn suy nghĩ là một kỹ thuật tinh vi như thế mà vào thập niên 1870, một mình ông thợ mộc với những dụng cụ rất thô sơ, làm thế nào có thể thực hiện được.

Về gỗ làm cầu thang, nhiều chuyên gia đã phân tích, tìm hiểu loại gỗ và xem loại đó xuất xứ từ đâu. Tuy nhiên, không một ai có thể khẳng định là loại gỗ nào để tìm ra xuất xứ của nó. Mặt các bậc thang liên tục bị giẵm lên từ khi hoàn thành cách đây hơn 100 năm, nhưng chỉ mép bậc thang bị mòn đi một chút. Có nhà nghiên cứu cho đây là một loại thông mà thớ gỗ nằm gần vỏ, người khác thì cho là loại thông vàng lá dài. Urban Weidner lại khẳng định loại gỗ ít bị mòn này không hề có tại New Mexico. Việc ông thợ lấy gỗ từ đâu mang về làm cầu thang vẫn còn là một bí ẩn.

Chuyên gia Forrest N. Easley, sinh quán New Mexico, tốt nghiệp ưu hạng tại Đại học Colorado ngành Lâm học và Mộc học, đã từng làm việc cho các cơ quan chính phủ và Hải quân Hoa Kỳ trong 40 năm, đặc trách nghiên cứu và quản trị ngành gỗ. Với thành quả và công trình nhiều năm nghiên cứu, ông là chuyên gia về gỗ nổi tiếng, có uy tín và được mọi người kính nể. Năm 1996, Forrest Easley đã bỏ ra 15 tháng nghiên cứu và phân tích gỗ làm cầu thang Loretto. Ông lấy một mẩu gỗ cầu thang đem vào phòng thí nghiệm và dùng kính hiển vi, kính khuếch đại để quan sát, phân tích tế bào cấu tạo của gỗ. Ông cho biết gỗ có tế bào cấu trúc hình vuông, không giống bất cứ loại gỗ nào hiện có, và cũng không biết rõ nguồn gốc từ đâu. Đây là loại gỗ vân sam (spruce) ‘có một không hai’, vì tất cả các loại gỗ vân sam khác không bao giờ có cấu trúc tế bào hình vuông. Như vậy, chỉ có thể phân loại gỗ này vào giữa nhóm Picea sitchensis và Picea engelmanni. Forrest đề nghị đặt tên khoa học là Pinacae Picea josefìi Easley, còn tên phổ thông nên gọi là gỗ vân sam Loretto.

Giáo Hội luôn luôn thận trọng khi đề cập đến những hiện tượng siêu nhiên mà con người không giải thích được. Cũng trong tinh thần đó, các nữ tu và Giáo quyền tại Santa Fe không muốn đưa ra một tuyên bố khẳng định nào về chiếc cầu thang lạ lùng này, chỉ cho đó là sự đáp ứng của Thánh Giuse đối với lời cầu nguyện và sự phó thác của các nữ tu nơi Thánh Giuse. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nghĩ Thánh Giuse chính là ông thợ đã làm chiếc cầu thang lạ lùng đó.

Truyền thống tôn kính Thánh Giuse đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, từ những thế kỷ đầu, thời các thánh Giáo phụ. Rồi qua các thế kỷ, chúng ta thấy rất nhiều vị thánh đã tỏ ra lòng sùng kính Thánh Cả Giuse cách đặc biệt.

Tiêu biểu nhất, thế kỷ 13 có thánh Margaret Cortona, thế kỷ 14 các thánh Bridget Thụy Điển, thánh Vincent Ferrer, thánh Bernardine Siena. Đặc biệt thế kỷ 16 có thánh Teresa Avila, nữ tiến sĩ đầu tiên của Hội Thánh, là tông đồ nhiệt thành với lòng phó thác tuyệt đối vào Thánh Cả Giuse. Bà đã thành lập 17 tu viện và dâng kính 13 tu viện cho thánh Giuse. Qua kinh nghiệm bản thân của bà về những ơn đã nhận được từ Thánh Giuse, thánh Teresa quả quyết: “Tôi thấy không lần nào xin gì cùng Thánh Giuse mà không được. Dường như Thiên Chúa ban cho các Thánh giúp ta việc này việc nọ. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết, Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Những ai không tin lời tôi, hãy thử mà xem!”

Sang thế kỷ 17, Mẹ Đáng Kính Maria Agreda, nữ tu Dòng Thánh Phan-xi-cô, trong mọi khó khăn cũng như nghịch cảnh, lúc nào bà cũng tín thác nơi Thánh Giuse. Trong cuốn sách “Thành Trì Thiên Chúa” (La mistica ciudad de Dios), bà viết: “Sự cầu bầu của Thánh Giuse thực là mạnh thế, để giúp chúng ta giữ đức trong sạch, gỡ mình khỏi tội lỗi, thêm lòng kính mến Đức Mẹ, được ơn chết lành, khỏi quỷ ma cám dỗ, được sức khỏe phần xác cùng sự cứu trợ trong mọi hoàn cảnh khó khăn”.

Trong thời cận đại, chúng ta có 2 vị Thánh được coi là Tông đồ nhiệt thành hơn cả của Thánh Cả Giuse: Thánh Daniele Comboni và Thánh Andre Bessette. Cả hai có chung đặc điểm là cùng sinh vào thế kỷ 19 và được phong hiển thánh vào thế kỷ 21, nhưng thánh Daniele qua đời vào thế kỷ 19 và thánh Andre qua đời thế kỷ 20.

1. Thánh Daniele Comboni là một linh mục truyền giáo tại Phi châu, sau làm Giám mục, được phong thánh ngày 5/10/2003. Ngài đã sáng lập Dòng Thừa Sai gồm cả hai ngành nam tu sĩ và nữ tu. Ngay khi khởi đầu việc truuyền giáo tại Sudan, Cha Daniele đã phó thác sứ mạng này cho Đức Mẹ và Thánh Giuse. Trong một cuộc hành trình bằng lạc đà phải xuyên qua những cánh rừng rậm Phi Châu, Cha bị té gẫy nát cả bàn tay và cánh tay. Mặc dù vô cùng đau đớn, Cha Daniele vẫn phải leo lên lưng lạc đà, băng rừng tới bờ sông Nile để được đưa bằng thuyền tới tụ điểm truyền giáo. Sau 82 ngày nằm liệt trên giường điều trị vết thương, Cha trở lại công việc, và ngay lập tức, Cha viết hóa đơn gởi Thánh Giuse, yêu cầu Ngài phải lấy tiền từ ‘ngân hàng Thiên quốc’ bồi thường cho Cha tám mươi hai ngàn quan, nghĩa là mỗi ngày Cha nằm trên giường trị thương và không dâng Thánh lễ được, Thánh Giuse phải trả cho Cha một ngàn quan. Rốt cuộc, Thánh Giuse ‘đành’ phải chi ra số tiền ‘khổng lồ’ đó. Tiếp theo, không biết từ đâu đến, Cha Daniele nhận được những số tiền lớn, chẳng những Cha có thể trả hết những chi phí chuyên chở, chi phí điều hành 2 nhà ở Cairo, 2 học viện ở Verona và Bắc Ý, thanh toán lương bổng cho nhân viên địa phương và hoàn tất công việc xây cất ngôi nhà dành cho các nữ tu, gồm nhà ở, trường học và vườn trẻ. Đúng là Thánh Giuse quá rộng lượng, đã trả cho Cha Daniele cả vốn lẫn ‘4 lời’.

2. Thánh Andre Bassette là Thày trợ sĩ Dòng Thánh Gía. Ngài sinh ngày 9/8/1845 trong một gia đình lao động gồm 10 anh chị em (2 người mất sớm), mồ côi cha năm lên 9 và mồ côi mẹ năm lên 12. Thuở nhỏ Ngài ít được đi học, chỉ biết đọc biết viết, và để mưu sinh, cậu bé Andre suốt 13 năm phải làm nhiều nghề khác nhau: thợ thiếc, thợ rèn, thợ sửa giầy, thợ làm bánh, v.v… và có thời gian phải sang Hoa Kỳ kiếm sống. Tuy nhiên, cậu Andre có tâm hồn đạo đức. Khi nào có chút giờ rảnh, cậu đều qùy gối cầu nguyện trước Thánh Gía, và khi có cơ hội, cậu đem Thánh Kinh nói chuyện với bạn bè. Ngoài ra, cậu có lòng kính mến Thánh Giuse đặc biệt.

Năm 25 tuổi, nhờ sự giới thiệu của cha xứ và nhất là sự can thiệp của Đức Cha Ignace Bourget, thanh niên Andre được nhận vào Nhà Tập. Thày Andre khấn trọn đời ngày 2/2/1874 khi 28 tuổi. Trong suốt 40 năm, công việc chính của Thày là gác cổng trường College de Notre Dame Montreal. Thày thường nói đùa : “Khi tôi đến, người ta chỉ cho tôi cái cổng và tôi ở đó suốt 40 năm”. Ngoài công việc chính, Thày Andre còn làm những việc không tên như lau nhà, lau đèn nhà nguyện, lau cửa kính, vác củi, chạy thơ, v.v… Thày cũng được giao nhiệm vụ đi thăm các học sinh bị bệnh, và cũng nhờ công việc này, không bao lâu, Thày nổi tiếng là ‘người làm phép lạ Montreal’, có khả năng chữa bệnh nhờ lời xin của Thày với Thánh Giuse. Khi đến thăm bệnh nhân tại nhà, Thày bảo họ cầu cùng Thánh Giuse rồi xức dầu Thánh Giuse cho họ (dầu lấy từ cây đèn luôn luôn thắp sáng trước bàn thờ Thánh Giuse trong nhà nguyện). Thế rồi càng ngày tiếng tăm Thày Andre, ‘người làm phép lạ’, càng loan truyền khắp nơi khiến hàng ngàn người từ xa kéo đến, và rất nhiều người được khỏi bệnh nhờ Thầy cầu nguyện với Thánh Giuse. Chỉ riêng năm 1916 đã có 435 trường hợp được báo cáo khỏi bệnh mà y giới không giải thích được.

Thường ngày, Thày Andre phải tiếp khách hành hương từ 8 đến 10 giờ và mỗi năm, Thày nhận khoảng 80 ngàn thơ từ khắp nơi gởi đến xin khấn hoặc xin những lời chỉ dạy của Thày. Thày Andre luôn luôn nói với những người đến xin chữa bệnh: “Tôi chỉ là kẻ quê mùa. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi, chắc chắn Chúa sẽ chọn người đó thay tôi”. Câu nói này làm chúng ta nhớ tới câu nói của Thánh Bernadette được Đức Mẹ hiện ra ở Lộ-Đức: “Tôi là kẻ ngu dốt nhất trong các người ngu dốt. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi thì Đức Mẹ đã chọn người đó rồi”. Các Thánh sao mà khiêm nhường đến thế, chẳng bù cho chúng ta, có người còn cho mình ‘thay trời’ (thế thiên) hành đạo. Quả đúng như lời Chúa dạy: ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Khi có người được khỏi bệnh đến cám ơn, Thày Andre trả lời: “Đó là Thánh Giuse chữa. Tôi chỉ là con chó nhỏ của Ngài mà thôi”.

Giấc mơ của Thánh Andre là xây một đại thánh đường kính Thánh Giuse. Khởi đầu, Thày Andre quyên góp được số tiền 200 Gia kim và mỗi học sinh trả cho Thày 5 xu tiền hớt tóc. Năm 1904, Thày làm được một nhà nguyện bằng gỗ dài 5,49m, rộng 4.57m gần địa điểm Vương cung thánh đường Thánh Giuse hiện nay. Giấc mơ của Thày Andre đã trở thành hiện thực năm 1924, khi thánh đường Thánh Giuse được xây trên sườn đồi Mount Royal bên cạnh nhà nguyện nhỏ bé của Thày. Năm 1955, thánh đường hoàn thành, cao 263 thước, cao nhất thành phố Montreal và được thánh hiến. Mỗi năm có trên 2 triệu người đến viếng Vương Cung Thánh Đường Thánh Giuse, và nhiều người đến xin ơn đã được như ý nguyện.

Thày Andre qua đời năm 1937, lúc 91 tuổi. Hơn một triệu người từ khắp nơi đến kính viếng, và đi qua quan tài của Thày để được nhìn Thầy và vĩnh biệt Thày lần cuối. Thi hài Thày Andre được an táng trong Vương Cung Thánh Đường mà Thày đã có công khởi xướng. Thày Andre được ĐGH Gioan-Phaolô đệ nhị phong chân phước ngày 23/5/1982, sau phép lạ ông Carlo Audino khỏi bệnh ung thư năm 1958 nhờ lời cầu bầu của Thày. Ngày 17/10/2010, Chân phước Andre được ĐGH Bê-nê-đic-tô thứ 16 tôn phong hiển thánh, sau khi phép lạ thứ 2 được công nhận.

Nhân nói đến thời cận đại, không thể không đề cập đến biến cố vĩ đại ngày 13/10/1917, khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ 6 với ba trẻ tại Fatima, và trên bầu trời có Thánh Giuse, Chúa Hài Đồng và Đức Mẹ cùng xuất hiện bên cạnh mặt trời. Liền sau đó, chị Lucia la lên: trông mặt trời kìa! (Regardez le soleil), và trước sự chứng kiến của khoảng 70 ngàn người, mặt trời nhảy múa. Từ xưa đến này, ít khi nghe nói đến việc Thánh Giuse hiện ra, nhưng trong thời cận đại, sự kiện Thánh Giuse xuất hiện trên bầu trời cùng với Chúa Giêsu và Đức Mẹ có lẽ nhắc nhở chúng ta rằng Người vẫn luôn luôn quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của mỗi người chúng ta, và sẵn lòngcầu bầu cho chúng ta trước Tòa Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Trên đây là truyện các Thánh tôn vinh Thánh Cả Giuse. Đến đây, xin độc giả lượng thứ cho vì chỉ muốn chứng minh rằng trong cuộc sống đời thường, nếu chúng ta thành tâm cầu khẩn Thánh Giuse, Người sẽ nhận lời. Xin được kể hầu qúy vị một kinh nghiệm mới xảy ra trong gia đình như sau: Tôi có người con gái thứ 3 tên là Trần-Nguyễn Thiên Hương Lan, gọi bằng tên Mỹ là Mary cho tiện và vắn tắt. Mary tốt nghiệp Đại học Dược khoa với cấp bằng Doctor of Pharmacy và đã hành nghề dược sĩ hơn 10 năm. Mới đây một bệnh viện trong vùng cần tuyển một dược sĩ có kinh nghiệm, để bào chữa thuốc trị bệnh cho các trẻ em khuyết tật hoặc mắc những bệnh nan y. Mary muốn nộp đơn xin làm nhưng xem ra tiêu chuẩn rất khó. Tôi đã khuyến khích Mary và khuyên Mary cầu nguyện cùng Thánh Giuse.

Một tuần sau khi phỏng vấn, Mary nhận được thư từ chối. Mary buồn rầu thông báo cho tôi và nghĩ là chuyện đã rồi, nên tôi không quan tâm nữa. Bất ngờ tuần sau, Mary gọi điện thoại báo tin vừa được bệnh viện cho hẹn đến làm thủ tục nhận việc. Mary cho biết ngay khi nhận thư từ chối, trong lòng không vui, lại thắc mắc vì sao đã cầu xin Thánh Giuse mà Người không nhận lời, nên theo đúng lời Mary kể, Mary hỏi Thánh Giuse TẠI SAO, sau đó ‘email’ cho bà Giám đốc phòng nhân viên của bệnh viện. Ngay chiều hôm đó, Mary nhận được hồi báo cho biết đã có sự lầm lẫn, và trong số những ứng viên đủ tiêu chuẩn, người được chọn chính là Mary. Mary tin rằng, chính Thánh Giuse đã nhận lời cầu xin của mình mà chỉ cho họ nhận ra sự lầm lẫn.

Để kết thúc bài viết, xin trích dẫn bài suy ngẫm ngày thứ sáu trong cuốn Tuần cửu nhật kính Thánh Giuse, do nhà sách Trái Tim Đức Mẹ tái bản năm 1993, mà không thấy tên tác giả:

“Muốn biết thế lực Thánh Cả trên Thiên Đàng ngày nay, không gì bằng nhớ lại công việc Người đã làm xưa trong Nhà Nazarét. Nơi đây, vì phận sự gia trưởng, Người đã xếp đặt mọi công việc cho Đức Mẹ và Chúa Con. Ngót ba mươi năm trường, hai Đấng đã lấy làm hạnh phúc được vâng lời Người trọn vẹn, chẳng lấy chi làm sung sướng cho bằng làm vừa lòng đẹp ý Người luôn. Ấy là thế lực Người ở trần gian, huống chi trên Thiên Đàng, quyền uy Người còn lớn gấp bội. Có lẽ nào trên chốn vinh quang, Chúa Giêsu và Đức Mẹ lại phai lạt lòng yêu mến đối với Người? Tất nhiên, lời cầu nguyện của Người phải mạnh thế dường nào! Đấng Cứu Thế vừa thấy đôi tay, suốt ba mươi năm, đã làm lụng vất vả để nuôi Mình, rày chắp lại van xin, thì cầm lòng sao được mà chẳng mau kíp ban ơn?”….


(Nguồn : antontruongthang.com)

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

THÁNH GIUSE CÓ HAI NGƯỜI CHA ?



Bạn có biết ông nội của Chúa Giêsu là ai không? Chỉ có hai bản văn Tin Mừng Luca và Matthêô nói cho chúng ta biết điều đó. Tuy nhiên, họ lại đưa ra những cái tên khác nhau cho người cha của Thánh Giuse: Hêli và Giacóp. Vậy thì ai có lý? Chẳng nhẽ Thánh Giuse có đến hai người cha?

Matthêô bắt đầu bản văn của mình với bản gia phả đi từ ông Abraham đến Chúa Giêsu qua ông vua Đavít. Ở chương 1, 16, Matthêô viết: “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô.” Luca đã chọn đưa bản gia phả của Chúa Giêsu ngay trước khi Ngài bắt đầu sứ vụ công khai. Và bản gia phả này bắt đầu với Chúa Giêsu rồi đi ngược dòng thời gian lên đến Ađam. « Khi Đức Giêsu khởi sự rao giảng, Người trạc ba mươi tuổi. Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse. Giuse là con Êli » (Lc 3,23)

Phải tính làm sao đây với hai khẳng định này ? Giacóp là cha của Thánh Giuse như Matthêô đã nói hay là Hêli như Thánh Marcô đã xác quyết ? Những người bảo vệ cách đọc Kinh Thánh theo nghĩa mặt chữ rất bối rối trước vấn nạn này. Họ đã tìm ra vài câu trả lời có tính sáng tạo.


Cha của Maria?

Câu trả lời đầu tiên thì cho rằng một trong hai bản gia phả này là gia phả của Đức Maria chứ không phải của Thánh Giuse. Như vậy, Giacóp là cha của Giuse và Hêli là cha của Đức Maria. Giả thuyết này khó đứng vững vì hai bản văn đã rất rõ ràng khi nêu lên bản gia phả của Chúa Giêsu qua Thánh Giuse chứ không phải qua Đức Maria. Hơn nữa, các bản gia phả trong Kinh Thánh luôn theo phụ hệ. Cũng nên lưu ý là truyền thống đã nói Gioakim là cha của Đức Maria theo tiền tin mừng (protoévangile) của Thánh Giacôbê.

Hai người cha?


Để giải thích theo mặt chữ bản văn Matthêô và Luca,  ông Julius Africanus ở thế kỷ III đã đưa ra giải pháp độc đáo khi nhắc đến luật Lévirat. Nếu một người có gia đình chẳng may bị chết mà không có con thì người họ hàng gần nhất phải cưới người vợ góa đó và  những đứa con được sinh ra từ cuộc hôn nhân này sẽ phải mang tên người quá cố. Như vậy, Julius Africanus cho rằng Giacóp và Hêli là hai anh em. Giacóp là người cha sinh học của Thánh Giuse và Hêli là người cha được lấy tên. Giả thuyết này cũng không thể nào chấp nhận được bởi vì chẳng có bản văn Kinh Thánh nào nói đến điều đó.


Hai cái tên cho một người cha duy nhất!

Trong nền văn hóa hiện đại của chúng ta, chân lý luôn bị nhầm lẫn với sự chính xác của lịch sử. Nói cách đơn giản, đối với chúng ta, cái gì xảy ra thì đó là thật. Nhưng trong nền văn hóa cổ đại, sự phân biệt này thực sự không cần thiết. Các yếu tố biểu trưng có thể trộn lẫn với các dữ kiện lịch sử và được xem như là thật. Matthêô và Luca đã không thể nào tận mắt nhìn thấy bản liệt kê tổ tiên từ ông Ađam cho đến Chúa Giêsu. Họ đã sáng tác ra một bản văn mà mục đích chỉ là nói lên rằng Chúa Giêsu là ai khi gán cho Ngài các vị tổ tiên. Hơn nữa, hai bản liệt kê này cũng khác nhau về tên tuổi của các vị tổ tiên từ vua Đavít cho đến Chúa Giêsu. Như vậy, hai bản gia phả này không có mục đích ghi lại lịch sử mà là có mục đích thần học.

Và như vậy, Thánh Giuse chỉ có một người cha. Tên của ông vẫn không có gì rõ ràng. Luca gọi ông là Hêli còn Matthêô thì gọi ông là Giacóp, nhưng cả hai tên gọi này đều cùng chỉ về một  người.

Sébastien Doane



généalogie de Matthieu

Gia phả của Chúa Giêsu theo Thánh Matthêô được minh họa bằng cây Jessé
nói lên dòng dõi của Chúa Giêsu từ ông Jessé, cha vua David.
Bible des Capucins, parchemin enluminé, 45,5 × 33 cm
Bibliothèque nationale de France (photo : Wikimedia)

.
généalogie de Luc
Gia phả Chúa Giêsu theo Thánh Luca 

Bản thảo Kells, Irlande, khoảng năm 800
(photo : Wikimedia)


Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn tin: Gpquinhon.org

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

BẮT THANG LÊN TRỜI HỎI TUỔI THÁNH GIUSE


 “Thánh Giuse và Con trẻ Giêsu” của Guido Reni

Lm. William Saunders

Thánh Giuse bao nhiêu tuổi khi Chúa Giêsu được sinh ra? Để biết chính xác thì chỉ còn có cách bắt thang lên hỏi ông trời! Không có ghi nhận nào về tuổi tác của Thánh Giuse khi ngài đính hôn với Maria cũng như lúc Chúa Giêsu được sinh ra. Thật vậy, các bức vẽ chân dung về Thánh Giuse đôi khi đối nhau chan chát. Ví dụ, bức tranh “Thánh Giuse và Con trẻ Giêsu” của Guido Reni vẽ một ông lão tóc râu bạc phơ đang bồng ẵm con trẻ Giêsu trong khi bức “Thánh Giuse và Giêsu” của Jose de Ribera và bức “Thánh Gia” của Bartolome Murillo thì Thánh Giuse lại là một chàng thanh niên trẻ trung.

Hình ảnh Thánh Giuse như một ông cụ già nua bắt nguồn từ “suy tư” của các Giáo Hội Đông Phương cho rằng ngài phải là cụ ông góa vợ đã có mấy đứa con khác trước khi kết hôn với Maria. Suy tư này nhằm giải quyết hai vấn đề:

Trước hết, Đức Maria là người mẹ trọn đời đồng trinh của Đấng Cứu Thế cho nên Mẹ và Thánh Giuse không có người con nào khác nữa. Không giống như một chàng trai trẻ mạnh mẽ, cụ già Giuse đã qua thời sung sức của mình và không còn bị cám dỗ về quan hệ vợ chồng với bà mẹ còn khá trẻ này. Lòng ham muốn đã tàn như đống tro. Trong chiều hướng đó, cụ già Giuse này là một “Thánh Giuse an toàn!”

Thứ đến, cụ ông góa vợ Giuse đã có những đứa con với người vợ trước, điều này giải thích cho những đoạn Tin Mừng nói đến “những anh chị em của Chúa”. Những người này là anh chị em cùng cha khác mẹ với Chúa Giêsu, nhưng chỉ xét trên bình diện luật pháp thôi chứ thật ra xét theo huyết thống thì Thánh Giuse cũng không phải là người cha tự nhiên của Chúa Giêsu. Chẳng hạn, Mc 6, 3 viết: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?

Tuy nhiên, luận chứng “cụ ông góa vợ” thật sự không cần thiết nếu chúng ta hiểu nghĩa của từ “anh chị em” được dùng trong Kinh Thánh.

Trong bản gốc của Tin Mừng, từ “adelphos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “anh em”. Tuy nhiên, adelphos không chỉ có nghĩa là anh em ruột thịt cùng cha cùng mẹ mà còn là anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha, anh em con của dì ghẻ hay dượng ghẻ hoặc ngay cả do các mối quan hệ khác như anh em họ (chú bác cô cậu) hoặc cháu trai. Cũng nên lưu ý là trong tiếng Hêbrơ (tiếng Do Thái cổ) và Aram (tiếng Do Thái vào thời Chúa Giêsu), không có từ riêng biệt nào dùng để chỉ anh em họ, cháu trai, anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha, anh em con của dì ghẻ hay dượng ghẻ; vì thế, trong tất cả mọi trường hợp, người ta chỉ dùng từ “anh em” hay dùng kiểu nói quanh, ví dụ để chỉ “anh em họ” thì người ta nói là “con của người anh (em) của cha tôi”.

Từ “chị em” cũng có chung một ý nghĩa. Chẳng hạn, Maria Clôpát được gọi là “chị em” của Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Hiển nhiên, ông Thánh Gioakim và bà Anna chẳng khi nào đặt tên cho cả hai đứa con gái của mình là “Maria” cả. Vì thế, “chị em” ở đây nói lên mối liên hệ họ hàng.

Cũng vậy, trong Tin Mừng Marcô, có những đoạn khác làm rõ mối quan hệ giữa Chúa Giêsu và Giacôbê, Giôsét, Giuđa và Simon. Lưu ý rằng Giacôbê ở đây là Giacôbê Hậu, Giám mục Giêrusalem. Giacôbê Hậu và Giôxết là con của Maria, vợ của Clôpát (Mc 15, 40, Ga 19, 25), Giacôbê Hậu cũng được gọi là “con của Alphê” (Lc 6, 15); Như vậy, “Clôpát” và “Alphê” là  những tên gọi chỉ cùng một người, cũng như “Giuđa” và “Tađêô” chỉ cùng một tông đồ là Thánh Giuđa Tađêô. Giuđa là con của Giacôbê (một Giacôbê khác chứ không phải là một trong hai Giacôbê tông đồ - Lc 6, 16). Giacôbê Tiền và Gioan là con của ông Dêbêđê, có mẹ là bà Maria khác với Đức Trinh Nữ Maria (Mt 20, 20 tt). Tóm lại, không cần phải nghĩ rằng Thánh Giuse phải là một cụ ông để giải quyết vấn đề mối liên hệ anh chị em của Chúa Giêsu.

Cũng vậy, không thể nào tưởng tượng được một cụ ông Giuse phải lội bộ vượt cả 100 dặm đường từ Nazarét đến Bêlem để đăng ký hộ tịch trong cuộc kiểm tra dân số, hoặc đi từ Bêlem sang Ai Cập để trốn cơn thịnh nộ của vua Hêrôđê. Hình ảnh thích hợp cho Thánh Giuse phải là một chàng trai trẻ có khả năng nuôi dưỡng gia đình mình và là một hình mẫu nam tính mạnh mẽ, một người cha lý tưởng đối với Chúa Giêsu. Tổng giám mục Fulton Sheen, trong cuốn “The World’s First Love” (Tình yêu đầu tiên trên thế giới), đã bảo vệ quan điểm này: “Thánh Giuse là một chàng trai mạnh mẽ, nam tính, vóc thể thao, đẹp trai, trong sạch và kỷ cương, một loại đàn ông mà người ta thường thấy làm … ở xưởng mộc. Các cô gái trẻ thời ấy, giống như Maria, thường hay khấn chỉ yêu mình Thiên Chúa. Các chàng trai cũng vậy, và trong số đó Thánh Giuse nổi bật hẳn lên đến nổi được gọi là “người công chính”. Như vậy, thay vì là đĩa trái cây khô trên bàn ăn của vị Quân Vương, Thánh Giuse là nụ hoa tràn trề sinh lực để sẵn sàng kết trái. Ngài không ở vào cái tuổi bóng xế chiều hôm mà là buổi bình minh rực rỡ, sục sôi năng lượng, sức mạnh và đam mê bị chế ngự” (tr. 77-78).

Trong khi không có ghi nhận nào về tuổi tác thật sự của Thánh Giuse, hình ảnh một Giuse trai tráng có thể được tìm thấy trong Kinh cầu Thánh Giuse:Thánh Giuse là - Đấng Đồng Trinh gìn giữ Đức Nữ Đồng Trinh, Cha nuôi Con Đức Chúa Trời, Đấng hằng bênh vực Đức Kitô, Đấng làm chủ gia đình, Đấng rất công bằng, Đấng rất thanh tịnh, Đấng cực khôn cực ngoan, Đấng vững vàng mạnh mẽ, Đấng chịu lụy mọi đàng, Đấng rất trung tín”. 


Sống trong một thời đại mà tình phụ tử bị gạt sang bên lề, nam tính nhập nhằng với nữ tính, đức khiết tịnh bị nhạo cười, thì chúng ta cần phải tôn vinh và noi gương Thánh cả Giuse, cầu xin Ngài cứu giúp mình trên con đường cứu rỗi.


 


Thánh Giuse và Giêsu” của Jose de Ribera 





Thánh Gia” của Bartolome Murillo 


Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn tin: Gpquinhon.org