Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

XẾ CHIỀU RỒI, RÁNG GIỮ SỨC BÀ ƠI !


XẾ CHIỀU
--------------
Xế chiều rồi tôi vẫn nắm tay bà
Kể từ khi tôi gọi bà là vợ
Đã đi qua biết bao mùa hoa nở
Những bổng trầm sắc thái của tình yêu.

Xế chiều rồi hai chiếc bóng liêu xiêu
Gợi tôi nhớ về một thời tuổi trẻ
Nắm tay tôi, bà ngượng ngùng thỏ thẻ:
“Người ta chịu rồi, còn hỏi làm chi”.

Xế chiều rồi tôi vẫn nắm bà đi
Dẫu chỉ là những bước cao bước thấp
Nhớ khi xưa tôi nhắc nhiều, bà vấp
Để bây giờ bà khập khểnh bước chân.

Xế chiều rồi tôi thấp thỏm băn khoăn
Mình đông con mà thân già cô quạnh
Chúng giàu sang mà đẩy đùn, tị nạnh
Đòi chia mảnh vườn hương hỏa tổ tiên.

Xế chiều rồi lòng tôi nặng ưu phiền
Mấy thằng con chỉ biết nghe lời vợ
Chúng chỉ mong vợ con không đói khổ
Tôi với bà mấy khi được quan tâm.

Xế chiều rồi, tôi lại nghĩ mông lung
Tôi đi trước hay là bà đi trước
Nhỡ tôi đi rồi, ai dìu bà bước
Tội nghiệp bà sẽ đơn chiếc, lẻ loi.

Xế chiều rồi, ráng giữ sức bà ơi
Tôi chỉ mong mấy đứa con tỉnh ngộ
Chúng học lại những gì trong sách vở
Để đánh vần....“chữ hiếu”...kịp người ta!


Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHỐI VÔ HIỆU (BẤT THÀNH SỰ)


Với một kiến thức tương đối về việc hôn phối và nếu tìm hiểu một cách cặn kẽ về những cách thế sửa soạn trong giai đoạn tiền hôn phối, về nghi thức cử hành cũng như về những điều kiện sống trong đời sống gia đình Công Giáo, người ta phải công nhận một điều: Giáo Hội Công Giáo có vẻ như quá cẩn thận và nguyên tắc trong việc lập gia đình giữa những người tín hữu.

Ðối với Giáo Hội Công Giáo, một gia đình được thành lập, không phải chỉ được thành lập đúng với nghi lễ, tập tục của xã hội để được xã hội nhìn nhận là một gia đình, nhưng còn phải theo các nghi thức, qui luật Thiên Chúa đã ấn định qua Giáo Hội, để gia đình đó thật sự là một gia đình, trước mặt Thiên Chúa, được Thiên Chúa chúc lành và được Giáo Hội nâng đỡ.
Những nghi thức, qui luật này được ấn định một cách rõ ràng để mọi người chiếu theo đó thực hành. Trong những trường hợp hôn phối chấp hành và thực thi tất cả những thể thức và những qui luật đã ấn định, người ta có một hôn phối cử hành cách hợp pháp (licit) và thành sự (valid), ngược lại, vì những sơ hở, thiếu sót nào đó, người ta có thể có những trường hợp hôn phối cử hành cách bất hợp pháp (illicit) hay bất thành sự (invalid).

Trong phạm vi của chương này, đầu tiên chúng ta bàn tới những ngăn trở và các trường hợp hôn phối đã cử hành, nhưng vì có ngăn trở, nên hôn phối ấy không có hiệu quả thật sự của Bí Tích, nghĩa là những hôn phối vô hiệu hay bất thành sự.

Bằng cách nào đó, khi một hôn phối được các cơ quan có thẩm quyền của Giáo Hội xác định rằng hôn phối ấy đã không có hiệu quả Bí Tích (vô hiệu), hay đã không thành sự, thì hai người liên hệ trong hôn phối ấy không được kể là vợ, là chồng trước mặt Chúa, trước mặt Giáo Hội, cho dù họ đã sống với nhau như vợ chồng trong nhiều năm và đã có con cái.

Nếu họ muốn tiếp tục sống với nhau như vợ chồng trong một gia đình như những gia đình khác, họ phải thực hiện lại Bí Tích Hôn Phối của họ. Trường hợp này được gọi là hữu hiệu hóa hôn phối (convalidatio).

Nếu vì những lý do nào đó, họ không muốn tiếp tục sống với nhau, hay hơn nữa, muốn lập gia đình với một người khác, họ có quyền thực hiện theo ý muốn của mình.

Cơ quan có thẩm quyền để xác định một hôn phối có thành sự hay hữu hiệu hay không là Tòa Án Hôn Phối của Giáo Hội. Việc tuyên bố một hôn phối đã cử hành là vô hiệu hay bất thành sự, gọi là việc tháo gỡ hôn phối trong Giáo Hội Công Giáo.

Phải phân biệt việc ly dị, hiểu theo nghĩa dân sự, ngoài đời: Ly dị là cho phép hai người thật sự là vợ, là chồng trong một gia đình, chấm dứt việc sống chung vợ chồng, chia tay nhau và hai ngừơi tự do sống một mình hay lập một gia đình khác tùy ý họ.

Tháo gỡ hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo không phải vậy, nhưng là việc điều tra, tìm hiểu về diễn tiến của một trường hợp hôn phối, theo lời yêu cầu của đương sự liên hệ, với những chứng cớ rõ ràng rằng hôn phối của họ, vì thiếu những yếu tố, những điều kiện luật qui định, hay có những ngăn trở hiện diện khi cử hành nên đã không có hiệu quả của hôn phối. Tòa Án chỉ làm công việc tuyên bố rằng: Ngay từ đầu, lúc cử hành, hôn phối ấy đã không tạo được hiệu quả của Bí Tích.

Một hôn phối đã cử hành trong Giáo Hội, giữa hai người đã được rửa tội, không có một ngăn trở nào, hôn phối ấy không thể nào được tháo gỡ (phân ly) do bất cứ quyền bính nào của Giáo Hội.

Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu về những ngăn trở được qui định do Luật Giáo Hội, khiến một hôn phối khi cử hành không có hiệu quả Bí Tích.

AI ÐẶT RA NGĂN TRỞ?


Ðiều luật 1075 trong Bộ Giáo Luật hiện hành qui định như sau Chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thẩm quyền tuyên bố chính thức khi nào luật Chúa cấm đoán hay tiêu hủy hôn phối. Cũng vậy, chỉ duy quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thẩm quyền đặt ra các ngăn trở khác dành cho những người đã chịu phép Rửa tội. Trong một trường hợp riêng, Bản Quyền Sở tại có thể cấm những người thuộc quyền mình hiện cư ngụ bất cứ ở đâu, và tất cả những người hiện đang ở trong lãnh thổ riêng của mình không được cử hành hôn phối, nhưng sự cấm đoán chỉ có tính cách tạm thời do một lý do quan trọng và bao lâu lý do ấy còn kéo dài. Nếu lý do ấy không còn tồn tại nữa thì sự cấm đoán cũng hết hiệu lực (can.1977)

Bộ Giáo Luật năm 1917 phân biệt ngăn trở thành hai loại:
1. Ngăn trở cấm chỉ (impedient impediment) hôn phối bị cấm cử hành, nhưng nếu cử hành vẫn thành hiệu nhưng mắc lỗi (illicit) .

2. Ngăn trở tiêu hôn (diriment impediment) hôn phối bị cấm cử hành và nếu cử hành hôn phối ấy sẽ không thành hiệu (invalid)

Cũng theo Bộ Luật 1917 chỉ Ðức Giáo Hoàng mới có quyền miễn chuẩn các loại ngăn trở. Trên thực tế, Ðức Giáo Hoàng ủy thác năng quyền miễn chuẩn này cho các đại diện của Ngài và các Ðức Giám Mục Giáo phận.

Bộ Giáo luật 1917 liệt kê 5 loại ngăn trở cấm chỉ và 13 ngăn trở tiêu hôn. Bộ Giáo Luật 1983 bãi bỏ danh từ ngăn trở cấm chỉ và chỉ còn liệt kê 12 loại ngăn trở tiêu hôn mà thôi. Như thế, khi nói về ngăn trở, Bộ Giáo Luật mới đơn giản hơn Bộ Luật cũ. Năng quyền miễn chuẩn trong Bộ Luật mới cũng được mở rộng hơn cho các Ðấng Bản quyền địa phương. Trong việc thay đổi này, vì tính cách bất hồi tố của luật lệ, những hôn phối cử hành trước ngày Bộ Luật mới có hiệu lực (27-11-1983) vẫn phải theo những qui định của Bộ Luật cũ.

ÐỊNH NGHĨA NGĂN TRỞ


Bộ Giáo Luật 1983 định nghĩa ngăn trở như sau:
Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta mất khả năng kết hôn cách hữu hiệu (can. 1073)


NGUỒN GỐC LOẠI NGĂN TRỞ


1. Phát sinh do luật tự nhiên hay thiên luật.
            a. Bất lực (dù vĩnh viễn hay tạm thời)
            b. Ðã lập gia đình (đã đang có vợ hay có chồng)
            c. Họ hàng huyết tộc trực hệ hay cấp hai của bàng hệ (xem phần phụ chương về cách tính họ hàng.)

2. Qui định theo Giáo Luật (xem phần áp dụng sau)
            a. Chưa tới tuổi Giáo luật định (Nam 16- Nữ 14)
            b. Khác đạo (có thể xin phép chuẩn)
            c. Ðã lãnh nhận chức Thánh.
            d. Ðã khấn trọn đời trong một Dòng tu hay Tu hội.
            e. Bị bắt cóc hay bị ép buộc.
            g. Tội ác (thông đồng trong việc giết vợ hay chồng để lấy nhau)
            h. Họ hàng bàng hệ đến cấp thứ bốn.
            i. Ngăn trở công hạnh.
            k. Họ hàng dưỡng tử (con nuôi- anh chị em con nuôi).

ÁP DỤNG NGĂN TRỞ TRÊN THỰC TẾ


Trên thực tế và theo Giáo Luật, Chúng ta có thể chia làm ba loại ngăn trở:
            - Ngăn trở về thể thức khi cử hành;
            - Ngăn trở về sự ưng thuận kết hôn;
            - Ngăn trở về cá nhân của người kết hôn.

I. NGĂN TRỞ VỀ THỂ THỨC KHI CỬ HÀNH

Một hôn phối giữa hai tín hữu Công Giáo hay chỉ một trong hai người là người Công Giáo, chỉ có hiệu quả khi được thực hiện:
            - Với sự hiện diện của một thừa tác viên hợp lệ.
            - Với sự hiện diện của hai người làm chứng.
Nếu thiếu một trong hai điều này, hôn phối vô hiệu.

1. Các Thừa tác viên hợp lệ là:
- Ðức Giám Mục Giáo Phận;
- Cha Sở nơi một trong hai người đang cư ngụ;
- Một Linh Mục được ủy quyền chứng nhận hôn phối hợp pháp;
- Một Phó Tế được ủy quyền chứng nhận hôn phối hợp pháp;

2. Hai người làm chứng:
- Hai người chứng hôn chỉ được hiểu là hai người hiện diện để đòi hỏi hai bên nam nữ muốn lập gia đình với nhau bày tỏ sự ưng thuận và chứng nhận sự bày tỏ ấy.

II. NGĂN TRỞ VỀ SỰ ƯNG THUẬN KẾT HÔN

Trong nghi thức khi cử hành hôn lễ, hai bên nam nữ liên hệ phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn. Sự ưng thuận này phải được kết lập bằng ước muốn trong tự do của người bày tỏ. Những điều liệt kê sau đây là những lý do ảnh hưởng trên sự ưng thuận của người bày tỏ. Tùy theo cấp độ nặng hay nhẹ của ảnh hưởng, có thể làm cho một hôn phối vô hiệu:

1. Sự bắt ép và sợ hãi: Nếu một người bị đe dọa, cưỡng ép, bắt buộc do một hay nhiều người khác, dù cho là cha mẹ, và vì sợ hãi, người ấy phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn nhưng thật sự trong lòng không muốn như vậy. Hôn phối ấy vô hiệu (invalid).

2. Sự lường gạt: Nếu một người cố tình dấu diếm hay dối trá về chính mình để lường gạt người kia ưng thuận lập gia đình với mình, mà sự dấu diếm hay dối trá ấy quan trọng cho đến nỗi sau này, khi người bị lường gạt khám phá ra sự thật, họ không thể sống chung với người đã lường gạt mình được nữa. Hôn phối ấy vô hiệu.

3. Ý định ngoại tình: Nếu ngay trong ngày hôn lễ, một người đã có ý định ngoại tình, hay thật sự ngoại tình bằng hành động với một người khác. Sự chung thủy cần thiết trong hôn phối không có. Hôn phối ấy vô hiệu.

4. Ý định bỏ nhau: Nếu ngay trong ngày hôn lễ, một người đã có ý định chỉ sống với chồng hay vợ mình đang kết hôn này một thời gian nào thôi, sau đó, khi nào muốn sẽ tự động ra đi sống đời sống mới. Hôn phối ấy vô hiệu.

5. Ý định không có con cái: Nếu ngay trong ngày hôn lễ, một người có ý định nhất định sẽ không có con cái, hoặc độc tài quyết định việc có bao nhiêu đứa con, không cho ngừơi kia quyền có ý kiến về việc này. Hôn phối ấy vô hiệu.

6. Ý định chủ, tớ: Trong hôn nhân, hai vợ chồng bình đẳng nhau, san sẻ đời sống vui buồn. Nếu ngay trong ngày hôn lễ, một người đã có ý định lấy vợ hay chồng để làm nô lệ cho mình, hay làm một đối tượng để thỏa mãn dục vọng không thể nào ngang hàng với mình được. Hôn phối ấy vô hiệu.

7. Thiếu xử dụng trí khôn: Một người vì thiếu xử dụng trí khôn, nên thiếu sót trầm trọng trong sự nhận định về những quyền lợi và bổn phận thiết yếu của đời sống hôn phối, hay vì lý do tâm lý không thể đảm nhận nghĩa vụ thiết yếu trong đời sống gia đình. Sự ưng thuận của người ấy không có căn bản. Hôn phối ấy vì thế vô hiệu.

III. NGĂN TRỞ VÊ CÁ NHÂN NGƯỜI KẾT HÔN


1. Chưa tới tuổi kết hôn luật định: Nếu một trong hai người, hay cả hai người chưa tới tuổi kết hôn luật định mà cử hành hôn lễ. Hôn phối ấy vô hiệu (Tuổi giáo luật định: Bên nam 16 tuổi; bên nữ 14 tuổi).

2. Bất lực (impotence): Nếu một trong hai người bất lực, không thể hoàn hợp (consummatum) hôn phối của họ sau khi cử hành. Hôn phối ấy có thể được tháo gỡ. Vì lý do này, một hôn phối giữa hai người không bất lực, đã cử hành, nhưng chưa hoàn hợp có thể được tháo gỡ.

3. Ðã có gia đình rồi: Nếu một người đã lập gia đình theo thể thức hợp lệ thông thường, người ấy không thể lập gia đình một lần nữa được. Nếu trong một hoàn cảnh nào đó, người ấy cử hành hôn phối một lần nữa. Hôn phối cử hành lần thứ hai vô hiệu.

4. Hôn phối khác đạo: Một người Công Giáo, lập gia đình với một người chưa bao giờ rửa tội, nếu không có phép chuẩn của Giáo Quyền, hôn phối ấy vô hiệu.

5. Ðã chịu chức thánh: Một người đã nhận thánh chức Linh Mục, không thể kết hôn hữu hiệu được. Nếu trong một hoàn cảnh nào đó cử hành hôn phối không có phép của Ðức Giáo Hoàng. Hôn phối ấy vô hiệu.

6. Ðã khấn trọn đời: Một người đã khấn trọn đời trong Dòng tu (dù là nam hay nữ), không thể kết hôn hữu hiệu được. Nếu cử hành hôn phối không có phép của Bản Quyền có thẩm quyền, hôn phối ấy vô hiệu.

7. Bị bắt cóc: Một người nữ bị bắt cóc, trong thời gian bị giam giữ, cử hành hôn phối với người bắt cóc mình, và dù người nữ ấy tuyên bố rằng mình tự do, tự ý quyết định kết hôn với người ấy. Hôn phối ấy vẫn vô hiệu. (Nếu sau khi được thả về một thời gian, không còn bị áp lực nữa, người nữ ấy đồng ý kết hôn với người đã bắt cóc mình hồi trước. Hôn phối ấy hữu hiệu).

8. Sát nhân: Nếu một người thông đồng với một người khác giết chồng hay vợ mình để có thể kết hôn với nhau. Hôn phối ấy vô hiệu.

9. Họ hàng huyết tộc: Những người có họ hàng huyết tộc gần gũi, nếu kết hôn với nhau. Hôn phối ấy vô hiệu. (Hôn phối vô hiệu cho đến cấp thứ bốn bàng hệ. Giáo Quyền có thể chuẩn cho đến cấp thứ ba bàng hệ, không bao giờ chuẩn cấp thứ hai bàng hệ và cũng không bao giờ chuẩn cho bất cứ cấp nào của trực hệ).

10. Họ hàng hôn thuộc: Một người không thể kết hôn với những người có họ hàng trực hệ với người phối ngẫu quá cố của mình. Nếu kết hôn. Hôn phối ấy vô hiệu.

11. Ngăn trở công hạnh: Một người không thể kết hôn với những người có họ hàng trực hệ với người mình đã từng sống chung công khai như vợ hay chồng một thời gian nào đó.

12. Họ hàng dưỡng hệ: Một người không thể kết hôn với con nuôi, hay cha mẹ nuôi, hay anh em nuôi của mình. (Giả thiết là việc dưỡng nuôi hợp pháp theo luật dân sự, hoặc thật sự có sống chung, sinh hoạt trong cùng một gia đình.).

(Trích trong sách : TÒA ÁN HÔN PHỐI & THÁO GỠ HÔN NHÂN CÔNG GIÁO của LM.Jos. Bùi Đức Tiến )

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

PHỤ NỮ CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC PHÉP MANG THAI HỘ VÀ SINH CON CHO NGƯỜI KHÁC KHÔNG ?


Hỏi: xin cha giải thích thắc mắc dưới đây : Phụ nữ Công giáo có được phép mang thai hộ và sinh con cho người khác không ?
Trả lời: Để giải quyết vấn đề hiếm muộn hay không thể có con được, nhiều cặp vợ chồng ở Âu Mỹ  đã sử dụng phương pháp thuê phụ nữ khác mang thai hộ ( surrogate mother) để có con.

Mang thai hộ có nghĩa là :

1- một phụ nữ bằng lòng cho sử dụng trứng (ovum) của mình để phối hợp với tinh trùng (sperms) của người không phải là chồng mình để tạo thành phôi sinh (embryo) qua phương pháp thụ thai nhân tạo (artificial insemination). Sau đó phôi sinh này được cấy trở lại trong tử cung của phụ nữ kia cho đến khi thai nhi được sinh ra và sẽ được trao trả cho vợ chồng người đã bỏ tiền thuê mướn theo giao kèo đôi bên đã ký kết.

2- hoặc đồng ý cho mượn tử cung của mình để tiếp nhân một phôi sinh (embryo) thụ tinh bởi trứng và tinh trùng của hai người khác nào đó và chỉ mượn tử cung của mình để mang thai hộ cho đến ngày viên mãn. Trong trường hợp này, phôi sinh hay giao tử (gametes) được thụ thai nhân tạo với  trứng và tinh trùng của người khác và được cấy (implanted) vào tử cung của phụ nữ ưng thuận mang thai hộ để lấy tiền của người thuê mướn.

Về mặt sinh học, thì người phụ nữ này đúng là mẹ thật ( biological mother) của đứa trẻ, vì đã cưu mạng trong lòng mình hay đã cho cả trứng của mình để tạo sinh đứa trẻ.Chỉ khác một điều là người cha của nó không phải là chồng của phụ nữ này mà thôi.

Chính vì là mẹ thật của đứa trẻ, nên trong thực tế đã xẩy ra những cuộc  tranh tụng bi thảm giữa phụ nữ mang thai hộ và người mướn mang thai. Đó là trường hợp đã xẩy ra ở tiểu bang New Jersey cách nay trên 20 năm khi một phụ nữ mang thai hộ đã từ chối trao trả bé gái cho cặp vợ chồng mướn mang thai. Họ kiện ra tòa, nhưng quan tòa đã xử cho phụ nữ kia thắng và được giữ đứa bé vì đó chính là con ruột của chị. (biological child). Dĩ nhiên chị này phải bồi hoàn số tiền đã lấy của vợ chồng kia.

Nhưng việc mang thai hộ này hoàn toàn sai trái về mặt luân lý theo giáo lý của Giáo Hội dạy như sau :

“ Những kỹ thuật gây nên sự phân ly phối hợp của vợ chồng, bằng hành động can dự của người khác thay vì của chính vợ chồng,  như tặng tinh trùng hoặc noãn sào (trứng) cho ai, hay cho mượn tử cung,  đều sai trái nghiêm trọng về mặt luân lý. (gravely immoral). Những kỹ thuật này gồm có chích tinh dịch và thụ thai nhân tạo (heterologous artificial insemination and fertilization) đều xâm phạm nặïng nề quyền của đứa trẻ được sinh ra bởi chính cha mẹ của nó đã được kết hiệp qua hôn nhân. Những kỹ thuật này cũng phản lại quyền của vợ chồng chỉ được trở thành cha mẹ nhờ được kết hợp với nhau như vợ chồng mà thôi. (x. SGLGHCG, số 2376).

Giáo lý này đãï được Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin (Congregation of the Doctrine of the Faith) của Tòa Thánh nhắc lại trong huấn thị Donum Vitae (Quà tặng về sự sống) năm 1987 như sau:

“ ...việc mang thai hộ (surrogate motherhood ) nói lên sự thất bại khách quan đối với những đòi buộc của tình mẫu tử, của sự trung tín vợ chồng và của trách nhiệm làm mẹ. Nó cũng súc phạm phẩm giá và quyền của đứa trẻ được thụ thai, cưu mang trong lòng mẹ, được sinh ra và được nuôi dưỡng bởi chính cha mẹ của mình. Ngoài ra, việc mang thai hộ này cũng tạo nên nguy cơ làm tan giã gia đình vì sự tách biệt giữa những yếu tố thể lý, tâm lý và luân lý là nền tảng cho mọi gia đình.” ( no.3)

Như thế rõ ràng Giáo Hội đã lên án việc “mang thai hộ”, một loại kỹ nghệ đã và đang được khai thác ở Âu Mỹ hiện nay. Dịch vụ này đã biến việc sinh con, vốn là đặc quyền (privilege) và là một quà tặng vô cùng quí giá của Thiên Chúa ban cho những ai được mời sống ơn gọi hôn nhân, thành một việc mua bán đổi chác như mọi dịch vụ kinh doanh khác trên thị trường.Hơn thế nữa, việc làm này cũng phá tan giao ước hôn nhân đòi buộc hai vợ chồng kết hợp mật thiết với nhau trong việc sinh sản con cái để cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo của Người.

Sau hết, việc mang thai hộ cũng làm thương tổn nặng nề thiên chức làm mẹ của phụ nữ vì đã biến những người làm nghề này thành những cái “máy sinh sản” để phục vụ cho lợi ích của người khác thay vì phải chu toàn ơn gọi làm vợ và làm mẹ của chính mình.

Như vậy, là tín hữu Chúa Kitô, chúng ta phải xa tránh việc làm phi luân này. 
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
(Nguồn : conggiao.info)

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC THAM DỰ NGHI THỨC THÀNH HÔN & TIỆC CƯỚI CẶP HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH KHÔNG ?


same-sex-marriage.jpg 



Là người tín hữu Công Giáo,
 chúng ta có bổn phận sống và chu toàn mọi giáo lý và lề luật của Giáo Hội, là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm  dạy dỗ con cái mình tuân giữ mọi điều cần thiết cho được rỗi linh hồn để hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời mai sau.

Cụ thể, giáo lý hôn nhân dạy mọi tín hữu biết rằng hôn nhân chỉ có giữa một người nam và một người nữ mà thôi, vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải “ 
sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu.” ( St 1:28). 

Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và truyền cho con người mệnh lệnh

Là “ 
sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” ( Mt 9: 6) 
( giáo luật số 1055 &1)



Như Thế, Giáo Hội không thể  chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính  (same sex mariage) , tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái  xưa như sau:
 “ 
khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm
,…” ( Levi 20: 13)
 
Vậy mà  các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức…là những quốc gia có đông người theo Kitôgiáo, lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chiều theo đòi hỏi của thiểu số người  bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một  nếp sống  tinh thần và luân lý lành mạnh,  khác xa với đời  sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.

Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường ( abnormal) về phái tính ( sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã  hội bệnh hoạn kia  công nhận- là thứ hôn nhân không  thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.

Do đó, nếu các trẻ em  mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ  này  sẽ  nghĩ sao  và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này

Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà  giáo dục, các nhà xã hội học  và luân lý học, và cách riêng,  cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.

Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ  công, nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì  tự bản chất nó là vô luân, trái tự nhiên  và  không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn  và phát triển sự sống  của  con người  trên trần thế  này cho đến ngày mãn  thời gian,

Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ. Lý do là tham dự như vậy,  có nghĩa là công nhận việc sống  chung của họ là hôn nhân theo luật của  Chúa và của Giáo Hội,  và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.

Tiện đây cũng xin nói thêm điều này : ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo,  vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ,tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này , vì tham dự như vậy, cũng  có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.

Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không  được bỏ phiếu cho những ứng cử  viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu ( euthanasia) và hôn nhân đồng tính.Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng  không được rước Mình Thánh Chúa như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội,

Lm. Phanxicô  Xaviê Ngô Tôn Huấn
(Nguồn : conggiao.info)

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

ĐỨC GIÁM MỤC NHUỐM MÙI CHIÊN

Những ngày này, sau cơn bão lớn, các tỉnh miền Bắc phải gánh chịu hậu quả rất lớn khi cơn bão đi qua. Nhiều người, nhiều nhóm đã nỗ lực chung chia với những nạn nhân của cơn bão. Một trong những hình ảnh đẹp để lại đó là sự hiện diện của Đức Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long (Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Hưng Hóa). Những hình ảnh ghi lại về Đức Cha như minh chứng đường lối của một vị “Giám Mục nhuốm mùi chiên”. Hy vọng và tin tưởng Giáo Hội có nhiều vị mục tử “nhuốm mùi chiên” như Đức Cha Anphongsô.
















(Nguồn : http://baoconggiao.com/)

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

KHIÊM TỐN TRƯỚC CHÚA




SUY NIỆM

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN C - 28/8/2016

Mỗi khi dâng Thánh lễ, trước hết Giáo hội luôn mời gọi chúng ta sám hối. Giáo hội muốn nhắc chúng ta nhớ, trước Chúa mình chỉ là những tôi tớ hèn mọn, là những con người tội lỗi cần được Chúa xót thương và ban ơn. Đấy là thái độ khiêm tốn cần thiết cho người tín hữu chúng ta trước Chúa.
Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu mượn hình ảnh người được mời đến dự tiệc để dạy chúng ta: "... Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".
Có người phụ nữ kia một hôm nằm mơ thấy mình được gặp Chúa:
Chúa hỏi: "Chị là ai?"
Chị trả lời: "Dạ, dạ con là vợ của ông biện A ở họ đạo X, giáo phận Y nè Chúa nhớ con không?"
Chúa đáp lại: "Ta không hỏi con về chuyện đó, Ta hỏi con là ai?"
Chị ta tưởng Chúa chưa nghe rõ nên mới trả lời lớn hơn: "Dạ con là vợ của ông biện..." và thêm một hơi: "con đi lễ misa mỗi ngày, con ăn chay mỗi tuần và 4 đứa con nhờ con biết nuôi dạy nên chúng nó đã thành tài hết rồi Chúa ơi: 2 đứa làm bác sĩ, một đứa làm kỹ sư và một đứa làm giáo viên..."
Chị nghĩ trong lòng sẽ được Chúa khen nhiều lắm. Tuy nhiên, Chúa vẫn nói với chị là Người không hỏi điều đó. Chị buồn lắm không biết trả lời thế nào nên lặng thinh hồi lâu. Sau đó, chị trả lời trong nước mắt: "Dạ con là một con người yếu đuối tội lỗi nhưng vẫn được Chúa thương tha thứ và cho làm con Chúa."
Không ngờ chính câu trả lời ấy Chúa đã gật đầu và tỏ vẻ rất đồng ý. Chị sực tỉnh giấc và nhớ lại dường như từ đó đến giờ mình sống kiêu ngạo quá. Những gì mình làm chỉ với ý muốn khoe với Chúa và người khác thôi. Từ đó về sau, chị đã sửa mình. Chị vẫn sống và làm tiếp những gì đã làm nhưng với thành ý đền ơn Chúa và đền tội mình, chứ không còn ý nghĩ kiêu ngạo như trước.
Thái độ lúc đầu của chị này, làm ta nhớ lại dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18, 9-14). Người Pharisêu cũng đã hãnh diện khoe với Chúa đủ điều nhưng vẫn không được Chúa khen. Ngược lại, người thu thuế đứng cuối đền thờ không dám ngước mặt lên mà rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" đã được Chúa khen.
Như thế, một trong những thái độ quan trọng và cần thiết của chúng ta trước Chúa là hết sức khiêm tốn. Khiêm tốn như thế là chúng ta đón nhận chính con người thật của mình. Chúng ta chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc.
Nếu Chúa Giêsu không khiêm tốn đón nhận những gì Chúa Cha trao phó có lẽ chúng ta sẽ khó mà nhận được ơn cứu chuộc. Và cả cuộc đời của Chúa Giêsu, biết bao lần dư khả năng dùng quyền phép của mình nhưng Người vẫn khiêm tốn chẳng tỏ ra. Chẳng hạn, khi ăn chay 40 đêm ngày trong sa mạc Chúa Giêsu đã phải khiêm tốn lắm mới không đáp lại những thách thức của ma quỷ. (Lc 4, 1 - 13). Vì thế, chúng ta hãy sống luôn trong thái độ khiêm tốn trước Chúa và luôn nhớ lời Người dặn: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".