Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

BÁC ÁI THEO TINH THẦN PHÚC ÂM


Có một người phong cùi quần áo rách nát hằng ngày ngồi xin bố thí bên vệ đường. Thỉnh thoảng cũng có những người qua đường mủi lòng để rơi một vài đồng xu vào trong cái mũ lá đặt bên chân người ấy. Có điều lạ là người ăn xin đó không hề tỏ dấu hiệu biết ơn nào, không một lời nói cũng không một nụ cười, hoặc một cái gật đầu.
Một hôm, có người thường xuyên đi ngang qua lối đó thấy vậy liền dừng lại và không khỏi ngạc nhiên lên tiếng hỏi người phong cùi xin bố thí:
- Tại sao ông không một lời hoặc một cử chỉ biết ơn nào đối với những người tỏ lòng trắc ẩn bố thí cho ông?
Người phong cùi thản nhiên đáp:
- Nhưng tại sao tôi phải cám ơn họ? Thiên Chúa đã muốn dùng tôi như cơ hội tốt đẹp để họ có dịp làm việc thiện, làm một cử chỉ nhân từ, một hành động bác ái. Có lẽ tốt hơn là họ phải cám ơn Chúa vì sự bất hạnh khốn cùng của tôi để nhờ đó mà họ có công nghiệp đáng được vào Nước Trời.
Nghe vậy, khách qua đường mỉm cười mỉa mai bỏ đi trong lòng thầm nghĩ người ấy hoặc là mất trí hoặc là vô ơn. Nhưng câu trả lời của người phong cùi cứ văng vẳng bên tai làm cho vị khách qua đường phải hồi tâm suy nghĩ. Sau cùng, người ấy tự nhủ: "Xét cho kỹ thì người phong cùi hẳn có lý. Thực ra, bất kỳ việc tốt gì chúng ta làm cho người khác, tức là làm cho chính mình vậy". Từ ngày đó trở đi, mỗi lần đi ngang qua người phong cùi ăn xin bên vệ đường, người ấy luôn rút trong túi ra hai đồng tiền, một đồng để làm phúc bác ái cho người phong cùi, còn một đồng để tỏ lòng biết ơn người ấy.
* * *
Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng vội vàng và dễ dàng xét đoán cách nông cạn và sai lầm về việc làm của những người khác. Lời nói của người phong cùi nghe như lời nói của kẻ vô ơn, tệ bạc là lời thức tỉnh lòng ích kỷ tự nhiên của con người và nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải quan tâm đến những người chung quanh chúng ta. Lắm khi chính chúng ta sai lầm khi nghĩ rằng thực thi đức bác ái chỉ là một lời khuyên bảo tốt, một việc làm thêm có thể làm hoặc cũng có thể bỏ qua. Trái lại, theo tinh thần Phúc Âm Chúa Kitô thì thực thi đức bác ái là một bổn phận nòng cốt trong đời sống người tín hữu. Trong Phúc Âm Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng: "Các con phải thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con". Hơn thế nữa, lòng bác ái thương người là một vinh dự của các môn đệ Chúa, bởi vì "Hễ điều gì các con làm cho một trong những người hèn mọn là các con làm cho chính Thầy vậy" (Mt 26,45).
Lòng bác ái theo tinh thần Phúc Âm còn đi xa hơn cán cân công bằng của người thế trần: mắt đền mắt, răng thế răng, trái lại, "Cần phải yêu thương cả thù địch và làm điều tốt cho những người thù ghét cac con nữa, có như thế những người khác mới nhận biết rằng các con là môn đệ của Thầy được". Chúa Giêsu dạy chúng ta cần phải nhắm cao và nhìn xa thấy rộng hơn trên con đường của đức bác ái. Có lần Chúa Giêsu nói với người đã mời Ngài tới dùng bữa rằng "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông. Và như thế ông được đáp lễ rồi. Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật và què quặt đui mù. Họ sẽ không có gì đáp lễ và như thế ông mới thật có phúc vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại".
Tình thương nhưng không và vô vị lợi của Chúa Giêsu được thể hiện ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm cứu độ. Tin mừng Ðấng cứu thế giáng trần đã không được loan báo cho những người giàu sang, quyền cao, chức trọng, nhưng trước tiên là cho các mục đồng, những tâm hồn đơn thành luôn rộng mở tâm hồn đón nhận tình thương của Chúa. Họ không có gì để đáp đền tình thương Chúa ngoài việc hiến dâng cho Ngài sự khó nghèo của họ. Giữa đêm khuya giá lạnh họ đã tới sưởi ấm cho Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn biết ơn của họ.
Lạy Chúa Giêsu là thái tử hòa bình, là vua tình thương.
Xin ban cho con quả tim quảng đại như Chúa, luôn vươn lên cao, vượt qua mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình của Chúa. Xin ban cho con trái tim đủ lớn để con biết khiêm tốn đến với người con không ưa và để tỏ lòng biết ơn với cả những người vô ơn nữa.
(Nguồn :catholic.org.tw)

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

CHUYỆN TÌNH BUỔI BÌNH MINH


SUY NIỆM 

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH - NĂM C 
Các bạn trẻ thân mến,
Sau một đêm vất vả nhưng không bắt được con cá nào, các tông đồ chèo thuyền vào bờ trong tâm trạng u buồn về tinh thần, đói lả về thân xác. Nghe theo lời khuyên của một người lạ, họ quyết định thử thả lưới lần cuối với chút hy vọng mong manh. Ai ngờ, chỉ một mẻ lưới tình cờ đã có thể bắt được rất nhiều cá. Nhạy cảm trước sự kiện lạ này, Gioan đã nhận ra Thầy chính là người lạ đã đưa ra lời chỉ dẫn kia. Thế rồi họ vào cũng vào bờ, mang ít cá mới bắt được đến bên bếp lửa đã được Thầy nhóm sẵn. Cùng với chút bánh Thầy mang tới, tất cả dùng chung với nhau bữa ăn sáng đạm bạc nhưng chan chứa niềm vui.
Trời lúc ấy mới hừng đông. Ánh mặt trời con non nớt, chiếu qua những hạt sương long lanh. Tiếng sóng vỗ rì rào theo chiều gió thổi. Có lẽ đã lâu lắm rồi, Thầy với trò mới có được một bữa ăn nhẹ nhàng và an bình như thế. Từ sau khi Thầy bị bắt, ngày nào họ cũng phải sống trong lo sợ và u ám. Cái chết kinh khiếp của Thầy như vẫn còn đâu đây. Tiếng la hét, tiếng khóc than, tiếng búa gõ vào đầu đinh sắt… những hình ảnh thê lương ấy sao dễ có thể phai nhạt được. Nhưng giờ đã qua hết rồi, những khoảnh khắc u sầu tăm tối. Phút yên bình bên bếp lửa đỏ, với miếng cá nồng vừa bắt được và chút bánh thơm phức hương men, Thầy và trò cùng chia sẻ với nhau sự ung dung tự tại, hệt như những ngày vừa gặp gỡ.
Ăn sáng vừa xong, mỗi người một việc. Chỉ còn lại Phêrô và Giêsu bên bếp lửa. Khoảng không gian thanh tịnh đến lạ kỳ. Phêrô hẳn là nghẹn ngào lắm. Vui vì được nhìn thấy Thầy, bình an vô sự; nhưng cũng buồn vì nhớ lại lầm lỗi của mình chỉ vài ngày trước đây thôi. Nhớ lại đêm cuối cùng trước khi Thầy chịu khổ nạn, Phêrô luôn mồm khẳng định yêu Thầy, yêu hơn hết mọi người, yêu đến nỗi sẵn sàng chết vì Thầy. Ấy vậy mà khi sự cố xảy đến, ông đã thề độc, chối bỏ mối tương quan gắn bó sâu sắc giữa mình với Thầy. Sợ mạng sống của mình bị đe dọa, ông đã gạt Giêsu ra khỏi cuộc đời mình. Cái nhìn của Giêsu đã thấu chạm đến tim ông, gợi nhớ lại trong ông những ân tình đã có. Bất chợt, bao cảm xúc ùa về, ông đã khóc như chưa từng được khóc, những ngọt nước mắt của hối lỗi, của ăn năn. Ông khóc cho thân phận kém cỏi của mình, khóc cho những lần kiêu ngạo của mình, khóc cho một cuộc tình vì bị ông chối từ vì sợ hãi.
Giờ đây, chỉ còn hai người – Thầy và ông – trên một bãi biển hồ vắng. Ông nghẹn ngào chẳng biết nói điều chi. Ông tự cảm thấy mình phải thu nhỏ người lại trước Thầy, không còn dám vỗ ngực xưng tên, không còn tự cho mình là người thánh đức nữa. Nhưng dẫu sao, ông vẫn thấy mình có lỗi với Giêsu, ông nợ Giêsu một lời xin lỗi. Là một người Thầy thấu cảm tâm tư của trò, Giêsu đã lên tiếng trước. Giêsu không muốn nghe từ ông lời xin lỗi, vì những giọt nước mắt kia đã nói lên tất cả rồi. Giêsu cũng không cần nghe từ ông lời cam kết sẽ không tái phạm, vì phận người yếu đuối, có ai biết được ngày sau. Giêsu chỉ muốn ông cho Giêsu biết, chỉ một điều duy nhất thôi: sau biết bao những biến cố ấy, ông có còn yêu mến Giêsu không? Ba lần hỏi của Giêsu là ba lần làm ông nghẹn ngào khó tả. Phêrô không còn dám nói là mình yêu Chúa hơn các anh em khác nữa. Phêrô thú thật với Thầy là Thầy biết con yêu mến Thầy; chỉ có điều tình yêu ấy còn mong manh quá, còn yếu đuối quá, nên đã bao lần khiến Thầy thất vọng và buồn phiền. Nhưng thật sự là có, có một tình yêu dành cho Thầy, có một sự lôi kéo trái tim hướng về Thầy. Tình yêu dành cho Thầy và sự yếu đuối đi song đôi trong trái tim của Phêrô, Phêrô nhận ra điều đó.
Các bạn trẻ thân mến,
Tâm trạng của Phêrô cũng là tâm trạng của mỗi người chúng ta mỗi khi chúng ta phạm tội. Ta thấy hổ thẹn với bản thân, vì dù đã nhiều lần ta đã nỗ lực không muốn phụ tình yêu Giêsu dành cho mình, nhưng sao ta vẫn chứng nào tật ấy, không sao chừa được. Sự yếu đuối và tội lỗi cứ đeo bám ta, khiến ta thấy mình như bất lực trong cuộc chiến chống lại chúng. Nhưng Thầy Giêsu của chúng ta là một người thầy rất tuyệt vời. Ngài không bao giờ hạch họe ta, không bao giờ khoét sâu trong trái tim ta những nỗi đau vốn đã sẵn có. Ngài biết ta yếu đuối, Ngài biết ta mỏng dòn, Ngài biết là sẽ có ngày ta bội phản Ngài, bội phản lại tình yêu Ngài dành cho chúng ta. Nhưng không bao giờ Ngài đối xử với ta một cách tồi tệ. Điều duy nhất là Ngài muốn ta trả lời khi đến với Ngài là “con có còn yêu mến Thầy không?” Chỉ một câu hỏi ấy thôi. Ngài muốn biết trong ta có còn tình yêu dành cho Ngài hay không, muốn biết trái tim ta có còn chỗ cho Ngài không. Chỉ cần ta trả lời có, bấy nhiêu cũng đủ rồi.
Vâng, tình yêu của Chúa vượt trên những tội lỗi của ta. Mỗi khi ta vì yếu đuối và vấp ngã, ta đừng tra tấn mình bằng những cảm xúc tiêu cực, hãy tự vấn mình: ta có còn yêu mến Giêsu không, ta có còn vì Ngài mà cố gắng sống tốt hơn không. Giêsu chỉ cần ta yêu mến Ngài. Mọi sự khác, Ngài chẳng quan tâm, vì Ngài biết, tình yêu của Ngài sẽ giúp ta chiến thắng.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
(Nguồn:dongten.net)

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

LƯU DẤU MỘT LẦN VỀ VỚI BIÊN HÀ - BÌNH DƯƠNG

                                                

Chúng tôi trở về vùng Chiến khu D của những ngày tháng hôm nay với đầy  những nỗi niềm cùng  người dân xứ đạo vùng xa xôi như thế này .
Cái nắng gay gắt của mùa khô miền Nam đang trông chờ những hạt mưa đến với mảnh đất cằn cỗi, nhưng có lẽ không khô cằn với lòng những người bao dung mong làm sáng danh Ngài .
Rời thành phố Biên Hòa khi đang  ngân vang những hồi chuông và còn ngân nga những lời nguyện cầu trong thánh lễ ngày Chúa Nhật thứ II Phục sinh 3/4/2016 , có lẽ  đã  mang đến cho nhóm  những cựu Trưởng  ngày xưa tại miền Trung  những “liều thuốc ” để mong làm sống dậy phong trào HTDC nơi  xứ đạo xa xôi này .
Biên Hà là một xứ đạo nghèo – có lẽ nghèo còn hơn Tha la xóm đạo ngày ấy và hôm nay tại Tây Ninh, dân số ở đây hầu hết là những con chiên xứ đạo tận ngoài Thái Bình vào đây khẩn hoang lập ấp để sinh sống, thế mà ngày xưa họ cũng vẫn gầy dựng được một nhà nguyện nho nhỏ cùng với vị linh mục tiên khời là cha Thomas Nguyễn Bá Phùng và sau đó là Cha ĐaMinh Hà Chí Luyến… cho đến hôm nay là một vị linh mục trẻ là Cha Petrus Nguyễn Văn Tươi – một người con của dãi đất miền Trung.
Cùng với Cha Chánh xứ ,thầy Phó tế Trí  dòng Chúa Cứu Độ, Trưởng Thủy Tiên của xứ Biên Hà , những con người như các cựu Trưởng Tâm, Phiên,  Duyên , Châu, Cửu , Sửu, Ninh …. với nhiệt tâm  cháy bỏng mong muốn làm sống lại một phong trào giáo dục – Phong Trào HTDC -  một Phong trào Hoạt động Tông đồ Thiếu nhi  để cùng với các em  trở thành những con người sống có ích cho xã hội và giáo hội .
Đây  đúng là cách  sống trong một Mùa Phục sinh mới là đi Rao giảng và truyền bá Tin Mừng cho mọi người  với những hành động thiết thực và cụ thể nhất…
Hy vọng rằng những việc làm hôm nay Phong trào HTDC  sẽ bén rễ tại Biên Hà  và lan tỏa dần qua  các giáo xứ  khác .

NguyenNgocHai ghi 



                                     
                                               Nhà thờ Giáo xứ Biên hà và Cha xứ ngày xưa 

Lm. Phê rô Phan Văn Tươi, cha sở Biên Hà hiện nay 

Bên trong nhà thờ Biên Hà 

Họp các Đội trưởng 



Các đội sửa soạn thi trắc nghiệm giáo lý và tìm hiểu về PT Hùng Tâm Dũng Chí 

Trước khi trắc nghiệm các đội tự ôn thi riêng 

Các Trưởng giúp mỗi đội ôn riêng

Thầy Phó tế Minh Trí đang trao thưởng cho các em 

Dặn dò trước khi ra về 


Trao đổi 


Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

THƯƠNG NGƯỜI CÓ MƯỜI BỐN MỐI


Thương người có mười bốn mối
Thương xác bảy mối:
Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn
Thứ hai: Cho kẻ khát uống
Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc
Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
Thứ năm: Cho khách đỗ nhà
Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi
Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết
Thương linh hồn bảy mối:
Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người
Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội
Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo
Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội
Thứ năm: Tha kẻ dể ta
Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta
Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết

THƯƠNG XÁC BẢY MỐI

                                                                                            LÀ BÁC ÁI VỚI THA NHÂN .

(Trích sách Tô-by-a, ch.1-4 và 12 1)

Ông Tô-bi bị Vua San-ma-na-da bắt làm phu tù, đi lưu đầy cùng với người Israen sang Ni-ni-vê. Ông là người công chính, giữ lề luật Chúa trọn vẹn, và rất có lòng kính sợ Thiên Chúa. Lòng đạo của ông không chỉ là đi dự lễ, đến nhà thờ, đọc kinh, nguyện ngắm Lời Chúa, mà còn diễn tả ra bằng các việc lành phúc đức. Ông không những làm gương sáng cho người lân cận, mà còn giúp đỡ họ tận tình : giúp tiền cho kẻ mồ côi, góa bụa và khách tha phương, bố thí cho kẻ nghèo đói, túng thiếu. Ông kể rằng :
- Người đói, tôi cho bánh ăn ; kẻ mình trần, tôi cho áo xống ; nếu thấy có thây chết nào bị quăng ngoài tường lũy Ni-ni-vê, tôi đem chôn cất.
Số là Vua mới tên Sa-ne-kê-ríp lên nối ngôi vua trước, ông rất ghét người thờ phượng Thiên Chúa, nên tìm giết họ như những tên đại gian, đại ác. Ông Tô-bi không sợ cơn bắt bớ, cứ thăm viếng kẻ tù ngục, yên ủi, giúp đỡ họ, và khi họ bị giết, ông lén lấy trộm xác đi chôn cất tử tế. Bị người Ni-ni-vê tố cáo lên Vua, ông bị kết án tử hình. May nhờ các bạn tâm phúc, ông trốn được, ẩn náu một nơi, còn gia tài ông bị tịch biên hết không còn gì. Ít lâu sau, vua độc ác kia bị ám sát, Tô-bi lại trở về Ni-ni-vê, đoàn tụ với vợ con và tiếp tục làm việc nghĩa.
Hôm ấy, ngày đại lễ Ngũ Tuần, người ta dọn một bữa tiệc thịnh soạn mừng ông. Thấy món ăn la liệt trên bàn, ông chạnh lòng nhớ đến những kẻ đói nghèo, và sai con rằng :
- Này con, hãy ra đường và gặp ai nghèo đói trong anh em ta, hãy dẫn về đây chia sẻ bữa ăn với cha. Này cha đợi con về đó !
Lúc đưa một người nghèo đói về, cậu con nói với cha :
- Cha ơi ! Có một người Israen bị sát hại, người ta quẳng xác ngoài bùng binh.
Vừa nghe, ông Tô-bi chỗi dậy, bỏ bữa ăn, đi lấy xác người đó, đem về giấu đi, đợi đến tối mịt đem chôn. Sau đó, ông mới tắm rửa và ngồi ăn uống. Nhưng bữa tiệc lúc ấy đã biến thành “ăn bánh trong tang sầu”. Đến tối mịt, ông đào huyệt chôn xác người ấy. Hàng xóm thấy thế xì xào :
- Hắn vẫn chưa sợ ! Đã bị tầm nã và kết án tử hình, phải bỏ trốn, thế mà bây giờ hắn vẫn lại chôn xác kẻ chết !
Họ không biết rằng ông Tô-bi kính sợ Thiên Chúa hơn sợ vua As-sy-ri, và lòng thương người lớn lao đến nỗi không làm ông chùn bước trước một hi sinh nào.
Đã vậy, ông có được Chúa thưởng gì đền đáp đâu ! Chỉ gặp toàn là tù ngục, kết án, chạy trốn, gia tài bị tịch thu... Và lần này, xui xẻo hơn nữa : tối đó, vì quá mệt, trời lại nóng bức, ông nằm ngủ bên mé tường, nên bị cứt chim từ mái nhà rớt xuống làm ông bị mù cả hai mắt. Chỉ mãi sau này, như ta đã biết, ông được cậu con là Tôbya lấy mật gan cá rịt cho ông, mắt ông mới sáng lại.

* Đó là Lời Chúa ! - Tạ ơn Chúa !

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

TẠI SAO LẠI GỌI LÀ "DÒNG BA"?

Tại Sao Lại Gọi Là "Dòng Ba"?

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Tại Việt Nam, có nhiều hội viên Dòng Ba Đaminh, Dòng Ba Phanxicô, Dòng Ba Carmêlô. Tại sao gọi là Dòng Ba?
Từ “Dòng Ba” giả thiết “Dòng Nhì” và “Dòng Nhất”. Cho đến thời gian gần đây, người ta cho rằng từ này xuất hiện thời Trung cổ, cách riêng với Thánh Phanxicô Assisi. Ngày nay, các sử gia cho rằng nó đã được sử dụng ít là ba thế kỷ trước Thánh Phanxicô. Thiết tưởng nên lưu ý về danh từ Ordo trong tiếng La-tinh (tương đương với Ordre tiếng Pháp, Order tiếng Anh). Ordo tự nó không phải là một Dòng Tu, nhưng chỉ có nghĩa là một đoàn ngũ, chẳng hạn như ngày nay bên Pháp, từ Ordre vẫn còn dùng cho đoàn ngũ các y sĩ, luật sư, ký giả. Trong Giáo hội thời cổ, chúng ta thấy bên cạnh đoàn ngũ các giám mục, linh mục, trợ tá (ordo episcoporum, presbyterorum, diaconorum), còn có đoàn ngũ các trinh nữ (ordo virginum), đoàn ngũ các góa phụ (ordo viduarum). Sang thời Trung cổ, từ thế kỷ X, người ta thấy vài tác phẩm nói đến ba hàng ngũ (đẳng trật) trong Giáo hội, đó là: hàng giáo sĩ, hàng đan sĩ, và hàng giáo dân. Các giáo dân được xếp vào hàng ngũ thứ ba, tertius ordo, sau các giáo sĩ và các tu sĩ. Với Thánh Phanxicô Assisi, người ta sử dụng một lối phân hạng khác: dòng nhất là các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu Clara, Dòng Ba là các giáo dân sống ngoài đời. Từ đó, Dòng Ba được hiểu là các giáo dân sống ngoài đời, nhưng muốn nên trọn lành qua việc khấn hứa giữ một bản tu luật.
Như vậy là Thánh Phanxicô là người đầu tiên lập ra Dòng Ba phải không?
Trước đây (nghĩa là cho đến giữa thế kỷ XX), câu trả lời là: đúng thế! Nhưng kể từ thập niên 60 của thế kỷ vừa rồi, những cuộc nghiên cứu lịch sử Dòng Tu thời Trung cổ đã lật ngược câu trả lời. Vì thế ngày nay, các sách lịch sử về các Dòng Ba phải được viết lại. Thực ra, ngay từ thế kỷ VIII, đã có nhiều giáo dân muốn chia sẻ nếp sống tu trì của các đan sĩ Biển đức dưới nhiều dạng thức (tựa như các bõ ngãi hay các cư sĩ ở Việt Nam). Họ xin đến trọ tại các đan viện, tình nguyện làm công không lấy lương, và bù lại họ muốn được tham gia vào sinh hoạt phụng vụ của nhà dòng. Đôi khi họ cũng mặc áo dòng như các đan sĩ, nhưng họ không tuyên khấn. Đó là hình thức oblati, donati, conversi. Nhưng sang đến thế kỷ XII-XIII, chúng ta lại chứng kiến một hiện tượng khác, đó là: nhiều phong trào gíao dân nổi lên, yêu cầu cải cách Giáo hội, bằng việc trở về với nếp sống khó nghèo của Phúc âm.
Tuy rằng một số phong trào đó đã ly khai khỏi Giáo hội, nhưng đa số không dừng lại ở chỗ kêu gào cải cách bằng miệng nhưng còn thực hành lý tưởng bằng đời sống bản thân. Họ mang danh là đoàn ngũ các hối nhân (Ordo penitentium). Đến khi Dòng Thánh Đaminh và Dòng Thánh Phanxicô xuất hiện thì họ đến nhờ các tu sĩ hướng dẫn. Dĩ nhiên là họ cũng chia sẻ lý tưởng Phúc âm mà hai thánh tổ phụ đề ra, và thậm chí còn xin mặc tu phục của hai dòng đó. Từ đó, hàng ngũ hối nhân (Ordo penitentium) chia thành hai ngành, ngành xám (màu áo Dòng Thánh Phanxicô) và ngành đen (màu áo choàng của Dòng Thánh Đaminh). Lần lượt các bản luật cũng được soạn ra: luật ngành xám được Toà thánh châu phê từ năm 1289; còn luật ngành đen thì được cha Munio de Zamora soạn từ năm 1285, nhưng mãi tới năm 1405 mới được Toà thánh châu phê. Lần lượt Toà thánh cũng châu phê bản luật của các Dòng khác soạn cho các giáo dân muốn chia sẻ tinh thần của mình, chẳng hạn như: dòng Âutinh (1399 cho nữ giới và 1470 cho nam giới), Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (1424), dòng Carmêlô (năm 1476), vv. Nên biết là Dòng Thánh Phanxicô đã sớm gọi hàng ngũ hối nhân của mình là “Dòng Ba Phanxicô” (như nhận thấy qua một văn kiện năm 1292), chứ các dòng khác thì mãi mấy thế kỷ sau mới du nhập từ ngữ Dòng Ba.
Các hội viên Dòng Ba có mặc áo dòng như các tu sĩ không?
Như vừa nói trên đây, từ thế kỷ XIII, các hối nhân đã phân thành hai nhánh - xám và đen - dựa theo màu áo choàng. Nói chung, vào lúc đầu các hội viên Dòng Ba cũng xin được mặc áo dòng như các tu sĩ. Nhưng dần dần, vì sự tiến triển y phục bên châu Âu cũng như vì công tác lao động, cho nên các hội viên Dòng Ba không mặc toàn bộ áo dòng như các tu sĩ (trừ khi tham dự các buổi rước kiệu và lúc tẩm liệm trong quan tài), nhưng chỉ mặc một áo cộc, làm biểu hiệu.
Các hội viên Dòng Ba có phải tuân giữ những nghĩa vụ nào không?
Dĩ nhiên các tín hữu xin gia nhập Dòng Ba không phải để lãnh áo dòng làm kiểng. Như đã nói trên đây, nguồn gốc của các Dòng Ba là phong trào các hối nhân: họ chủ trương nếp sống khắc khổ, trở về với những yêu sách của Tin mừng. Trên thực tế, đã có nhiều sự thay đổi về kỷ luật các hội viên Dòng Ba từ thế kỷ XIII cho đến nay. Vào lúc đầu, các hội viên cũng tuyên khấn tuân giữ vài nghĩa vụ mà bản Kỷ luật đặt ra, chẳng hạn như việc cầu nguyện (nguyện kinh nhật khóa), thực hành khổ chế (trong đó có việc kiêng thịt suốt đời, khước từ tham dự các buổi lễ hội giải trí dân gian), và đôi khi lời hứa giữ khiết tịnh (ai chưa lập gia đình thì phải giữ độc thân, còn người đã có gia đình thì không được tái hôn).
Như vậy, các hội viên cũng phải tuyên khấn như các tu sĩ hay sao?
Bản luật của Dòng Ba Đaminh soạn năm 1285 đã dự trù một thời kỳ tập luyện là 1 năm, và sau đó hội viên tuyên khấn. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của lời khấn Dòng Ba không được coi như tương đương với lời khấn của các tu sĩ. Điều này càng rõ rệt hơn khi mà trong số các hội viên Dòng Ba, một vài người đã họp nhau thành cộng đoàn, tuân giữ một bản luật khác với bản luật dành cho các giáo dân. Người ta gọi họ là “Dòng Ba tu trì” (tertiarii regulares), đối lại với “Dòng Ba đời” (tertiarii seculares). Các hội viên Dòng Ba tu trì - đa số là nữ giới - sống thành cộng đoàn, giữ ba lời khấn dòng; họ chỉ khác với các đan nữ dòng nhì ở chỗ là họ không ở trong nội vi, nhưng tham gia các công tác tông đồ và bác ái. Đó là nguồn gốc của các dòng nữ tu hoạt động tông đồ vào thời nay.
Từ khi các cộng đoàn Dòng Ba tu trì lớn mạnh, cách riêng từ thế kỷ XV, thì vai trò của các hội viên Dòng Ba “đời” bị giảm. Nhiệt tình của phong trào “hối nhân” giảm sút. Vì thế, các nghĩa vụ của họ cũng được giảm nhẹ. Tính cách pháp lý của lời khấn hứa của họ không đáng kể. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, các Dòng Ba đời mới được phục hồi, nhưng thường được đồng hóa với các hội đoàn đạo đức cầu nguyện, nhưng không tác dụng vào đời sống Giáo hội cách mạnh mẽ như hồi thế kỷ XIII-XIV nữa. Dĩ nhiên, đó là nói các đường hướng chung, chứ khi đi vào lịch sử của mỗi Dòng Ba thì có nhiều đặc trưng khác nữa.
Hiện nay có bao nhiêu thứ Dòng Ba?
Sự phân biệt giữa Dòng Ba “tu trì” với Dòng Ba “đời” coi như không còn nữa. Các Dòng Ba tu trì trở thành các Dòng Tu như bao nhiêu Dòng Tu khác, chẳng hạn như các Dòng nữ tu Đaminh, Phanxicô, Cát minh, vv. Còn các Dòng Ba “đời” thì dần dần cũng đổi tên: thay vì gọi Dòng Ba Đaminh đời, thì người ta gọi là “huynh đoàn giáo dân Đaminh”; một cách tương tự như vậy, “Dòng Ba Phanxicô đời” được đổi thành “Dòng Thánh Phanxicô tại thế” (bỏ tính từ “thứ ba” để khỏi gây mặc cảm).
Dưới một khía cạnh khác, có thể nói được là có nhiều thứ Dòng Ba dựa theo các linh đạo khác nhau. Về điểm này ta thấy có sự khác biệt khá lớn giữa bộ giáo luật 1917 và bộ giáo luật 1983. Trong bộ giáo luật 1917, chỉ có các Dòng sau đây được phép nhận hội viên Dòng Ba: Phanxicô, Đaminh, Augustin, Carmêlô, Tôi tớ Đức Mẹ, Chúa Ba ngôi, Prémontrés, Minimi, Đức bà chuộc kẻ làm tôi, Biển đức. Như vậy, con số khá hạn hẹp, và chỉ giới hạn vào vài Dòng cổ điển. Ngược lại, Bộ giáo luật hiện hành không còn đặt giới hạn như vậy. Điều 303 của bộ giáo luật 1983 cho phép tất cả các Dòng Tu (dù cổ hay tân, dù là nam hay nữ) cũng đều có quyền kết nạp các giáo dân muốn tham gia vào linh đạo của mình. Đó là nói trên nguyên tắc. Cần phải chờ một thời gian nữa thì mới biết được điều luật này được áp dụng như thế nào.
Mặt khác, cũng nên biết rằng nhiều Dòng Tu, điển hình là Dòng Tên, tuy vốn không có Dòng Ba, nhưng vẫn điều khiển nhiều phong trào đạo đức gíao dân (thí dụ như trước đây gọi là Hiệp hội thánh mẫu, Hội tông đồ cầu nguyện, Phong trào Linh thao, vv). Sau cùng, để kết thúc bài hôm nay, cần thêm một nhận xét khác không kém phần quan trọng. Trong quá khứ, các phần tử Dòng Ba tìm đến các Dòng Tu để tìm con đường nên thánh, và con đường nên thánh được diễn tả qua việc hãm mình cầu nguyện.
Từ sau công đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới về sứ mạng của các tín hữu giáo dân, đường nên thánh của các giáo dân không thể chỉ giới hạn vào việc hãm mình đền tội, đọc kinh cầu nguyện mà thôi, nhưng còn phải tìm cách đem men Phúc âm vào các môi trường sinh sống: từ gia đình, nghề nghiệp, cho tới các cơ chế kinh tế, chính trị. Hậu nhiên, Giáo hội mong đợi nơi các phần tử Dòng Ba không phải chỉ là những chuyên viên đọc kinh cầu nguyện, nhưng còn là những cộng sự viên của hàng giáo phẩm trong các sinh hoạt mục vụ giáo xứ (chẳng hạn: dạy giáo lý, thăm viếng người bệnh tật), các công tác bác ái xã hội, cũng như là những chứng tá tin mừng trong các môi trường giáo dục, lao động, chính trị. Tại Italia, người ta đang tiến hành thủ tục phong thánh cho ông Giorgio La Pira, một hội viên Dòng Ba Đaminh, nguyên thị trưởng thành phố Firenze (1904-1977). Giữa thời chiến tranh nóng bỏng tại Việt Nam, ông đã đưa ra chủ trương đàm phán. Nếu tôi không lầm, thì ông là chính khách đầu tiên của khối Tây phương đi gặp chủ tịch Hồ chí Minh tại Hà nội, vào tháng 8 năm 1965, để tìm cách bắt nhịp cầu.

(Nguồn : catechesis.net)

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

THÁNH NỮ FAUSTINA - TÔNG ĐỒ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT





MỜI XEM PHIM :
THÁNH NỮ FAUSTINA 




Tiểu sử Thánh nữ Faustina, Tông đồ Lòng Thương xót Chúa Giêsu
(Trích Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa)
THÁNH NỮ MARIA FAUSTINA KOWALSKA ngày nay được khắp thế giới biết đến với tước hiệu “Tông Đồ Lòng Thương Xót Chúa” là một vị thánh được các nhà thần học kể vào số những nhà thần bí trổi vượt trong Giáo Hội.
Chị là người thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức tại Glogowiec, một làng quê nằm giữa đất nước Ba Lan. Khi được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie lân cận, chị đã được nhận tên “Helena.” Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đạo hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân. Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm, và đến năm 14 tuổi, chị đã phải rời bỏ mái ấm gia đình để mưu kế sinh nhai, giúp đỡ cha mẹ bằng công việc phụ giúp việc nhà tại thành phố Aleksandrow và Lodz kế cận.
Khi mới lên bảy tuổi (hai năm trước khi rước lễ lần đầu), Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì. Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ, nhưng hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống trong tu viện. Trước hoàn cảnh như thế, Helena đã cố bóp nghẹt lời mời gọi trong tâm hồn. Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người: “Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?” (NK 9), Helena bắt đầu tìm cách để xin vào một tu viện. Chị đã gõ cửa không ít tu viện, nhưng không được nơi nào đón nhận. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, Helena đã được bước qua ngưỡng cửa của dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở phố Zytnia tại Warsaw. Trong Nhật Ký, chị có viết: “Dường như tôi đã bước vào cuộc sống thiên đàng. Một lời kinh đã trào dâng từ tâm hồn tôi, một lời kinh tạ ơn” (NK 17).
Tuy nhiên, vài tuần lễ sau đó, chị bị cám dỗ mãnh liệt, muốn chuyển sang một dòng khác để có nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện. Chính lúc ấy, Chúa Giêsu đã tỏ cho chị thấy các thương tích và thánh nhan tử nạn của Người và phán: “Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện. Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải một nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con” (NK 19).
Khi vào dòng, Helena được nhận tên Maria Faustina. Chị đã sống thời kỳ năm tập tại Cracow, và cũng tại đây, trước sự chứng kiến của đức giám mục Stanislaus Rospond, chị đã tuyên lời khấn tạm lần đầu, và năm năm sau, tuyên giữ trọn đời ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được cắt cử làm một số công tác tại các tu viện của dòng; hầu hết thời gian là ở Cracow, Plock, và Vilnius, với các công tác làm bếp, làm vườn, và coi cổng.
Tất cả những cái vẻ bên ngoài ấy không làm hiện lộ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina. Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng, trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương người chung quanh một cách vô vị lợi.
Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên lỉ cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn. Chị đã viết trong Nhật Ký, “Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế” (NK 1372).
Chính quyển Nhật Ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị. Những tư liệu này - nếu được đọc chăm chú - sẽ làm hiện lên một bức tranh diễn tả mối thân tình hợp nhất cao độ giữa linh hồn chị với Thiên Chúa: sự khắng khít lạ lùng giữa Thiên Chúa với linh hồn chị, cũng như những nỗ lực và chiến đấu của chị trên con đường hoàn thiện Kitô Giáo. Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác, và ơn quí trọng bậc nhiệm hôn. Tuy được hoan hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: “Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa... Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi hệ ở việc kết hợp mật thiết giữa ý chí tôi với ý chí Thiên Chúa” (NK 1107).
Nếp sống khổ hạnh và những lần chay tịnh đến kiệt sức ngay cả trước khi vào dòng của chị đã làm suy sụp yếu nhược thể trạng của chị, đến nỗi ngay trong thời gian thỉnh tu, chị đã được đưa đi Skolimow gần Warsaw để phục hồi sức khỏe. Gần cuối năm đầu tiên trong thời kỳ nhà tập, chị còn phải trải qua những kinh nghiệm thần bí đớn đau lạ thường của giai đoạn vẫn được gọi là đêm tối giác quan, và sau đó là các đau khổ tinh thần và luân lý liên quan đến việc hoàn thành sứ mạng mà chị được nhận lãnh từ Chúa Kitô. Thánh nữ Faustina đã hy hiến cuộc đời cho các tội nhân, vì thế, chị đã chịu đựng những khổ đau tư bề để trợ giúp các linh hồn. Trong những năm tháng cuối đời của chị thánh, các đau khổ nội tâm của cái gọi là đêm thụ động của linh hồn và những bệnh nạn phần xác càng trở nên dữ dội hơn nữa. Căn bệnh lao của chị lan dần, tấn công những lá phổi và phần ruột non. Vì vậy, hai lần chị đã phải trải qua nhiều tháng điều trị ở bệnh viện phố Pradnik tại Cracow.
Tuy kiệt quệ về thể lý, nhưng chị Faustina đã đạt đến mức trưởng thành sung mãn trong đời sống thiêng liêng. Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, sau 13 năm trong cuộc sống tu trì. Thi hài của chị được an nghỉ tại ngôi mộ chung trong nghĩa trang tu viện tại Cracow-Lagiewniki. Năm 1966, trong khi thủ tục điều tra tôn phong chân phúc đang được xúc tiến, thi hài nữ tu Faustina đã được cải táng vào nhà nguyện của tu viện.
Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới, Người đã phán với chị,
 “Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha” (NK 1588).
 “Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha. Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau” (NK 1605) …
 “Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ  tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha” (NK 1567)
(Nguồn :xuanha.net)

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

BÌNH AN


Mọi sự cứ bấn loạn cả lên, khi đột nhiên bà tức ngực! Ba chân bốn cẳng đưa vào bệnh viện khi trên phố chẳng còn một bóng xe. Rồi cơn đau tim của bà dần dần hạ xuống, để bà có thể nói chuyện với người đến thăm. Có ai đó nói xa nói gần về việc “đọc kinh kẻ liệt” cho bà. Cô con dâu ra dấu, ý là đừng để bà nghe thấy, vì có lẽ bà cũng như mọi người, đều sợ chết! Nhưng mặt bà thì thanh thản thấy rõ khi khách đến nhắc bà về hạnh phúc của gia đình bà mà chẳng ai trong xóm bì kịp: Một gia đình thành đạt và gắn bó. Nụ cười bà làm khuôn mặt mọi người bên giường như giãn ra. Vui mừng, thanh thản, và an bình…cho dù trong cái phòng săn sóc đặc biệt này, ngày nào chẳng có người ra đi vĩnh viễn, khiến bà và các con phải bủn rủn vì lo lắng. Khi người ta đưa người quá cố ra khỏi phòng ngang qua chỗ bà nằm, bà nhắm hẳn mắt lại. Chắc là bà đang lâm râm cầu nguyện cho kẻ qua đời có thể chẳng có tên thánh như bà và các con bà bên cạnh. Một mũi tiêm khiến bà dịu đi vào giấc ngủ lơ mơ. Khi tỉnh giấc, bà thấy thương những đứa con đang căng mắt trông mẹ. Tâm hồn bà an bình biết bao! Bà vẫy tay cho con gái út, đứa nghèo nhất nhà lại gần. Bà đưa cánh tay vướng víu những ống truyền dịch, ống này nọ… ôm lấy cô, dịu dàng:
_Cố lên con nhé!
Bà nói thế mà lòng bình yên! Bình yên như sau một tháng chồng bà qua đời trước đây, bà tin chắc rằng ông phải được Nước Trời, vì ông đã sống một cuộc đời trọn vẹn, thiết tha với mọi người…
Người con gái ấy hơi sụt sùi, vì cô cố giấu cái cảm giác sẽ xa mẹ ám ảnh cô từ cả tuần nay. Trái tim cô như vỡ tung vì những đau đớn lặng thầm ấy. Chồng cô khẽ bấu vai cô như nhắc nhở:
_Bình tĩnh lại đi, kẻo mẹ lại lo lắng…
Những nụ cười lại trở lại trên môi miệng gia đình ấy, cho dù chung quanh chẳng thiếu những tiếng khóc rưng rưng , những tiếng nấc nghẹn ngào, những tiếng thở dài khe khẽ…
Rồi có tiếng chuông điện thoại, con trai bà khe khẽ:
_A lô…
Bà nhìn anh dò hỏi. Anh nhìn bà rồi bịt hẳn micro:
_Ừ! Chiều tôi sẽ đem sang…
Bà thôi hẳn vẻ thắc mắc. Hơi nhăn nhó, anh lại nói, trong khi ngón tay cái của anh vẫn khéo léo bịt micro, để giọng anh tuy có vẻ run run nhưng tan vào khoảng không đang quay cuồng:
_Cám ơn nhé! Mẹ tôi đỡ nhiều rồi…
Hm! Thật ra, anh vừa nhận được tin dữ : Chị cả của anh mới bị xe đụng chết trên đường về thăm mẹ mình. Anh biết, nếu bà nghe tin ấy hẳn hồn sẽ lìa ngay khỏi xác! Vì thế, anh phải hết sức không để cho chân tay lẩy bẩy, không để cho giọng mình pha dù chỉ một tí xíu lắng lo, không để cho sự bất an trong lòng mình trào ra khắp căn phòng đầy nước mắt này. Anh chỉ muốn cho mẹ được an lòng, dù việc ấy khiến khuôn mặt anh bỗng như già đi hàng mươi tuổi!
Vậy mới thấy sự bình an cần thiết đến thế nào trong đời sống con người. Trong cơn đau đớn, trong sự ngờ vực, trong lúc mất niềm tin, sự bình an còn cần thiết gấp muôn vạn lần.
Thế nên, khi Đức Giê su từ cõi chết trỗi dậy, đến với các Tông Đồ đang hãi sợ, Ngài đã chẳng chào họ rằng “Bình an cho anh em!” sao?
Rồi sau đó, lại đến với các Tông Đồ, lần này có cả Tôma- kẻ bán tín bán nghi về việc Thầy mình đã sống lại- , Ngài cũng chào bằng lời chào nghe rất đỗi êm đềm và thân ái:
_Bình an cho anh em!
“ Bọn” loài người chúng ta có làm gì để bình an luôn ở trong tâm hồn mình không nhỉ?
                                                                                                                 LAM TRẦN 02.04.2016