Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

BẰNG CHỨNG PHÊ RÔ LÀ GIÁO HOÀNG TIÊN KHỞI


Lời dẫn nhập:
Đây là phần do người viết rút ngắn từ bài (của mình) dài gần ba trang rưỡi, xóa đi các tiểu đoạn bằng tiếng Pháp, Hylạp và Đức.
Trước khi nêu lên các bằng chứng ''thứ yếu'', tôi xin trưng BẰNG CHỨNG ''chủ yếu'' Chúa Giêsu chọn ông Ximon làm ĐÁ để lập nên Giáo Hội của Ngài.

I. BẰNG CHỨNG CHỦ YẾU

''CÒN Ta, Ta bảo con: "Con là Ðá (1) VÀ trên đá ẤY, Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta,... (AND I tell you, you are Peter, AND on this rock I will build my church,... - ET ego dico tibi: Tu es Petrus, ET super hanc petram aedificabo Ecclesiam meam;...'' (Mat. 16,18)
Để làm sáng tỏ ''Thánh Ý An Bài'' (Disposition Divine) của Chúa qua việc chọn ông Ximon, thiết tưởng phải phân tích từ ngữ, văn phạm trong LỜI CHÚA phán vừa nêu. Đồng thời, cũng cần nói rõ LÝ DO NÀO mà Chúa lại ''KẾT'' ông Ximon đến thế!
A. Phân tích từ ''ĐÁ'' và từ ''VÀ'' sau đó
a. Ý nghĩa của chữ ĐÁ
Biệt danh ĐÁ được dịch từ chữ ''Céphas'' (Kephas), gốc tiếng Aram. Vừa mới ''được'' Anrê dẫn Ximôn đến giới thiệu với Ngài, tức là TRƯỚC khi CÔNG BỐ như trong Mat. 16,18, Chúa Giêsu NHÌN Ximon và QUYẾT ĐỊNH NGAY TẠI CHỖ: ''Con là Ximon, con của Gioan, con sẽ được gọi là KÊPHA, nghĩa là ĐÁ.'' (Gioan 1, 42)
b. Giá trị của ý nghĩa ĐÁ
Ximon ''được cải danh'' thành ĐÁ là DO Thánh Ý của Đấng Quan Phòng, tức là Chúa Giêsu ''thấy trước'' (prévoit) mọi sự, chứ không phải như có người nghĩ rằng Ngài vừa nói câu (ở Mat. 16,18), vừa đưa tay chỉ vào ngực Ngài để ''dằn mặt cái anh chàng tên Đá mới chân ướt, chân ráo, chân trong, chân ngoài, mắt nhắm, mắt mở'' đứng nghe Chúa phán về Ngài là ai!
c. Tại sao chữ Hy-lạp ''petra: đá'', mà biệt danh của Ximon là ''Petros''?
Ông Ximon là người NAM thì Chúa dùng chữ Petros có giống đực (masculin). Bằng không, thiên hạ ''bàn tán'' về người NAM mà lại mang tên của người NỮ! Vì lý do đó mà ''petra'' của Latinh thành Petrus! Nhiều cô mang quý danh Paula, chứ không phải Paulus!
d. Tại sao Chúa ''kết'' ông Ximon đến thế?
Tin Mừng theo Mat. 16,13-17 cho biết rằng ''người ta'' đoán trật lất Chúa là ai; NGƯỢC LAỊ, Ximôn thì trả lời thật chí lý: ''Ngài là Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Chúa khen ông ta lập tức: ''Ximon, Baryôna, con có PHÚC; vì không phải thịt và máu đã MẠC KHẢI điều ấy cho con, MÀ CHA TA ở trên Trời!''
Như vậy, Cha trên Trời là ĐẤNG KHAI TÂM (tâm-linh nhãn-mạc khải) cho ông Ximon biết Chúa Giêsu là ai! Và rõ ràng chữ CÒN trong câu ''CÒN Ta, Ta bảo con: Con là Đá…'' có giá trị là nối (liên kết) ý câu ấy với câu Chúa khen ông Ximon ngay trước đó. Xin giải thích thêm như sau: ''Cha Ta mạc khải cho con NHƯ THẾ đó. CÒN Ta, (Mặt khác, Về phần Ta,) Ta nói với con thế nầy: …'' Như vậy, những từ NỐI (liên từ) vừa nêu chứng tỏ rằng ''Ý Cha thể hiện dưới đất (qua ông Ximon, nhất là qua Con của Cha) đều làm cho Danh Cha cả sáng'', rằng ''những gì Cha LÀM thì Con cũng LÀM như thế'' (Gioan 5, 19), rằng ''Cha với Con là một, bất khả phân ly trong Toàn Tri.''
e. Ý nghĩa của chữ ''VÀ'' sau chữ ''ĐÁ''
Chữ VÀ trong câu ''Con là Đá, VÀ, trên đá ấy, Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta.'' là liên từ (conjonction de coordination) có nghĩa ''VÌ THẾ; VÌ VẬY; CHO NÊN; BỞI LẼ ĐÓ''! Xin nêu ví dụ: ''Năm xưa, Trinh Nữ Maria xin vâng; VÀ Lời đã nhập thể trong Lòng Trinh Nữ. = Năm xưa, Trinh Nữ Maria xin vâng; CHO NÊN Lời đã nhập thể trong Lòng Trinh Nữ.''
Sau khi gọi Ximon là Đá mà Chúa sẽ xây Giáo Hội TRÊN ĐÓ, Ngài còn nói tiếp câu sau đây có chữ VÀ với ý nghĩa như đã nêu: ''VÀ (CHO NÊN) quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi Giáo Hội ấy.''
Cách đây khá lâu, trong Kỳ Đại Hội của người Việt Công Giáo tại Đức, tôi ngồi thưa chuyện với Đức Ông Phương ở ''nhà cơm'' thể này: ''Thưa Đức Ông, xin Đức Ông vui lòng trình bày giúp con với Vatican và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam rằng chúng ta nên hát như sau: Này con là Đá ''NÊN TRÊN'' đá này, Ta xây Giáo Hội… thay vì ''TRÊN VIÊN'' đá này... bởi lẽ chữ VÀ có nghĩa là NÊN. Vả lại, ''Phêrô'' là Đá, là khái niệm (notion) ĐÁ nói chung, không phải ''viên'' bởi vì Giáo Hội thì LỚN theo nghĩa đen và bóng. Mà chỉ có ''một'' viên thì xây làm sao được Giáo Hội!'' Nghe vậy, Đức Ông Phương cười tán thành, bắt tay tôi và đề nghị tôi viết, thưa như thế, như kia với ...
g- Chúa giao Chìa Khóa Nước Trời cho ông Phêrô
Là Công-Chân Lý, Tình Yêu, Đại Lượng, Chúa Giêsu hứa giao cho Ông ĐÁ quyền phán quyết như sau: ''Ta sẽ trao CÁC chìa khóa Nước Trời cho CON, VÀ điều gì CON cầm buộc dưới đất thì trên Trời CŨNG cầm buộc, VÀ điều gì CON tháo mở dưới đất thì trên Trời CŨNG tháo mở."
Chữ VÀ trong câu trên cũng có nghĩa (như trong phần e) là CHO NÊN. Từ ''chìa khóa: KEYS'' ở số nhiều: I will give you the KEYS of the Kingdom of heaven.) Như vậy, Giáo Hoàng có thể trao cho từng Cộng Tác Viên của ngài từng chìa khóa với từng bổn phận và trách nhiệm khác nhau.

II- BẰNG CHỨNG QUAN TRỌNG KHÁC

Sau khi phục sinh, Chúa tỏ mình ra lần thứ BA là BIẾN CỐ rất quan trọng bởi vì, trong lần này, Ngài CÔNG KHAI cho mọi người biết Ximon là Thủ Lĩnh của Giáo Hội. Và, để NHẤN MẠNH Thiên Chức MỤC TỬ ''thay Ngài'' trước khi Ngài về trời, Chúa Giêsu CHẤT VẤN và RA LỆNH cho Ximon tới lần thứ BA như sau: "Hãy CHĂN NUÔI đàn cừu của Ta!'' 
Thiết tưởng cũng cần LƯU Ý đến việc đệ tử Chúa đánh cá suốt đêm mà không bắt được con nào. Nhưng, nghe Lời Ngài dạy thả lưới bên mạng PHẢI của thuyền, đệ tử không có sức kéo lưới lên vì cá nhiều quá! Còn Phêrô cũng bắt được một trăm ba mươi con cá lớn mà lưới KHÔNG bị rách! Đó là bài học ''RA KHƠI BẮT CÁ NGƯỜI'' (Xin xem kỹ bằng chứng ở phần C của III.) trước khi Chúa công khai ''bổ nhiệm'' ông Phêrô làm THỦ LĨNH GIÁO HỘI. Sau đó, Ngài còn cho biết rằng ông sẽ phải chết bằng cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Rồi Ngài còn nói với ông: ''Hãy theo Ta.'' (Gioan 21, 19) Theo ''Ta'' để cho Cộng Tác Viên của ''con'' cũng theo con mà đồng hành với ''Ta'' như bằng chứng Thánh Gioan đã nêu thế này: ''Phêrô quay lại thấy theo sau có môn đồ Chúa Giêsu mến yêu, người đã nghiêng đầu vào ngực Ngài trong bữa tối và nói: "Thưa Chúa, ai là người sẽ nộp Ngài?" Vậy, Phêrô thấy người ấy thì thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa, còn người này thì sao?" (tóm phần cuối)

III. CÁC BẰNG CHỨNG PHỤ

A. Nhắc đến PHÊRÔ tức là ''ông ĐÁ''
Chữ ''Phêrô'' được ghi ở ĐẦU Danh Sách các Tông Đồ và nhiều nơi khác. Và danh xưng mới này cũng được nhắc tới MỘT TRĂM MƯỜI BỐN lần! Nhiều lần có các câu như là: ''PHÊRÔ và những người đi /ở với ÔNG; Chúa Kitô hiện ra với PHÊRÔ và các Tông Đồ khác ...''
B. Diễn từ của Phêrô trong ngày Lễ NĂM MƯƠI
Đó là Lễ Chúa Thánh Thần. THỦ LĨNH Phêrô hiên ngang CÔNG BỐ Tin Mừng của Chúa Kitô cho tất cả mọi người và toàn Dân Israel phải biết. (Công Vụ 4, 10-11) (2)
Nghe xong Diễn Từ của Vị Tân Giáo Hoàng này, người ta ''bị đâm thấu lòng'' nên nói với ngài và các tông đồ khác: "Chúng tôi phải làm gì, anh em ơi?" (CV 2, 37) PHÊRÔ bảo họ: "Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân Danh Chúa Giêsu Kitô để được tha thứ tội lỗi, và các người sẽ được lãnh Ơn Thánh Thần. Vì lời hứa được ban cho con cháu các người và các người, cùng những ai ở xa mà Chúa, Thiên Chúa chúng ta, sẽ kêu gọi." (TĐCV 2, 37- 39)
C. Hoa Trái đầu mùa của Ơn Thánh Linh
Người đời nói: ''Nhìn trái biết cây. On connaît l'arbre à ses fruits. - The tree is known by its fruit.'' Thật vậy, bất chấp quyền môn của Hỏa Ngục như Chúa đã nói với ông Phêrô, Vườn Cây Giáo Hội, mà Chúa lập trên Đá, sinh Hoa, kết Trái nhờ ơn Chúa, qua LỜI HIỆU TRIỆU của Tân Thủ Lĩnh. Bằng chứng từ Kinh Thánh như sau: ''ÔNG (Phêrô) còn dùng nhiều lời khác nữa mà đoan chứng và khích lệ họ: Hãy để cho mình được cứu thoát khỏi thế hệ tà vạy này! Vậy, những ai đã đón nhận LỜI ÔNG, đã chịu thanh tẩy. Và, trong ngày ấy, có thêm được chừng ba ngàn linh hồn. Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. Nhưng mối lo sợ xâm nhập mọi người: có lắm điềm thiêng và dấu lạ xảy ra do các tông đồ làm. Các người tin đều coi mọi sự là của chung: đất đai, của cải thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình.Ngày ngày, họ đồng tâm nhất trí, chuyên cần đi Ðền Thờ, bẻ bánh ở nhà, chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân. Và, mỗi ngày, Chúa cho CỘNG ĐOÀN có thêm những người được cứu độ.'' (Et, chaque jour, le Seigneur adjoignait à la communauté ceux qui seraient sauvés.) (3) như Lời Chúa Giêsu đã cầu xin với Cha Ngài cho ''họ'' NÊN MỘT. Thời gian qua, các Giáo Hoàng đã thực hiện nhiều chuyến Thánh Du theo ý nghĩa tối thượng ấy. Vậy mà Đương Kim Giáo Hoàng bị hiểu lầm là đi ''chiêu mộ, chia rẽ'' Anh-Chị-Em ngoài Công Giáo. Ngài làm đúng Lời Chúa trong Kinh Thánh thì là điều đáng được Chúa chúc phúc.

IV. LỜI KẾT

Thiên Chúa là VUA của Vũ Trụ. Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa làm người và là Vua của Dân Do Thái như Ngài tuyên xưng với Thế Quyền hồi ấy, như Philatô cho phép ghi vào tấm biển gắn vào Thập Giá: ''Giêsu Nadarét Vua Do Thái''. (4) Chúa lập nên Giáo Hội của Ngài và, trước khi về Trời, Ngài trao quyền Thủ Lĩnh Giáo Hội ấy cho ÔNG ĐÁ. Tôi lập vườn thì tôi có quyền giao cho người mà tôi tin tưởng để người ấy cai quản, chăm sóc vườn của tôi, huống chi là Chúa Giêsu!!!

Đức Quốc, 09.7.2011

Đaminh Phan văn Phước

******
Ghi chú:
1. Thần Học Gia Đức, LM Ferdinand Krenzer, dịch nghĩa chữ ''Petrus'' là ''Felsenmann: người Đá'' và chữ ''petra'' là ''Felsen: đá''.
2. Thánh Phêrô nhắc đến ''đá đỉnh góc'' mà Chúa cũng đã nói qua dụ ngôn về ''tá điền vườn nho'' (Math. 21, 33-46), mà Cựu Ước đã cho biết trước. (TV 118, 22-23; Ys 28, 16; Za 3, 9 và 4, 7) Cần lưu ý đến mệnh đề liên kết (relative clause) cũng được gọi là mệnh đề tính từ (adjective clause) vốn làm ''nhiệm vụ'' bổ nghĩa cho (modifying, modifier of) chữ ''stone: đá'' như sau: ''This is the stone which were rejected by you builders, but which has become the head of the corner. - Hic est lapis, qui reprobatus est a vobis aedificatoribus, qui factus est in caput anguli. (Bài khác sẽ nói về ý nghĩa sự việc người con của địa chủ vườn nho bị tá điền thủ tiêu.)
3. Động từ ''adjoignait'' là ''unissait'': làm cho hợp nhất, làm thành một. Chữ ''communauté'' có tiếp đầu ngữ ''com'' (cum) là ''chung; với nhau'' như Cha Thuấn dịch. Chữ ''cộng đoàn'' dịch từ chữ Hy-lạp ''ἐκκλησίᾳ'', đọc là ''eklesia'', thành tiếng Latinh và Pháp là ''ecclesia, Église'', tức Giáo Hội. Bản của Công Giáo và Tin Lành Đức dịch chữ ''seraient'' là ''sollten''. Xin xem TĐCV Đoạn 1, 13-26; Đ. 2, 14-47; Đ. 3, 1-26; Đ. 4, 8-22 để thấy sự hiện diện và việc làm của Thánh Phêrô với tư cách là Thủ Lĩnh của ''ἐκκλησίᾳ'' TIÊN KHỞI.
4. Giờ đây, trên Thánh Giá còn chữ viết tắt: INRI, mà, hồi nhỏ, tôi tưởng là ''in như ri''! Các mẫu tự ấy do chữ ''Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum''. (Tiếng Latinh viết ''Iesus'', không có mẫu tự J.)

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

MƯỜI THƯƠNG


Một thương cha mẹ sinh ra
Người em duyên dáng như là trong tranh
Hai thương đôi mắt long lanh
Môi em xinh xắn làm anh mê liền!
Ba thương nét chữ em biên
Tên em trên vở che nghiêng mái đầu
Bốn thương em nói những câu
Thanh tao biểu lộ chiều sâu tâm tình
Năm thương em biết giữ mình
Xứng là con gái đoan trinh nhà lành
Sáu thương em mặc áo xanh
Như màu lá mạ, thiên thanh hòa bình
Bảy thương mười ngón tay xinh
Em đưa lên vuốt tóc mình xuống vai
Tám thương em bước khoan thai
Để anh theo ngắm hình hài mỹ nương
Chín thương đức tính khiêm nhường
Nơi em là một tấm gương sáng ngời!
Mười thương em đắn do lời
Bạn bè lối xóm, người đời đều khen
Em như một đóa hoa sen
Yêu chưa dám nói, anh bèn làm thơ
Dáng em bàng bạc trong mơ
Hôm sau trỗi dậy, ngẩn ngơ... vì... tình...!


Phan văn Phước

(Nhớ thời thư sinh ''biết'' yêu, mà chưa dám nói là...)






Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

SỨC MẠNH CỦA NHỮNG ƯỚC MƠ



Năng lượng tiềm ẩn của mỗi người như một ngọn nến lớn. 

Điều khác biệt là nó đang cháy, sẽ cháy hoặc không bao giờ cháy.

Ngọn nến của bạn sẽ cháy hết mình?

Những ước mơ không biên giới

Cho dù bạn là ai, cho dù bạn làm gì, việc phải trải qua thời thơ ấu để trở thành người lớn là điều không tránh khỏi. Bạn có thể là người may mắn khi có một tuổi thơ hạnh phúc và đầy ắp tiếng cười với những chiều thả diều, bắn chim… Hay kém may mắn hơn khi tuổi thơ của bạn chứa đầy những lo toan vất vả chuyện mưu sinh cùng gia đình. Mỗi người mỗi cảnh nhưng tất cả chúng ta đều có điểm chung, đó là những ước mơ không bờ không bến. Ước mơ của bạn cho dù lớn hay nhỏ thế đi nữa nó cũng thể hiện những khát vọng đầu tiên của bản thân. Chúng chính là vật liệu đầu tiên xây đắp nên con người bạn sau này.

Ước mơ là gì? Ước mơ đơn giản là khát khao đạt được một điều gì đó. Nó được hình thành từ những mong muốn cao nhất và trí tưởng tượng. Ở đây, trí tưởng tượng đóng một vai trò rất quan trọng, nó chính là nhân tố giúp bạn hình tượng hóa khát vọng của bạn. Chẳng hạn một trong những mong muốn ám ảnh bạn là được mọi người biết đến và kính trọng, bạn tưởng tượng ra bạn sẽ là gì chưa? Chàng thanh niên Bill Clinton đã tưởng tượng ra vị trí Tổng thống Hoa Kỳ đó!

Vì vậy xin bạn đừng bỏ vào lồng những ước mơ của mình. Hãy nuôi dưỡng nó, chắp thêm cánh, tung nó lên để nó bay được thật cao, thật xa!

Sự chủ động thông thái

Bạn đã bao giờ nghe nói về tư duy tích cực chưa? Nếu chưa, có thể bạn đang tụt hậu so với thời đại đó. Hiện tại có rất nhiều sách, bài viết, hội thảo… nói về “Tư duy tích cực” nhằm đưa nó đến với mọi người, đặc biệt là giới trẻ. Có thể nói “tư duy tích cực” chính là thái độ tích cực, cách nhìn nhận mọi việc dưới khía cạnh tốt của vấn đề.

“Tư duy tích cực” chính là nguồn năng lượng vô biên cho ước mơ của bạn bay xa!

Thực sự vậy, thái độ tích cực sẽ giúp bạn dám nghĩ lớn (think big) và chính những suy nghĩ lớn này mới làm ước mơ của bạn thực sự đáng giá, đáng để bạn đeo đuổi và đánh đổi.

Suy nghĩ của bạn đã lớn hơn, ước mơ của bạn cũng đã to hơn, bạn đã tưởng tượng ra được bạn sẽ là gì,… Sau đó bạn cất ước mơ của mình vào một nơi nào đó với hi vọng một ngày nào đó giấc mơ sẽ trở thành hiện thực? Có lẽ cuộc đời không đủ dài để điều đó thành hiện thực đâu bạn ạ! Bạn đã có ước mơ của mình thì xin hãy có niềm tin và khát vọng để thực hiện nó. Hãy chủ động biến ước mơ của bạn trở thành hiện thực! Ước mơ của bạn thực sự lớn sẽ cần bạn thực sự lớn mới thực hiện nổi.

Chính tư duy tích cực và sự chủ động tạo nên sự chủ động thông thái của bạn. Tại sao ở đây lại có sự thông thái? Thông thái ở chỗ bạn biết mình là ai, ước mơ của mình cần gì, mình cần phải làm gì để biến ước mơ trở thành hiện thực. Nó chính là tầm nhìn của bạn. Trên con đường đi đến những ước mơ, những người đầu tiên thất bại là những người không biết họ là ai. Vậy bạn là ai? Bạn không là ai cả vì bạn là duy nhất và đơn giản bạn hoàn toàn có thể hoàn thiện bản thân mình nên việc “bạn là ai” là không cố định.

Hãy chủ động làm bản thân bạn lớn thật lớn vì chính bạn là người thực hiện ước mơ của bạn chứ không phải ai khác. Công việc hoàn thiện bản thân không phải một sớm một chiều là xong, bạn hãy coi đó như là nghĩa vụ phải làm hàng ngày trong suốt cuộc đời của mình. Hơn nữa, hãy suy nghĩ về những điều ước mơ của bạn cần từ đây bạn sẽ có những nhận định sáng suốt để lên được một kế hoạch hiệu quả cho việc thực hiện ước mơ của mình. Ở đây, tầm nhìn sẽ quyết định tính sáng suốt và sự thành công của những kế hoạch đi đến ước mơ của bạn. Thế nên hãy cố gắng hoàn thiện bản thân đề tầm nhìn của bạn mỗi ngày một vươn xa.

Hành động và sự từ chối bỏ cuộc

Bạn đã có ước mơ của riêng mình, bạn đã có một kế hoạch để đến với ươc mơ, vậy bạn còn chờ gì nữa? Hành động thôi! Hãy hành động để tạo nên sự khác biệt bởi vì ngoài kia có hàng ngàn người, hàng vạn người lên kế hoạch chi tiết cho cuộc sống của họ sau đó họ cất những kế hoạch đó vào ngăn tủ và không làm gì cả. Làm sao bạn có thể có được ước mơ của bạn trong khi bạn không làm gì cả và chờ nó đến với mình chứ! Bạn là duy nhất nhưng ước mơ của bạn chưa hẳn là không giống ai. Có rất nhiều người có cùng mục đích sống, có cùng ước mơ giống như bạn và nếu bạn ngồi đây chờ đợi, ngồi đây phí hoài thời gian thì chính họ, những con người của hành động sẽ chớp lấy cơ hội, họ sẽ có được ước mơ trước bạn còn ước mơ của bạn thì mỗi ngày một xa!

Những điều dễ dàng có được đều không đáng giá. Thế cho nên để có được ước mơ của mình bạn phải làm rất nhiều thứ. Công việc sẽ đổ dồn về, đôi khi bạn cảm thấy áp lực, muốn từ bỏ, muốn thu nhỏ ước mơ của mình lại, càng nhỏ càng tốt để không phải chịu nhiều áp lực. Bạn sẽ làm thế chứ?

Tôi sẽ không làm vậy bởi vì tôi tin rằng: Nếu tôi từ bỏ ước mơ của mình thì tôi đã chối bỏ chính tôi, điều này là không chấp nhận được. Mong muốn bỏ cuộc chỉ là suy nghĩ nhất thời khi gặp phải áp lực công việc, khi gặp phải những thất bại nhỏ ban đầu. Tất cả chỉ là tạm thời, vì vậy nó sẽ trôi qua nhanh chóng, hãy giữ vững niềm tin của mình! Hãy suy nghĩ về những thành quả mình đã đạt được, cho dù lớn hay nhỏ nhưng nó chính là yếu tố khích lệ, động viên và cũng chính là biểu hiện bước đầu về sự thành công của bạn. Người khác có thể thành công thì tại sao bạn lại không thể?

Sức mạnh của sự tỉnh thức

Bạn dám ước mơ, bạn đang hoàn thiện sự chủ động thông thái của mình, bạn dám hành động cho ước mơ và cực lực từ chối bỏ cuộc. Bạn đã được thức tỉnh!

Tiềm năng bản thân, nói một cách đơn giản, là những năng lực tiềm tàng còn ẩn dấu của mỗi cá nhân. Nhưng cái gì mà “tiềm ẩn” thì không thể thấy hết được, không thể nhận thức hết được. Chính vì thế những đánh giá về tiềm năng bản thân chỉ mang tính tương đối. Chỉ có hành động mới giúp bạn biết tiềm năng của bạn tới đâu.

Khi Thomas Edison còn nhỏ, thầy giáo của cậu đã đánh giá cậu là đứa trẻ “trật đường ray”, rằng dạy dỗ cậu chỉ là tốn công vô ích. Bạn nghĩ sao nếu tất cả mọi người và ngay cả cậu bé Edison cũng nghĩ thầy giáo đã đúng? Chắc chắn chúng ta đã không có nhà phát minh lừng danh Thomas Edison. Tiềm năng của bạn cũng vậy, đừng để những suy nghĩ tầm thường, những lời nhận xét đánh giá vô tội vạ làm bản thân nhụt chí! Bạn là chính bạn chứ không phải là một ai khác. Đánh giá của người khác là sự góp ý giúp bạn hoàn thiện nhưng đừng bao giờ để chúng đánh sụp niềm tin của bạn. Hãy vững bước tiến lên!


Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

GIỮ LẤY NHỮNG ƯỚC MƠ

Tôi có một người bạn tên là Monty Roberts, là người đang sở hữu một trang trại ngựa ở San Ysidro. Ông ấy cho phép tôi sử dụng ngôi nhà của ông để tổ chức các sự kiện nhằm gây quỹ cho thanh thiếu niên trong một chương trình từ thiện.
Lần cuối cùng tôi ở đó và được ông bạn kể cho nghe một câu chuyện: “Quay ngược lại thời gian để trở về câu chuyện của một cậu bé, là con trai của một nhà huấn luyện ngựa lưu động. Chính vì công việc của người bố là đi từ trang trại này đến trang trại khác để huấn luyện những con ngựa được các ông chủ thuê về nên việc học của cậu bé liên tục bị gián đoạn. Khi còn học trung học, cậu được yêu cầu viết một bài văn nói về công việc cậu muốn làm khi lớn lên”.
Đêm đó, cậu bé đã ngồi viết bẩy trang giấy mô tả mục tiêu của mình và mơ ước một ngày nào đó sẽ được sở hữu một trang trại ngựa. Cậu đã viết ước mơ của mình rất chi tiết và thậm chí cậu còn vẽ cả một sơ đồ trang trại ngựa rộng 200 mẫu Anh, vị trí của tất cả các tòa nhà, chuồng ngựa và đường đua. Sau đó cậu còn vạch ra cả kế hoạch chi tiết để xây dựng một ngôi nhà rộng hơn 1000m2 trong trang trại ngựa 200 mẫu Anh của cậu.
Cậu đặt rất nhiều hi vọng, sự nhiệt huyết trong trái tim mình vào bài viết này và ngày hôm sau cậu đưa nó cho giáo viên với đôi mắt tràn đầy hạnh phúc. Hai ngày sau đó, cậu nhận lại bài viết của mình. Trên trang đầu là điểm F màu đỏ với ghi chú: “Gặp tôi sau giờ học”.
Cậu bé đi đến gặp giáo viên của mình và hỏi: “Tại sao em lại bị điểm F ạ?”
Giáo viên của cậu đã trả lời: “Đây là một giấc mơ không có thực đối với một chàng trai trẻ như cậu. Cậu không có tiền, xuất phát chỉ từ một gia đình bình thường và sống nay đây mai đó, không nhà cửa ruộng vườn. Còn để sở hữu một trang trại ngựa đòi hỏi rất nhiều tiền để có thể mua được đất, mua những con ngựa giống ban đầu và phải trang trải phí tổn, thuế và nhiều thứ khác nữa. Sẽ chẳng có cách nào để cậu có thể thực hiện giấc mơ của cậu đâu. Nếu cậu viết lại bài văn này với một mục tiêu thực tế hơn, tôi sẽ xem xét chấm lại điểm của cậu”.
Cậu bé trở về nhà và suy nghĩ rất lâu, cậu cảm thấy đau khổ và mệt mỏi. Cậu hỏi cha mình nên làm gì. Nhưng người cha đã mỉm cười nói: “Nghe này con trai, con hãy làm theo suy nghĩ của chính bản thân mình. Tuy nhiên, cha nghĩ nó là một quyết định rất quan trọng đối với con”. Cuối cùng sau một tuần, cậu bé trở lại với bài văn cũ mà không thay đổi bất cứ điều gì.
Cậu trả lời với thầy giáo của mình rằng: ” Thưa thầy, thầy có thể giữ điểm F của thầy dành cho em, còn em, em sẽ giữ lấy giấc mơ của em”.
Sau đó Monty quay sang chúng tôi và nói: “Tôi kể với các bạn câu chuyện này bởi vì các bạn đang ngồi trong một ngôi nhà rộng hơn nghìn mét vuông ở giữa trang trại ngựa rộng 200 mẫu Anh của tôi. Tôi vẫn còn giữ tập giấy bài văn điểm F đó và được đóng khung trên lò sưởi.” Ông nói thêm. ” Phần hay nhất của câu chuyện là hai mùa hè trước đó, có một giáo viên đã đưa 30 em học sinh đến cắm trại trên trang trại của tôi trong một tuần. Trước khi rời đi, người giáo viên ấy đã nói chuyện với tôi: ” Nghe này Monty, tôi có thể cho cậu biết điều này ngay bây giờ. Khi tôi còn là thầy giáo của cậu, chính tôi như một kẻ đánh cắp giấc mơ. Trong suốt những năm đó, tôi đã đánh cắp rất nhiều giấc mơ của các em học sinh. Nhưng may mắn thay, cậu đã có đủ bản lĩnh kiên cường để không từ bỏ giấc mơ của mình”.

“Vì vậy đừng để ai lấy cắp giấc mơ của bạn. Hãy hành động theo trái tim của bạn, điều đó chẳng có gì là sai”.

Minh Anh
Theo Academictips

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

KHẲNG ĐỊNH TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỮ QUỐC NGỮ VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC


Tại Hội thảo khoa học Bình Định với chữ Quốc ngữ, bên cạnh những nghiên cứu, trao đổi về lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ, trong đó có vai trò khởi nguyên của Bình Định, các đại biểu còn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của chữ Quốc ngữ đối với lịch sử dân tộc.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (Hà Nội):
Sinh mệnh của nền văn hóa Việt Nam
Các bạn hãy thử tưởng tượng xem, nếu cho đến bây giờ, những văn bản phản ứng của chúng ta với Trung Quốc, với cả thế giới về việc chủ quyền quốc gia đang bị xâm phạm trên biển, trên không vẫn bằng chữ Hán hay chữ Nôm (thứ chữ “trái quy luật” vì muốn đọc được phải thông thuộc chữ Hán hay nói cách khác: phải dùng ngoại ngữ để học tiếng mẹ đẻ) có phải là “đại thảm họa” không?!

                                     Đoàn chủ tọa Hội thảo. Ảnh: VĂN LƯU

Gần hai ngàn năm chúng ta phải đi mượn chữ. Suốt hai ngàn năm ông cha ta đã nhiều lần tìm cách thoát ách đô hộ phương Bắc nhưng mới thoát khỏi sự chiếm đóng chứ chưa thật sự thoát về văn hóa vì vẫn phải lệ thuộc vào văn tự của họ (mà từ văn tự sẽ lan tỏa qua tư tưởng, từ đó chi phối nhân sinh quan của người Việt). Chỉ đến khi cuộc cách mạng chữ viết vào đầu thế kỷ 20 thắng lợi, mới giúp ta có cơ sở thoát Trung một cách cơ bản về văn hóa. Lần đầu tiên trong lịch sử 4.000 năm, nước ta có một thứ chữ ghi lại đúng âm chuẩn của người Việt, đọc lên từ người có học đến mù chữ đều hiểu được nghĩa của nó; một thứ chữ cấu tạo theo hệ La-tinh, dễ học một cách lạ lùng!
Với tính phổ cập vô cùng cao, chữ Quốc ngữ tới nay đã được dùng thống nhất trên mọi miền đất nước và diễn tả một cách tinh vi nhất đủ mọi lĩnh vực từ luật pháp, văn chương, khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên. Cùng với chữ viết thống nhất, ta lại có tiếng nói thống nhất từ đầu đến cuối đất nước. Chữ Quốc ngữ là biểu hiện cho sự đoàn kết toàn dân tộc trên toàn thế giới, người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đều sử dụng ngôn ngữ này, tiếng nói này, trở thành một trong những vũ khí sắc bén nhất trong công cuộc giữ nước và xây dựng đất nước. Với ý nghĩa đó, chữ Quốc ngữ đã trở thành sinh mệnh của nền văn hóa Việt Nam.
Ông Nguyễn Tấn Hiểu, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Định:
Tôn vinh những người sáng tạo, phổ biến, hoàn thiện chữ Quốc ngữ
Trước đây chưa có chữ riêng của dân tộc, ta phải du nhập chữ Hán, rồi mượn chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm. Tuy nhiên, như các nhà nghiên cứu đã khẳng định chữ Hán hay chữ Nôm đều rất phức tạp, người có thể tiếp cận và hiểu chỉ là thiểu số, không phổ cập được đến đại đa số quần chúng nhân dân, đã phần nào kìm hãm văn hóa và trí tuệ của đất nước.

Tại nơi tổ chức Hội thảo có trưng bày tác phẩm chữ Quốc ngữ xuất bản tại Nhà in Làng Sông.

Chữ Quốc ngữ ngày nay tức chữ Quốc ngữ La-tinh ra đời, là công cụ giúp cho dân tộc ta cất cánh, giúp nhân dân ta vượt khỏi rào cản về ngôn ngữ mà vươn xa hội nhập với nền văn minh của thế giới!
Chúng ta phải cùng nhận thức rằng, quá trình La-tinh hóa tiếng Việt bằng ngôn ngữ tượng thanh, tượng âm của các nhà truyền giáo phương Tây là nhu cầu tự thân của họ, vì mục đích truyền đạt (để truyền đạo), hoàn toàn không liên quan gì đến cuộc xâm lược nước ta của thực dân hơn 230 năm sau đó. Do vậy, chúng ta phải biết ơn, tôn vinh họ và có trách nhiệm phát huy những thành tựu chữ Quốc ngữ.
Nước ta nhờ chữ Quốc ngữ mà có sự phát triển như ngày nay và mãi mãi về sau. Vì vậy, nên chăng ở tầm quốc gia, tôi đề xuất: xây dựng Bảo tàng chữ Quốc ngữ Việt Nam, trong đó nói hết cả lịch sử, thành tựu và giá trị mang lại cho đất nước. Đồng thời, khôi phục lại những địa danh, công trình hình thành nên chữ Quốc ngữ; có hình thức tưởng nhớ, tôn vinh những người đã có công sáng tạo, truyền bá, phổ biến, hoàn thiện chữ Quốc ngữ…

GS Hoàng Chương:
Các thế hệ người Việt Nam đã tham gia xây dựng chữ Quốc ngữ
Bên cạnh khẳng định công đầu của các nhà truyền giáo phương Tây trong việc xây dựng một thứ chữ Việt La-tinh hóa, chúng ta cũng không quên vai trò của chính các thế hệ người Việt Nam cũng là “đồng tác giả” của chữ Quốc ngữ.
Trước Việt Nam, nhiều nhà truyền giáo phương Tây khác cũng đã thực hiện các công trình La-tinh hóa các ngôn ngữ châu Á khác như tiếng Nhật, tiếng Hoa… Nhưng thực chất các công trình La-tinh hóa tiếng Nhật, tiếng Hoa… cũng chỉ có chỗ trong sử sách, bảo tàng. Các công trình La-tinh hóa tiếng Việt cũng sẽ chỉ có số phận như thế nếu không có sự tiếp nhận cởi mở và lựa chọn quyết đoán, chủ động, mạnh mẽ của các thế hệ người Việt.
Trên thực tế, trong gần 400 năm ra đời, có đến 250 năm chữ Việt La-tinh hóa đã tồn tại và phát triển chậm trong các nhà thờ Công giáo ở nước ta. Nhưng chỉ trong hơn 100 năm từ cuối thế kỷ 19 đến nay, chữ Quốc ngữ đã có những phát triển vượt bậc, trở thành loại chữ hoàn toàn độc lập của người Việt. Chính cộng đồng người Việt đã nắm giữ vai trò quyết định trong việc bồi đắp, phát triển, hoàn thiện và truyền bá sâu rộng để đưa trở thành Quốc ngữ Việt Nam. ......

SAO LY (ghi)

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

KINH - LUẬT HÙNG TÂM DŨNG CHÍ


KINH – LUẬT HÙNG TÂM DŨNG CHÍ


I-                    LUẬT
Ta thương yêu nhau như Chúa Giê su đã thương yêu ta .

II-                  KINH HÙNG TÂM

Lạy Chúa Giê-su,Chúa yêu hết mọi Hùng Tâm, xin ban phúc lành cho thiếu nhi Việt Nam, và thiếu nhi khắp hoàn cầu . Xin Chúa thương đến những người chưa được biết Chúa , hay không muốn nhìn nhận Chúa  . Xin Chúa ban cho con ơn lúc nào cũng tươi cười  và không sợ hy sinh . Xin Chúa dậy con biết làm cho đời con nên cao đẹp  và ban cho con vinh dự được cùng Chúa cứu rỗi thế gian .
Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria , Mẹ hiền của Hùng Tâm, xin Mẹ luôn luôn gìn giữ trái tim con trong trắng và trung thành với Chúa Giê- su . Amen .

III-                KINH DŨNG CHÍ

Lạy Chúa Giê-su, Chúa muốn con giúp Chúa cứu các linh hồn , xin cho linh hồn con trong mọi hoàn cảnh ở đời , lúc nào cũng hùng dũng vui tươi . Xin Chúa ban cho con can đảm, không từ chối Chúa một việc gì, lại luôn luôn vâng theo ý Chúa .
Xin Chúa ban cho con ơn làm cho người chung quanh con  được hạnh phúc, và suốt đời con chỉ biết làm vui lòng Chúa và làm cho người ta yêu mếm Chúa .
Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria , Mẹ hiền của Dũng Chí, xin Mẹ luôn luôn gìn giữ trái tim con trong trắng  và trung thành với Chúa Giê-su . Amen .

IV-               12 NGUYÊN TẮC HÙNG TÂM DŨNG CHÍ

Hùng Dũng mọi lúc mọi nơi,
Là người Công giáo sống đời nết na .
Hùng Dũng ngay thẳng thật thà,
Luyện lòng trong trắng nõn nà tốt tươi .
Hùng Dũng vui vẻ tươi cười,
Dù khi nguy khó vẫn cười vui luôn .
Hùng Dũng sạch sẽ luôn luôn ,
Tính tình cẩn thận ghi long sắt son .
Hùng Dũng tử tế vuông tròn ,
Nói cười lịch thiệp đẹp long người ta .
 Hùng Dũng thảo hiếu mẹ cha,
Là anh em bạn thiết tha mọi người .
Hùng Dũng mau mắn vâng lời ,
Tuân theo triệt để ý  lời cấp trên .
Hùng Dũng chu đáo vẹn tuyền ,
Thực hành mọi việc toại nguyền ước mong .
Hùng Dũng hăng hái chí long ,
Ham mê làm việc hăng nồng vui chơi .
Hùng Dũng sung sướng giúp người,
Hiến thân phục vụ vui cười ngại chi .
Hùng Dũng ưa thích khó nguy ,
Hy sinh can đảm ngại gì gian truân .
Hùng Dũng quyết chí hiến than ,
Giao chinh cho Chúa toàn phần thế gian .

V-                 KINH HỮU TRÁCH

Lạy Chúa Giê-su,mặc dầu con bất xứng, Chúa cũng đã chọn con làm thủ lãnh . xin chúa ban cho con những ơn cần để chu toàn phận sự  . Xin Chúa ban cho con long hăng hái nhiệt thành để dẫn dắt các em đến cùng Chúa , lòng vui vẻ để làm cho các em được hạnh phúc, long hiền lành và khiêm tốn để sai khiến mà không làm mất lòng các em , để phụng sự các em mà không bao giờ ngã lòng . Xin Chúa ban cho con ơn luôn luôn  làm hài lòng các em, để giúp các em thêm yêu mến Chúa . Và nhất là xin Chúa ban cho con lòng tông đồ quảng đại, để chinh phục các em cho Chúa . Amen .

VI-               LUẬT HỮU TRÁCH

(MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM 
CỦA HUYNH TRƯỞNG HÙNG TÂM DŨNG CHÍ)
 .

1- Huynh trưởng đại độ luôn luôn hy sinh bất kể .
2- Huynh trưởng hướng dẫn và làm gương 
     đi đầu mọi lúc mọi nơi .
3-Huynh trưởng nghĩ đến kẻ khác trước
    giúp các em không một tí gì kiểu cách.
4- Huynh trưởng biết tùng phục triệt để,
    để các em tùng phục mình.
5- Huynh trưởng biết tự chủ không mất nhẫn nại bao giờ.
6- Huynh trưởng vui luôn nhất là khi gặp trở ngại .
7- Huynh trưởng chịu lễ hy sinh ,
    cầu nguyện cho các em Doàn mình .
8- Huynh trưởng gánh phần trách nhiệm Đoàn mình .
9- Huynh trưởng xem Chúa Giêsu nơi thầy cả, 
    phụ giúp người trong việc tông đồ .
10- Huynh trưởng chỉ muốn phần thưởng 
      là được hướng dẫn các em đến củng Chúa Giêsu .