Thứ Ba, 26 tháng 1, 2016

SỰ KHÁC BIỆT THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU !



Cho Lon

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi : Người Việt Nam ăn uống thế nào ? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng ? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận sét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Ban, đánh trống trước cửa nhà Sấm.
Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi: – Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nàỏ – Tôi rất ngại so sánh . . . tôi trả lời . . . vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh. Thỉnh thoảng tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôi. Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng ? Người chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ.
1- Ăn toàn diện:
Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan. Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa chúng tôi chẳng hạn: có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu v. v. . . Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cưới. Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống. Răng và nứu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác. Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay v. v. Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện.
2- Ăn khoa học:
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo “âm” và “dương” Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm. Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng. Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống. Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học. Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn.
Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: cảm lạnh (bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh (âm) vào người phải đem gừng (dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng (bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành (âm) . Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua (âm) hoặc hải sâm (âm) ; mùa đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu : “mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển” Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc lào, thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổi. Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: thịt vịt hay thịt cá trê – hàn – thì chấm với nước mắm gừng – nhiệt. Cách ăn của người Việt Nam khoa học vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hành nhiệt điều hòa. Ngoài ra trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.
3- Ăn dân chủ:
Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể dùng những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổi. Như vậy cách của người Việt Nam rất dân chủ. Anh bạn người Pháp thích chí cười to : ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calory mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam. Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm :
4- Ăn cộng đồng: Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơi.
5- Ăn lễ phép:
Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.
6- Ăn tế nhị:
Ăn ớt cử cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm nhứt là ở miền Trung rất tinh tế ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt : bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.
7- Ăn đa vị:
Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay), chuối sống (chát), khế (chua), tương (ngọt, mặn cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay (béo). Ăn có năm vị chánh : ngọt, mặn, chua, cay, béo, có cả ngũ sắc đen (tương), đỏ (ớt), xanh (rau), vàng (khế chín), trắng (bánh tráng, bún). Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữa.
Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nào Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấy. Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báo. Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.
1/- Cách dùng bột:
Người Việt Nam thường dùng bột gạo trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì, cho nên Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh bao. Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.
2/- Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm là bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.

http://8monngonmoingay.com/wp-content/uploads/2015/02/cach-lam-nuoc-mam-chay-ngon-chua-ngot-tu-thom-dua.jpg
http://cdn.monnhatban.com/system/images/W1siZiIsIjIwMTUvMDYvMTYvMTYvMzkvMzkvNzU1L3Nob3V5dTEuanBnIl0sWyJwIiwidGh1bWIiLCI3MDB4NDY2XHUwMDNlIl1d/shouyu1.jpg?sha=a14a8093995b772a
3/- Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt. Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấy. Ông giám đốc tạp chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nào. Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút. Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đây. 

http://media.tinmoi.vn/2015/07/24/cach-lam-suon-xao-chua-ngot-56.jpg
http://vpfoodservice.com/MBMCMS/files/e4/e4a886f3-4d88-4dc1-830b-85da77ce364e.jpg
a/- Về rau: người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.
b-/ Về cá: Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc có cá mặn không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm v. v. . . Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.
c/- Về thịt: Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế v. v. . .
d/- Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: lạt lạt của bánh tráng, bún, hơi mát mát ngọt ngọt như dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, và có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú. Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng ta.
Khi dạy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người ta. Ra đường phải biết “ăn bận” hay “ăn mặc” cho phải cách phải thế. Đối với mọi người không nên “ăn thua” làm chi cho bận lòng. Làm việc gì phải cẩn thận “ăn cây nào, rào cây nấy”. Trong việc tiêu tiền phải biết “liệu cơm, gắp mắm” và dẫu cho nghèo đi nữa “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Không nên ham ăn quá độ vì ” no mất ngon, giận mất khôn”. Ra làm ăn phải quyết tâm đừng ” cà lơ xích xụi” chạy theo ” ăn có” người khác. Phải biết ” ăn chịu” với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị “ăn trớt”. Không nên “ăn gian, ăn lận” hay bỏ lỡ cơ hội thì “ăn năn” cũng muộn. Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng “ăn hại” “ăn bám” người khác. Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho” ăn” với giọng ca, hòa đàn cũng phải “ăn” với nhau, “ăn ý” , “ăn rơ” thì mới haỵ
Các bạn thấy chăng ? Cái “ăn” cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam. Tuy chúng ta không như người Trung Quốc ”dĩ thực vi tiên” nhưng phải có ăn mới làm nên việc vì có “thực mới vực được đạo”.

Giáo sư Trần Văn Khê
-------


Xì dầu và Nước Mắm

xì dầu nước mắm
Thời thơ ấu, tôi lớn lên trong một thành phố nhỏ miền Trung, một thành phố nghèo nàn, quanh quẩn có mấy con phố chính, “đi dăm phút đã trở về chốn cũ.” Những nhân vật của thành phố này, trong ký ức bề bộn của gần 70 năm qua, tôi còn nhớ rõ, lạ lùng đối với tôi là những nhân vật người Hoa. Trên con đường ra chợ, tôi ít khi dám nhìn thẳng vào những ngôi nhà người người Hoa, với bàn ghế chất đầy, những khung ảnh treo la liệt trên tường và nhân vật làm tôi sợ hãi nhất là một bà già, chân bó những lớp vải dày, khuôn mặt quắt queo như xác ướp, với những móng tay dài, cong vút thường ngồi bất động trên một chiếc ghế, nhìn ra đường.
Trong thành phố này, hình như tất cả việc buôn bán đều tập trung vào những gia đình người Hoa, có lẽ đã đến đây cả trăm năm trước khi tôi ra đời. Ở đây tôi không thấy những nhân vật những người Hoa nghèo khó như người Hoa bán lạc rang hay đẩy xe mì gõ như sau này khi lớn lên, tôi thấy ở Sài Gòn và Chợ Lớn. Trong thành phố này có một tiệm thuốc Bắc với bảng hiệu mang theo chữ “Ðường,” đại khái như Tế Sinh Ðường hay Thiên Lương Ðường, mà tôi thường lãnh nhiệm vụ mang cái phái thuốc của ông cụ tôi đến “bổ” mấy thang.

xì dầu
Có hai tiệm ăn nằm ở hai con đường khác nhau, mang chữ “Ký” ở đàng sau, tôi không còn nhớ rõ là Nhuận Ký hay Minh Ký, trông cũng tối tăm, với những chiếc bàn ghế xỉn màu, mà tôi nghĩ chỉ có những người sang trọng mới đủ tiền để vào ăn! Tôi vẫn ao ước có dịp đến đó, như để ăn một bát mì hay được sở hữu một cái bánh bao, nhưng không bao giờ có dịp, cho đến lúc tôi chưa lên được lớp ba, thì cha tôi đổi việc làm, gia đình dời đi thành phố khác.
Hầu hết tiệm buôn trong chiếc chợ nhỏ đều do người Hoa làm chủ. Hai đại lý gạo, một hai tiệm bán dầu hỏa, một đại bài rượu, những tiệp “chạp phô” bán đủ thứ gia dụng, từ đường, muối, mè, đậu, bột… mà tôi thường thấy những nông dân mang lên thành phố bán cho họ, cũng như những tiệm buôn nhỏ ở nhà quê, hay người tiêu dùng thường xếp hàng dài trước các tiệm buôn này để “cất” hàng.
Trong ngôi chợ nhỏ này, tôi chỉ nhớ người Việt có một cái chợ cá, ồn ào, hối hả, một khu khác bán rau cỏ, những tiệm bán nồi niêu bằng đất, đồ nhôm, than củi, hai tiệm bán vải vóc, chăn chiếu. Nhưng những món cần thiết khác cho đời sống như gạo, muối, đường thì chỉ có thể tìm thấy ở những tiệm buôn người Hoa.

chợ lớn xưa
Trong ý nghĩ của một đứa trẻ, tôi nghĩ trong thành phố này, nếu không có người Hoa, gia đình tôi sẽ không có cơm, chén nước mắm, hạt muối hay ly chè hay chén xôi để ăn hay một chai rượu cho cha tôi và bạn bè. Trong thành phố này tôi không thấy người Hoa nào làm nghề kéo xe, đi làm thuê hay ngồi xin ăn bên vệ đường.
Mẹ tôi thường khen người Hoa buôn bán thật thà, không nói thách, không lừa dối khách hàng, trọng chữ tín và có tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau tận tình. Tôi không biết rõ những người Hoa trong cái thành phố nhỏ năm xưa ấy thuộc người Quảng Ðông, Tiều (Triều Châu), Hải Nam, Phúc Kiến, hay là người Hẹ (Hạ Phương), nhưng thấy họ có trường học, chùa miếu và nghĩa trang riêng.
Tuy người Việt từ xưa đã từng có thời gian lệ thuộc Trung Hoa nhưng vẫn có cái nhìn miệt thị đối với dân họ, ngoài cách gọi riêng theo gốc gác như người Quảng, người Tiều, người Hẹ, người Hán, người Ngô, còn thì chung chung người Hoa được gọi là Khách Trú, Ba Tàu, Các Chú, Chú Chệt, Chú Khách, Tàu Khựa, Tàu Phù, Tàu Ô…
Người Hoa ít khi gả con gái họ cho người Việt, nhưng trong thành phố nhỏ ngày xưa đó và cả sau này, tôi thấy nhiều cô gái Việt lấy chồng người Hoa. Ngày nay gần như người Hoa đã bị đồng hóa, có chăng chỉ còn lại những cái tên, khuôn mặt và giọng nói.

Digital Camera
Chợ lớn nay
Thời Pháp thuộc cho mãi đến năm 1954, vùng Chợ Lớn được xem như lãnh địa của Hoa kiều, phố xá, bảng hiệu chằng chịt chữ Hán. Dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Hoa kiều muốn sinh sống làm ăn phải nhập tịch Việt Nam, hoặc ra khỏi nơi đây. Các bảng hiệu, tên họ phải viết lại bằng tiếng Việt. Tuy vậy, hầu hết trong các nước Ðông Nam Á, người Hoa thao túng nền kinh tế, các mặt hàng trọng yếu, mua chuộc các giới chức chính quyền từ trên xuống dưới. Ngay ở miền Nam trước đây, mùa Trung Thu, đường trở nên khan hiếm. Gạo, sữa và các nhu yếu phẩm đều nằm trong tay các chủ nhân Hoa kiều. Người Hoa nổi tiếng là hối lộ giỏi, kín đáo. Những chức vụ quận trưởng, cảnh sát trưởng các địa phương đông người Hoa đều là những chức vụ béo bở, không phải là họ hàng thân tín, thì cũng phải chạy bằng tiền.
Vụ “trở cờ” lớn nhất của Hoa kiều tại Việt Nam là sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi quân Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, Chợ Lớn đồng loạt treo cờ Trung Cộng đỏ rực cả một vùng, nhưng sau đó là cờ này phải hạ xuống và khi việc đánh tư sản bắt đầu, Hoa kiều là những nạn nhân đầu tiên. Cuối cùng một số người Hoa trở về cố quốc qua biên giới phía Bắc, phần bỏ nước Việt ra đi tị nạn, vượt biển, tăng con số Hoa kiều ở Châu Mỹ lên cao, trong khi đó gần đây qua các doanh nghiệp và công trình được ký kết giữa Việt Cộng và Trung Cộng, một số người Hoa lại tràn sang Việt Nam. Cuối cùng đi đâu cũng thấy người Hoa!

101_8116

chợ lớn nay3
Nhiều khi tôi tự hỏi, ngày xưa, không biết người Hoa rời đất nước họ bằng phương tiện gì và cái bản năng sinh tồn, ý chí kiếm sống của họ mạnh đến mức nào mà trên trái đất này không có chỗ nào là không có mặt họ? Từ thế kỷ 16, 17 người Hoa đã bỏ nước ra đi, để ngày nay họ có 40 triệu người ở hải ngoại, Châu Á có 31 triệu ở Singapore, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Cambodia, Lào, Việt Nam, và ngay tại Mỹ cũng có trên 3.5 triệu người Hoa sinh sống.
Người Hoa bỏ xứ ra đi vào những năm cuối thế kỷ 17 cho đến đầu thế kỷ 18 để tránh sự đàn áp của chế độ nhà Thanh (phản Thanh phục Minh) nhưng thực tế là những đợt di dân ồ ạt vì sinh kế. Câu chuyện ông Hui Bon Hoa ở Sài Gòn, lập nghiệp từ một gánh ve chai trở thành tỉ phú, đã nói lên khả năng cần cù, chịu khó và làm thương mãi giỏi của người Hoa trên thế giới.
Khi lớn lên, ra đời, đi xa, ở đâu tôi cũng thấy có sự hiện diện của người Hoa như câu nói “Ở đâu có khói là có người Tàu!” Móng Cáy, Lào Cai… là biên giới cực Bắc đã đành, vì sao tận cùng phía Nam của nước Việt, Cà Mau, Châu Ðốc, Hà Tiên đi đâu cũng đụng người Hoa, đến nỗi xứ Bạc Liêu có câu ca dao được truyền tụng: “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ, dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu!”
Bây giờ ở Mỹ, đi thành phố nào cũng thấy “China Town,” xứ nào phát triển thương mãi nhiều thì xứ đó có nhiều người Hoa như San Francisco, Los Angeles, New York… mà không phải ở Châu Mỹ, cả đến những xứ xa xuôi như Ghana, Haiti, Thổ Nhĩ Kỳ, Romania… cũng có người Hoa.
Ít khi thấy người Hoa mang ơn đất nước đã cho họ đời sống mới, chỉ thấy gián điệp Trung Cộng có mặt khắp nơi, trong các địa hạt chính trị, quốc phòng, thương mãi… Nói chung nước nào cũng sợ người Hoa!
Bị lệ thuộc Tây Ban Nha trong vòng 300 năm, gia tài văn hóa truyền thống của Mexico đã bị phá hủy, ngày nay đất nước này có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha cao nhất trên thế giới và tôn giáo chủ yếu tại đây là Công Giáo La Mã. May mắn, với gần 1,000 năm lệ thuộc, người Việt chưa ai nói tiếng Hoa, có chữ viết, phong tục riêng, chiếc áo dài có thể gài bên tay phải thay vì gài nút bên tay trái, nhưng rõ ràng là chúng ta chưa “mất gốc.”
Tuy trong đời sống của mỗi người Việt Nam hình như đều có một chút văn hóa người Hoa, một ấm trà, một câu thơ, một bức tranh thủy mạc, coi tuồng Hồ Quảng, hương khói, nhang đèn mù mịt, ngày nay người ta đem cả đoàn lân vào trong chánh điện nhà chùa, nhưng rồi cuối cùng trong bữa cơm cũng phải có một chén nước mắm thay vì… xì dầu.



Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

LOAN TRUYỀN TIN VUI


Trên đường lữ thứ, chắc hẳn rằng mỗi người đều từng gặp những hình ảnh đáng thương, những hoàn cảnh khốn khó, những tình huống nao lòng. Dù cho cố quay đi, thì chắc rằng trong lòng của những ai còn hai chữ lương tâm, cũng sẽ phải nghĩ ngợi ít nhiều về những cảnh tình ngoa ngoắt ấy, cũng sẽ tự đấm ngực tại sao ta lại không chịu sớt chia cho tha nhân chút lòng thương xót.
Dù có đủ những lý do khiến ta không thể ít là ủi an những ai lâm cơn hoạn nạn, thì thật ra, từ tận đáy lòng sẽ phải có nhiều ray rứt khi đã không chìa bàn tay mình ra kéo ai đó thoát khỏi vũng bùn khốn khổ.
Ta có cảm thấy xấu hổ hay không, khi ta cố lùa hết đĩa cơm sườn thơm phức, trong lúc trước mặt ta là một cậu bé mắt tròn xoe chìa tay, có khi không hề để xin ăn, mà chỉ là mời ta mua dùm cho tấm vé số. Cái đầu lắc lắc của ta dường như muốn quy tội cho mẹ cha cậu bé đã đẩy cậu bé ra đường. Cái tay xua xua của ta có lẽ muốn cho cậu bé non như chiếc lá mới xòe ra trong nắng sớm, hiểu điều mà nó chẳng bao giờ hiểu được là, việc chăm sóc cậu chẳng phải là việc của ta, mà của ai-ai-đó-không-phải-là-ta. Thôi thì, cùng lắm là cười với cậu một nụ, và để cậu thất thểu sang bàn bên kia…
Ta có cảm thấy chạnh lòng hay không, khi ta vẫn thường gặp những người bị tâm thần lang thang trên hè phố? Có lẽ ta sẽ xuýt xoa đôi chút khi hắn bị xe tông phải đưa vào bệnh viện, rồi thôi! Còn nếu hắn cứ lững thững ngô nghê trên lối đi ngoằn ngoèo, áo quần dơ bẩn, thì việc của ta và các thân hữu là ngồi đâu đó bình phẩm về người mẹ nghèo khổ của hắn phải đi lượm rác nuôi hai mẹ con, mà ngôn từ có thể là:
_Đã nghèo lại còn…đẻ!
Hay:
_Sao bà ấy lại không đưa nó vào viện tâm thần để người ta săn sóc!
Nếu anh chàng mát dây ấy có lại gần nơi ta đang “tám”, thì hành động dễ thấy nhất nơi ta là trêu chọc kẻ thần kinh ấy cho đến khi hắn…nổi khùng! Và tràng cười ha hả của những “ta” sẽ kết thúc cuộc chuyện trò rất thành công ấy!
Rất nhiều khi, ta đứng trên ban công chứng kiến cảnh trấn lột đêm về. Dưới cơn mưa sũng nước, cô bé học trò sau buổi học thêm, bị gã lưu manh nào đó trấn lột chiếc xe đạp khi mọi cổng nhà đều khép kín. Trời không quá khuya, nên cánh đàn ông đẹp trai vẫn cố dòm cho bằng được qua khe cổng chuyện xảy ra ngoài kia như xem một vở kịch! Quý ông đáng trọng ấy thậm chí chẳng hề thử quát lên một tiếng khiến kẻ trấn lột làm sao mà không bỏ con mồi! Quý ngài ấy còn chẳng bật được cái đèn trước cổng có thể khiến gã kia bỏ chạy thục mạng! Quý bà còn…hay hơn nữa, vì vừa mới phát giác ra cảnh tác quái ấy, thì quý bà lại gọi thêm con cái ra xem cho mãn nhãn! Để lát nữa, khi mọi sự đã…hoàn tất, cả xóm sẽ chạy ra với những lời an ủi rất đãi bôi dành cho nạn nhân, và sau đó là xúm xít bàn luận, dù trời có khuya hơn và mưa vẫn còn lai láng. Kể cả ta, không biết chừng ta cũng sẽ nhào xuống còn nhanh hơn hỏa tiễn để hoa chân múa tay này nọ. Ta quên béng rằng, chỉ cần lúc nãy ta ném nguyên cái ly nhựa đựng nước mía đang uống dang dở xuống, là thằng kia chạy có cờ! Lý do mà cả xóm đồng tình xem ra rất hợp lý là:
_Chậc! Chạy ra không khéo “chẳng phải đầu cũng phải tai”!
Nghĩa là, mọi sự sau cánh cổng không bao giờ là của ta! Trái tim ta chỉ đủ tình yêu chia sẻ cho ai ta có ân tình! Túi tiền của ta chỉ đủ để trang trải cho những chuyện trả vay của riêng mình! Ấy là chưa ai “động” đến ta đó! Vì nếu việc ấy xảy ra, ta quyết ăn thua đủ thậm chí không chỉ với kẻ gây phiền toái cho mình, mà ta chắc chắn còn bù lu bù loa hơn bao giờ và hơn bất cứ ai, rằng:
_Trời ơi! Sao mà mọi người vô tâm thế…
Làm như ta là một “đấng” nào đó không bằng ! Làm như ta luôn phải là người được miễn trừ trước mọi trách nhiệm trên đời…
Nếu ta có đeo “mẩu” Thập Tự trên cổ. Nếu ta có lần chuỗi liên hồi. Nếu ta có thao thao từng đoạn Kinh Thánh khiến người người phải ngả mũ…, thì chắc là ta đã quên nhiệm vụ loan truyền Tin Mừng bằng đời sống của chính mình mà ta vẫn vanh vách…sẻ chia rồi !
Không ! Ta không quên đâu, mà là cố tình…quên đó !
                                                             
                                           LAM TRẦN 24.01.2016

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

PHẢI NGHE BẰNG BA LỖ TAI



Vào thời Chúa Giêsu, tại Israel có hai nơi dành cho việc phụng tự, là Đền thờ và Hội đường. 
Đền thờ thì chỉ có một, tức là Đền thờ tại Giêrusalem, nhưng có tới hàng trăm hội đường, hầu như mỗi làng đều có một cái. Đền thờ là nơi dân Do thái dâng hy lễ cho Chúa, chẳng hạn chiên, cừu, bồ câu… Còn hội đường là nơi dành cho việc giảng huấn, nơi dân chúng lắng nghe Lời Chúa và cố gắng áp dụng lời ấy vào cuộc sống của họ. Như chúng ta thấy, nghi thức phụng tự trong hội đường và trong Đền thờ tương ứng với nghi thức phụng tự trong thánh lễ của chúng ta. Nửa phần đầu của thánh lễ tương ứng với nghi thức trong hội đường được gọi là phần phụng vụ Lời Chúa, bao gồm việc nghe đọc các bài Kinh Thánh và áp dụng chúng vào cuộc sống giống như Chúa Giêsu đã chỉ dẫn cho dân Nagiarét trong Phúc Âm hôm nay. Nửa phần sau của thánh lễ tương ứng với nghi thức phụng tự trong đền thờ, được gọi là phụng vụ Thánh Thể, liên quan đến việc dâng hy lễ, giống như Chúa Giêsu đã thực hiện trong bữa Tiệc ly: “Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20)
Giờ đây chúng ta hãy xét một cách sâu sát hơn phần đầu của thánh lễ, tức phần phụng vụ Lời Chúa. Trong phần này nhiệm vụ chính của chúng ta là lắng nghe Kinh Thánh. Vấn đề then chốt ở đây là ‘lắng nghe’. 
Cách đây nhiều năm có một vở kịch ở Broadway tựa là ‘Hoàng gia đi săn mặt trời’ (The Royal Hunt of the Sun). Vở kịch kể lại cuộc chinh phục dân da đỏ ở Pêru của người Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, trong đó có một màn kể lại câu chuyện một người nọ biếu cho tù trưởng bộ lạc da đỏ một cuốn Kinh Thánh và bảo ông ta: “Đây là Lời Chúa, Ngài nói với chúng ta qua cuốn sách này”. Viên tù trưởng nghiêm trang cầm cuốn Kinh Thánh lên, xem xét kỹ lưỡng và dịu dàng đặt nó vào lỗ tai. Ông cố gắng nghe đi nghe lại nhưng chẳng nghe được gì hết. Thế là ông ta nghĩ rằng mình bị phỉnh gạt, nên giận dữ dằn mạnh cuốn sách xuống đất. 
Màn bi kịch trên khiến chúng ta tự nhủ: “Vậy thì chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa thế nào đây?” Chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng cả ba cách thức: bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của linh hồn.
Trước hết, thế nào là nghe bằng lỗ tai tâm trí?
Đó là cố gắng tìm hiểu Lời Chúa, và hơn nữa, làm cho lời ấy sống động y như chúng ta đang nghe chính Chúa nói. Chẳng hạn, thánh Ignatiô Loyola thường nghe Lời Chúa theo kiểu này bằng cách nhắm mắt lại và tưởng tượng mình đang có mặt trong hội đường Do thái để nghe Chúa Giêsu nói. Thánh nhân tưởng tượng ra niềm xúc động khiến giọng nói của Chúa Giêsu nghẹn ngào khi Chúa đọc đến câu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi”, và thánh nhân còn tưởng tượng ra nỗi phấn kích như điện giật lan truyền nơi cộng đoàn tham dự khi Chúa Giêsu tuyên bố “Hôm nay, lời Kinh Thánh trên đã được ứng nghiệm khi anh chị em nghe đọc nó”. Như thế, nghe bằng tâm trí tức là không những chỉ hiểu Lời Chúa, mà còn làm cho Lời ấy trở nên sống động như thể nghe từ miệng Chúa nói ra.
Cách thứ hai là lắng nghe Lời Chúa bằng lỗ tai trái tim, nghĩa là ghi tạc Lời Chúa vào trái tim và cố gắng tìm cách áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống chúng ta. Cách đây nhiều năm, Charlie Pitts là chủ nhân một công ty xây dựng chuyên xây đường điện ngầm ở Toronto, Canada. Công việc làm ăn của ông càng khuếch trương bao nhiêu thì đời sống cá nhân và gia đình ông càng khốn đốn bấy nhiêu. Ngày nọ, vì thấy tình thế tồi tệ quá, Charlie phải cầu cứu tới việc đọc Kinh Thánh. Tình cờ trong lúc đọc Kinh Thánh, một câu nói đập mạnh vào mắt ông: “Nào người ta được ích gì khi được lời lãi tất cả thế gian, mà lại mất hay thiệt chính mình?” (Lc 9,25). Những lời này như nói trực tiếp với Charlie, như hàm ý bảo ông: “Này Charlie, chính điều ấy đang xảy đến cho ông đó!”. Như thế, nghe bằng trái tim tức là ghi khắc Lời Chúa vào trái tim và xét xem có thể áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh cụ thể của chúng ta như thế nào.
Và cách thức lắng nghe Lời Chúa sau cùng là lắng nghe bằng lỗ tai của linh hồn, nghĩa là ngoài việc ghi khắc Lời Chúa vào trái tim, chúng ta còn chuyện vãn với Ngài về lời ấy, đồng thời làm những gì mà Charlie Pitts đã làm. Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta thực hiện những bước cần thiết để làm cho cuộc sống chúng ta phù hợp với Lời Ngài. Chẳng hạn, sau khi Charlie Pitts cầu nguyện về tình trạng sống của ông và bàn luận với vợ xong, ông liền bán toàn bộ công ty của ông trước khi nó huỷ diệt đời sống của ông. Tiếp đó, Charlie bỏ tiền ra mua một khách sạn có bãi sân gôn rồi quản trị nó. Lợi tức của công việc kinh doanh này ông dùng để truyền bá Phúc Âm.
Như thế bước thứ ba trong việc lắng nghe Lời Chúa là tâm sự với Ngài để xem Ngài muốn chúng ta làm gì khi nghe lời đọc trên. Dĩ nhiên, chúng ta không mong Chúa dùng lời nói để đáp trả lại lời nói của chúng ta, vì Ngài thường nói với chúng ta một cách thiêng liêng từ thâm sâu linh hồn ta. Và hơn nữa, không phải là Ngài sẽ luôn luôn đáp lời chúng ta ngay lập tức trong giờ cầu nguyện, mà Ngài thường đáp lời chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, ngoài giây phút chúng ta cầu nguyện. Chẳng hạn, Ngài làm cho chúng ta từ từ cảm nghiệm được niềm ước muốn đang lớn mạnh, khiến ta phải làm một điều gì đó để cải tạo hoàn cảnh hiện tại; Ngài khiến chúng ta tìm ra những ý tưởng về cách thức cải tạo cảnh ngộ chúng ta; hoặc Ngài khiến chúng ta cảm thấy nghiêng chiều về một trong những ý tưởng trên. Nói rõ hơn, nhưng chuyển biến tâm linh này có thể là do Lời Chúa đang âm thầm nói với chúng ta từ sâu thẳm của linh hồn.

Tóm lại, chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng ba cách thức: Bằng lỗ tai tâm trí, bằng lỗ tai trái tim và bằng lỗ tai linh hồn. Nói cách khác, chúng ta phải làm sao để Lời Chúa được diễn lại sống động nơi tâm trí chúng ta; phải ghi khắc lời ấy vào trái tim chúng ta; và phải bàn bạc với Chúa cũng như lắng nghe điều Ngài muốn nhắn nhủ chúng ta qua lời ấy
(Nguồn :daichungvienvinhthanh.com)



HÔM NAY ỨNG NGHIỆM…
       (Phỏng theo  Lc1. 1-4, 14-21) 
Tại sinh quán hội đường, Chúa cầu nguyện
Người thừa tác trao Chúa tập Thánh Kinh.
Chúa mở ra gặp đoạn nói về mình,
Chúa cất giọng thanh thanh trước thính giả…
Đoạn sách I- sa- i- a tác giả
Rằng: Thánh Thần Chúa ngự trên tôi
Ngài xức dầu, sai rao giảng Nước Trời,
Kẻ tội lỗi mau hạ mình sám hối.
Ngài khích lệ: cứu chữa dân vô tội,
Kẻ yếu dau, tàn tật, kẻ cơ hàn…
Rao Tin Mừng giải thoát tục trần gian.
Nhận hồng ân trong ngày Vua khen thưởng…
Gấp sách lại, Chúa trao người hội trưởng,
Cả cộng đoàn ngồi thinh lặng ngất ngây…
Chúa lên tiếng: lời tiên tri nghe đây
Nay ứng nghiệm đúng như lời Kinh Thánh.

                                        Thế Kiên Dominic

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

BẰNG CHỨNG PHÊ RÔ LÀ GIÁO HOÀNG TIÊN KHỞI


Lời dẫn nhập:
Đây là phần do người viết rút ngắn từ bài (của mình) dài gần ba trang rưỡi, xóa đi các tiểu đoạn bằng tiếng Pháp, Hylạp và Đức.
Trước khi nêu lên các bằng chứng ''thứ yếu'', tôi xin trưng BẰNG CHỨNG ''chủ yếu'' Chúa Giêsu chọn ông Ximon làm ĐÁ để lập nên Giáo Hội của Ngài.

I. BẰNG CHỨNG CHỦ YẾU

''CÒN Ta, Ta bảo con: "Con là Ðá (1) VÀ trên đá ẤY, Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta,... (AND I tell you, you are Peter, AND on this rock I will build my church,... - ET ego dico tibi: Tu es Petrus, ET super hanc petram aedificabo Ecclesiam meam;...'' (Mat. 16,18)
Để làm sáng tỏ ''Thánh Ý An Bài'' (Disposition Divine) của Chúa qua việc chọn ông Ximon, thiết tưởng phải phân tích từ ngữ, văn phạm trong LỜI CHÚA phán vừa nêu. Đồng thời, cũng cần nói rõ LÝ DO NÀO mà Chúa lại ''KẾT'' ông Ximon đến thế!
A. Phân tích từ ''ĐÁ'' và từ ''VÀ'' sau đó
a. Ý nghĩa của chữ ĐÁ
Biệt danh ĐÁ được dịch từ chữ ''Céphas'' (Kephas), gốc tiếng Aram. Vừa mới ''được'' Anrê dẫn Ximôn đến giới thiệu với Ngài, tức là TRƯỚC khi CÔNG BỐ như trong Mat. 16,18, Chúa Giêsu NHÌN Ximon và QUYẾT ĐỊNH NGAY TẠI CHỖ: ''Con là Ximon, con của Gioan, con sẽ được gọi là KÊPHA, nghĩa là ĐÁ.'' (Gioan 1, 42)
b. Giá trị của ý nghĩa ĐÁ
Ximon ''được cải danh'' thành ĐÁ là DO Thánh Ý của Đấng Quan Phòng, tức là Chúa Giêsu ''thấy trước'' (prévoit) mọi sự, chứ không phải như có người nghĩ rằng Ngài vừa nói câu (ở Mat. 16,18), vừa đưa tay chỉ vào ngực Ngài để ''dằn mặt cái anh chàng tên Đá mới chân ướt, chân ráo, chân trong, chân ngoài, mắt nhắm, mắt mở'' đứng nghe Chúa phán về Ngài là ai!
c. Tại sao chữ Hy-lạp ''petra: đá'', mà biệt danh của Ximon là ''Petros''?
Ông Ximon là người NAM thì Chúa dùng chữ Petros có giống đực (masculin). Bằng không, thiên hạ ''bàn tán'' về người NAM mà lại mang tên của người NỮ! Vì lý do đó mà ''petra'' của Latinh thành Petrus! Nhiều cô mang quý danh Paula, chứ không phải Paulus!
d. Tại sao Chúa ''kết'' ông Ximon đến thế?
Tin Mừng theo Mat. 16,13-17 cho biết rằng ''người ta'' đoán trật lất Chúa là ai; NGƯỢC LAỊ, Ximôn thì trả lời thật chí lý: ''Ngài là Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Chúa khen ông ta lập tức: ''Ximon, Baryôna, con có PHÚC; vì không phải thịt và máu đã MẠC KHẢI điều ấy cho con, MÀ CHA TA ở trên Trời!''
Như vậy, Cha trên Trời là ĐẤNG KHAI TÂM (tâm-linh nhãn-mạc khải) cho ông Ximon biết Chúa Giêsu là ai! Và rõ ràng chữ CÒN trong câu ''CÒN Ta, Ta bảo con: Con là Đá…'' có giá trị là nối (liên kết) ý câu ấy với câu Chúa khen ông Ximon ngay trước đó. Xin giải thích thêm như sau: ''Cha Ta mạc khải cho con NHƯ THẾ đó. CÒN Ta, (Mặt khác, Về phần Ta,) Ta nói với con thế nầy: …'' Như vậy, những từ NỐI (liên từ) vừa nêu chứng tỏ rằng ''Ý Cha thể hiện dưới đất (qua ông Ximon, nhất là qua Con của Cha) đều làm cho Danh Cha cả sáng'', rằng ''những gì Cha LÀM thì Con cũng LÀM như thế'' (Gioan 5, 19), rằng ''Cha với Con là một, bất khả phân ly trong Toàn Tri.''
e. Ý nghĩa của chữ ''VÀ'' sau chữ ''ĐÁ''
Chữ VÀ trong câu ''Con là Đá, VÀ, trên đá ấy, Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta.'' là liên từ (conjonction de coordination) có nghĩa ''VÌ THẾ; VÌ VẬY; CHO NÊN; BỞI LẼ ĐÓ''! Xin nêu ví dụ: ''Năm xưa, Trinh Nữ Maria xin vâng; VÀ Lời đã nhập thể trong Lòng Trinh Nữ. = Năm xưa, Trinh Nữ Maria xin vâng; CHO NÊN Lời đã nhập thể trong Lòng Trinh Nữ.''
Sau khi gọi Ximon là Đá mà Chúa sẽ xây Giáo Hội TRÊN ĐÓ, Ngài còn nói tiếp câu sau đây có chữ VÀ với ý nghĩa như đã nêu: ''VÀ (CHO NÊN) quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi Giáo Hội ấy.''
Cách đây khá lâu, trong Kỳ Đại Hội của người Việt Công Giáo tại Đức, tôi ngồi thưa chuyện với Đức Ông Phương ở ''nhà cơm'' thể này: ''Thưa Đức Ông, xin Đức Ông vui lòng trình bày giúp con với Vatican và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam rằng chúng ta nên hát như sau: Này con là Đá ''NÊN TRÊN'' đá này, Ta xây Giáo Hội… thay vì ''TRÊN VIÊN'' đá này... bởi lẽ chữ VÀ có nghĩa là NÊN. Vả lại, ''Phêrô'' là Đá, là khái niệm (notion) ĐÁ nói chung, không phải ''viên'' bởi vì Giáo Hội thì LỚN theo nghĩa đen và bóng. Mà chỉ có ''một'' viên thì xây làm sao được Giáo Hội!'' Nghe vậy, Đức Ông Phương cười tán thành, bắt tay tôi và đề nghị tôi viết, thưa như thế, như kia với ...
g- Chúa giao Chìa Khóa Nước Trời cho ông Phêrô
Là Công-Chân Lý, Tình Yêu, Đại Lượng, Chúa Giêsu hứa giao cho Ông ĐÁ quyền phán quyết như sau: ''Ta sẽ trao CÁC chìa khóa Nước Trời cho CON, VÀ điều gì CON cầm buộc dưới đất thì trên Trời CŨNG cầm buộc, VÀ điều gì CON tháo mở dưới đất thì trên Trời CŨNG tháo mở."
Chữ VÀ trong câu trên cũng có nghĩa (như trong phần e) là CHO NÊN. Từ ''chìa khóa: KEYS'' ở số nhiều: I will give you the KEYS of the Kingdom of heaven.) Như vậy, Giáo Hoàng có thể trao cho từng Cộng Tác Viên của ngài từng chìa khóa với từng bổn phận và trách nhiệm khác nhau.

II- BẰNG CHỨNG QUAN TRỌNG KHÁC

Sau khi phục sinh, Chúa tỏ mình ra lần thứ BA là BIẾN CỐ rất quan trọng bởi vì, trong lần này, Ngài CÔNG KHAI cho mọi người biết Ximon là Thủ Lĩnh của Giáo Hội. Và, để NHẤN MẠNH Thiên Chức MỤC TỬ ''thay Ngài'' trước khi Ngài về trời, Chúa Giêsu CHẤT VẤN và RA LỆNH cho Ximon tới lần thứ BA như sau: "Hãy CHĂN NUÔI đàn cừu của Ta!'' 
Thiết tưởng cũng cần LƯU Ý đến việc đệ tử Chúa đánh cá suốt đêm mà không bắt được con nào. Nhưng, nghe Lời Ngài dạy thả lưới bên mạng PHẢI của thuyền, đệ tử không có sức kéo lưới lên vì cá nhiều quá! Còn Phêrô cũng bắt được một trăm ba mươi con cá lớn mà lưới KHÔNG bị rách! Đó là bài học ''RA KHƠI BẮT CÁ NGƯỜI'' (Xin xem kỹ bằng chứng ở phần C của III.) trước khi Chúa công khai ''bổ nhiệm'' ông Phêrô làm THỦ LĨNH GIÁO HỘI. Sau đó, Ngài còn cho biết rằng ông sẽ phải chết bằng cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Rồi Ngài còn nói với ông: ''Hãy theo Ta.'' (Gioan 21, 19) Theo ''Ta'' để cho Cộng Tác Viên của ''con'' cũng theo con mà đồng hành với ''Ta'' như bằng chứng Thánh Gioan đã nêu thế này: ''Phêrô quay lại thấy theo sau có môn đồ Chúa Giêsu mến yêu, người đã nghiêng đầu vào ngực Ngài trong bữa tối và nói: "Thưa Chúa, ai là người sẽ nộp Ngài?" Vậy, Phêrô thấy người ấy thì thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa, còn người này thì sao?" (tóm phần cuối)

III. CÁC BẰNG CHỨNG PHỤ

A. Nhắc đến PHÊRÔ tức là ''ông ĐÁ''
Chữ ''Phêrô'' được ghi ở ĐẦU Danh Sách các Tông Đồ và nhiều nơi khác. Và danh xưng mới này cũng được nhắc tới MỘT TRĂM MƯỜI BỐN lần! Nhiều lần có các câu như là: ''PHÊRÔ và những người đi /ở với ÔNG; Chúa Kitô hiện ra với PHÊRÔ và các Tông Đồ khác ...''
B. Diễn từ của Phêrô trong ngày Lễ NĂM MƯƠI
Đó là Lễ Chúa Thánh Thần. THỦ LĨNH Phêrô hiên ngang CÔNG BỐ Tin Mừng của Chúa Kitô cho tất cả mọi người và toàn Dân Israel phải biết. (Công Vụ 4, 10-11) (2)
Nghe xong Diễn Từ của Vị Tân Giáo Hoàng này, người ta ''bị đâm thấu lòng'' nên nói với ngài và các tông đồ khác: "Chúng tôi phải làm gì, anh em ơi?" (CV 2, 37) PHÊRÔ bảo họ: "Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân Danh Chúa Giêsu Kitô để được tha thứ tội lỗi, và các người sẽ được lãnh Ơn Thánh Thần. Vì lời hứa được ban cho con cháu các người và các người, cùng những ai ở xa mà Chúa, Thiên Chúa chúng ta, sẽ kêu gọi." (TĐCV 2, 37- 39)
C. Hoa Trái đầu mùa của Ơn Thánh Linh
Người đời nói: ''Nhìn trái biết cây. On connaît l'arbre à ses fruits. - The tree is known by its fruit.'' Thật vậy, bất chấp quyền môn của Hỏa Ngục như Chúa đã nói với ông Phêrô, Vườn Cây Giáo Hội, mà Chúa lập trên Đá, sinh Hoa, kết Trái nhờ ơn Chúa, qua LỜI HIỆU TRIỆU của Tân Thủ Lĩnh. Bằng chứng từ Kinh Thánh như sau: ''ÔNG (Phêrô) còn dùng nhiều lời khác nữa mà đoan chứng và khích lệ họ: Hãy để cho mình được cứu thoát khỏi thế hệ tà vạy này! Vậy, những ai đã đón nhận LỜI ÔNG, đã chịu thanh tẩy. Và, trong ngày ấy, có thêm được chừng ba ngàn linh hồn. Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. Nhưng mối lo sợ xâm nhập mọi người: có lắm điềm thiêng và dấu lạ xảy ra do các tông đồ làm. Các người tin đều coi mọi sự là của chung: đất đai, của cải thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình.Ngày ngày, họ đồng tâm nhất trí, chuyên cần đi Ðền Thờ, bẻ bánh ở nhà, chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân. Và, mỗi ngày, Chúa cho CỘNG ĐOÀN có thêm những người được cứu độ.'' (Et, chaque jour, le Seigneur adjoignait à la communauté ceux qui seraient sauvés.) (3) như Lời Chúa Giêsu đã cầu xin với Cha Ngài cho ''họ'' NÊN MỘT. Thời gian qua, các Giáo Hoàng đã thực hiện nhiều chuyến Thánh Du theo ý nghĩa tối thượng ấy. Vậy mà Đương Kim Giáo Hoàng bị hiểu lầm là đi ''chiêu mộ, chia rẽ'' Anh-Chị-Em ngoài Công Giáo. Ngài làm đúng Lời Chúa trong Kinh Thánh thì là điều đáng được Chúa chúc phúc.

IV. LỜI KẾT

Thiên Chúa là VUA của Vũ Trụ. Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa làm người và là Vua của Dân Do Thái như Ngài tuyên xưng với Thế Quyền hồi ấy, như Philatô cho phép ghi vào tấm biển gắn vào Thập Giá: ''Giêsu Nadarét Vua Do Thái''. (4) Chúa lập nên Giáo Hội của Ngài và, trước khi về Trời, Ngài trao quyền Thủ Lĩnh Giáo Hội ấy cho ÔNG ĐÁ. Tôi lập vườn thì tôi có quyền giao cho người mà tôi tin tưởng để người ấy cai quản, chăm sóc vườn của tôi, huống chi là Chúa Giêsu!!!

Đức Quốc, 09.7.2011

Đaminh Phan văn Phước

******
Ghi chú:
1. Thần Học Gia Đức, LM Ferdinand Krenzer, dịch nghĩa chữ ''Petrus'' là ''Felsenmann: người Đá'' và chữ ''petra'' là ''Felsen: đá''.
2. Thánh Phêrô nhắc đến ''đá đỉnh góc'' mà Chúa cũng đã nói qua dụ ngôn về ''tá điền vườn nho'' (Math. 21, 33-46), mà Cựu Ước đã cho biết trước. (TV 118, 22-23; Ys 28, 16; Za 3, 9 và 4, 7) Cần lưu ý đến mệnh đề liên kết (relative clause) cũng được gọi là mệnh đề tính từ (adjective clause) vốn làm ''nhiệm vụ'' bổ nghĩa cho (modifying, modifier of) chữ ''stone: đá'' như sau: ''This is the stone which were rejected by you builders, but which has become the head of the corner. - Hic est lapis, qui reprobatus est a vobis aedificatoribus, qui factus est in caput anguli. (Bài khác sẽ nói về ý nghĩa sự việc người con của địa chủ vườn nho bị tá điền thủ tiêu.)
3. Động từ ''adjoignait'' là ''unissait'': làm cho hợp nhất, làm thành một. Chữ ''communauté'' có tiếp đầu ngữ ''com'' (cum) là ''chung; với nhau'' như Cha Thuấn dịch. Chữ ''cộng đoàn'' dịch từ chữ Hy-lạp ''ἐκκλησίᾳ'', đọc là ''eklesia'', thành tiếng Latinh và Pháp là ''ecclesia, Église'', tức Giáo Hội. Bản của Công Giáo và Tin Lành Đức dịch chữ ''seraient'' là ''sollten''. Xin xem TĐCV Đoạn 1, 13-26; Đ. 2, 14-47; Đ. 3, 1-26; Đ. 4, 8-22 để thấy sự hiện diện và việc làm của Thánh Phêrô với tư cách là Thủ Lĩnh của ''ἐκκλησίᾳ'' TIÊN KHỞI.
4. Giờ đây, trên Thánh Giá còn chữ viết tắt: INRI, mà, hồi nhỏ, tôi tưởng là ''in như ri''! Các mẫu tự ấy do chữ ''Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum''. (Tiếng Latinh viết ''Iesus'', không có mẫu tự J.)

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

MƯỜI THƯƠNG


Một thương cha mẹ sinh ra
Người em duyên dáng như là trong tranh
Hai thương đôi mắt long lanh
Môi em xinh xắn làm anh mê liền!
Ba thương nét chữ em biên
Tên em trên vở che nghiêng mái đầu
Bốn thương em nói những câu
Thanh tao biểu lộ chiều sâu tâm tình
Năm thương em biết giữ mình
Xứng là con gái đoan trinh nhà lành
Sáu thương em mặc áo xanh
Như màu lá mạ, thiên thanh hòa bình
Bảy thương mười ngón tay xinh
Em đưa lên vuốt tóc mình xuống vai
Tám thương em bước khoan thai
Để anh theo ngắm hình hài mỹ nương
Chín thương đức tính khiêm nhường
Nơi em là một tấm gương sáng ngời!
Mười thương em đắn do lời
Bạn bè lối xóm, người đời đều khen
Em như một đóa hoa sen
Yêu chưa dám nói, anh bèn làm thơ
Dáng em bàng bạc trong mơ
Hôm sau trỗi dậy, ngẩn ngơ... vì... tình...!


Phan văn Phước

(Nhớ thời thư sinh ''biết'' yêu, mà chưa dám nói là...)