Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

TÌM HIỂU THÁNH KINH

                                        
“Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô” (Thánh Giê-rô-ni-mô)

  

                                                                                                                                               

LỜI MỞ ĐẦU

Nhiều người nhận xét: người Tin lành rất thông thạo Thánh Kinh, còn người Công giáo hiểu biết rất ít về Thánh Kinh. Thật vậy, trong quá khứ chúng ta chú trọng nhiều vào giáo lý, giáo luật và phụng vụ hơn là Thánh Kinh. Nhưng điều đó đã hoàn toàn thay đổi từ sau công đồng chung Va-ti-ca-nô II. Hãy nhìn vào sự thay đổi trong Thánh Lễ mà chúng ta cử hành. Ngày nay, cơ cấu của Thánh Lễ có hai phần rõ rệt: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Sự thay đổi này là kết quả giáo huấn của công đồng trong hiến chế về mặc khải Dei Verbum:
"Hội Thánh luôn tôn kính Sách Thánh như chính Thân Thể Chúa. Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).
Lời Chúa và Thánh Thể là hai cách hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Lu-ca gợi cho chúng ta điều ấy trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau: Họ thấy lòng mình bừng cháy khi Chúa Giê-su nói với họ và giải nghĩa Sách Thánh cho họ trên đường, và họ nhận ra Người khi Người "cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ" (x. Lc 24:13-32).
Nói cho đúng, không phải ngày nay Hội Thánh mới ý thức tầm quan trọng của Kinh Thánh. Ngay từ đầu, Hội Thánh vẫn coi Thánh Kinh là một trong hai nguồn mặc khải chính, song song với Thánh Truyền, và đã rút ra từ hai nguồn mạch này tất cả những tín điều và giáo huấn về đức tin và luân lý. Tuy nhiên, việc trực tiếp với Thánh Kinh đã không được khuyến khích, vì sợ rằng sự hiểu biết sai lầm Lời Chúa có thể đưa đến những hậu quả tai hại trong đời sống đức tin của người tín hữu.
Ngày nay, một mặt Hội Thánh giao trọng trách cho các chủ chăn: "Các giám mục có phận sự dạy dỗ cách thích hợp cho các tín hữu đã được trao cho mình biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên là các sách Tin Mừng, nhờ các bản dịch. Các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Sách Thánh cách bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Sách Thánh" (MK 25). Mặt khác, Hội Thánh muốn trao Sách Thánh vào tay mỗi người tín hữu và cả những người ngoài Ki-tô giáo, bởi vì "cũng như đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể thì cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng sẽ có một đà tiến mới nhờ gia tăng lòng sùng kính Lời Chúa", là lời "hằng tồn tại muôn đời" (x. MK 25-26).

ĐỌC THÁNH KINH

1. Trong Phụng vụ và các buổi cầu nguyện

Các bài đọc được công bố trong các thánh lễ được chọn lựa để làm sao bao quát được tất cả những bài quan trọng trong Kinh Thánh. Chúng ta có chu kỳ năm A, năm B và năm C cho các ngày Chúa Nhật. Đồng thời có năm I (năm lẻ) và năm II (năm chẵn) cho ngày thường.

2. Đọc sách Kinh Thánh

Bản dịch:

không bản dịch nào hoàn hảo, muốn tương đối tốt cần phải:
- chính xác: dịch từ các bản gốc tiếng Do thái, Aramaic và Hy lạp
- hay về mặt văn chương

Các bản dịch tiếng Việt

Bản dịch của Nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh, xuất bản năm 1994 và 1998
Bản dịch của ĐHY Tụng (?)
Bản dịch của LM Nguyễn thế Thuấn, xuất bản năm 1976
Bản dịch của LM Nguyễn văn Vi

Các bản dịch tiếng Anh:

Revised Standard Version (RSV), 1952
Jerusalem Bible (JB), 1966
New American Bible (NAB), 1970
New English Bible (NEB), 1970
Ngày nay, bản dịch “công giáo” và “tin lành” không khác nhau mấy, vì cùng dựa vào những nghiên cứu đứng đắn của các chuyên gia kinh thánh. Tuy nhiên, danh mục – quy điển – các sách có thể khác nhau giữa công giáo và tin lành về số sách và thứ tự.

Quy điển (Canon)

Trong Hội Thánh, Chúa Giê-su đã trao cho các Tông Ðồ và các đấng kế vị quyền giáo huấn để "dạy người ta tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền" (x.Mt 28:20), và đã ban Thánh Thần cho các vị này để thi hành sứ mạng (x.Ga 20:21-22). Thánh Thần đã dùng các vị này để giúp cộng đoàn Hội Thánh dần dần xác định những sách nào là Sách Thánh. Vào thế kỷ IV Hội Thánh Công Giáo đã có những bản kê khai các sách được nhìn nhận là Sách Thánh: đó là quy điển, tức là những sách được Thánh Thần linh hứng và có giá trị để Hội Thánh quy chiếu vào đó mà biết những gì phải tin và những gì phải thực hành trong đời sống. Ngày nay Hội Thánh Công Giáo vẫn trân trọng tôn kính, giữ gìn và tuyên đọc Lời Chúa trong bộ Sách Thánh gồm phần Cựu Ước (46 cuốn ) và Tân Ước (27 cuốn).


Danh Mục Các Sách

CỰU ƯỚC
THE OLD TESTAMENT


A. Ngũ Kinh:
The Pentateuch:
Sáng Thế (St)
Genesis (Gn)
Xuất Hành (Xh)
Exodus (Ex)
Lê-vi (Lv)
Leviticus (Lv)
Dân Số (Ds)
Numbers (Nm)
Đệ Nhị Luật (Đnl)
Deuteronomy (Dt)


B. Sử và Truyện:
Historical books:
Giô-suê (Gs)
Joshua (Jos)
Thủ Lãnh (Tl)
Judges (Jgs)
Bà Rút (R)
Ruth (Ru)
Sa-mu-en 1&2 (Sm)
Samuel (Sm)
Các Vua 1&2 (V)
Kings (Kgs)
Sử biên niên 1&2 (Sb)
Chronicles (Chr)
Ét-ra (Er)
Ezra (Ezr)
Nơ-khe-mi-a (Nkm)
Nehemiah (Neh)
Tô-bi-a (Tb)
Tobit (Tb)
Giu-đi-tha (Gđt)
Judith (Jdt)
Ét-te (Et)
Esther (Est)
Ma-ca-bê 1&2 (Mcb)
Maccabees (Mc)


C. Thi Phú:
Wisdom books:
Gióp (G)
Job (Jb)
Thánh vịnh (Tv)
Psalms (Ps)
Châm ngôn (Cn)
Proverbs (Prv)
Giảng viên (Gv)
Ecclesiates (Eccl)
Diễm ca (Dc)
Songs  (Sg)
Khôn ngoan (Kn)
Wisdom (Wis)
Huấn ca (Hc)
Sirach (Sir)


D. Ngôn Sứ:
Prophetic books:
I-sai-a (Is)
Isaiah (Is)
Giê-rê-mi-a (Gr)
Jeremiah (Jer)
Ai ca (Ac)
Lamentations (Lam)
Ba-rúc (Br)
Baruch (Bar)
Ê-dê-ki-en (Ed)
Ezekiel (Ez)
Đa-ni-en (Đn)
Daniel (Dn)
Hô-sê (Hs)
Hosea (Hos)
Giô-en (Ge)
Joel (Jl)
A-mốt (Am)
Amos (Am)
Ô-va-đi-a (Ôv)
Obadiah (Ob)
Giô-na (Gn)
Jonah (Jon)
Mi-kha (Mk)
Micah (Mi)
Na-khum (Nk)
Nahum (Na)
Kha-ba-cúc (Kb)
Habakkuk (Hb)
Xô-phô-ni-a (Xp)
Zephaniah (Zep)
Khác-gai (Kg)
Haggai (Hg)
Da-ca-ri-a (Dcr)
Zechariah (Zec)
Ma-la-khi (Ml)
Malachi (Mal)




TÂN ƯỚC
NEW TESTAMENT


A. CÁC SÁCH TIN MỪNG
Gospels
Mát-thêu (Mt)
Matthew (Mt)
Mác-cô (Mc)
Mark (Mk)
Lu-ca (Lc)
Luke (Lk)
Gio-an (Ga)
John (Jn)


Công Vụ Tông Đồ (Cv)
Acts of the Apostles (Acts)


B. CÁC THƯ

Rô-ma (Rm)
Romans (Rom)
1 Cô-rin-tô (1 Cr)
1 Corinthians (1 Cor)
2 Cô-rin-tô (2 Cr)
2 Corinthians (2 Cor)
Ga-lát (Gl)
Galatians (Gal)
Ê-phê-xô (Ep)
Ephesians (Ep)
Phi-li-phê (Pl)
Philippians (Phil)
Cô-lô-xê (Cl)
Colossians (Col)
1 Thê-xa-lô-ni-ca (1 Tx)
1 Thessalonians (1 Thes)
2 Thê-xa-lô-ni-ca (2 Tx)
2 Thessalonians (2 Thes)
1 Ti-mô-thê (1 Tm)
1 Timothy (1 Tm)
2 Ti-mô-thê (2 Tm)
2 Timothy (2 Tm)
Ti-tô (Tt)
Titus (Ti)
Phi-lê-môn (Plm)
Philemon (Phlm)
Do-thái (Dt)
Hebrews (Heb)
Gia-cô-bê (Gc)
James (Jas)
1 Phê-rô (1 Pr)
1 Peter (1 Pt)
2 Phê-rô (2 Pr)
2 Peter (2 Pt)
1 Gio-an (1 Ga)
1 John (1 Jn)
2 Gio-an (2 Ga)
2 John (2 Jn)
3 Gio-an (3 Ga)
3 John (3 Jn)
Giu-đa (Gđ)
Jude (Jude)


Sách Khải Huyền (Kh)
Book of Revelations (Rv)



Sơ Lược Nội Dung Các Sách

CỰU ƯỚC
A. Ngũ Kinh (Pentateuch) còn gọi là Luật (Torah), gồm 5 quyển đầu tiên của Cựu Ước. Năm quyển này là nền tảng cho đời sống của dân Do Thái, đó là:
Sách Sáng thế (St) - Khởi nguyên - Genesis (Gn): gồm hai phần:
- Nguồn gốc của vũ trụ và con người, sự sa ngã và lời hứa cứu độ
- Các truyền thống về thủy tổ của dân Ít-ra-en và giải thích sự có mặt của họ trên đất Ai cập.
Sách Xuất hành (Xh) - Exodus (Ex): kể lại cuộc ra khỏi Ai cập như một kinh nghiệm về quyền năn giải thoát của Thiên Chúa; giao ước Xi-nai như một kinh nghiệm cộng đồng về sự gặp gỡ Thiên Chúa.
Sách Lê-vi (Lv) – Leviticus: chỉ dẫn các lễ nghi tế tự.
Sách Dân số (Ds) – Numbers: tiếp theo chuyện Xuất hành, kể về cuộc hành trình và đời sống của dân Ít-ra-en trong hoang địa trên đường về Đất Hứa.
Sách Đệ nhị luật (Đnl) - Thứ luật – Deuteronomy (Dt): bài diễn văn của ông Mô-sê trình bày lại Giao ước, răn đe và khuyến giục dân chúng.
B. Các sách Sử và Truyện
Sách Giô-suê (Gs) – Johsua: kể lại cuộc chinh phục đất Ca-na-an. Giô-suê nối tiếp sự nghiệp của Mô-sê, dẫn dân Ít-ra-en vượt qua sông Gio-đan, đánh chiếm toàn thể Đất Hứa, sau đó phân chia đất đai cho các chi tộc. Cuối cùng là đại hội toàn dân tại Si-khem.
Sách Thủ lãnh (Tl) – Thẩm phán – Judges: kể chuyện 12 vị anh hùng dân tộc Chúa dùng trong thời kỳ sau Giô-suê cho đến khi lập vương quốc.
Sách Rút (R) - Ruth: kể chuyện về lòng đạo đức hiếu thảo của một nàng dâu người xứ Mo-áp, sau trở thành bà cố nội của vua Đa-vít.
Sách 1 và 2 Sa-mu-en (1 Sm, 2 Sm): kể chuyện ông Sa-mu-en là vị Thủ lãnh cuối cùng và là thiết lập chế độ quân chủ theo yêu cầu của dân. Ông vua thứ nhất được tấn phong là Sa-un đã không trung thành với Chúa. Vua thứ hai là Đa-vít, người đã đưa nước Ít-ra-en tới thời hoàng kim.
Sách 1 và 2 các Vua (1 V, 2 V) – Kings: kể chuyện các vua từ Sa-lô-môn đến thời lưu đày. Sau vua Sa-lô-môn, vương quốc chia làm hai, phía bắc gọi là Ít-ra-en, phía nam gọi là Giu-đa. Hai bên kình địch nhau.
Sách 1 và 2 Sử biên niên (1 Sb, 2 Sb) – Ký sự – Chronicles: tác giả thuộc truyền thống tư tế, kể lại lịch sử các triều đại và đặc biệt tô điểm Đa-vít như hình ảnh vương quyền của Thiên Chúa.
Sách Ét-ra (Er) - Ezra và sách Nơ-khe-mi-a (Nkm) - Nehemiah: là hai vị lãnh đạo đã khôi phục Giê-ru-sa-lem, đền thờ, luật Mô-sê, việc phụng tự và sự trung thành với nòi giống.
Sách Tô-bi-a (Tb) – Tobit: nhằm đề cao đời sống đạo đức của những người trung thành giữ Luật Chúa, cầu nguyện và làm việc lành phúc đức, dầu sống xa Đất Hứa cũng được Chúa chúc phúc.
Sách Giu-đi-tha (Gđt) – Judith và Sách Ét-te (Et) – Esther: ca ngợi quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Chúa có thể dùng những phụ nữ yếu đuối để cứu cả dân.
Sách 1 và 2 Ma-ca-bê (1 Mcb, 2 Mcb): kể lại những cuộc nổi dậy của Giuđa Macabê, chống lại mưu đồ của các vua Hy lạp nhằm tiêu diệt đạo Do thái.
C. Các sách Thi phú
Còn gọi là các sách Khôn ngoan, trong đó gồm những suy tư về nhân sinh và giáo huấn luân lý.
Sách Gióp (G) – Job: là một vở kịch bằng thơ, chủ đề là ý nghĩa của sự đau khổ.
Sách Thánh Vịnh (Tv) – Psalms: là bộ sưu tập thánh ca, gồm 150 bài thơ tôn giáo, khoảng phân nửa được coi như của Đa-vít sáng tác. Người Do Thái, Chúa Giêsu và Giáo Hội công giáo dùng như kinh nguyện chính thức.
Sách Châm ngôn (Cn) – Cách ngôn – Proverbs: gồm nhiều bộ sưu tập lời của những người khôn ngoan.
Sách Giảng viên (Gv) – Ecclesiastes: suy tư khắc khoải về ý nghĩa của cuộc sống, về cái hư ảo của trần thế.
Sách Diễm ca (Dc) – Diệu ca - The Song of Songs: gồm 5 bài tình ca diễn tả mối tình giữa Chàng và Nàng, được coi như những bài ca ngợi tình yêu giữa Thiên Chúa và Dân Người.
Sách Khôn ngoan (Kn) – Wisdom: khuyến giục dân Do thái xa tránh những tập tục vô luân của thế giới ngoại giáo.
Sách Huấn ca (Hc) – Sirach: sưu tập những lời khôn ngoan đức hạnh.
D. Các sách Ngôn Sứ (prophet)
Ngôn sứ là các xướng ngôn viên của Thiên Chúa. Nhờ đời sống chiêm niệm, các Ngài hiểu được ý Chúa và lên tiếng nói với dân, vạch cho họ thấy những lỗi lầm, kêu gọi họ quay về với Giao Ước, loan báo hình phạt và ơn cứu độ. Các lời hứa cứu độ thường ám chỉ một Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu Kitô. Sau Ngũ Kinh thì các sách Ngôn Sứ là phần quan trọng nhất trong Cựu Ước. Có thể chia làm 2 nhóm: 4 ngôn sứ “lớn” và 12 ngôn sứ “nhỏ” (nói về độ lớn nhỏ của cuốn sách). Sau đây là các sách:
Sách I-sai-a (Is) – Isaiah: là cuốn lớn nhất, gồm ba phần:
- chương 1-39 gọi là I-sai-a đệ nhất, là vị ngôn sứ rao giảng ở xứ Giu-đa trong giai đoạn đen tối nhất lịch sử Israel, 742-687 thời kỳ vương quốc phía Bắc Israel bị tàn phá. Ông nhìn thấy vực thẳm đáng sợ giữa Thiên Chúa thánh thiện và con người tội lỗi.
- chương 40-55 gọi là I-sai-a đệ nhị, là một vị ngôn sứ thời lưu đày. Ông loan báo niềm hy vọng cứu độ và sứ mạng mới của Dân Chúa. Ông nói về ”nhóm nhỏ” gồm những người khiêm nhường, 4 bài hát về ”Người tôi tớ Giavê”, Messiah là Đấng được xức dầu.
- chương 56-66 gọi là I-sai-a đệ tam, có lẽ là sưu tập của nhiều ngôn sứ sau thời lưu đày, nhằm củng cố niềm tin của cộng đồng Do thái hồi hương.
Sách Giê-rê-mi-a (Gr) – Jeremiah: chép lời rao giảng và tiểu sử của Giê-rê-mi-a. Ông hoạt động vào thời kỳ vương quốc miền nam là Giu-đa sắp bị diệt vong. Ông chứng kiến cảnh Giê-ru-sa-lem bị thất thủ, vua quan tư tế và dân chúng bị lưu đầy sang Ba-by-lon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của thời đại, nhưng ông vẫn nói lên niềm hy vọng vào cuộc chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa.
Sách Ai ca (Ac) – Lamentations: gồm ba bài theo thể “điếu tang”, đọc vào dịp lễ kỷ niệm đền thờ bị phá hủy. Ngày nay Hội Thánh đọc sách này trong Tuần Thánh.
Sách Ba-rúc (Br) – Baruch: nói về đời sống tôn giáo của người Do thái ở hải ngoại và ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
Sách Ê-dê-ki-en (Ed) – Ezekiel: ông thuộc hàng tư tế, bị lưu đầy ở Ba-by-lon. Rao giảng của ông nhằm giúp những người lưu đày hiểu biết về hiện tại của mình và giữ vững niềm hy vọng ở tương lai.
Sách Đa-ni-en (Đn) – Daniel: thuộc thể văn “khải huyền”, nhằm an ủi khích lệ Dân Chúa giữ vững niềm tin trong cơn thử thách.
Sách Hô-sê (Hs) – Hosea: chép lời rao giảng và cuộc đời của Hô-sê. Ông cưới một người vợ là gái làng chơi tên Gomer. Gomer “ngựa quen đường cũ”, nhưng Hô-sê lại tìm về. Ông sống nỗi bi đát của tình vợ chồng bị phản bội để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa bị phản bội.
Sách Giô-en (Ge) – Joel: mô tả tai họa và công bố lời hứa giải thoát. Lời hứa tuôn đổ Thần Khí được ứng dụng vào biến cố Ngũ Tuần.
Sách A-mốt (Am) – Amos: là một người chăn chiên. Ông giải thích ”Ngày của Chúa” như ngày phán xét những kẻ kiêu hãnh.
Sách Ô-va-đi-a (Ôv) – Obadiah: ngắn nhất và không rõ nguồn gốc. Sách đề cao sự công thẳng khủng khiếp của Thiên Chúa.
Sách Giô-na (Gn) – Jonah: là một câu chuyện nhằm đề cao một quan niệm phổ quát về ơn cứu độ.
Sách Mi-kha (Mk) – Micah: loan báo hình phạt và lời hứa cứu độ.
Sách Na-khum (Nk) – Nahum: lời sấm về sự trừng phạt đế quốc Át-sua và loan báo ơn cứu độ cho Giu-đa.
Sách Kha-ba-cúc (Kb) – Habakkuk: chất vấn Chúa vì Chúa để cho dân hung ác đe dọa Dân Chúa, và Chúa trả lời: “Người công chính sẽ được sống nhờ lòng trung tín”.
Sách Xô-phô-ni-a (Xp) – Zephaniah: loan báo “Ngày của Gia-vê”, một thảm nạn đổ ụp xuống trên mọi dân tộc, cảm hứng cho bài “Dies irae” hát trong lễ mồ.
Sách Khác-gai (Kg) – Haggai: cổ võ việc xây lại đền thờ sau thời lưu đày.
Sách Da-ca-ri-a (Dcr) – Zechariah: gồm hai phần: chương 1-8 thuộc thời kỳ tái thiết và phục hưng; chương 9-14 giáo huấn về Đấng Mê-si-a.
Sách Ma-la-khi (Ml) – Malachi: sau khi đền thờ được xây lại năm 515, kêu gọi thanh tẩy mọi tội lỗi để thờ phượng Chúa.
TÂN ƯỚC
Ghi lại lời chứng của các Tông Đồ về mầu nhiệm Chúa Kitô. Gồm 27 quyển chia làm:
A. Các sách Tin Mừng – Phúc Âm – Gospels là: Mát-thêu (Mt), Mác-cô (Mc), Lu- ca (Lc) và Gio-an (Ga): tường thuật về cuộc đời Chúa Giêsu.
Sách Công Vụ các Tông đồ (Cv): có thể gọi là phần II của sách Lu-ca. Tường thuật về hoạt động của các tông đồ, đặc biệt là Phê-rô và Phao-lô.
B. Các thư của các tông đồ, gồm có:
- 13 thư của thánh Phao-lô gởi cho các cộng đoàn và các cá nhân là: thư Rôma (Rm), thư 1 và 2 Cô-rin-tô (1 Cr, 2 Cr), thư Ga-lát (Gl), thư Ê-phê-xô (Ep), thư Phi-líp-phê (Pl), thư Cô-lô-xê (Cl), thư 1 và 2 Thê-xa-lô-ni-ca (1 Tx, 2 Tx), thư 1 và 2 Ti-mô-thê (1 Tm, 2 Tm), thư Ti-tô (Tt), thư Phi-lê-môn (Plm)
- 1 thư gởi cho “tín hữu Do thái”: thư Do thái (Dt)
- 7 thư chung (catholic letters) là: thư Gia-cô-bê (Gc), thư 1 và 2 Phê-rô (1 Pr, 2 Pr), thư 1, 2 và 3 Gio-an (1 Ga, 2 Ga, 3 Ga), thư Giu-đa (Gđ).
C. Sách Khải huyền (Kh) - Apocalypse hay Revelation: viết theo thể văn “khải huyền”, nhằm khích lệ các Kitô-hữu đang trải qua những cơn bách hại khốc liệt vào cuối thế kỷ thứ nhất.

Đọc theo thứ tự nào?

Không cần phải đọc từ đầu đến cuối như đọc một quyển truyện, vì sách không viết theo thứ tự. Nhiều đề nghị khác nhau:
- Theo George Martin, Reading Scripture as the Word of God: có thể bắt đầu bằng 2 quyển của Luca, hoặc bắt đầu với Mác-cô, sau đó đọc Tê-sa-lô-ni-ca và Cô-rin-tô. Tiếp theo là Gioan, thư Roma và thư Ga-lát. Sau cùng mới đọc Khải huyền cùng với những giải thích đúng đắn. Cựu Ước thì bắt đầu với Xuất hành, Giô-sua, Thẩm phán, hai sách Sa-mu-ên, hai sách các Vua.
- Theo Raymond E. Brown, Responses to 101 Questions on the Bible: Từ Sáng thế ký tới phần đầu sách Xuất hành, rồi một phần của sách Thẩm phán, Sa-mu-ên, các Vua, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a, 1 Ma-ca-bê. Những phần đó cho một cái nhìn về toàn bộ lịch sử dân Ít-ra-ên. Sau đó chọn lựa trong các sách ngôn sứ và khôn ngoan để hiểu phần nào những suy tư của dân Chúa. Các thánh vịnh là những lời nguyện tuyệt vời để dâng lên Chúa. Với Tân Ước thì bắt đầu bằng Mác-cô và Gio-an, rồi Công vụ, một vài thư của Phao-lô (như 1 Cô-rin-tô, Phi-lip-phê), 1 Phê-rô.

Các chỉ dẫn cần thiết

Dẫn nhập (introductions): Là nghiên cứu của các học giả, giúp người đọc dễ hiểu về bối cảnh của các sách Kinh Thánh.
Chú thích (notes): Cắt nghĩa những tiếng tối nghĩa trong bản văn.
Chú giải (commentaries): Có nhiều loại, từ đơn giản đến đầy đủ chi tiết (exhaustive verse-by-verse). Thông dụng nhất đối với người công giáo là quyển The Jerome Biblical Commentary.

Cách tham khảo

Để dễ tham khảo, các học giả đã nghĩ ra cách phân thành câu (verse) và đoạn (chapter). Thí dụ:
Mt 2:1-7 là sách Mát-thêu đoạn 2 từ câu 1 đến câu 7.
Rm 9:30-10:21 là thư Rô-ma từ đoạn 9 câu 30 đến đoạn 10 câu 21
1 Cr 15:3-8,11 là thư 1 Cô-rin-tô đoạn 15 từ câu 3 đến câu 8 và câu 11
Có sách viết theo kiểu khác: Mt 2,1-7 và Rm 9,30-10, 21 và 1 Cr 15,3-8.11

HIỂU THÁNH KINH

Làm sao hiểu được Thánh Kinh? Có lẽ đó là sự băn khoăn và mong đợi của mọi người khi cầm lên cuốn Thánh Kinh. Chúa muốn nói gì đây? Ý nghĩa của đoạn văn này thế nào? Có những chữ thật tối nghĩa. Cũng có những đoạn văn sáng sủa, đọc là hiểu ngay, nhưng hình như còn có ý nghĩa khác cao xa hơn. Sợ nhất là hiểu sai Lời Chúa, vì “sai một li đi một dặm”. Hơn nữa, việc này ảnh hưởng đến ơn cứu độ và sự sống đời đời.
Thật ra không ai trên đời này có thể hiểu thấu Lời Chúa. Thiên Chúa là huyền nhiệm. Do tình yêu tuyệt vời, Thiên Chúa đã hé lộ cho chúng ta qua Lời của Ngài con đường đưa đến ơn cứu độ, và đã ban Thần Khí của Ngài giúp chúng ta có khả năng đón nhận. Tuyệt diệu của Lời Chúa ở chỗ vừa soi sáng dẫn dắt, vừa thăm thẳm không cùng. Vì thế chúng ta không thể nói mình đã hiểu thấu hoặc đã nắm được toàn bộ chân lý. Chỉ có thể nói, nên tiếp cận với Lời Chúa thế nào để lãnh nhận ơn Chúa.

1. Hai yếu tố cần thiết để hiểu Thánh Kinh:

a) Lòng khiêm nhường và tin yêu.

“Lạy Cha là Chúa Tể càn khôn, con cảm tạ Cha vì đã giấu không cho những người thông thái và khôn ngoan biết những điều ấy, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn.” (?) “Kẻ bé mọn”, tức là kẻ có lòng khiêm nhường và tin yêu. Công đồng Va-ti-ca-nô II: “Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần.” (MK 12:3)

b) Học hỏi.

Đọc Cv 8:27-31
Chúa Thánh Thần dùng Phi-lip-phê giải thích Kinh Thánh cho hoạn quan người Ê-ti-ô-pi-a. Ông quan này rất có lòng thành (ngồi xe vất vả), thông thái (đọc được tiếng Hy lạp và Do thái, biết kính sợ Chúa (đi hành hương Giê-ru-sa-lem) và tin vào Thiên Chúa của người Do thái. Nhưng dầu vậy ông vẫn không hiểu được Kinh Thánh. Chúa không dùng phép lạ chiếu một luồng ánh sáng vào tâm trí viên quan đó, nhưng đã dùng Phi-lip-phê, một con người, một phương tiện “tự nhiên” bình thường để giúp viên quan đó hiểu Lời Chúa. Câu chuyện này minh chứng tầm quan trọng của việc học hỏi Lời Chúa.

2. Những nghĩa được dùng trong Thánh Kinh:

“Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Thánh Kinh: nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng.” (GL 115)

a) Nghĩa văn tự: (GL 116)

“Nghĩa văn tự là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những quy luật để giải nghĩa đúng. Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự.”
Như vậy, trước hết và quan trọng hơn hết, ta phải hiểu rõ nghĩa văn tự, tức là phải hiểu rõ điều các thánh ký có ý muốn nói.

b) Nghĩa thiêng liêng: (Gl 117)

Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến đều có thể là dấu chỉ của thực tại thiêng liêng.
          - Nghĩa ẩn dụ (allegorical): để hiểu thấu đáo ý nghĩa của các biến cố, phải đối chiếu với mầu nhiệm Chúa Kitô. Thí dụ: cuộc vượt qua biển Đỏ của dân Israel là tiền trưng cuộc vượt qua của Chúa Kitô, do đó soi sáng chúng ta sống thực tại thiêng liêng mà chúng ta cử hành trong bí tích Thánh Tẩy.
          - Nghĩa luân lý (moral): các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực hơn.
          - Nghĩa thần bí (anagogical – dẫn tới): chúng ta có thể hiểu các thực tại và biến cố được đề cập trong Kinh Thánh như những dấu chỉ dẫn chúng ta đến thực tại vĩnh cửu trên trời.
Để giúp chúng ta giải thích đúng đắn các nghĩa thiêng liêng của Kinh Thánh, công đồng Va-ti-ca-nô II đã nói: “vì Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần” (MK 12:3) và đưa ra ba tiêu chuẩn sau đây:
1.     Trước hết, phải hết sức chú ý đến “nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh”. Toàn bộ chương trình cứu rỗi mà Thiên Chúa mặc khải trong Thánh Kinh đều quy tụ về Chúa Kitô là trung tâm điểm và được mở rộng từ cuộc Vượt Qua của Người.
2.     Kế đến, phải đọc Thánh Kinh trong “Truyền Thống sống động của toàn thể Hội Thánh”. Theo các thánh Giáo Phụ, Thánh Kinh phải được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Thánh Kinh. Thật vậy, vì Hội Thánh giữ trong truyền thống sống động của mình ký ức về Lời Chúa.
3.     Phải lưu ý đến “tính loại suy đức tin”, tức là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lý đức tin với nhau trong toàn bộ chương trình mặc khải.
Tuy nhiên, nền tảng để suy diễn và nhận biết mặc khải của Chúa trong các nghĩa thiêng liêng đều phát xuất từ nghĩa văn tự. Nghĩa văn tự (literal sense) là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những quy luật để giải nghĩa đúng. Nói cách khác, nghĩa văn tự là ý mà thánh ký muốn nói khi viết ra những lời lẽ đó. Đây chính là trọng điểm của khoa Kinh Thánh đương thời.

NGHĨA VĂN TỰ TRONG THÁNH KINH

Nhiều người nêu ra những thắc mắc như: Kinh Thánh nói Chúa tạo dựng trong 6 ngày, vậy mỗi ngày có phải là 24 giờ không? Ông Gio-na trong bụng cá 3 ngày, khi nó nhả ra ông có khỏe mạnh không? Ngôi sao lạ hiện ra ở phương đông là sao gì, xuất hiện vào năm nào?...
Những thắc mắc trên phát xuất từ quan niệm chung của mọi người về Kinh Thánh. Quan niệm này cho rằng:
-                           mọi lời trong Kinh Thánh đều do ơn linh hứng, do đó phải cắt nghĩa theo sát chữ (literally), còn gọi là theo nghĩa đen.
-                           mọi điều nói trong Kinh Thánh đều mang tính chất lịch sử, nghĩa là xảy ra đúng như Kinh Thánh mô tả.
Nhưng có phải mọi điều trong Kinh Thánh đều có tính chất lịch sử không? Như vậy làm sao dung hòa với khoa sử học, với khoa vũ trụ học, với khoa nhân chủng học? Có nhiều cố gắng không thành trong giới học giả. Hậu quả: một là cố chấp về một phía, nhận Kinh Thánh thì chối bỏ khoa học hoặc ngược lại. Hai là để qua một bên những điểm gây mâu thuẫn bất đồng, chỉ đọc những phần nào xem ra hợp tình hợp lý. Thái độ tránh né này làm giảm giá trị và sức mạnh của Lời Chúa khiến mất đi phương tiện căn bản làm giàu đời sống đức tin của người Kitô-hữu. Thật ra vấn đề không phải là Kinh Thánh đúng hay khoa học đúng. Vấn đề ở chỗ chúng ta có hiểu đúng Kinh Thánh hay không.
Giải thích theo sát chữ, đúng hay sai? Chúng ta phải phân biệt giữa điều Kinh Thánh muốn nói và điều mà chúng ta tưởng rằng Kinh Thánh muốn nói. Khi đọc một đoạn văn, chúng ta dựa vào tất cả những kiến thức mình đã thâu thập được từ trước để hiểu đoạn văn đó. Những kiến thức của chúng ta đóng khung trong thời gian, không gian, ngôn ngữ và văn hóa cũng như kinh nghiệm riêng của mình. Khi gặp một điều gì thuộc một nền văn hóa, ngôn ngữ, không gian và thời gian khác, chúng ta đặt mình trong khung cảnh đó mới hiểu đúng được. Một vài thí dụ: dog meat; cool!; jokes;…

Những diễn biến trong khoa chú giải Thánh Kinh

Mãi cho tới thế kỷ 17, mọi người đều hiểu Thánh Kinh theo sát chữ và đều tin rằng mọi điều nói trong Thánh Kinh đều có tính chất lịch sử. Và vì Thánh Kinh là chân lý, nên ai dám nói ngược lại hoặc nói khác đi điều nào trong đó thì đều bị coi là lạc đạo. Trường hợp nhà bác học Ga-li-lê-ô (1564-1642).
Khoảng cuối thế kỷ 17, một linh mục học giả người Pháp tên là Richard Simon đã thử đọc Thánh Kinh theo một lối khác, nghĩa là đọc như sách thường. Ông dùng phương pháp mà ngày nay chúng ta gọi là phê bình lịch sử và chỉ cho thấy ông Mô-sê không phải là tác giả của toàn bộ Ngũ Kinh như người ta vẫn tin. Sau đó ông nêu ra nhiều dị biệt giữa những tường thuật về việc tạo dựng và về lịch sử của dân Israel và xác định được 4 truyền thống là nguồn soạn ra Ngũ Kinh. Khoảng cuối thế kỷ 18, những dị biệt giữa các sách Tin Mừng đã khiến các học giả nhận ra một khoảng cách giữa chân dung của Chúa Giêsu Kitô trong Kinh Thánh và con người lịch sử mang tên là Giêsu. Những khám phá này đã gây tranh luận sôi nổi giữa các học giả và trong các giáo hội Kitô-giáo. Hai khuynh hướng cực đoan chính có thể kể ra:
1) Tân thuyết (modernism): những khám phá mới cho thấy có nhiều sai lầm về mặt lịch sử và khoa học trong Thánh Kinh, vì thế những người theo tân thuyết còn gọi là duy lý (rationalism) cho rằng Thánh Kinh chỉ là một truyện thần thoại, người viết bịa đặt ra để dạy đời.
2) Duy Bản thuyết (fundamentalism): đối lại với tân thuyết, một trào lưu trong nhiều giáo phái Tin Lành đề cao quyền tối thượng của Thánh Kinh, chống lại các học giả. Những người duy bản chủ nghĩa giải thích Thánh Kinh hoàn toàn theo sát chữ.

Thái độ của Giáo Quyền

Dĩ nhiên, giáo quyền Công Giáo hết sức thận trọng trong vấn đề này, vì nó liên quan đến nguồn mặc khải là chính nền tảng của đức tin. Những câu hỏi được đặt ra như: phương pháp mới này có chính xác về mặt khoa học không? Nghiên cứu Lời Chúa mà dùng phương pháp của loài người thì có đúng không? Tuy nhiên, trước những khám phá càng ngày càng nhiều và không thể chối cải được của giới học giả, giáo quyền đã chính thức lên tiếng và dè dặt bày tỏ lập trường:
Năm 1893, Đức Thánh Cha Lê-ô XIII trong thông điệp Providentissimus Deus cho phép các học giả nghiên cứu Thánh Kinh bằng những phương tiện khoa học hiện đại, nhưng cảnh cáo họ về sự nguy hiểm của khoa học, đồng thời nhấn mạnh về tính chất “không thể sai lầm” của Thánh Kinh.
Năm 1902, Ủy Ban Thánh Kinh Giáo Hoàng (Pontifical Biblical Commission) đã được thành lập gồm nhiều chuyên gia quốc tế về Thánh Kinh, mục đích đẩy mạnh việc nghiên cứu dưới sự giám sát chặt chẽ của giáo quyền. Ủy Ban này vẫn còn hoạt động cho tới ngày nay.
Năm 1943, Đức Thánh Cha Piô XII trong thông điệp Divino Afflante Spiritu đã bước một bước căn bản, giúp Giáo Hội Công Giáo thoát ra khỏi phương pháp giải thích Thánh Kinh hoàn toàn theo sát chữ. Thông điệp này đề cao tầm quan trọng của phương pháp mới. Ngài khẳng định tính chất không sai lầm của Thánh Kinh trong phương diện đức tin và luân lý, đồng thời cũng tôn trọng chiều kích nhân loại của Lời Chúa. Thông điệp này hàm ý: không phải mọi điều trong Thánh Kinh đều có tính chất lịch sử theo nghĩa ngày nay chúng ta hiểu khi nói về chữ "lịch sử".
Năm 1965, công đồng chung Vaticanô II trong hiến chế tín lý về mạc khải Dei Verbum, đã đặt nền cho lề lối giải thích Thánh Kinh của Giáo Hội ngày nay.
“Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ loài người và dùng cách nói của loài người[1] mà phán dạy, nên để thấy rõ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, người giải thích Thánh Kinh phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh sử thật sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ.” (DV 12:1)
“Để tìm ra chủ ý của thánh sử, cần phải xét đến thời đại và văn hóa của họ, các “thể văn” thông dụng thời bấy giờ, cách thức cảm nghĩ, diễn tả, và tường thuật thịnh hành trong thời của họ, vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi ca… hoặc những thể loại khác.” (DV 12:2)
Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo đã trích dẫn tài liệu căn bản này và dạy chúng ta những nguyên tắc phải dựa vào đó để giải thích Thánh Kinh. Những nguyên tắc này dựa vào một phương pháp gọi là Phê Bình Lịch Sử (historical-critical approach).

Phương Pháp Phê Bình Lịch Sử

Chữ phê bình thường bị hiểu một cách tiêu cực, là chỉ ra những sai lầm khuyết điểm. Nhưng chữ phê bình cách chung, đặc biệt là trong trường hợp của Kinh Thánh, là suy xét và phân tích những khía cạnh khác nhau của bản văn. Đối với Kinh Thánh, phê bình lịch sử (historical criticism) là cách thức được các học giả sử dụng nhiều nhất. Đó là việc tìm hiểu về tác giả (bối cảnh, mục đích), về hoàn cảnh sáng tác (vấn đề mà tác giả đang phải đối diện), về người nghe hay người đọc (họ ở đâu, đang gặp vấn đề gì, họ đã hiểu được những gì). Cũng phải nhận định thể văn mà tác giả dùng. Nói tóm lại, phê bình lịch sử là đặt những câu hỏi đối với bản văn Kinh Thánh như đặt câu hỏi đối với bất cứ quyển sách thường nào khác, nhằm khám phá ra sứ điệp của bản văn đó. Tác giả thật sự có ý muốn nói gì? Biết được điều tác giả muốn nói, chúng ta mới nghiệm ra được điều Thiên Chúa muốn mặc khải cho chúng ta. Trước hết, chúng ta hãy xét đến văn thể.

Phê Bình Văn Thể (literary form criticism)

Mở một tờ báo hằng ngày, chúng ta thấy các bài viết dùng nhiều văn thể khác nhau. Có những bài tường thuật (report), nghị luận (editorial), tiểu thuyết (fiction), thi ca (poem), trào phúng (satire), quảng cáo… Thi ca thì chú trọng đến âm điệu, từ ngữ tượng thanh tượng hình, diễn tả những cảm xúc nội tâm, nhằm đánh động lòng người, không cần đúng sự thật. Người đọc thơ phải biết những điều đó thì mới thưởng thức được bài thơ. Nếu đọc thơ mà thắc mắc không biết điều tác giả nói có chính xác về mặt khoa học không là thắc mắc sai chỗ rồi. Bài tường thuật thì phải đúng sự thật lịch sử khách quan. Bài nghị luận thì chủ quan vì muốn nói lên lập trường của người viết. Mỗi thể văn đều có những hình thức, nội dung và mục đích khác nhau. Nói tóm lại, cần phải nhận ra văn thể thì mới giải thích đúng điều mà tác giả muốn nói.
Các sách trong Thánh Kinh dùng đủ loại văn thể khác nhau. Thật ra Thánh Kinh không phải là một cuốn sách gồm nhiều tập, nhưng phải gọi là một thư viện (library) gồm nhiều cuốn sách thuộc nhiều thể văn khác nhau. Ngay trong mỗi cuốn sách, nhiều khi các phần cũng được viết bằng những thể văn khác nhau. Một số văn thể chúng ta có thể gặp thấy trong các sách Thánh Kinh là:
huyền thoại (myth)
thi ca (poem)
truyền kỳ (legend)
tiểu sử (biography)
tranh luận (debate)
nghị luận (editorial)
truyện (fiction)
lời chúc (blessing)
bài ca (songs)
lời rủa (curse)
dụ ngôn (parables)
ngụ ngôn (fable)
phép lạ (miracles)
châm ngôn (proverb)
ẩn dụ (allegory)
lời sấm (oracle)
thư tín (letters)
tường thuật (narrative)
khải huyền (revelation)
thánh ca (hymns)
và nhiều nữa…
Chúng ta hãy thử tìm hiểu một vài loại văn.

Dụ Ngôn (parable)

Dụ ngôn là loại văn rất quen thuộc đối với chúng ta, vì có rất nhiều trong các sách Tin Mừng. Trong Cựu Ước cũng có, hãy lấy một làm thí dụ.
Thí dụ 1: Nathan và Đa-vít. Đọc 2 Samuel 12:1-4
Đa-vít bị câu chuyện dẫn dụ, lên tiếng kết án người nhà giàu đã bắt con bê con của người nghèo. “Vua Đa-vít đùng đùng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than: ‘Có Đức Chúa hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết!...’ Na-than nói: ‘Kẻ đó chính là Ngài!’” Tuyệt diệu ở chỗ Đa-vít tự kết án mình mà không biết. Chừng biết mới thấy thấm.
Chữ dụ ngôn có nghĩa là so sánh. Đó là một câu chuyện ngắn, người kể dùng những hình ảnh quen thuộc trong thiên nhiên hoặc trong đời sống thường ngày. Yếu tố đặc biệt của dụ ngôn là gây kinh ngạc và thắc mắc cho người nghe. Người nghe bị shocked vì tình tiết trái với lẽ thường, nên hết sức để ý đến câu chuyện. Muốn hiểu người nghe bị shocked như thế nào, cần phải đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử của người đương thời: người nghe là ai? câu chuyện này nói với họ trong hoàn cảnh nào? Yếu tố đặc biệt nhất của dụ ngôn là không có kết luận. Câu chuyện dừng lại ở ngay điểm người kể muốn nói để cho người nghe suy nghĩ và tự rút ra kết luận, không phải cho câu chuyện mà cho chính mình, vì người kể muốn giúp họ biến cải trong ánh sáng mới.
Nói tóm lại, dụ ngôn có những đặc điểm sau đây:
1.     so sánh
2.     dùng những hình ảnh quen thuộc trong thiên nhiên và đời sống thường ngày
3.     gây kinh ngạc, thắc mắc (shock) cho người nghe
4.     không kết luận, để người nghe tự kết luận, vì muốn giúp họ biến cải.
Thí dụ 2: Khách dự tiệc. Đọc Lc 14:7-11
Tại sao Luca nói: “Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này…” Có vẻ như Chúa Giêsu có ý khuyên: ai muốn chọn cỗ nhất thì trước hết hãy ngồi xuống chỗ cuối. Luca muốn chúng ta đừng hiểu lầm nên đã nhấn mạnh: đây không phải là một lời khuyên – tức là một lời nói thẳng, mà là một dụ ngôn – tức là một câu chuyện kể ra với mục đích chỉ trích nhằm sửa sai. Ngày nay chúng ta không hiểu hoàn cảnh lịch sử và lối sử dụng dụ ngôn nên bị lúng túng tự hỏi: “không lẽ Chúa dạy khiêm nhường kiểu đó?” Hãy để ý đến câu mở đầu của thánh sử. Chúa Giêsu muốn nói cho những người “khách dự tiệc muốn chọn cỗ nhất mà ngồi”, thực tế là mọi người thời bấy giờ. Họ chú ý nghe, tưởng đâu mình được khen. Nghe xong mới thấy mình bị “xỏ”. Lúc đó mới thấm đòn.
Vậy nếu biết đó là một dụ ngôn và hiểu hoàn cảnh lịch sử, chúng ta sẽ thấy ý của Chúa Giêsu muốn nói là: tất cả quý vị đều hám danh; nhưng người dại thì hám danh một cách một cách dại dột, còn người khôn thì hám danh một cách khôn khéo. Luca rất khéo tạo ra cái âm hưởng chế nhạo trong lời khuyên răn nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của Chúa Giêsu.
Thí dụ 3: Người con hoang đàng. Đọc Lc 15:1-3,11-32
Tên của dụ ngôn này không phải thuộc bản văn linh hứng, mà do người sau thêm vào cho dễ hiểu dễ nhớ, nhưng đồng thời dẫn người đọc đi xa ý của tác giả. Hãy chú ý tới hai câu mở đầu 15:1-3 nói về sự bất mãn của các Pha-ri-sêu và kinh sư khi thấy Chúa Giêsu đi lại và ăn uống với những người tội lỗi. Chúa Giêsu kể dụ ngôn này cho họ. Họ là những người tự cho mình là công chính, như người con cả trong câu chuyện. Chúng ta có thể hình dung Chúa Giêsu đang nói với họ: các bạn không muốn ăn uống với người tội lỗi và không muốn đi lại với họ ư? Hãy suy nghĩ lại đi, chính các bạn cũng có trách nhiệm trong tội lỗi của họ mà (người con cả không nói gì khi người cha chia gia tài và để người con thứ bán gia tài ấy). Hơn nữa, các bạn nghĩ rằng các bạn biết Chúa ư? Chưa chắc đâu! Thật ra, lòng nhân hậu và thương xót của Chúa vượt xa tất cả những gì các bạn biết về Ngài, vượt khỏi mức độ hợp lý bình thường, giống như người Cha “dại dột không biết xấu hổ” kia. Các bạn chưa biết Chúa đủ đâu. Đừng quá cố chấp. Hãy thay đổi đi!

Huyền Thoại (myth)

Ngày nay, người ta thường dùng chữ myth khi nói về một cái gì trước kia người ta tưởng đúng, bây giờ khi sự thật bị lột trần mới biết là hoàn toàn bịa đặt.Thể văn huyền thoại (myth as a literary form) có nghĩa khác. Huyền thoại là một câu chuyện tưởng tượng dùng những biểu tượng để diễn tả một thực tại vượt quá tầm hiểu biết của loài người (a myth is an imaginative story that uses symbols to speak about reality, but a reality that is beyond a person’s comprehension). Những câu chuyện về sự sáng tạo trong các nền văn hóa đều dùng thể văn này. Việt Nam có những chuyện như “con rồng cháu tiên”, “một mẹ trăm con” là những huyền thoại. Trong Thánh Kinh có truyện tạo dựng vũ trụ và loài người.
Dân tộc nào cũng suy tư về nguồn gốc của mình. Họ biết mình hiện hữu. Và họ tự hỏi: mình từ đâu đến? mình khởi đầu như thế nào? Không ai chứng kiến và cũng không có sử liệu nào ghi lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Nó thuộc về tiền sử. Nhưng người ta biết chắc phải có cái lúc ấy. Nếu không có lúc ấy thì không có hôm nay. Huyền thoại được xây dựng để diễn tả cái thực tại vượt quá tầm hiểu biết ấy. Chất liệu tạo hình là những hình ảnh, những kinh nghiệm, những tin tưởng, những ước vọng, những suy tư của cả một truyền thống dân tộc. Có thể gọi huyền thoại là Kinh, là Tuyên ngôn của dân tộc. Trong trường hợp Kinh Thánh, huyền thoại về tạo dựng tuyên xưng niềm tin của dân Israel vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa.

Huyền thoại về nguồn gốc vũ trụ

Xem Sáng thế ký 1:1-2:4a.
Trong câu chuyện này, tác giả dùng những kiến thức khoa học của người đương thời về vũ trụ. Bầu trời như chiếc lồng bàn úp trên cái mâm là đất. Dưới đất là thế giới của người chết. Mặt đất được chiếu sáng bằng hai ngọn đèn lớn là mặt trời và mặt trăng. Các vì sao là những trang điểm của bầu trời. Trên bầu trời có những cánh cổng lúc mở lúc đóng, mở thì mưa đóng thì hạn hán.

Thứ tự các ngày trong truyện là:
3 ngày phân tách:
3 ngày cư trú:
1. ánh sáng / bóng tối
2. mặt trời, mặt trăng, ngôi sao
3. nước phía trên / nước phía dưới
4. chim / cá
5. nước / đất khô
6. thú vật, cây cối, loài người
7. Chúa nghỉ ngơi
Theo các học giả, đoạn văn này được thành hình vào khoảng năm 450 B.C. sau thời kỳ lưu đày bên Babylon. Huyền thoại về nguồn gốc vũ trụ của dân Babylon đã khiến dân Israel phải tuyên xưng niềm tin chân chính của mình. Những tuyên xưng này – mà chúng ta tin là được linh hứng – có những điểm sau đây:
-          Có một Thiên Chúa duy nhất, Người là Đấng tạo hóa, tất cả đều là thụ tạo.
-          Mặt trời mặt trăng không phải là thần thánh.
-          Mọi tạo vật đều tốt lành, trật tự, càng về sau càng hoàn hảo.
-          Con người là triều thiên của tạo vật, được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có nam có nữ và có sứ mạng thay Chúa chăm sóc mọi loài.
-          Ngày Sabbath là ngày thánh dành riêng cho Thiên Chúa

Huyền thoại về nguyên nhân sự đau khổ

Đọc St 2:5-3:24
Trước thực tại của sự đau khổ và sự chết, con người băn khoăn tự hỏi: tại sao Thiên Chúa tốt lành đã dựng nên con người giống hình ảnh Chúa lại có thể để cho sự đau khổ và sự chết cùng tồn tại ngay trong chính trật tự tốt lành của Chúa? Câu trả lời là: nguyên nhân do chính con người đã chọn không tuân theo trật tự do Chúa sắp đặt.
Tác giả đã dùng những biểu tượng và tình tiết của câu chuyện để trình bày một cách tuyệt vời nguyên nhân của sự đau khổ và sự chết. Chúng ta hãy lần lượt xem qua.
Adam
Danh từ chung, nghĩa là “người”, chỉ một người hay mỗi người
Vườn địa đàng
Nơi không có đau khổ
Cây sự sống
Tiếp tục ăn thì sẽ không chết
Cây biết lành biết dữ
Khả năng chọn lựa ngược lại trật tự do Chúa sắp đặt (tự do)
“người ở một mình không tốt”
Nhân cách hóa Thiên Chúa. Chúa thử nhiều cách nhưng thất bại.
Đặt tên
Làm chủ / liên hệ chủ thể - đối tượng / không phải bạn ngang hàng
Xương sườn
“xương bởi xương, thịt bởi thịt”
“mình ơi!”
Trần truồng mà không mắc cỡ
Tự chấp nhận một cách đơn thuần / self-acceptance, comfort with who they are
Con rắn
Cám dỗ (# ma quỷ)
Ăn trái cấm
Phạm tội, tội cách chung, không xác định là tội nào
Xấu hổ
Bị tha hóa / self-alienation
Trốn Chúa
Mất khả năng đáp trả tình yêu của Chúa
Chúa phạt
Nhận biết khi mình bất tuân trật tự do Chúa sắp đặt thì phải chịu hậu quả đương nhiên
Bị đuổi khỏi vườn địa đàng
Mất khả năng làm tiêu tan (undo) hậu quả của tội
Con người thuở ban đầu - “nhân chi sơ tánh bản thiện” - hạnh phúc trong trật tự do Chúa sắp đặt. Hạnh phúc này là sự hòa hợp:
-          với chính mình: trần truồng mà không xấu hổ.
-          với tha nhân: yêu nhau thắm thiết, tuy hai mà một
-          với thiên nhiên: vườn địa đàng
-          với Chúa: bạn thân thiết, hằng ngày đi dạo và trò chuyện.
Nhưng con người đã phạm tội. Bản văn không dùng chữ tội, nhưng đã diễn tả một cách tuyệt vời mọi diễn tiến của việc phạm tội.
-          biết rõ trật tự của Chúa: đối đáp với con rắn
-          chọn làm ngược lại: ăn
-          bị hậu quả: xấu hổ, trốn tránh, đổ thừa nhau, bị trừng phạt, bị đuổi ra khỏi vườn
Ăn là một biểu tượng rất hay:
-          không ép ăn được: chọn lựa cách tự do
-          thức ăn trở nên một phần của chính mình: tội đã phạm có thể được tha, nhưng hậu quả của nó đã nhập vào mình khiến mình đổi khác, không thể trở lại tình trạng nguyên thủy được nữa. Sau khi phạm tội, con người đã “biết” sự dữ. Kinh nghiệm mới này đã làm thay đổi nhận thức, quan niệm và thái độ của ta đối với chính mình, với tha nhân, với thiên nhiên và với Thiên Chúa.
Chúa vẫn không thôi yêu thương, chăm sóc và hứa ơn cứu rỗi cho con người.
-          “Chúa làm áo cho con người”
-          Tiếc rẽ, đau đớn và thất vọng trong giọng nói
-          Người đàn bà đạp đầu rắn: Israel, Đức Mẹ

Cổ tích (legend)

Chuyện về các tổ phụ Abraham, Isaac, Giacop, về ông Mô-sê, về các thủ lãnh như Sam-song dùng một thể văn gọi là cổ tích (legend). Khác với huyền thoại, cổ tích có nền móng lịch sử vững chắc. Tuy nhiên, cổ tích không phải là lịch sử. Có thể gọi là dã sử hay truyện dân gian hay truyền thuyết. Để hiểu sứ điệp của các câu truyện này, hay là ý của tác giả khi viết ra chúng, chúng ta cần phải truy nguyên sự thành hình của chúng.

Sự thành hình.

Bản văn mà chúng ta có hôm nay trong Kinh Thánh thành hình qua ba giai đoạn chính:

1. Các biến cố lịch sử.

Israel có một lịch sử khởi đầu từ các tổ phụ, thời kỳ nô lệ Ai cập, cuộc xuất hành, thời kỳ các thủ lãnh, thời kỳ quân chủ, thời kỳ chia đôi đất nước, cuộc lưu đầy Babylon, hồi hương, sự xâm lấn của người Hy lạp, sự chiếm đóng của người La mã, và sau cùng là Chúa Giêsu và các tông đồ của Ngài. Lịch sử này được các sử gia và các nhà khảo cổ xác nhận.
Các biến cố lịch sử của dân Israel
Niên biểu ước chừng




1850 B.C.



Abraham nhận biết ơn gọi của Chúa
Isaac
Gia-cóp
Giu-se
nô lệ bên Ai cập
1250 B.C.



Mô-sê và cuộc xuất hành
Thời kỳ các thủ lãnh
Vua Saul
1000 B.C.



Vua Đa-vít
Đền thờ Giê-ru-sa-lem
Vua Solomon
922 B.C.



Vương quốc chia đôi
Các ngôn sứ kêu gọi lòng trung thành với Chúa
721 B.C.



Vương quốc phía bắc rơi vào tay đế quốc Assyria
587 B.C.



Vương quốc phía nam sụp đổ - khởi đầu cuộc lưu đầy ở Babylon
537 B.C.



Cyrus, vua Ba tư, chinh phục Babylon và cho dân Israel hồi hương
336 B.C.



Alexander Đại Đế
167 B.C.



Hy lạp hóa
Cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê
Bách hại
63 B.C.



Quân Rô-ma chiếm đóng toàn thể miền cận đông
7-6 B.C.



Chúa Giê-su sinh ra
A.D. 30



Chịu đóng đinh
A.D. 100



Mãn thời kỳ tông đồ





2. Giai đoạn truyền khẩu.

Câu chuyện về các nhân vật lịch sử này được dân gian kể đi kể lại cho nhau nghe, thế hệ trước kể cho thế hệ sau và cho thế hệ sau nữa… trước khi được viết thành văn tự. Chúng ta thường có ấn tượng không tốt về những lời truyền miệng, chúng thường “tam sao thất bản”. Nhưng truyền miệng theo kiểu “nói hành” khác với văn truyền khẩu. Ở đây, một kho tàng văn hóa và tôn giáo của một dân tộc được kính cẩn truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ kia. Nếu một vài cá nhân sai lầm thì cả cộng đoàn sẽ sửa chữa. Cho nên truyền khẩu của Kinh Thánh trên căn bản (basically) là chính xác. Nói như vậy không có nghĩa là mọi chi tiết trong trong truyền khẩu đều chính xác. Văn truyền khẩu không quan tâm đến sự chính xác trong các lãnh vực sau đây:
a. Trích dẫn.
Ngày nay chúng ta phải trích dẫn thật chính xác câu nói của một người nào đó, nhưng ngày xưa điều đó không cần thiết. Bận tâm của họ không phải ở lời lẽ mà ở ý nghĩa sâu xa và vô giá của câu truyện.
Một thí dụ trong truyện ông Abraham. Xem St 12:1-3
Chúng ta tự hỏi: “không lẽ chính Chúa nói như vậy sao? Chúa là Đấng tốt lành mà lại đi chúc dữ?” Thay vì hỏi “tại sao Chúa nói điều đó?” chúng ta hãy hỏi “tại sao người ta nói Chúa nói điều đó?” Lối văn này phản ảnh nền văn hóa và sự tin tưởng của người thời đó. Họ rất quen thuộc với việc chúc lành và chúc dữ. Người thời xưa tin tưởng ở quyền lực của lời chúc. Dân Israel cũng chia sẻ niềm tin thô thiển đó. Nhưng có một điều khác: họ tin tưởng quyền lực của lời chúc phát xuất từ Thiên Chúa. Chúng ta thấy việc chúc lành chúc dữ xãy ra nhan nhản trong Cựu Ước. Trong Tân Ước Chúa Giêsu dạy các môn đệ: hãy yêu thương thay vì chúc dữ.
b. Thứ tự thời gian.
Chuyện các tổ phụ không phải là một câu chuyện dài từ đầu đến cuối, nhưng là nhiều câu chuyện nhỏ (episodes) ghép lại với nhau. Mỗi chuyện nhỏ là một đơn vị độc lập. Khi ghép lại thành truyện dài, các tác giả không quan tâm đến thứ tự thời gian sao cho hợp lý và sự chuyển tiếp giữa các câu chuyện sao cho trơn tru.
Thí dụ: trong Sáng thế đoạn 24 ông Abraham đã già và lo cưới vợ cho con là Isaac trước khi ông chết. Đoạn 25 bắt đầu với việc Abraham cưới vợ khác và sinh ra một đàn con mới. Đến câu 8 thì nói ông Abraham chết.
Những câu chuyện trong Phúc Âm cũng không theo thứ tự thời gian. Thí dụ việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nhất lãm thì nói việc này xãy ra vào cuối quãng đời công khai, khi Đức Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để chịu tử nạn. Gioan thì nói việc này xãy ra đầu Phúc Âm, ngay sau phép lạ nước biến thành rượu tại Cana. Mỗi câu chuyện là một đơn vị trong truyền khẩu. Các thánh ký khi ghép lại thì tự ý sắp đặt theo thứ tự thời gian riêng của mình.
c. Nơi chốn và hoàn cảnh.
Nơi chốn và hoàn cảnh cũng không mấy quan trọng đối với văn truyền khẩu. Thí dụ St 21:22-31 kể giao ước giữa ông Abraham và vua Abimelech ở một chỗ gọi là Beersheba. St 26:26-33 thì kể y như vậy, nhưng không phải ông Abraham mà là con của ông – Isaac là người ký giao ước. Điều tác giả quan tâm là giao ước giữa tổ phụ dân Israel và vua Abimelech. Khi thấy có hai câu chuyện, tác giả ghi lại cả hai.
d. Không lập lại những điều ai cũng biết.
Khi kể lại câu chuyện, người kể và người nghe đều hiện diện. Họ có chung một nền văn hóa và cùng biết những điều thông thường ai cũng biết nên không cần phải nói ra. Chúng ta sống ở một nền văn hóa khác và một thời đại khác nên nếu chúng ta tưởng những điều mình hiểu ngầm là những điều họ hiểu ngầm thì chúng ta sẽ không thể hiểu được điều họ muốn nói. Thí dụ, khi đọc sách Sáng thế, chúng ta phải biết những điều tác giả nói đều dựa trên quan niệm “trái đất” bằng phẳng. Khi đọc sách Gióp, chúng ta phải biết vào thời điểm đó, không ai có quan niệm rõ ràng về sự sống lại.
Truyện các tổ phụ thường nói về số tuổi khổng lồ của các Ngài. Con số đó không phải là số tuổi mà là số nhân đức. Họ không giải thích vì thời đó khi nói như vậy ai cũng biết.
Một thí dụ khác, ông Gia-cóp đã lường gạt cha là Isaac để ăn trộm phúc lành của anh là Esau (St 37). Đối với chúng ta, sự lường gạt khiến cho ơn phúc lành nếu có thì cũng thành vô hiệu, vì thế chỉ cần Isaac chúc lành lại cho Esau là xong. Nhưng với người thời xưa, phúc lành đã ban ra thì có hiệu lực và không thể nào lấy lại. Vì thế, Esau phải năn nỉ cha ban một phúc lành khác cho mình.

3. Giai đoạn văn tự.

Vào một thời điểm nào đó, vì nhu cầu đương thời, các tác giả gom góp những câu chuyện khầu truyền lại và soạn thành văn bản. Văn bản đó lại được những người thời sau sửa đổi, thêm bớt cho phù hợp với nhu cầu đương thời. Vì thế những câu truyện kể trong Thánh Kinh thành hình qua rất nhiều giai đoạn trong thời gian như những lớp gỗ bao bọc xung quanh cái lõi của một thân cây. Cắt ngang một gốc cây cổ thụ và đếm số vòng chúng ta tính được số tuổi của cây. Đi ngược lại các giai đoạn, chúng ta tìm ra điều tác giả muốn nói.

Những đặc tính của các truyện cổ tích

a.     Các biến cố lịch sử được nhìn dưới ánh sáng đức tin
Người dân Israel tin rằng, biến cố không chỉ là biến cố mà còn là hành động của Chúa. Ngày nay khi nói về nguyên nhân, chúng ta thường ám chỉ nguyên nhân trực tiếp. Người dân Israel luôn luôn nói về nguyên nhân tối hậu. Trời mưa, nghĩa là Chúa làm mưa. Thiên Chúa luôn luôn hiện diện, yêu thương và hành động qua các biến cố. Câu chuyện xuất hành là một thí dụ hùng hồn cảm nhận của họ về sự hiện diện đầy quyền năng giải thoát của Chúa.
b.     Sự phóng đại
Phóng đại là một đặc tính của những truyện dân gian, tô vẽ các vị anh hùng, nhằm mục đích thu hút sự chú ý của thính giả. Trong Kinh Thánh, muốn truyền cảm hứng cho thính giả, người kể tô vẽ tính chất siêu phàm của Chúa khi can thiệp vào lịch sử của dân Ngài. Sự phóng đại khác việc giải thích dưới ánh sáng đức tin. Một thí dụ: so sánh hai đoạn văn trong Xh 14:15-31.
c.      Phép thuật
Đôi khi, một ít chi tiết trong các truyện cổ tích vượt quá ranh giới phóng đại, mang tính chất phù phép. Thí dụ truyện Samson và Dalilah (Tl 16:4-31). Chúng ta tự hỏi: “tại sao câu chuyện lại nói sức mạnh của Samson là ở bộ tóc dài?”
Truyện Samson và Dalilah nằm trong sách Thủ lãnh. Chủ đích của sách này là giáo dục dân Israel: Thiên Chúa muốn cho họ một bài học vì họ làm điều xấu dưới mắt Chúa, như đọc thấy trong Tl 2:11-14. Không cắt tóc hoặc không uống rượu là dấu chỉ sự thánh hiến (Tl 16:17). Sức mạnh của Samson nằm ở sự tuyệt đối trung thành với Chúa. Tóc là biểu tượng. Xa lìa Thiên Chúa, tượng trưng bằng việc cắt tóc, là mất đi sức mạnh siêu phàm. Tóc mọc trở lại, trở về với Chúa, tìm lại được sức mạnh.
d.     Gốc tích
Giống như những truyện dân gian khác, cổ tích trong Kinh Thánh thường được kể để giải thích nguồn gốc cái tên của một người, một nơi, một nghi lễ, một tập tục… Một thí dụ rất quen thuộc là gốc tích sự tàn phá thành Sodom. Xem St 19:1-26.
Trong truyện này, chúng ta thấy giải thích nguồn gốc của thành Zoar (câu 22) và nguồn gốc khối đá có hình người đàn bà (câu 26) có lẽ rất quen thuộc với người thời đó. Lối văn này nhằm làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn để người nghe dễ nhớ và lưu truyền ý nghĩa của câu truyện: sự nguy hiểm của việc theo Chúa mà còn ngoái lại đằng sau.
e. Phương tiện chuyên chở mặc khải
Cổ tích có mặt trong Thánh Kinh vì chúng phản ảnh nhận thức của dân Israel về Thiên Chúa và về liên hệ đặc biệt giữa họ với Ngài. Nhận thức này lúc đầu không được hoàn hảo, nó lớn lên theo thời gian. Một câu chuyện rất quen thuộc cho chúng ta thấy sự tăng trưởng này. Xem St 22:1-19, truyện ông Abraham sát tế con mình là Isaac.
Theo phong tục của người dân Canaan trẻ con thường bị đem tế thần bằng cách thiêu sống. Người dân Israel thì sát tế tất cả các con đầu lòng để hiến dâng cho Gia-vê, nhưng dần dần họ nhận ra rằng Ngài không muốn sát tế trẻ con. Vì thế, họ giữ việc sát tế các con đầu lòng của loài vật, và chuộc lại các con đầu lòng của loài người (Xh 13:11). Tuy vậy, việc sát tế con trong dân Israel vẫn còn xãy ra (2 Vua 16:1-4; 21:6; 23:10). Trong khi vấn nạn về việc sát tế con tiếp tục là một nan đề qua nhiều thế kỷ, thì câu chuyện ông Abraham sát tế con là Isaac được kể đi kể lại như một phương tiện chuyên chở Chúa dùng để mặc khải điều Ngài muốn dạy dân Israel.
Cho đến ngày nay, câu chuyện này vẫn chưa mất sức mạnh vạn năng của nó, nhưng mang một ý nghĩa phổ quát hơn: cái thế tiến thoái lưỡng nan của một người tin trước một thử thách đụng chạm đến tận gốc rễ của niềm tin.
Chúa đã hứa cho Abraham trở thành tổ phụ một dân “đông như sao trên trời, như cát dưới biển”. Trong tuổi già, ông mới sinh được một con trai là Isaac. Và Thiên Chúa thử thách ông. Tác giả nhấn mạnh điểm này, vì muốn độc giả biết rằng thử thách đức tin cũng xãy ra cho họ. Abraham là một người đầy lòng tin, nhưng giờ đây phải đối diện với một nan đề. Tác giả không có một giải thích nào về tâm trạng của Abraham. Ông ta nghĩ gì? Ông ta vật vã ra sao? Câm nín. Sự câm nín có lẽ diễn tả tình trạng tê dại trong lòng ông Abraham. Không nói nhưng ông vẫn hành động một cách dứt khoát, cho thấy lòng tin của ông không suy siểng chút nào. Ông không thể biết được Isaac có được cứu hay không, hoặc có nên cứu hay không. Ông chỉ biết một điều, Chúa đã nói thì Chúa giữ lời. Cách nào? Tùy ý Chúa. Câu chuyện tiếp tục với một kết thúc tốt đẹp khiến người đọc tự nhủ: mình phải bắt chước ông Abraham trong mọi hoàn cảnh, dầu có phải bước đi trong tăm tối, dầu có phải trăn trở trong đau khổ để nhận biết thánh ý Chúa. Phải luôn luôn bước đi trong tin yêu và sự vâng phục nhất là trong những lúc khó khăn, khi đường lối của Chúa vượt quá tầm hiểu biết của loài người.

Khải Huyền (revelation, apocaliptic)

Thánh Gioan bắt đầu sách Khải huyền bằng câu: “Mặc khải của Đức Giêsu Kitô…” Mặc khải (revelation) hay khải huyền (apocalypse) là một thể văn dùng những những biểu tượng, thị kiến và nói chuyện tương lai, nhưng mục đích lại là hiện tại. Người thời đó đọc thì hiểu ngay tác giả muốn nói gì. Nhưng đối với chúng ta sống ở thế kỷ 21 và trong một nền văn hóa khác, chúng ta không quen với lối văn khải huyền, nên tưởng rằng tác giả có ý nói những điều mà thực ra không phải là ý của tác giả. Người không hiểu thể văn khải huyền thường cho rằng tác giả muốn diễn tả những gì sẽ xảy ra trong ngày tận thế. Họ trích dẫn nhiều đoạn văn để gây sự sợ hãi và thất vọng nơi những người yếu tin.
Trong Kinh Thánh, hai quyển sách Khải huyền trong Tân Ước và sách Đa-ni-ên trong Cựu Ước và một số đoạn trong các sách Tin Mừng và một số sách khác dùng thể văn này. Những sách này được viết ra trong thời các tín hữu bị bách hại. Mục đích của tác giả là củng cố niềm tin cho các tín hữu: “Đừng sợ, vì Thiên Chúa, Đấng làm chủ lịch sử, vẫn hoàn toàn làm chủ ngay trong hoàn cảnh hiện tại. Cuộc bách hại sẽ chấm dứt và người lành sẽ chiến thắng.”


Linh mục Phanxicô Xavie Bùi ngọc Tỷ
Cộng Đoàn Đức Mẹ La Vang
St. Joseph The Worker Church, Winnetka
Mùa Chay 2007

(Nguồn :http://www.simonhoadalat.com/)

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

PHẦN MỀM "CÂU ĐÓ KINH THÁNH"


  1. Đây là phần mềm khá hay Do Lm. PX. Nguyễn Xuân Khâm viết.
    Rất có ích cho thiếu nhi cũng như GLV học hỏi.

    Link download phần mềm:
    http://www.mediafire.com/?cf2472u927oft
    Pass unlock: giaoxunamhai.com

    Sau khi giải nén chạy file như hình.


    [​IMG]


    Một số hình ảnh trong phần mềm.


    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]


    (Nguồn: giaoxunamhai.com)

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

ĐỌC KINH THÁNH , MỘT "BÀI TẬP THIÊNG LIÊNG "

Đọc Kinh Thánh, một “bài tập thiêng liêng”(i)     
                           
Để biết đọc Kinh Thánh, cần có những điều kiện nào? Phải đi đến trường để học; không phải là trường dạy giáo lý hay thần học, nhưng là trường phổ thông!
Chúng ta thường hay tách biệt học tập và đức tin, có khi còn đi đến chỗ đối lập. Điều đáng mừng là điều này đang dần dần được thay đổi theo hướng kết hợp giữa “đức tin và lý trí”(ii). Vì thế, cần phải khuyến khích, củng cố, mở rộng hướng đi này, chứ không nên bằng lòng với việc “hô khẩu hiệu” và chúc tụng lẫn nhau. Thực vậy, vẫn còn rất nhiều điều phải làm để soi sáng, chăm sóc, nuôi dưỡng, làm cho vui thỏa phần quan trọng làm nên chính chúng ta, phần mà chúng ta gọi là trí khôn. Điều chúng ta vừa lưu ý, đặc biệt đúng đối với Kinh Thánh. Thực vậy, Kinh Thánh tiên vàn là một bản văn (lettre) nhưng lại diễn tả cho chúng ta chính Lời Chúa (Parole de Dieu). Vì thế, Kinh Thánh là nơi đòi hỏi đặc biệt sự kết hợp giữa hiểu biết và đức tin.
Khi đọc Kinh Thánh, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về những nguy cơ hay khó khăn: nguy cơ giải thích sai lệch với Thánh Linh, Đấng đã linh ứng Kinh Thánh và là Đấng mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Giáo Hội, nguy cơ hiểu sai bản văn Kinh Thánh như thường xẩy ra đối với mọi tác phẩm vừa xa và vừa xưa; ngoài ra, trong Kinh Thánh, có nhiều bản văn, câu và chữ thật khó hiểu. Những nguy cơ hay khó khăn vừa nêu là có thật; coi nhẹ chúng là lừa dối chính mình và lừa dối nhau. Vấn đề là phải nhất quyết vượt qua, không chỉ mỗi người, nhưng còn là mọi người cùng nhau.

1. “Biết đọc” Kinh Thánh

Hiểu biết là điều kiện quan trọng để đọc Kinh Thánh, nhưng hiểu biết có nhiều loại lắm! Chẳng hạn, chúng ta vẫn nói và nói rất đúng rằng: “phải học bơi, học lái xe để có thể biết bơi, biết lái xe; và thành ngữ Việt Nam có câu: “học ăn học nói, học gói học mở”. Đó chính là những hiểu biết thực hành. Và điều sau đây có thể làm chúng ta chưng hửng: cái biết thiết yếu đầu tiên khi chúng ta đối diện với Kinh Thánh, đó là phải biết đọc. Và biết đọc, chính là một loại hiểu biết thực hành!
Dĩ nhiên là chúng ta có thể đọc thầm một mình, nhưng trước hết chúng ta hãy chú ý đến những lúc một người đọc cho cả nhóm nghe hay cả nhóm cùng đọc lớn tiếng, chẳng hạn trong các cử hành phụng vụ hay trong những lúc cùng nhau học hỏi hoặc chia sẻ Lời Chúa. Trong những trường hợp này, chúng ta thường chỉ quan tâm tới những giảng giải hay những chia sẻ về bản văn Kinh Thánh. Tuy nhiên, điều chúng ta chia sẻ đầu tiên, lại là sự chú ý lắng nghe một giọng đọc, hay là nỗ lực của cả nhóm làm vang vọng cùng một lời Kinh Thánh. Thời điểm này thật đơn sơ và kín đáo, nhưng có thể được gọi là một biến cố! Chính vì vậy mà phải biết đọc. Biết đọc với giọng của mình không hề là một “chuyện nhỏ”, vì người đọc được mời gọi trao ban giọng nói, trao ban hơi thở của mình; và nhất là vì Lời Chúa khi được đọc lên sẽ trở thành “cột mây” và tương quan hiệp nhất giữa các thành viên của cộng đoàn sẽ được dệt nên chung quanh “cột mây” này.
Đọc Kinh Thánh quá dở là điều vẫn thường xảy ra, và đôi khi ngay trong những buổi cử hành phụng vụ đại trào, nhưng nhiều khi chúng ta lại không coi đó là quan trọng và vì thế chúng ta cho qua. Tuy nhiên, đọc Kinh Thánh cho nhóm hay cộng đoàn, chính là một sứ mạng. Sứ mạng này không chỉ cần được chuẩn bị bằng việc đọc trước bản văn, nhưng còn đòi cả một tương quan thiết thân với Lời Chúa.

2. Đọc với cả con người

Khi chúng ta đọc thầm Kinh Thánh một mình, “biết đọc” vẫn cứ là một cái biết thực hành! Bởi lẽ, đọc là một thực hành đòi hỏi sự chú ý, và sự chú ý đòi hỏi cả con người. Đọc Kinh Thánh hẳn là khác với suy niệm hay chiêm niệm Lời Chúa, những vẫn có những điểm chung. Vì thế, sách Linh Thao của thánh Inhã (iii) mang lại cho chúng ta những chỉ dẫn quí báu cho việc đọc Kinh Thánh
Trong tất cả các bài linh thao được đề nghị, chúng ta sẽ dùng các hoạt động của trí khôn khi chúng ta suy nghĩ và dùng các hoạt động của ý muốn để đánh động. Vậy, phải để ý là trong các hoạt động của lòng muốn, khi chúng ta tâm sự, nói thành lời hay nói trong lòng, với Thiên Chúa Chúa chúng ta hay với các thánh, chúng ta phải có thái độ cung kính lớn hơn khi chúng ta vận dụng trí khôn để hiểu.(Linh Thao, số 3)
Điều cần ghi nhận đầu tiên là nguyên tắc phân biệt các hoạt động: hoạt động của trí khôn và hoạt động của ý muốn. Các hoạt động cần phối hợp với nhau, nhưng mỗi hoạt động có quyền duy trì đặc điểm riêng của chúng. Tiếp đến, theo chú dẫn này của sách Linh Thao, trí khôn suy nghĩ không chỉ có chỗ trong cầu nguyện, nhưng nó còn có quyền lùi ra xa, thậm chí giữ khoảng cách, có những do dự hay tìm cách khai phá. Điều này có nghĩa là, trí khôn có được sự tự do khi suy nghĩ, vì nếu không tư tưởng sẽ tắt ngúm!
Nhưng để có thể suy nghĩ, trí khôn còn cần đến sự tập trung và bình an, những điều mà việc chiêm niệm theo sách Linh Thao đòi hỏi. Ngoài ra, còn phải có sự đơn sơ trong “điều tôi muốn” và trong “điều tôi nhắm tới”, khi chúng ta đọc trang Kinh Thánh được chọn cho ngày hôm nay. Điều này đòi có một sự chuẩn bị, tương tự như sự chuẩn bị cần thực hiện trước khi bước vào cầu nguyện:
Cách chỗ tôi sẽ chiêm niệm hay suy niệm một hay hai bước, tôi đứng lại lâu khoảng một kinh Lạy Cha, tâm trí hướng lên cao, để ý xem Thiên Chúa Chúa chúng ta đang nhìn tôi như thế nào, v.v.; sau đó, làm một cử chỉ cung kính hay quì gối.
(Linh Thao, s. 75)
Và sau khi đọc hay nghe đọc, cũng cần có thời gian để cho những điều vừa đọc hay vừa nghe lắng đọng, giống như nhánh tảo biển mở bung mình ra khi được dìm vào trong nước.

3. Đọc là mở mình ra

Sau khi đọc xong bản văn, tôi đánh dấu và đóng sách lại; thay vì tìm cách áp dụng bản văn cho mình ngay hay tìm cách diễn giải điểm này điểm kia, tôi trở lại để tái hiện bản văn bằng trí nhớ, tương tự như thánh Inhã nói trong sách Linh Thao:
Sau khi đã làm xong bài linh thao, trong vòng 15 phút, ngồi tại chỗ hay đi qua đi lại, tôi nhìn lại những điều đã xẩy ra cho tôi trong chiêm niệm hay suy niệm.
(Linh thao, s. 77)
Tôi tự hỏi: “bản văn nói gì?” Sau đó, tôi mở sách ra đọc lại bản văn để kiểm chứng. Có thể làm như thế nhiều lần, mục đích là để làm cho mình trở nên một với điều mình đã đọc. Bài tập này có thể thực hiện theo nhóm, và điều này cho phép so sánh những điều mà mỗi người nhớ được.
Khi làm như thế cách nghiêm túc, chúng ta sẽ nhận ra rằng có nhiều điều mình đã để cho đi qua. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ học để thoạt tiên đừng lựa chọn gì hết, nhưng đón nhận như nhau tất cả mọi chi tiết của bản văn; tương tự như Inhã nói trong sách Linh Thao: “Chúng ta cần phải làm cho mình trở nên bình tâm…” (Linh Thao, s. 23). Hãy tạm gác qua một bên “điều đánh động mình, điều sẵn sàng trào vọt ra khi sách vừa mới được đóng lại. Hãy đợi đấy! Hoa trái chính yếu của bài tập này sẽ là khám phá “điều đã không đánh động mình” hơn là “điều đánh động mình”.
Chúng ta cũng sẽ học để đừng vội vã lao mình vào điều tối tăm, không hợp lý hay gây sốc. Chỉ cần ghi nhận điểm này và tránh tìm cách giảm nhẹ nó. Tương tự như con ruồi ở trong ly sữa, cái chấm đen thui là điều duy nhất chúng ta nhìn thấy: phản xạ này sẽ gây ngăn trở cho nỗ lực tìm hiểu. Điểm tối tăm sẽ phải được soi sáng khởi đi từ điểm sáng tỏ. Nghĩa là, trước hết chúng ta hãy đi tìm lời giải đáp nơi những gì gần với “điểm đen” nhất, và trong cùng một trang sách trước khi đi tìm những giải thích ở phần chú thích, tham khảo các sách chú giải hay chạy đi hỏi ai đó.

4. Đọc với “trí nhớ, trí khôn và ý muốn”

Các bài linh thao đòi hỏi nhiều hoạt động phân biệt nhau: suy niệm “theo ba khả năng” (trí nhớ, trí khôn và ý muốn), chiêm niệm theo “nhị quan” (nghe và nhìn) và sau đó theo “ngũ quan” (nghe, nhìn, ngửi, nếm và đụng); hay đơn giản hơn theo từng bước của một bài chiêm niệm: “tôi nhớ lại lịch sử”, “xem nơi chốn”, “nhìn các nhân vật”, “lắng nghe điều các nhân vật nói”, “quan sát điều các nhân vật làm”(iv). Và việc đọc Kinh Thánh cũng đòi hỏi các hoạt động tương tự.
Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta cũng phải nhìn: nhìn không gian của bản văn, vốn thay đổi theo từng bối cảnh, nhìn những gì bất động và những gì di động, nhìn các nhân vật nhập cảnh hay xuất cảnh. Và chúng ta cũng phải nghe: nghe chính những lời nói của các nhân vật, và tiếp đến những phần được tác giả thêm vào để giải thích điều các nhân vật làm.
Có nhiều cách thức tiến hành và cần có sáng tạo, tùy theo đó là một trình thuật, một bức thư, một giáo huấn, một bài thơ ca, v.v. Tuy nhiên, đối với mọi bản văn, hãy xác định điều cần làm, chứ đừng làm mọi điều cùng một lúc. Hãy dừng lại thật lâu, thật lâu với câu hỏi: “bản văn nói gì?” trước khi bước qua câu hỏi: “bản văn muốn nói gì?”. Thay vì nghi ngờ, áp đặt hay coi thường bản văn, hãy để cho bản văn như nó là có thời gian lên tiếng.
Việc đọc Kinh Thánh khởi đi từ “điều tôi muốn” nhưng là để có thể gặp gỡ “điều bản văn muốn”. Điều bản văn muốn, nhưng đằng sau bản văn là ai? Tôi được mời gọi đi ngược lên từ những ký hiệu ngôn ngữ tới ngòi bút (ngòi bút ở đây cần được hiểu là văn phong) và tới bàn tay; rồi từ bàn tay đi tới khối óc và tới con tim. Như thế, qua bản văn chúng ta được mời gọi gặp gỡ một con người; và người này là hình ảnh của Thiên Chúa như tất cả mọi người và như chính chúng ta là những người đang đọc Kinh Thánh. Con người này, vốn thuộc về một cộng đoàn Dân Chúa, được Thiên Chúa linh hứng để viết cho những người khác.
Vậy tác giả này muốn nói gì? Câu hỏi này coi vậy mà kỳ cục và lạ lùng. Nếu, sau khi có ai đó “đã nói” và tôi tự hỏi về điều người đó “muốn nói”, thì sự kiện này có nghĩa là điều người đó muốn nói, người đó đã không nói ra! Và đúng là như thế, vì giữa điều muốn nói và từ ngữ để nói ra điều đó, luôn luôn có một khoảng cách, một khoảng trống, và chúng ta không thể nào lấp đầy được, nhất là khi đó là một sứ điệp sâu xa. Chính vì lý do này mà tác giả ngỏ lời với người đọc, người đọc lắng nghe tác giả, và cả hai đều phải trao ban lòng tin. Giống như người này tung trái banh để cho người kia chụp lấy ngay trên không. Đọc kỹ, đó là tỏ ra mình có khả năng tương quan!

5. Đọc Kinh Thánh và đọc các chú giải

Từ đầu đến giờ chúng ta chỉ nói đến thực hành việc đọc Kinh Thánh. Tuy nhiên, chúng ta, vốn còn là những người đang học Kinh Thánh, hay thắc mắc về tác giả của bản văn, về thời đại, về những tình huống và lý do biên soạn, về những qui ước ngôn ngữ đến từ tác gỉa hay từ môi trường và thậm chí về giá trị của bản văn nữa. Điều này rất chính đáng; và theo hướng này, vẫn còn có những câu hỏi chuyên môn hơn liên quan đến lịch sử hình thành bản văn: phải chăng bản văn hay tác phẩm được biên soạn bởi nhiều người, thuộc những giai đoạn khác nhau? Có xác định được đó là những ai không? Đâu là quá trình hình thành? Có tìm lại được những bản văn cổ hơn không? Nếu được, chúng có giá trị nào? Đừng nhẹ dạ nghĩ rằng các nhà thông thái biết được câu trả lời chắc chắn cho từng câu hỏi hay có được những dữ kiện để trả lời. Nhưng dầu sao chúng ta cũng có được những kết quả đến từ những công trình nghiên cứu của các nhà thông thái và ngày nay được phổ biến cách rộng rãi trong các sách dẫn nhập Kinh Thánh hay trong những tác phẩm chú giải chuyên biệt. Việc đọc Kinh Thánh của chúng ta cần được đồng hành bởi những kết quả bổ trợ này.
Tuy nhiên cần phải phân biệt hai việc “đọc” khác nhau và phải được tiến hành song song. Nếu các nhà thông thái đã tìm ra được câu trả lời ít nhiều thỏa đáng, chính là vì họ đã biết đọc Kinh Thánh. Có điều là họ đã không nói cho chúng ta biết về cách đọc của họ và cũng chẳng dạy chúng ta phải đọc như thế nào. Đối với chúng ta, điều quan trọng nhất không phải là biết niên đại của bản văn, biết văn thể hay biết lịch sử hình thành của bản văn, nhưng là biết tại sao các nhà thông thái lại gán cho một bản văn tác giả đó, niên đại đó, thể loại đó và lịch sử hình thành như thế. Nhất là vì từ cùng các dữ kiện nhiều khi người ta rút ra những kết luận khác nhau tùy theo cách suy luận. Để đọc các chú giải của các nhà thông thái một cách hiệu quả, điều tiên quyết là chúng ta đã cư ngụ trong Kinh Thánh qua việc đọc trực tiếp Kinh Thánh. Thói quen đọc Kinh Thánh, ngoài việc làm cho chúng ta nhạy cảm với những vấn đề đã làm cho các nhà chuyên môn quan tâm, sẽ đem lại cho chúng ta một sự độc lập đối với những kết luận của họ, những kết luận này thường hay khác biệt nhau tùy theo tác giả.
Chúng ta có thể nói: “tôi đã đọc các chú giải”. Nhưng đối với Kinh Thánh, chúng ta không thể nói: “tôi đã đọc Kinh Thánh”. Chúng ta chỉ có thể lưu lại trong việc đọc Kinh Thánh mà thôi.

Ghi chú:
i Giuse Nguyễn Văn Lộc chuyển dịch và ghi chú bài viết của cha Paul Beauchamp, S.J., “Lire la Bible, un exercice”, trong Cahiers pour croire aujourd’hui, số 147, tháng 8/1994, trang 23-27.
ii « Đức tin và Lý trí » (Fides et Ratio), đây là tựa đề của thông điệp của Đức Gioan-Phaolô II, công bố năm 1998.
iii Linh Thao, có nghĩa là “những bài tập thiêng liêng” (spiritual exercises), là tập sách nhỏ do thánh Inhã Loyola biên soạn khởi từ chính kinh nghiệm thiêng liêng của mình. Tập sách chủ yếu gồm những chỉ dẫn để suy niệm hay chiêm niệm trình thuật Tin Mừng theo một tiến trình và một phương pháp đặc biệt.
iv Xem Linh Thao, số 101-108; 121-125.
(Người viết: Nguyễn Văn Lộc, S.J.
(Nguồn : dongten.net)

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

KINH THÁNH - CUỐN SÁCH QUYỀN LỰC NHẤT MỌI THỜI ĐẠI !


Chắc chắn bạn đã từng nghe về Kinh thánh, dù bạn có phải là người theo đạo hay không. Kinh thánh là quyển sách huyền bí và quyền lực nhất dù đã trải qua hàng ngàn năm và chắc chắn sẽ còn như thế mãi mãi. Bạn thắc mắc tại sao ư ? Bài viết này sẽ cho bạn biết lý do vì sao như thế !
ảnh kinh thánh,sách kinh thánh,sách bán chạy

1. Kinh thánh - quyển sách hội đủ mọi cái nhất mà bất kì quyển sách nào cũng ao ước :

Bán chạy nhất : Kinh thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh thánh vượt mọi sách khác. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.
Sách có số độc giả đông nhất và dịch ra nhiều thứ tiếng nhất :Kinh thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh thánh vượt mọi sách khác. Kinh thánh Do Thái giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác.Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịchsang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Với số lượng in nhiều nhất như thế, số lượng người đọc Kinh Thánh cũng đứng hàng đầu. Nếu tính con số tối thiểu cứ mỗi cuốn sách được in ra có ít nhất 2 người đọc, thì trên thế giới đã có trên 6 tỷ người đọc Kinh Thánh.
- Sách hợp thời nhất: Mặc dù Kinh Thánh đã có hơn hai ngàn năm, thế nhưng một điều kỳ diệu là những lời Kinh Thánh không hề lỗi thời, ngược lại còn rất hợp thời. Những Lời trong Kinh Thánh vẫn rất đúng và vẫn được đem ra áp dụng trong đời sống hằng ngày.
- Sách có quyền năng nhất: Người ta tin rằng : tất cả những cuốn sách có mặt trên mặt đất đều không có quyền năng vì là những lời của con người. Lời Kinh Thánh đầy quyền năng vì là Lời của một Thiên Chúa hằng sống, uy quyền và vinh quang muôn ngàn đời. 
ảnh kinh thánh,sách kinh thánh,sách bán chạy
- Sách nói về Thiên Chúa hay nhất : Nếu bạn đã từng đi tĩnh tâm nghe một bài thuyết giảng hay nhất về Thiên Chúa của một người nổi tiếng nhất thì tất cả những điều bạn nghe đều xuất phát từ cuốn Kinh Thánh. Một bài giảng về Thiên Chúa mà không điểm tựa từ Kinh Thánh là một bài giảng “trật đường”.
-Sách nói về bạn hay nhất Càng đọc Kinh Thánh, bạn càng khám phá ra những Lời trong Kinh Thánh đang nói về và cho chính bạn. Bạn đang đau khổ, buồn sầu, tội lỗi, chán nản hay vui sướng, bình an… Tất cả những điều đó bạn đều tìm thấy trong Thánh Kinh. Và trong Kinh Thánh bạn sẽ thấy được con đường đi đúng nhất cho mình.
- Sách quan trọng và giá trị nhất: Chúa Giêsu nói : “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Nói cách khác, nếu bạn chỉ ăn để sống mà thiếu niềm tin và sống Lời Chúa thì bạn đang chết một nửa cuộc đời. Một nửa cuộc đời bạn đang chết đó chính là linh hồn bạn đang thiếu của ăn Lời Chúa. Mátthêu 16, 22: “Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?”.
- Sách đắt nhất :  Kinh Thánh được viết vì bạn và cho bạn. Phú quý, giàu sang, nghèo nàn, thất học đều có thể đọc. Thế nhưng, Kinh Thánh là sách đã được trả giá đắt nhất không phải về giá trị vật chất thế gian nhưng là bởi máu và cái chết của Chúa Giê Xu
- Sách nói về quá khứ và tương lai chắc chắn nhất: Không một thầy bói, nhà chiêm tinh nào có thể nói về quá khứ và tương lai đúng và chắc chắn nhất như Sách Kinh Thánh, vì ngay cả số mệnh, cuộc đời của họ cũng nằm trong cuốn Kinh Thánh. Hơn 4 tỷ người trên trái đất đã đang và luôn tin vào điều đó, bởi thế mà người ta nói Kinh Thánh là cuốn sách quyền lực nhất.

2. Vậy thực chất kinh thánh là gì ?

ảnh kinh thánh,sách kinh thánh,sách bán chạy
Kinh Thánh là tập hợp của một số sách về niềm tin của Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo.  Kinh Thánh được khoảng 40 tác giả, sống tại 3 lục địa khác nhau, viết trong khoảng thời gian gần 1600 năm.  Kinh Thánh được viết bằng ba ngôn ngữ, chủ yếu là tiếng Hebrew (Do Thái) và Greek (Hy Lạp). Một vài phân đoạn trong Kinh Thánh được viết bằng tiếng Aramaic, một cổ ngữ được dùng phổ biến tại Do Thái trong thời Đức Chúa Giê-xu.
Các tác giả Kinh Thánh được Đức Chúa Trời soi dẫn khi họ viết Kinh Thánh.  Vì thế, Kinh Thánh được xem là Lời của Đức Chúa Trời; các tác giả Kinh Thánh chỉ đóng vai trò ký thuật chép lại những gì Đức Chúa Trời đã hướng dẫn họ.  Kinh Thánh là nền tảng đức tin của Cơ Đốc giáo.  Người tin Chúa áp dụng những nguyên tắc dạy dỗ trong Kinh Thánh vào cuộc sống hằng ngày.

3. Do đâu có tên gọi là Kinh Thánh ?

Danh từ Kinh Thánh, hay Thánh Kinh, trong tiếng Việt được dịch từ chữ Holy Bible trong tiếng Anh.  Chữbible trong tiếng Anh xuất phát từ chữ biblia trong tiếng La Tinh, hay βιβλία trong tiếng Hy Lạp.  Đây là một danh từ mô tả số nhiều, trung tính, có nghĩa là “những cuốn sách.”
Trong danh từ Hán Việt, các sách tôn giáo dạy đạo lý được gọi là kinh; cho nên chữ biblia sacra khi được dịch sang tiếng Việt đã được các dịch giả gọi là Kinh Thánh.

4. Cấu trúc kinh thánh như thế nào ?

ảnh kinh thánh,sách kinh thánh,sách bán chạy
Kinh Thánh được chia thành hai phần chính là Cựu Ước và Tân Ước.  Cựu Ước là Kinh Thánh của Do Thái giáo.  Tân Ước ghi lại cuộc đời của Đức Chúa Giê-xu, những lời dạy dỗ của Ngài, lịch sử của Hội Thánh và những huấn thị của các nhà lãnh đạo Hội Thánh trong giai đoạn đầu.

5. Vậy tóm lại, trong kinh thánh đã viết những gì ?

Kinh Thánh là mặc khải của Đức Chúa Trời dành cho nhân thế.  Kinh Thánh giúp con người hiểu Đức Chúa Trời là ai, con người từ đâu mà có, chương trình của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại là gì, Đức Chúa Giê-xu là ai, làm thế nào để con người có thể sống trong mối quan hệ tốt đẹp với Đức Chúa Trời qua trung gian của Đức Chúa Giê-xu.
Mục đích Đức Chúa Trời phổ biến Kinh Thánh không phải để nghiên cứu nhưng để áp dụng.  Kinh Thánh giúp cho mỗi người biết chương trình của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại, vị trí của mỗi người trong chương trình đó, và làm thế nào để mỗi cá nhân sống đúng với mục đích mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng mình.  Kinh Thánh khuyến khích người đọc áp dụng những nguyên tắc được dạy dỗ trong Kinh Thánh vào cuộc sống để kinh nghiệm những ơn phước mà Đức Chúa Trời đã hứa.
Về một phương diện, việc áp dụng Kinh Thánh vào cuộc sống có thể so sánh như việc sử dụng máy điện toán hay một sản phẩm điện tử tinh vi.  Bạn có thể không hiểu rõ những dụng cụ này cấu tạo ra sao  và hoạt động như thế nào, nhưng nếu bạn áp dụng những chức năng căn bản, bạn sẽ kinh nghiệm những  ích lợi cho bạn.
Nếu bạn đã từng nghe về kinh thánh nhiều lần nhưng không hề biết nó là gì, nó như thế nào, thì bài viết này nhất định đã có ích cho bạn. 
(Nguồn :https://www.ohay.tv)

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

KINH THÁNH : TÁC PHẨM VĂN HÓA VÔ GIÁ CỦA NHÂN LOẠI



Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần tuý là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi – mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới – vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.
Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.
Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”;  2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” – nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.
Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.
Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Sơ lược nội dung Kinh Thánh

Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.
Cựu Ước – Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) – khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận – chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.
Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi làSách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tân Ước – Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.
Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá … Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém …), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.
Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo – phương Tây gọi là Onanism – từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]
Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.
Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.

Tính chất quan trọng của Kinh Thánh

Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.
Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất – đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỉ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.
Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy, …vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn … đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh …, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.
Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây – nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội … đều nên đọc Kinh Thánh.

Kinh Thánh ở Việt Nam

Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.
Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Toà Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.
Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.
Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hoá nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hoá lịch sử, khảo cổ … của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hoà vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hoá tôn giáo – một thành phần rất quan trọng của văn hoá thế giới.
Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa-tâm linh.

Nguyễn Hải Hoành 
(Nguồn : HNPD)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

HIU HẮT



Khi chúng tôi thấy thằng bé đó , thì nó mới lên 10 tuổi thôi  , ở ngay cửa nhà thờ Ba Chuông ,  vào cuộc đổi đời  bi thảm 30-4-1975 , tức năm nay nó đã 51 tuổi  . 
Thủa nó lên 10 , thì ai tới nhà thờ nêu trên , cũng gọi nó là  ". Thằng nhà thờ Ba Chuông  " , chứ có biết tên tuổi của nó bao giờ đâu . 
Cái khổ của nó là  :  chân tay quặt quẹo , đi không được , phải lết hay bò . Đã vậy , nó còn bị ú ớ , nói không được , phải giơ chân , múa tay xin xỏ , hay ăn uống . 
Chúng tôi không biết thân nhân nó là ai và nó ở đâu . Tình cờ một ngày tôi có việc phải đi  ngang cửa nhà thờ Ba Chuông  thật sớm  , tôi thấy chiếc xe hơi cũ có cái thùng đằng sau , thằng bé được ngồi trong thùng xe , người ta chở nó đến , để bắt đầu một ngày  nó đi ăn xin . 
Chúng tôi ở cư xá đối diện nhà thờ Ba Chuông , còn gọi nhà thờ Saint  Thomas , nên hình ảnh. thằng bé nhà thờ Ba Chuông  cứ quen thuộc  . .. trong  lúc nói , trong lúc nghĩ . 
Thằng bế đó  đã lớn lên , nó không có dấu hiệu bệnh nặng hơn , và cũng không thể  bớt bệnh đi , nghĩa là nó cứ như vậy , chân tay quặt quẹo , ú ớ  thường xuyên . 
Tất nhiên những cử chỉ lết hay bò đã được thay thế bởi chiếc xe bằng gỗ kiểu trẻ em , nhưng to và cao hơn , dưới sàn xe có lắp 4 bánh xe , để thằng nhà thờ Ba Chuông  đó có thể tự thò một chân ra khều  , ưỡn người lên , rướn đẩy cái xe về phía trước ...
Trong dịp về Saigon  thăm họ hàng mấy năm  trước , tôi luôn ghé nhà thờ Ba Chuông  xem lễ hay xin gặp Cha  xứ  , để được hỏi thăm ít điều . 
Nhà thờ Ba Chuông  được xây cất lại , nên từ nội thất ra ngoài và vòng quanh nhà thờ  quá đẹp . 
Tan lễ  , tôi ra cửa trước để về nhà , quý vị  chiên lành  ở quanh vùng và từ xa tới đông hơn hồi tôi chưa  đi Mỹ . 
Gặp lại nhiều người quen xưa , đang nói cười vui vẻ , thì thoáng một gương mặt quen ló ra , tôi nhận ra ngay " thằng bé ở nhà thờ Ba Chuông. " . Hắn vẫn cười ngờ nghệch , nói ú ớ ... , chân tay vẫn quặt quẹo  ...
Gương mặt hắn chỉ già đi , nhìn cứng rắn hơn  thôi , chứ mọi cử chỉ vẫn như thủa lên  10 . Tôi bỗng chột dạ , trời , nay hắn như một  cái ông , chứ còn nhỏ gì nữa . 
Có điều hắn không còn  la lết như ngày xưa , hắn đã được.gia đình đóng cho một chiếc ghế có mảnh gỗ kéo chắn ngang  , đồng thời  ghế có bánh xe để di chuyển tới lui được , nên gọi là cái xe . 
Mấy đứa nhỏ nhà tôi tưởng tôi không nhận ra hắn , cứ hỏi xem có nhớ " thằng ở nhà thờ  Ba Chuông  " không . Tôi gật đầu , thì tụi nhỏ còn thêm câu :  mà bây giờ nó lớn quá rồi , phải kêu bằng " cái ông  " đó nhé . 
Tôi cười thản nhiên  : không muốn kêu  ầm ĩ , dù cho hơn 40 năm qua ,  mỗi người mỗi thay đổi ít nhiều    ..., thì cứ kêu bằng chú cũng được . 
Cái bệnh bẩm sinh toàn thân co quắp này , thường không sống lâu đâu , người nhà đã khổ rồi , nhưng Chúa thử thách cá nhân hắn ta và người thân , thời gian dài ngắn cũng là một kiếp người , sự đối đãi nếu không đầy đủ , có khi ân hận với lương tâm thôi , không ai trách cứ  . 
Chẳng riêng tôi nghĩ vậy , mà các gia đình giáo dân ở khu nhà thờ Ba Chuông đều nghĩ như vậy . 
"  Chú bé ở nhà thờ Ba Chuông  "  ngồi xe  gỗ nhà tự đóng  đã quen sinh hoạt mới của đời chú  . 
Nghe nói xưa còn nhỏ lê la , ngọng nghịu  thì  bố chở đến nhà thờ mỗi buổi sớm để xin ăn đỡ gia đình . 
Nay lớn thực rồi , là căn cứ theo số tuổi , chứ vẫn ú ớ , ngô nghê, lọng khọng ...
Bố chú già rồi , gia đình phải nhờ một người em , cậu em này được sanh sau chú một năm mà hên là mọi sự bình thường .
Người em trai khỏe mạnh này chở chú tới nhà thờ Ba Chuông khoảng 6 giờ mỗi sáng như thường lệ  , giúp chú lên xuống thùng xe , để chú ngồi ngay ngắn trong chiếc ghế có bánh xe , rồi  Em chú đi làm chi đó , hẹn chiều đón về nhà . 
Nhờ chiếc ghế xe  mà đỡ hẳn mọi chuyện lặt vặt , nhưng lại là một cứu cánh , vì nếu không có nó , cuộc sống chú sẽ thế nào đây ? 
Bây giờ chú có thể tự lái cái xe thô sơ đó , từ cửa vô thẳng Hang Đức Mẹ ở phía hông trái nhà thờ . Chú sẽ cầu xin Đức Mẹ , thở than , hay thổ lộ với Đức Mẹ . 
Rồi  đi một vòng quanh sân nhà thờ , cho xe vô sát cửa nhìn vào bên trong nhà thờ , ngắm ảnh Chúa , đọc kinh Lạy Cha  . 
Có ai động lòng trắc ẩn , chia xẻ ít nhiều cũng được , mà không cũng được , nhà thờ sẽ cho chú ăn , nếu cần . 
Nhưng chú lại thích làm cái việc là mở hay đóng 2 cánh cửa sắt lớn ngoài hàng rào nhà thờ , những ngày  không có lễ lớn , ngoài thứ 7 ,  Chúa Nhật chẳng hạn . 
Cha ơi , đời con đã vậy , để Cha tính toán thôi ...mỗi ngày " chú bé ở nhà nhờ Ba Chuông đều thưa kính Chúa như vậy . ..

    CAO MỴ NHÂN (HNPD)

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2016

NGƯỜI PHỤ NỮ NGỌAI TÌNH


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN C - 12/6/2016 

Câu chuyện trong Tin Mừng hôm nay xảy ra tại nhà ông Simon, một đạo sĩ Do thái. Vào thời Chúa Giêsu, các nhà của giới giàu có thường được xây quanh một khu sân rộng như một công viên trống trải. Trong sân có vườn cây và giếng nước, vào mùa nóng nực người ta bày ăn tại đó.
 
Mỗi khi có một Rabbi nào đến dự tiệc, thì mọi người được tự do đến nghe những lời giảng dạy. Thói quen đó giải thích sự có mặt của người đàn bà tội lỗi này trong nhà Simon.
 
Khi có khách đến nhà, người ta thường làm ba việc sau đây:
 
- chủ nhà đặt tay lên vai khách và tặng vị khách một cái hôn hòa bình. Đó là dấu hiệu của lòng tôn kính, nhất là trong trường hợp gặp một rabbi danh tiếng.
 
- Đường xá đầy cát bụi, nên khi vào nhà, người ta đổ nước lạnh lên bàn chân để rửa sạch bụi bặm và làm mát chân khách.
 
- Người ta cũng đốt lên một nhúm hương liệu cho thơm, hoặc đổ một giọt dầu hoa hồng lên đầu khách.
 
Phép lịch sự đòi hỏi những điều đó, nhưng trong trường hợp này chủ nhà đã bỏ qua tất cả.
 
Rồi thêm một tập tục nữa, cũng vào thời Chúa Giêsu, khi ăn thực khách không ngồi, nhưng nằm nghiêng quanh bàn tiệc. Họ dựa trên những chiếc gối thấp, chống trên khuỷu tay trái, tay mặt để tự do, hai chân duỗi thẳng về phía sau, bỏ dép ra. Tư thế đó cho phép người đàn bà tội lỗi có thể đứng gần chân Chúa Giêsu.
 
Simon là một đạo sĩ Do thái, một trong những người thuộc nhóm Biệt Phái. Tại sao một người như vậy lại mời Chúa Giêsu tới nhà mình? Rất có thể Simon này là người thích nổi tiếng, với thái độ nửa trọng nửa khinh, ông đã mời Chúa Giêsu đến ăn tiệc trong nhà mình.
 
Chính vì thế ta hiểu tại sao có sự pha trộn vừa có vẻ tôn kính lại vừa bỏ qua phép lịch sự phải giữ. Hẳn Simon là một người có thái độ kẻ cả đối với Chúa Giêsu.
 
Còn người đàn bà trong Tin Mừng là một gái điếm.
 
Dường như cô đã từng đứng lẫn vào đám đông để nghe Chúa giảng, đã gặp Chúa, đã hối cải và được Chúa tha thứ.
 
Theo tập tục của phụ nữ Do thái, một chai nhỏ dầu thơm nguyên chất, quen gọi là bình ngọc, rất đắt tiền thường được đeo trên cổ.
 
Cô chỉ ước ao được đổ bình dầu thơm đó lên chân Chúa, vì đó là tất cả những gì cô có để dâng cho Ngài.
 
Cô đến để xức dầu thơm lên chân Chúa, cô quá cảm động, nước mắt đổ ra chảy xuống chân Ngài. Cô vội vàng tháo tóc ra lau khô rồi đổ chai dầu thơm lên.
 
Một phụ nữ Do Thái xõa tóc nơi công cộng là đã phạm một lỗi lớn về phẩm hạnh. Người đàn bà này tỏ ra quên hẳn mọi người có mặt chỉ còn thấy một mình Chúa Giêsu thôi.
 
Đối với cô không còn cách nào hơn để biểu lộ lòng biết ơn và sự hy sinh nhiệt thành của mình.[1]
 
Cử chỉ này làm chúng ta liên tưởng đến cái hôn ở vườn Cây Dầu.
 
Cái hôn của Giuđa.
 
- Giuđa đi tìm Chúa, khi gặp, ông bước tới ôm Ngài, và hôn mặt Ngài(Lc 22,47). Cái hôn của ông có vẻ vừa hợp tình vừa hợp lý. Người ngoài dù lạ dù quen, dù nam hay nữ, không ai đã chê trách cái hôn đó.
 
- Còn ở đây, Mađalêna cũng đi đi tìm Chúa. Khi gặp, cô quỳ xuống, khóc ướt chân Chúa. Cô lấy tóc lau, và "không ngừng hôn chân Ngài" (Lc 7,45).
 
Nhưng cái hôn của cô có vẻ không được thích hợp.
 
Chả thế mà ông Simon đã lẩm bẩm này nọ trong bụng và đâm nghi ngờ Chúa. (Lc 7,39).
 
- Ngay trong thời buổi tự do này, nếu câu chuyện đó xảy ra bất cứ nơi nào trên trái đất, nhất là ở nước chúng ta, thì chắc chắn người ta sẽ không để cô yên và chính Chúa cũng sẽ bị kết án tơi bời.
 
- Người ta thì thế. Còn Chúa thì sao?
 
- Chúa đã trách cái hôn của Giuđa và đã bênh cái hôn của Mađalêna.
 
- Chúa thấy rõ tâm tư thầm kín của từng người.
 
Giuđa hôn Chúa, nhưng để nộp Người. Còn Mađalêna hôn Chúa, để xin ơn làm lại cuộc đời.
 
- Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bề ngoài vì hợp phong tục, đúng luật xã giao và tình nghĩa. Nhưng ý hướng bên trong thì quá xấu.
 
- Cái hôn của Mađalêna thì bề ngoài không được thích hợp vì những lý do dễ hiểu, nhưng bên trong đầy những ý hướng tốt đẹp. [2]
 
Vì cô biết rằng mình đã hoang phí vẻ diễm lệ, đã tiêu hao tình yêu cho những kẻ bất xứng. Trót lầm lỡ, cô đau xót vì đã mua lấy một kinh nghiệm bằng cả cuộc đời và thú nhận rằng mình đã bị tước đoạt rồi bị bỏ rơi, y như một ly nước đầy được để qua một bên sau khi đã cạn. 
 
Cô đã bán rẻ thân xác, đã lao vào mình vào những cuộc vui, nhưng thật may mắn cô đã gặp được Chúa Giêsu.
 
Từ đó, cô phát hiện ra còn có một tình yêu khác, tình yêu đó không thể ban phát bừa bãi. Lòng tin nơi cô khơi dậy và qui hướng những khả năng yêu thương của cô vào một hướng khác, rất khác. Rồi chẳng còn e dè gì nữa cô lại gần Đức Giêsu, suốt bữa tiệc, trước mặt các khách dự tiệc, cô phủ phục dưới chân Chúa, như thể hạ nhục cái tính tự cao tự đại để rồi được trầm mình trong tình yêu thương của Chúa Giêsu.
 
Câu chuyện những cái hôn trên đây dạy chúng ta phải biết dè dặt, cân nhắc khi đánh giá tha nhân.
 
Nếu chúng ta thấy một người có hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, thì chúng ta đừng vội nghi ngờ họ.
 
Họ không được xã hội đồng ý, nhưng trước mặt Chúa, chưa chắc họ đã thua ai. Rất có thể họ đã đẹp lòng Chúa hơn chúng ta. Chúa đã chẳng bênh Mađalêna và trách ông Simon là gì.
 
Kẻ khinh người khác là tội lỗi đã bị Chúa đặt dưới kẻ chính họ đã khinh. Amen.
 
Lm. Giuse Đỗ Văn Thuỵ


(Nguồn :https://giaophanphucuong.org)