Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ Ý NGHĨA SÂU SẮC


Câu chuyện 1: 
Làm việc phải chuyên tâm, quan sát cẩn thận

Có một vị bác sĩ ngoại khoa nói với học sinh của mình rằng làm bác sĩ ngoại khoa phải có năng lực rất quan trọng là không được buồn nôn và kỹ năng quan sát.
Vừa nói vị bác sĩ vừa đưa một ngón tay của mình nhúng vào thứ chất lỏng trông rất ghê, dễ khiến người ta buồn nôn, rồi sau đó ông liếm liếm ngón tay của mình.
Ông yêu cầu toàn bộ học sinh cả lớp làm y hệt như ông một lần, những em học sinh tỏ ra miễn cưỡng đành phải cố gắng làm theo.
Bác sĩ sau khi xem xong cười to và nói: “Tôi chúc mừng các em đã hoàn thành xong lần trắc nghiệm đầu tiên, nhưng thật đáng tiếc là không có em nào vượt qua.”
Cả lớp đều vô cùng bối rối không hiểu: “Tại sao vậy, chẳng phải chúng em đã làm giống như thầy đó sao?”
Vị bác sĩ nói: “Là bởi vì các em lúc quan sát đã không cẩn thận, ngón tay mà tôi liếm không phải là ngón tay mà tôi đã nhúng vào trong chiếc đĩa kia”.
Rất đáng tiếc, các em đều không thích hợp làm bác sĩ ngoại khoa.

Vì vậy, mọi người trong cuộc sống phải chú ý quan sát đồ vật, chú ý quan sát con người, phải dùng ánh mắt của mình để đối mặt với cuộc sống, rất nhiều người thất bại không phải vì họ không có năng lực, cũng không phải là vì họ không đủ thông minh, mà là vì họ không đủ chuyên tâm, không đủ cẩn thận khi quan sát cuộc sống.

Câu chuyện thứ hai: 
Vô luận là đi đến nơi nào đều sẽ có người yêu thương và tiếp nhận bạn

Có một chàng thanh niên muốn đến nước Anh để phát triển sự nghiệp, nhưng rất không may là con thuyền mà anh ta đi đã gặp một trận bão lớn, khiến cho tất cả mọi người đều hoảng sợ.
Tuy nhiên, ngay lúc anh ta không biết phải làm thế nào thì gặp một người phụ nữ với vẻ mặt rất bình tĩnh đang cầu nguyện, thần sắc như không có chuyện gì xảy ra.
Sau khi sóng gió qua đi, toàn bộ mọi người trên thuyền đều thoát khỏi nguy hiểm, cậu thanh niên này tò mò đi đến chỗ người phụ nữ và hỏi: “Tại sao lúc gió bão ập đến như vậy mà bà lại không có một chút sợ hãi nào vậy?”.
Người phụ nữ trả lời: “Tôi có hai cô con gái, một đứa đã bị Thượng đế mang đi rồi, còn một đứa đang ở nước Anh, lúc sóng gió ập đến, tôi liền hướng lên thượng đế cầu xin. Nếu như ngài đón nhận tôi trên thiên đàng thì tôi sẽ được gặp con gái lớn, còn nếu như giữ được tính mạng thì tôi sẽ đến được nước Anh gặp cô con gái thứ hai. Cho dù tôi đến nơi nào, tôi đều có thể gặp một trong hai đứa con gái của mình, thế thì tôi sao phải sợ đây?”.

Sinh mệnh là có hạn và cũng là đã được an bài sẵn. Vì vậy khi bạn gặp nguy hiểm tính mạng, nhất định đừng sợ hãi, mà hãy bình tĩnh đối mặt với nó và điều quan trọng là trên thế giới này, vô luận bạn đi tới đâu, đều có người đón nhận và yêu thương bạn.

Câu chuyện thứ ba: 
Phải học cách trưởng thành và tiếp nhận mọi chuyện

Có một đóa hoa nhỏ mong manh mọc trên một gốc cây tùng cao lớn, đóa hoa nhỏ vô cùng hạnh phúc vì được cây tùng che chở, chắn gió che mưa khiến cho nó mỗi ngày đều sống mà không phải lo lắng gì.
Một hôm, đột nhiên có một nhóm công nhân đến, chẳng mấy chốc họ đã chặt đổ cây tùng to lớn này và mang đi.
Đóa hoa nhỏ vô cùng đau lòng, nó gào khóc và nói: “Không có cây tùng che chở, tôi biết sống ra sao? Mưa to gió lớn đến tôi phải làm thế nào? Chúng sẽ giết chết thân thể nhỏ bé này của tôi mất thôi”
Nghe bông hoa nhỏ gào khóc, một cái cây ở xa an ủi nó: “Bạn đừng nghĩ như vậy, mất đi sự che chở đó, bạn lại có thể tiếp nhận được ánh nắng mặt trời, nhận được những giọt mưa, như thế sẽ làm bạn mạnh mẽ hơn, mọi người sẽ nhìn thấy vẻ đẹp rạng rỡ của bạn. Sau khi họ nhìn thấy bạn rồi, sẽ trầm trồ khen ngợi bạn, ‘bông hoa nhỏ đẹp quá!’, bạn nói xem bạn có vui không nào?”
Bông hoa nhỏ nghe xong, tươi cười vui vẻ.

Con người cũng cần phải học sự trưởng thành, cần phải tách ra khỏi sự che chở của bố mẹ và gia đình, học cách tiếp nhận sự việc. Bạn nên biết, một người trải qua đủ loại thử thách sẽ có thể trở thành người mạnh mẽ. Không trải qua mưa gió, sao nhìn thấy cầu vồng! Chính là đạo lý này.

Câu chuyện thứ tư: 
Chỉ có người nào dám ước mơ mới có thể biến ước mơ trở thành hiện thực

Có một chàng trai năm 21 tuổi làm ăn thất bại, năm 22 tuổi tranh chức nghị viện thất bại, năm 24 tuổi việc làm ăn thất bại, năm 26 tuổi người yêu qua đời, năm 27 tuổi, từng cảm thấy tuyệt vọng với cuộc sống. Năm 34 tuổi, cạnh tranh chức nghị viên lại thất bại, năm 36 tuổi vẫn là cạnh tranh chức nghị viện thất bại, năm 45 tuổi vẫn thất bại, năm 47 tuổi ứng tuyển phó tổng thống không trúng cử, năm 49 tuổi lại không trúng cử, năm 52 tuổi trúng cử chức vị Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 16.
Người đàn ông này chính là Lincoln, bởi vì ông ta tin tưởng vững chắc rằng chỉ là Thượng Đế đang lùi lại chứ không phải là cự tuyệt lời thỉnh cầu của ông. Cho nên, ông luôn luôn nỗ lực kiên trì hết mình và cuối cùng ông đã thành công.

Có thể cho phép một người thất bại nhiều lần, thậm chí thất bại nhiều lần ở cùng một việc, nhưng không cho phép vì nhiều lần thất bại ở cùng một việc mà từ bỏ việc đó. Vì vậy, chỉ có người kiên trì với ước mơ của mình mới có cơ hội biến nó thành hiện thực.



                                                                                                                       (tinhhoa.net)

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

LỜI TRẦN TÌNH ĐÁNG SUY TƯ CỦA MỘT CỰU LINH MỤC



Trên tờ Records của giáo phận Perth, Australia, có đăng lời tâm sự của một cựu linh mục, một nhà thần học sau gần 20 năm trong thiên chức linh mục, nay đã hoàn tục.  Bài tâm sự này là một lời cảnh báo cho tất cả chúng ta không nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện hằng ngày.

“Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô.  Tôi xác quyết rằng dù sống hay dù chết, dù tù đày, bắt bớ, dù khốn cùng, quẫn bách.  Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô”.

Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên.  Cứ tưởng như là chỉ cần gào to lên như vậy thì tôi sẽ đời đời sống trong lòng mến của Thiên Chúa.
Thật ra, cũng không hoàn toàn là vô lý.  Thật sự, đúng là tù đày, bắt bớ, khốn cùng, quẫn bách đã không tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Nhưng, đơn giản là vì những thứ ấy không xảy ra trên đất nước tự do này. Ai dám bỏ tù tôi, ai dám kỳ thị tôi, ngược đãi tôi vì tôi là người Công giáo, tôi kiện họ lên tới Tối Cao Pháp Viện chứ chơi à.
Tuy nhiên, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn đã không chỉ tách tôi mà thực sự là “bứng” tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa: một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.
Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay “Tiếng thở dài.  Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của sự đau khổ trong kiếp nhân sinh này, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt.
Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin sau khi đọc cuốn sách đó.  Họ tìm lại được lòng trông cậy vào Chúa và khen nức nở các ý kiến của tôi.
Mỗi khi có chuyện không như ý, theo lời khuyên trong cuốn sách, họ cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, con biết Chúa hằng yêu thương con.  Con phó thác mọi sự trong tay Chúa.  Nhưng, lạy Chúa, qua chuyện không vui này, Chúa muốn nói với con điều gì?”

Khốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện. Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa.  Tôi tưởng tôi đã gặp được Chúa trong những suy tư thần học, cho nên tôi xao lãng đời sống cầu nguyện, tôi đã không thực hành chính những điều tôi nói và viết hằng ngày trên bục giảng và trong các tác phẩm của tôi.  Có lẽ, tôi đã cho rằng cầu nguyện chỉ là hình thức cấp thấp dành cho những người bình dân.  Siêu đẳng như tôi thì không cần.  Càng ngày tôi cũng càng ít có giờ cho giáo dân và càng ngày tôi càng bướng bỉnh và kiêu căng với các đấng bề trên.  Chuyện gì đến cũng đã đến.  Tôi không muốn sa vào những phân tích vụn vặt.  Điều tôi muốn nói với các bạn sau nhiều năm suy tư, sau những đêm dài không ngủ và trong sự hối tiếc chân thành của tôi là sự thật đơn giản này:  Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài.  Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa.
Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao nhiêu lần chúng ta gặp câu này: “Sau đó, Người lui vào một nơi thanh vắng mà cầu nguyện.”  Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha. Chúng ta là ai, tư cách gì, mà đòi có thể biết được ý Chúa qua trí khôn, qua sự xét đoán nông cạn của mình trong cái náo nhiệt, bận rộn của cuộc sống quay cuồng chung quanh.
Chẳng vậy, tất cả các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã không nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao.  Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh mà chúng ta hằng tôn kính.  Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.

Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”: Việc cầu nguyện vừa là tìm tòi Thiên Chúa, vừa là mặc khải Thiên Chúa.  Nơi việc cầu nguyện của ta, Thiên Chúa tỏ rõ Ngài là Đấng Sáng Tạo và là Cha, là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa Cứu Thế, là Thần Khí “dò thấu mọi sự, cả đến những gì sâu xa nhất của Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10), cũng như dò thấu những gì bí mật của tâm hồn.
Trong việc cầu nguyện, trước hết, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là tình thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tới gặp con người đau khổ.  Tình yêu này nâng đỡ, vực dậy và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng.

Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.

Trích “Nên thánh trong thời đại mới”, Kilian Mc Gowan, C.P
Người dịch LM JBM Trần Minh Cương

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

CÁI ỐNG NHÒM



LỄ KÍNH THÁNH NỮ TERESA HÀI ĐỒNG GIÊ SU  1/10 

Trong bài tường thuật này, người viết gọi thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là Chị Thánh và gọi Kính Vạn Hoa là Ống Nhòm.   Thời gian này Têrêsa được cử làm Phó Bề Trên Nhà Tập, có nhiệm vụ chăm sóc linh hồn các chị Nhà Tập.  Với tâm hồn đơn sơ giản dị, Têrêsa đã đưa ra những hình ảnh cụ thể để hướng dẫn mọi người yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.

Chị Thánh thường hay nói chuyện với tôi về một đồ chơi thông dụng, mà chị Thánh đã thích chơi hồi còn nhỏ.   Chơi ống nhòm, thứ ống gọi là vọng viễn kính, mà người ta nhòm thấy ở đầu kia rất nhiều hình đẹp đẽ vui vẻ, và thay đổi màu sắc hầu như vô cùng, chỉ cần xoay vần cái ống đi một chút là thấy sự lạ lùng ấy.
Chị Thánh nói rằng : cách chơi ấy làm em lạ lắm, em vẫn tự hỏi làm sao lại có thể diễn ra được những hiện tượng diễm lệ quá thể ấy.  Và một ngày kia, sau khi đã khảo sát cặn kẽ, em đã nhận thấy là giản dị vô cùng : có gì đâu, vài cái đầu giấy vụn và mấy miếng vải vụn để lộn xộn ở trong đầu ống.   Còn cái ống, thì là ba miếng kính ghép lại với nhau theo hình tam giác đặt nằm trong ống. Manh mối chỉ có thế mà đã sinh ra những công hiệu rất lạ lùng.

Với em, đó là hình ảnh một màu nhiệm cao cả : bao lâu những việc ta làm dù là rất nhỏ mọn, nếu đã làm vì lòng kính mến Chúa Cả Ba Ngôi - hình dung bằng ba miếng kính ghép lại và phản chiếu vào những việc nhỏ mọn ta làm – thì những việc đó sẽ trở nên muôn ngàn xinh đẹp và quí giá lạ lùng.  
Chúa Giêsu, qua miếng kính nhỏ, nghĩa là qua chính mình Người, Chúa nhìn chúng ta, nhận thấy tất cả những cử chỉ nhỏ nhặt của chúng ta đều đẹp đẽ hết, đẹp đẽ mãi ; nhưng nếu trệch ra ngoài trung tâm của lòng kính mến, chúng ta và những hành động, những cử chỉ của chúng ta sẽ thành cái gì?... Chúng ta sẽ thành những cái máy vô hồn, và những hành động, những cử chỉ của chúng ta sẽ thành những vấn rác... những đầu thừa đuôi thẹo... những việc bần tiện không một giá trị nào hết.

(Trích Sách Huấn Dụ Tập Sinh Dòng Kín Lisieux)


GƯƠNG SỐNG TÌNH YÊU
(Ảnh hưởng ý thơ thánh nữ Tê rê Sa)

Noi gương thánh nữ: sống tình yêu,
Mến Chúa yêu người, chỉ một điều.
Tỉnh thức cầu xin, luôn phó thác,
Hãm mình ép xác, chẳng nuông chiều.
 Đường tu trọn hảo vì tin cậy
Ơn phúc trường sinh bởi mến nhiều.
Thánh nữ trẻ trung, trong Giáo Hội.
Tình yêu tận hiến thật cao siêu...

                              Thế Kiên Dominic


ĐƯỜNG THƠ ẤU
Xưa thánh nữ Tê Rê Sa đã viết:
Vì tình yêu chứng tỏ bởi việc làm.
Vậy, làm sao con có thể khả kham
Để chứng tỏ tình yêu mình với Chúa.
***Con bé nhỏ chẳng biết chi chọn lựa,
Con không làm được những việc cao siêu
Con xin dâng Chúa hoa hồng, tỏ tình yêu
Là tất cả những hy sinh nhỏ mọn...
*** Khi đọc sách thiêng liêng đã được chọn
Bao cản ngăn, bao ảo tưởng tỏ bày,
Con mệt mỏi, đóng sách ấy lại ngay,
Vì tuổi con sức nào suy cho thấu...
***Con mở sách Thánh Kinh, lòng phấn đấu,
Tất cả đếu rực rỡ ánh linh thiêng,
Những chân trời vô tận mở cách riêng,
Hồn con thấy một điều này duy nhất:
***Là hoàn hảo trong tình yêu chân thật,
Đủ nhận ra sự hiện hữu của mình,
Là phải dâng trọn từ tuổi thiếu sinh
Để được sống trong tay Cha nhân ái.
.***Rồi để lại cho những tâm hồn vĩ đại
Những cuốn sách con chẳng đọc thông,
Và từ đây, con giữ mãi làm lòng:
’’Sống như trẻ nhỏ, sẽ được vào Nước Chúa’’ ...
***Con nhận biết, cầu nguyện; từ muôn thuở
Mãi  ứng linh, từ đáy của trái tim,
Cả buồn vui,sướng khổ, đủ mọi niềm
Đều xuất phát từ tình  yêu tận hiến...

                                       Thế Kiên Dominic

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

CHẶT TAY BỎ ĐI





                                                (Cảm nhận từ Mc 9, 38-47)

Không chống đối là ủng hộ

Cộng đoàn dân Chúa hôm nay
Nghe lời Chúa dạy điều này phải lo
Rằng khi Gioan tông đồ
Lạy trình lên Chúa dạy cho thế nào:
“Kẻ kia quê quán nơi nao
Dám nhân danh Chúa đẩy nhào quỷ ra?”
Chúng con đã cấm người ta
Chúa rằng: “Điều đó cũng là đáng tin
Các con cứ để họ yên
Phận mình, mình giữ, chẳng phiền việc ai.
Các con hãy nhớ điều này
Không ai chống đối ta nay an lành
Đó là ủng hộ chân thành…”

Chặt tay bỏ đi

Nhớ câu gần mực thì đen
Gần nơi tội lỗi chớ nên coi thường
Đây lời Chúa dạy rõ ràng
Tay nên dịp tội sẵn sàng chặt đi
Nhớ rằng dịp tội bất kì
Sa vào vùng nó ắt thì buông xuôi
Cụt tay mà giữ trọn đời
Xác hồn trong sạch ắt thời Chúa thương
Khi nào tới nước Thiên Đường
Đôi tay nguyên vẹn đường đường con Cha.

Thế Kiên Dominic


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

TƯỚNG QUÂN


Suốt cuộc đời, thế nào cũng có lúc ta bị hàm oan. Trừ khi là bậc tu trì, xem chuyện hàm oan như một cây Thập Tự cần vác, ít là để thử thách đức nhẫn nhục, có khi lại là một phương thế như là “cửa hẹp” để vào Thiên Quốc. Hoặc trừ khi là kẻ cố đấm ăn xôi, vì có thể sau lưng câu chuyện chẳng hay ho ấy lại là cả một mối lợi nào đó lớn lao gấp bội, để đổi lại việc đôi tai phải nghe những lời ác khẩu gièm pha kia. Nhận tội cho ai đó để được đền bù một số tiền kếch sù, không lẽ không là một tỉ dụ cụ thể cho những trường hợp này hay sao?
Vẫn biết cuộc đời là phù du: Người mến ta hôm nay đến nỗi ta chia sẻ mọi tâm tình sâu kín, ngày mai đã thành kẻ không đội trời chung; Những điều ta từng sẻ chia lại trở thành mối họa cho chính mình. Vẫn biết lòng người thay đổi khó lường, nhưng mấy ai không cố tìm cho mình đồng minh, dù biết đâu mai kia chính những kẻ kề cận mình lại chẳng sớm kề dao vào cổ mình hăm dọa! Phù du là thế và đổi thay là thế, nhưng ai cũng cần thấy phải bảo vệ “thanh danh” của mình trước mọi lời gièm pha, và đôi khi, trước sự thật!
Sao lại thế nhỉ? Cứ xem kỹ các chính trị gia! Họ suốt đời tìm kiếm sự ủng hộ của người khác. Và cũng suốt đời bới lông tìm vết nơi những đối thủ của mình chỉ để bôi nhọ họ: Một hình thức tự đánh bóng mình lên cho mọi người…chiêm ngưỡng! Do vậy, bất cứ một dấu vết gì của họ còn sót lại có nguy cơ sẽ làm hoen ố chiếc áo mọi người thấy còn trắng tinh, sẽ phải tẩy xóa với chất tẩy rửa mạnh nhất. Bất cứ lời ong tiếng ve nào khiến hình ảnh của họ bị lu mờ trước con mắt trần gian mau thay đổi khẩu vị, cũng sẽ bị bịt kín bằng đủ thứ gọi là thủ đoạn!
Vì họ háo danh. Vì họ muốn đường hoàng bước vào vùng sáng của vuông sân khấu đầy mầu sắc rực rỡ! Vì họ muốn bước lên ngai với tiền hô hậu ủng cùng những ánh mắt thèm thuồng, và cả những cái gục đầu chấp nhận thua cuộc của đối thủ! Họ muốn khi bước vào cung điện nếu không được trăm phần trăm dân chúng tung hô, thì cũng mười mươi là hài lòng chúc tụng! Và hạnh phúc thay ai đó chẳng có cái gì phải che đậy mà vẫn hiên ngang bước vào cung cấm.
Ông tướng chính vì mất một cánh tay ngoài trận tiền mà khi về triều đình, không chỉ toàn dân reo hò đón rước, mà ngay cả đức vua cũng thân chinh ra chào đón. Cánh tay còn lại khiến ông còn oai vệ gấp bội phần, hơn là khi còn lành lặn nhưng trở về với dung mạo kẻ thua trận…
Vậy thì, nếu Chúa dặn dò: “…Thà chột một mắt mà được vào Nước Trời, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt”, thì lời dặn dò ấy quá là tuyệt vời!

                                                                                                                  LAM TRẦN 26.09.2015

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Ý NGHĨA BỨC HỌA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


 Đây là bức tranh được trưng bày trong đại lễ suy tôn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ngày 19-06-1988 tại quảng trường thánh Phêrô tại Roma, do họa sĩ Gordon Faggetter trình bày.

                         

Bức tranh lấy cảm hứng từ câu 9 trong đoạn 7 của sách Khải Huyền : "Tôi đã thấy một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng rước ngài Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế"
Theo Thánh Gioan, đám người đông đảo tượng trưng cho muôn vàn vị Tử Ðạo trong lịch sử Giáo Hội hoàn vũ đã bỏ mình vì trung kiên với Thiên Chúa, và hiện nay đang vinh hiển trong cõi hoan lạc trường sinh. Còn trong Giáo Hội VN, 117 Thánh Tử Ðạo tượng trưng cho trên dưới 130,000 bạn đồng hành đã anh dũng hy sinh mạng sống trong suốt 261 năm bách hại: từ sắc chỉ cấm đạo đầu tiên năm 1625, cho tới hết thời Văn Thân (1886).

Đứng hàng thứ nhất chính giữa hình là sáu vị đứng đầu danh sách 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, được XƯỚNG DANH trong nghi thức SUY TÔN đó là : Linh mục Anrê Dũng Lạc, Thanh niên chủng sinh Tôma Thiện và Cụ Trùm gia trưởng Emmmanuel Lê Văn Phụng, đại diện chính thức cho 96 vị thánh Việt Nam, thuộc ba miền Bắc Trung Nam.

Hai giám mục Dòng Đaminh Hermosilla Liêm và Valentino Vinh, đại diện cho 11 thừa sai Tây Ban Nha Dòng Đaminh (6 giám mục – 5 linh mục) và 27 vị khác quốc tịch Việt Nam thuộc gia đình Đaminh, (11 linh mục, 6 thày giảng, 3 linh mục và 7 giáo dân dòng Ba Đaminh)

Linh mục Théophane Vénard Ven, (áo chùng đen, cổ có ba gạch trắng) đại diện cho 10 thừa sai Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris. (gồm 2 giám mục, 8 linh mục). Cũng ở hàng đầu từ trái qua phải là : Linh mục Phaolô Lê Bảo Tịnh, Hai vị Dòng Đaminh tử đạo tiên khởi trong danh sách 117 là cha Vinhsơn Phạm Hiếu Liêm là cha Castaneda Gia (quỳ phía trước).

Quỳ phía bên phải : Quan Thái bộc Micae Hồ Đình Hy.

Sau lưng là ba vị gia đình cụ Án Đaminh Phạm Trọng Khảm, với con trai Luca Phạm Trọng Thìn và người em Giuse Phạm Trọng Tả.

Riêng thánh nữ Annê Lê Thị Thành cũng đứng ngay gần giữa bức tranh, đại diện duy nhất của nữ giới Giáo hội Việt Nam. Thánh nữ đã 60 tuổi, nhưng họa sĩ đã xin phép được vẽ trẻ hơn một chút tính theo tuổi của Nước trời.

Họa sĩ Gordon Faggetter còn chủ tâm vẽ rải rác trong bức họa đủ tám mũ Giám mục, thêm 24 Linh mục triều mặc lễ phục trắng đeo dây stola đỏ, và 7 Thánh Binh trong y phục quân nhân.Dưới chân bức họa là một số dụng cụ gia hình trong các cuộc tử đạo : gông cùm, xiềng xích, dây thừng thắt cổ, roi đòn, kìm kẹp và thanh đao xử trảm.

Cụm hoa sen chỉ ý nghĩa trong sáng của cuộc đời 117 vị thánh, theo biểu tượng văn hóa Việt Nam, Sen tượng trưng người quân tử : "Trong đầm gì đẹp bằng sen… gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Phía sau bức tranh là giang sơn gấm vóc của đất Việt, tượng trưng bằng một số KIẾN TRÚC :

- Chùa Một Cột (Bắc), chùa Thiên Mụ (Trung) và chợ Bến Thành (Nam)

- Và 5 ngôi thánh đường :


Chính tòa Sài Gòn: nơi còn bảo toàn hài cốt một số các vị Tử Ðạo miền Nam;

La Vang (Huế): chỗ Ðức Mẹ đã hiện ra an ủi đoàn con bị truy nã vì tin theo Chúa Giêsu Kitô (1789);

Phát Diệm: ngôi thánh đường duy nhất theo kiến trúc Á Ðông, và là nơi vị linh mục chánh xứ Trần Lục xưa kia đã một thời bị bách hại (1858),và bị đầy trên Lạng Sơn (1859-1860);

Bùi Chu: giáo phận đã đóng góp con số tử đạo nhiều nhất (26 vị trong số 117), vì thế mà vẫn là nơi sản xuất dân số Công Giáo đông nhất trong 26 giáo phận Việt Nam;

Chính tòa Hà Nội: một trong hai giáo phận đầu tiên tại Bắc Việt (1679), là xuất xứ của nhiều vị Tử Ðạo (16 vị, trong đó có Cha Thánh Anrê Dũng Lạc).

- Mở rộng đến tận chân trời là biển khơi và cánh đồng lúa, chính là môi trường truyền giáo của các con cháu các vị Anh Hùng. Họ được kêu mời thêm tin tưởng vững bước tiến vào tương lai. Vì từ trên cao, Đức Kitô với một tay mở rộng đón đợi và một tay đang chúc lành, như muốn lập lại lời Ngài xưa : "Trong thế gian anh em sẽ còn phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thày đã thắng thế gian"

(Trích "Uống nước nhớ nguồn" của LM-PX- Đào trung Hiệu)





Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

ÓC GANH TỴ

(www.40giayloichua.net)

SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM B -  27/9/2015 

Khi ấy có một số người không thuộc nhóm 12 tông đồ. Họ thấy Đức Giêsu làm nhiều phép lạ, rồi họ thấy các tông đồ tuy không phải là Chúa nhưng nhờ danh Chúa mà cũng làm phép lạ được. Thế là họ cũng nhân danh Đức Giêsu và họ cũng làm được một số phép lạ. Thấy vậy, tông đồ Gioan bực tức, đã ngăn cấm họ và báo cáo lại cho Đức Giêsu biết. Gioan tưởng cấm vậy là đúng, bởi vì những người đó không phải tông đồ Chúa cho nên họ không có quyền nhân danh Chúa mà làm phép lạ. Nhưng Đức Giêsu bảo đừng ngăn cấm họ. Và Đức Giêsu còn nói một câu rất hay mà chút nữa chúng ta sẽ suy gẫm, Chúa nói “Ai không chống lại Ta thì thuộc về Ta”.
Qua câu chuyện trên, điều chúng ta nên lưu ý là: cái óc ganh tỵ đã có sẵn trong con người từ thuở rất xa xưa, nó vẫn còn tiếp tục ở trong con người ngay trong thời Tân ước. Nó ở ngay trong những con người vốn là những người thân cận của Chúa, như ông Giôsuê sau này sẽ lãnh đạo dân Chúa tiến vào Đất Hứa, như chính thánh Gioan một tông đồ được Đức Giêsu yêu thương nhất. Đó là óc ganh tỵ bè phái vì danh Chúa. Nói “Óc ganh tỵ bè phái vì danh Chúa “bởi vì ganh tỵ có tới ba cấp bực:
. Cấp thứ nhất là ganh tỵ: đó là thói xấu khiến cho người ta khó chịu bực bội khi thấy người khác cũng làm được một việc hay việc tốt như mình hoặc còn hay hơn, tốt hơn mình nữa.
. Cấp thứ hai là ganh tỵ bè phái: là ganh tỵ với người không thuộc phe nhóm của mình.
. Cấp thứ ba là ganh tỵ bè phái vì danh Chúa: nghĩa là những người tín hữu Chúa, những người có đạo ganh tỵ với những người không có đạo khi những người không có đạo này làm được những điều hay điều tốt.
Phải nhìn nhận rằng người có đạo thường mang đầu óc tự tôn. Họ lý luận rằng bởi vì Chúa của mình là toàn năng, toàn thiện cho nên đạo của mình phải là đạo tốt nhất, hay nhất. Do đó chỉ có đạo của mình mới có thể làm được những việc hay việc tốt. Khi thấy những người không có đạo dự tính làm điều này điều nọ thì nghĩ thầm rằng chúng nó sẽ chẳng làm nên trò trống gì đâu. Thế nhưng người ta đã làm việc thành công, thì khi đó những người có đạo tức bực, tìm cách nói xấu, xuyên tạc để hạ giá thành quả của những người kia vì họ không thuộc đạo của mình. Trong quá khứ, chúng ta đã thấy có những vụ thiên tai bão lụt. Các tổ chức bác ái công giáo đã hết lòng quyên góp cứu trợ. Những người công giáo rất hãnh diện với những cuộc cứu trợ do Giáo Hội Công giáo đứng ra tổ chức. Cũng có những nhóm khác cũng làm việc từ thiện cứu trợ như vậy, nhưng một số người Công giáo tỏ ra nghi ngờ và khinh chê việc làm của những nhóm kia cho rằng họ sẽ chẳng làm tới đâu, có làm được thì cũng mất mát, tham ô tùm lum, phẩm vật cứu trợ không hoàn toàn tới tay các nạn nhân. Đó là một thí dụ về cái óc ganh tỵ bè phái vì danh Chúa.
Nhưng Chúa không chấp nhận như thế đâu. Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc “Ai không chống lại Ta thì phải kể như là thuộc về Ta”. Nguyên tắc này độc đáo vì nó đi ngược lại với nguyên tắc người ta vẫn thường theo từ trước tới giờ. Người ta thường nghĩ “Ai không theo ta tức là kẻ chống ta”, hoặc “Ai không phải là bạn ta thì là kẻ thù của ta”, hay hơn nữa “Ai làm bạn với kẻ thù ta thì cũng là kẻ thù của ta”. Những nguyên tắc vừa kể biểu lộ một tâm lý tự tôn và độc tôn: chỉ có phe nhóm của mình là hay, loại trừ tất cả những ai không thuộc về phe nhóm mình. Còn nguyên tắc của Đức Giêsu là một nguyên tắc cởi mở, rộng lượng, nới rộng vòng tay hợp tác: tất cả mọi người, miễn là họ không chống lại ta, cho dù người đó không thuộc đạo ta, cũng phải coi là bạn của ta; cũng phải hợp tác với họ.
Giữa xã hội ngày nay, con số những người có đạo chỉ là một con số nhỏ. Nếu những người có đạo cứ khư khư với đầu óc tự tôn và độc tôn thì họ sẽ trở thành lẻ loi, sẽ bị cô lập giữa xã hội. Còn nếu những người có đạo biết thực hành nguyên tắc của Đức Giêsu đề ra thì họ sẽ sống chan hòa với những người khác, sẽ có rất nhiều cơ hội để cùng với những người khác thực hiện biết bao nhiêu điều tốt mà Chúa muốn họ làm.
Vả lại, Chúa đâu phải chỉ muốn cho những người có đạo làm việc tốt, mà Chúa muốn cho mọi người đều làm việc tốt. Chúa cũng đâu có cần những người có đạo chúng ta khi làm được một việc tốt thì phải dán nhãn hiệu đạo lên việc tốt đó, phải ký tên mình lên việc tốt đó. Điều mà Chúa muốn là có những việc tốt đã được làm.
Chúng ta hãy cố gắng sống theo tinh thần Tin Mừng Chúa: đừng ganh tỵ, đừng giữ đầu óc bè phái… nhưng cố gắng sống chan hòa với mọi người, cùng với mọi người thực hiện những điều tốt, những việc làm có ích cho tha nhân, cho xã hội.

(Nguồn : menchuayeunguoi.com)