Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

BÀI HỌC CHO LÒNG THAM




MUA ĐẤT 

Có một người muốn mua một miếng đất để trồng trọt, nghe nói có người muốn bán đất, anh ta liền quyết định đến đó hỏi mua. Người có miếng đất kia bảo với anh ta rằng: “Anh chỉ cần đưa trước cho tôi một nghìn lượng bạc, tôi cho anh thời gian là một ngày, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, anh có thể bước chân vòng quanh được bao nhiêu mét đất, thì số đất ấy sẽ là của anh, thế nhưng nếu như anh không thể kịp quay trở lại nơi xuất phát ban đầu, thì một tấc đất anh cũng không có”.
Người nông dân kia nghĩ: “Nếu như hôm nay mình vất vả một chút, bước đi nhiều một chút, chẳng phải là đi một vòng rất lớn thì số đất giành được cũng rất lớn sao? Vụ mua bán này xem ra thật là quá có lợi rồi!”
Thế là anh ta ký kết hợp đồng với người sở hữu mảnh đất đó. Ngay khi mặt trời vừa mới ló ra từ chân trời xa, anh ta đã mau chóng bước đi thật nhanh về phía trước, đến trưa rồi mà bước chân của anh ta vẫn không chịu dừng lại chút nào, cứ một mực bước về phía trước, trong lòng nghĩ: “Cố gắng nhẫn chịu một ngày, sau này sẽ được hưởng thụ những hồi báo mà sự vất vả của ngày hôm nay đem lại”.
Anh ta lại hướng về phía trước bước trên con đường đã rất xa rồi, khi mắt đã nhìn thấy mặt trời sắp xuống núi rồi mới bắt đầu quay trở lại, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không kịp quay trở về chỗ ban đầu mà nói, thì một tấc đất cũng không có được, thế là anh ta đi tắt về điểm xuất phát. Thế nhưng mà mặt trời đã như sắp hạ xuống rồi, anh ta đành phải liều mạng mà chạy thật nhanh, cuối cùng, chỉ còn hai bước nữa là về đến điểm xuất phát, nhưng anh ta đã kiệt sức mà gục ngã xuống chỗ đó.
Dục vọng của con người nằm giữa một cái hào rộng lớn, vĩnh viễn không cách nào vượt qua, bởi vì người tham lam vĩnh viễn không có chừng mực, không có bờ bến để dừng lại, vĩnh viễn cũng sẽ không thấy thỏa mãn, đây là chỗ thiếu sót đáng tiếc nhất trong tính cách của con người.
(Sưu Tầm)
CẠM BẪY CỦA ĐỜI NGƯỜI : SƠ SUẤT, CẢ TIN, và THAM LAM 

Có ba tên trộm đã nhìn thấy một thiếu phụ, một tên trong số đó nói: “Tôi sẽ đi ăn trộm con dê rừng mà thiếu phụ kia sẽ không hay biết gì cả”.
Một tên trộm khác nói: “Tôi sẽ dắt trộm con lừa ngay từ trong tay người thiếu phụ kia”.
Tên trộm thứ ba nói: “Cái này có khó gì, tôi có thể lấy trộm hết toàn bộ quần áo đang mặc trên người thiếu phụ kia”.
Tên trộm thứ nhất ngay tại chỗ rẽ của con đường đã lén lén đến gần con dê rừng, cởi bỏ cái lục lạc xuống, buộc vào đuôi con lừa, sau đó dắt con dê rừng đi. Người thiếu phụ nhìn quanh một lượt, phát hiện dê rừng không thấy đâu nữa, liền bắt đầu tìm kiếm.
Lúc này, tên trộm thứ hai đi đến trước mặt thiếu phụ, hỏi bà đang tìm kiếm gì, thiếu phụ nói bà đã bị mất một con dê rừng. Tên trộm nói: “Tôi đã nhìn thấy, vừa nãy có một người dắt theo một con dê rừng đi ra khỏi khu rừng này, bây giờ vẫn còn có thể đuổi kịp được”.
Thiếu phụ cầu khẩn người này dắt con lừa thay bà, còn mình thì đuổi theo lấy lại con dê rừng. Tên trộm thứ hai đã nhân cơ hội dắt trộm con lừa đi mất.
Người thiếu phụ từ trong rừng trở về, con lừa cũng không thấy đâu nữa
Bà vừa đi đường vừa khóc, đang đi đang đi, bà nhìn thấy bên cái đầm nước có một người ngồi đó, cũng đang khóc. Thiếu phụ hỏi anh ta đã xảy ra chuyện gì.
Người đó liền nói, anh ta đã làm rớt một cái túi xuống hồ, ai mà giúp anh ta nhặt lên thì sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng.
Người kia nói: “Ông chủ nhờ tôi đem một túi vàng vào trong thành, vì đi đường quá mệt mỏi, tôi bèn ngồi nghỉ ở bên đầm này, không ngờ đã ngủ quên mất, trong giấc mơ đã ném cái túi đó xuống đầm nước rồi”.
Thiếu phụ hỏi sao anh không xuống vớt cái túi đó lên. Người đó nói: “Tôi sợ nước, bởi vì tôi vốn không biết bơi, nếu ai có thể vớt túi vàng này lên đây. Tôi hứa sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng”.
Người thiếu phụ mừng rỡ, nghĩ thầm trong lòng rằng: “Chính là vì người ta đã lấy trộm mất con dê rừng và lừa của mình, nên ông trời mới ban hạnh phúc cho mình”. Thế là, bà liền cởi bỏ quần áo bên ngoài, lặn xuống nước, nhưng dù cố gắng đến mấy bà cũng tìm không thấy túi vàng kia đâu. Khi bà từ dưới nước bò lên bờ, thì phát hiện quần áo không thấy đâu nữa. Thì ra tên trộm thứ ba đã lấy trộm quần áo của bà đi mất.
BÀI HỌC
Đây chính là ba cạm bẫy lớn của đời người: sơ suất, cả tin và tham lam.
Thế gian đầy rẫy những giả tướng mê hoặc người ta, bản tính con người luôn tồn tại chỗ thiếu sót, làm việc tuyệt đối không được sơ suất, không nên nhẹ dạ cả tin người khác, tham lam luôn sẽ nhận phải sự trừng phạt.
Hãy nhớ kỹ đời người có ba điều cấm kỵ lớn, hãy là người quyết định sáng suốt. Nhẹ dạ cả tin người khác luôn sẽ phải trả giá.

CÁI GIẾNG NƯỚC 


Một vị thiền sư đi ngao du thiên hạ, khi đến một vùng núi nọ thì bị ốm nặng. Ông được một bà goá là chủ quán trà cứu và đưa về nhà chăm sóc. Mặc dù không biết tung tích vị thiền sư, quán nghèo thưa thớt khách, không có tiền nhưng người phụ nữ vẫn tận tình chăm sóc và cứu chữa cho ông.
Hơn 3 tháng ròng vị thiền sư mới bình phục. Cảm động ân tình của bà chủ quán, vị thiền sư trước khi rời đi dành một tuần liền để đào một cái giếng cạnh quán cho bà goá tiện dùng nước, không phải ra tận suối gánh nữa.
Không ngờ, từ khi dùng nước giếng mà vị thiền sư đã đào để pha trà bán, trà của bà goá có mùi thơm thật đặc biệt và vị của trà cũng rất ngon. Ai uống một lần cũng phải quay lại. Tiếng lành đồn xa, quán trà của bà goá khách đến đông nườm nượp. Người đàn bà goá trở nên giàu có từ đó.
Ít lâu sau, vị thiền sư có dịp ghé qua quán để thăm lại ân nhân của mình, thấy cơ ngơi khang trang, vị thiền sư rất mừng cho bà goá. Khi hỏi về giếng nước, bà goá than phiền với thiền sư: “Giếng nước này tốt lắm, có điều nước cạn liên tục, vài ngày mới lại đầy nên tôi chẳng bao giờ đủ để bán cho khách”. Vị thiền sư nghe xong lắc đầu, nói: “Không tốn kém gì cả, từ nguồn nước trời cho rồi kiếm ra nhiều tiền mà bà vẫn không thấy hài lòng ư?” .
Ông viết lên tường một câu: “Trời đất bao la nhưng lòng tham của con người còn mênh mông hơn thế!” rồi lẳng lặng quay đi, không bao giờ quay trở lại quán nữa. Giếng nước từ ấy cũng cạn dần.
Chúng ta phần lớn giống như bà goá kia, không bao giờ hài lòng với cái mình có mà thường đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thường hay so sánh, hay mong ước viển vông mà quên vui hưởng hiện tại của mình.
(Nguồn: https://nghetruyenmoi.com/)

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

CÁC PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là cách đáp ứng của từng cá nhân với sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đến với Chúa một cách kính cẩn với một trái tim lắng nghe. Chúa nói trước và chúng ta lắng nghe. Trong lúc cầu nguyện, chúng ta cảm nhận sự hiện diện của Chúa và đáp ứng tình yêu của Chúa một cách biết ơn. Trọng tâm luôn luôn là Chúa và những gì Chúa làm. 
Sau đây là những đề nghị để trợ giúp và khiến cho chúng ta có thể nghe Lời Chúa và lời đáp trả duy nhất của chúng ta:
Chuẩn bị:
Hãy dự trù để dành ít nhất từ 20 phút đến một giờ để cầu nguyện hằng ngày. Mặc dù không có gì là “thiêng liêng” về con số sáu mươi phút, đa số chúng ta nhận thấy rằng cần đến một giờ để đủ thời gian cho việc lắng đọng, và để bước vào đoạn Phúc Âm v.v… Đêm trước, dành thì giờ để đọc các phần giải thích hay chú giải Kinh Thánh trong các sách phụ dẫn để hiểu rõ về đoạn Phúc Âm, và đọc đoạn Phúc Âm. Trước khi đi ngủ, hãy nhớ lại đoạn Kinh Thánh ấy.
Lịch trình của thời gian cầu nguyện:
  • Hãy lắng đọng; cả bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn. Hãy thoải mái. Hít vào thật sâu, đếm đến bốn, rồi thở ra từ từ bằng miệng.
  • Lập lại nhiều lần. Nhận thức được rằng chúng ta không đáng là gì cả nếu không có Chúa; nói với Chúa là chúng ta tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa.
  • Xin Chúa cho chúng ta ơn lành chúng ta ước muốn và cần thiết.
  • Đọc và suy nghĩ về đoạn Kinh Thánh đã lựa chọn, sử dụng hình thức cầu nguyện thích hợp: suy niệm những Thánh Vịnh và những đoạn không kể chuyện, chiêm niệm những đoạn kể chuyện hay có biến cố xảy ra (Xem phần chỉ dân về các hình thức cầu nguyện ở các trang sau).
  • Kết thúc thời gian cầu nguyện bằng một cuộc đối thoại với Chúa Giê-su và Chúa Cha.
  • Nói và lắng nghe. Chấm dứt bằng một kinh Lạy Cha.
Kiểm điểm giờ cầu nguyện:
Kiểm điểm cầu nguyện là suy nghĩ vào cuối thời gian cầu nguyện. Mục đích là gia tăng nhận thức của chúng ta về cách thức Chúa đã đến và hiện diện với chúng ta trong thời gian cầu nguyện.
Sự kiểm điểm nhắm vào những xúc cảm bên trong về việc được an ủi hay bị thất vọng xảy đến qua cảm nghĩ của chúng ta về sự vui sướng, bình an, buồn rầu, sợ hãi, bối rối, tức giận, v. v.
Nhiều khi trong lúc kiểm điểm, chúng ta biết rõ cách thức Chúa đáp lại lời cầu xin của chúng ta về một ơn lành nào. Trong trường hợp không có người linh hướng hay bạn đường cầu nguyện, viết những cảm nghĩ xuống có thể thay thế cho việc lượng giá và giải thích.
Nếu có vị linh hướng, kiểm điểm bằng cách viết xuống sẽ giúp cho dễ chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện với vị linh hướng.
Phương pháp:
Hãy ghi xuống sau mỗi buổi cầu nguyện, trong một tập vở hay nhật ký, ngày giờ và đoạn Phúc Âm. Trả lời các câu hỏi sau đây:
  • Có câu nào hay đoạn nào đánh động chúng ta. Cảm tưởng chúng ta ra sao?
  • Chúng ta có thấy bình an?… yêu thương?… tin cậy?… buồn rầu?… chán nản?…
  • Các cảm tưởng này nói gì với chúng ta?
  • Chúng ta đã cảm nhận hơn thế nào về sự hiện diện của Chúa. Có điểm nào có thể giúp đỡ thêm nếu trở lại cầu nguyện trong thời gian kế tiếp.
CÁC HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN MỘT MÌNH:
Có nhiều hình thức cầu nguyện với Kinh Thánh. Mỗi hình thức thích hợp với mỗi người. Bằng cách thực tập nhiều lần các phương pháp khác nhau chúng ta trở nên quen thuộc trong việc xử dụng hình thức thích hợp cho đoạn Kinh Thánh và thích ứng với nhu cầu cá nhân cũng như cá tính của chúng ta. Có các hình thức sau đây:
1. Suy niệm
Khi suy niệm chúng ta đến với đoạn Kinh Thánh như với một lá thư tình; hình thức này rất hữu ích khi cầu nguyện với những đoạn như Thánh Vịnh.
* Phương pháp:
Đọc đoạn Kinh Thánh thật chậm, lớn tiếng hay thì thầm, để cho các chữ bao trùm lên bạn, và nghiền ngẫm từng chữ. Dừng lại ở những chữ đặc biệt làm bạn chú ý; hấp thụ chúng như người khát mong uống nước mưa trời. Lập lại một chữ hay một câu nhiều lần, nhận thức những cảm giác đang được đánh thức dậy. Đọc, và đọc lại đoạn Kinh Thánh nhiều lần một cách trìu mến, y như đang đọc một lá thư tình, hay như khi bạn hát nhẹ nhàng điệp khúc của một bài ca.
2. Chiêm niệm
Khi chiêm niệm, chúng ta bước vào một biến cố hay một đoạn kể chuyện trong Kinh Thánh. Chúng ta bước vào đoạn này bằng sự tưởng tượng, và sử dụng tất cả các cảm quan của chúng ta.
Các nhà thần học dạy rằng qua chiêm niệm, chúng ta có thể “nhớ lại và hiện diện trong những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Ki-tô”. Thánh Linh của Chúa Giê-su hiện diện trong chúng ta qua phép rửa tội, dạy dỗ chúng ta y như Chúa Giê-su đã dạy dỗ các Tông Đồ.
Thánh Linh gợi lại và làm sống động các mầu nhiệm chúng ta bước vào qua việc cầu nguyện. Cũng như ở trong Thánh Thể, Chúa Giê-su lên trời đã làm hiện diện mầu nhiệm Phục Sinh, trong việc chiêm niệm Thánh Linh đem tới biến cố đặc biệt mà chúng ta chiêm niệm và Thánh Linh tự xuất hiện trong mầu nhiệm ấy.
* Phương pháp:
Trong khi chiêm niệm, chúng ta bước vào câu chuyện y như chính chúng ta có mặt ở đó: Quan sát những gì xảy ra; lắng nghe những gì đã được nói. Trở nên một thành phần của mầu nhiệm; lãnh vai trò của một nhân vật. Nhìn từng nhân vật; nhân vật đó đang có kinh nghiệm gì? Nhân vật đó đang nói với ai? Nếu tôi nghe được Lời Chúa nói với tôi trong đoạn Kinh Thánh đó thì có ảnh hưởng gì đến đời sống của tôi, gia đình tôi, xã hội tôi?
Trong câu chuyện Kinh Thánh, bước vào một cuộc đối thoại với Chúa Giê-su: Có mặt ở đó với Chúa và vì Chúa. Ước muốn Chúa, thèm khát Chúa. Lắng nghe Chúa.
3. Cầu nguyện tập trung
“Trong khi cầu nguyện tập trung, chúng ta vượt qua các ý tưởng và hình ảnh, vượt qua các cảm quan, và vượt qua trí óc lý luận tới trung tâm của tâm hồn chúng ta nơi Chúa đang làm những việc lạ lùng”.
Cầu nguyện tập trung là một hình thức cầu nguyện rất giản dị, rất trong sáng, thường thì không ra lời; đó là cách mở trái tim chúng ta cho Thánh Linh đang ngự trị trong chúng ta.
Trong cầu nguyện tập trung, chúng ta tuột một dốc xoáy ốc để đi xuống tận đáy sâu của tâm hồn chúng ta. Đó là điểm yên tĩnh trong ta nơi đa số chúng ta cảm nghiệm đã được cấu tạo bởi một Thiên Chúa thương yêu đã thổi hơi thở cho chúng ta được sống.
Muốn bước vào sự cầu nguyện tập trung, chúng ta phải tuyên xưng chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa và đầu hàng trước tình yêu thương của Người”…
Thánh Linh cũng đến để giúp đỡ chúng ta những lúc yếu đuối. Thánh Linh trình bày những lời cầu xin của chúng ta dưới những hình thức không thể diễn tả bằng lời..”. (Rm 8,26) Thánh Thần của Chúa Giê-su kêu lớn trong chúng ta “Áp-ba, Lạy Cha” (Rm 8,15).
* Phương pháp:
  • “Dừng lại một lát và nhận biết ta là Thiên Chúa” (Tv 46,10).
  • Ngồi yên lặng, thoải mái và dễ chịu. An nghỉ trong mong muốn và ao ước của Chúa.
  • Di chuyển vào trung tâm sâu xa của bản thể chúng ta.
  • Sự di chuyển này có thể dễ dàng nếu tưởng tượng như khi chúng ta đang tuột xuống trong một cầu thang máy, hay khi đang bước xuống một cầu thang dài, hay khi đang leo xuống một triền núi, hay lặn sâu xuống một hồ nước.
  • Trong sự yên tĩnh, trở nên nhận thức được sự hiện diện của Chúa; hấp thụ tình yêu Chúa một cách an bình.
4. Lời nguyện (Mantra)
Một hình thức cầu nguyện tập trung là sử dụng lời nguyện. Lời nguyện có thể là một chữ hay một câu. Có thể là một chữ trong đoạn Kinh Thánh, hay một chữ được xuất phát từ đáy tim chúng ta. Chữ hay câu này biểu tượng cho ta sự hiện hữu đầy đủ của Chúa.
Một hình thức thay đổi của lời nguyện có thể bao gồm tên “Giê-su” hay hình thức đã được mệnh danh là “kinh Giê-su”, “Lạy Chúa Giê-su, Con Chúa Trời hằng sống, xin thương xót con là kẻ có tội”.
* Phương pháp:
Chữ hay câu được lập lại nhẹ nhàng, bên trong tâm hồn để cho hòa hợp với hơi thở. Thí dụ, phân nửa đầu của kinh Giê-su được nói trong khi hít vào, và nửa sau được nói khi thở ra.
5. Đọc chiêm niệm
“Người lại phán với tôi: “Hỡi con người, hãy ăn cho no bụng và nuốt cho đầy dạ cuộn sách Ta ban cho ngươi đây”. Tôi đã ăn cuộn sách, và nó ngọt như mật trong miệng tôi” ((Ed 3,2-3).
Một cách cầu nguyện là chiêm niệm khi đọc một đoạn Kinh Thánh hay các bài văn viết về các bài linh thao khá các bài linh thao khác. Đọc như vậy luôn luôn giúp cho đời sống cầu nguyện của chúng ta được phong phú hơn.
Phương pháp được mô tả sau đây đặc biệt có ích khi chúng ta cảm thấy khô khan nguội lạnh.
* Phương pháp:
Đọc một cách chậm rãi, ngưng laị nhiều lần để cho các chữ các câu xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Khi một tư tưởng vang động sâu xa, dừng lại ở đó, để cho ý nghĩa đầy đủ của chúng xâm nhập tâm hồn chúng ta. Tận hưởng những chữ đã cảm nhận được. Đáp trả một cách tự nhiên y như khi đối thoại.
6. Viết nhật ký
“Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Ki-tô thế nào” (Ep 3,4).
Viết nhật ký là một hình thức viết trong chiêm niệm. Khi chúng ta đặt bút trên giấy, linh hồn và thân thể hỗ trợ để giải tỏa con người thực của chúng ta.
Có sự khác biệt giữa hình thức cầu nguyện này với cách chúng ta giữ nhật ký hằng ngày. Cầu nguyện bằng nhật ký là cảm nhận trong ánh sáng mỗi khi các hình ảnh mới được phát xuất từ tiềm thức của chúng ta được ban cho những ý nghĩa mới.
Cầu nguyện bằng nhật ký đòi hỏi phải bỏ sang một bên những thành kiến và những sự kiềm chế đã có sẵn. Viết trong chiêm niệm giống như viết thư cho người yêu. Các kỷ niệm được gợi lại, các niềm tin được làm cho sáng tỏ và tình cảm nổi dậy mãnh liệt trong chúng ta.
Trong khi viết xuống chúng ta có thể khám phá rằng các cảm xúc được tăng cường và kéo dài. Vì thế viết nhật ký có thể giúp cho chúng ta nhận định được cảm xúc bị che dấu, bị đè nén, như tức giận, sợ hãi và thù hận. Cuối cùng, cầu nguyện bằng nhật ký có thể giúp chúng ta tôn trọng hơn những chữ những câu đã được viết trong Kinh Thánh.
* Phương pháp:
Có nhiều hình thức khác nhau khi cầu nguyện bằng nhật ký: Viết một lá thư cho Chúa. Viết một cuộc đối thoại giữa chúng ta và người khác; người khác có thể là Giê-su, hay một người nào quan trọng.
Cuộc đối thoại có thể được ghép theo một biến cố, một kinh nghiệm hay một giá trị. Thí dụ, sự chết, sự chia ly, sự khôn ngoan, một tài khéo; và được tưởng tượng ra y như đang nói chuyện với người ấy.
Viết câu trả lời cho một câu hỏi, chẳng hạn, “Con muốn Ta làm gì cho con” (Mc 10,51). Hay “Tại sao con khóc” (Ga 20,15). Để cho Giê-su hay một nhân vật khác trong Kinh Thánh nói với chúng ta qua ngòi bút của chúng ta.
7. Lập lại
Thánh I-nhã thành Lôi-ô-la nói: “Tôi sẽ tiếp tục chiêm niệm về điểm trong đó tôi đã khám phá ra điều tôi mong ước, và không muốn đi xa thêm trước khi tôi hoàn toàn hài lòng”.
Lập lại là việc trở về một thời gian cầu nguyện trước đó với mục đích để cho những hoạt động của Chúa ăn sâu trong trái tim ta. Qua sự lập lại, chúng ta tô điểm cho sự nhạy cảm của chúng ta đối với Chúa và đối với cách thức Chúa nói với chúng ta qua việc cầu nguyện và trong những hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta.
Cầu nguyện lập lại giúp cho kinh nghiệm của sự tổng hợp điều chúng ta là ai với điều Chúa đang bày tỏ cho chúng ta biết Chúa là ai. Lập lại là một cách để tôn kính Lời Chúa nói với chúng ta trong các buổi cầu nguyện trước.
Đó là nhớ lại và suy nghĩ về một cuộc đối thoại trước đây của chúng ta với một người chúng ta yêu. Cũng giống như khi chúng ta nói với Chúa,”Lạy Chúa xin hãy nói lại với con điều ấy; con đã nghe thấy Chúa nói gì với con”. Trong cuộc đối thoại tiếp theo hay lập lại này, chúng ta mở lòng cho sự hiện diện chữa lành thông thường có mãnh lực để biến cải những sự đau buồn và bối rối chúng ta đã cảm nhận được trong các buổi cầu nguyện trước đó.
Khi lập lại, không những các sự an ủi (vui sướng, ấm áp, bình an) được mạnh mẽ hơn, mà các sự thất vọng (đau khổ, buồn bã, và bối rối) thường đưa tới một trình độ mới để thấu hiểu và chấp nhận kế hoạch Chúa dành cho chúng ta.
* Phương pháp:
Giai đoạn cầu nguyện chúng ta lựa chọn để lập lại là buổi cầu nguyện trong đó chúng ta đã kinh nghiệm một xúc động đáng kể về vui mừng hay buồn khổ hay bối rối.
Cũng có thể là một giai đoạn trong đó không có gì xảy ra, có lẽ vì chúng ta thiếu chuẩn bị. Nhớ lại những cảm xúc của lần trước. Sử dụng để làm một điểm khởi đầu, một khung cảnh, một câu chữ, hay một cảm xúc đáng kể trong lần trước. Để cho Thánh Linh hướng dẫn các động tác nội tâm của trái tim trong buổi cầu nguyện này.
Bùi Hữu Thư dịch
(Nguon: http://songloichua.org/)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Lấy ý từ bài Tin mừng trong ngày, Đức Phanxicô nói về những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ, ‘Các con là muối cho đất, là ánh sáng cho thế gian.’
‘Kitô hữu phải là muối và ánh sáng, nhưng không bao giờ là phục vụ cho riêng mình, muối phải thêm vị và ánh sáng phải chiếu rọi cho người khác.
Vậy một Kitô hữu phải làm gì để muối không lạt đi ,để dầu trong đèn không cạn?
‘Pin’ của một Kitô hữu để tạo ra ánh sáng, chính là lời cầu nguyện.
Có nhiều điều chúng ta có thể làm, nhiều việc thiện, nhiều việc làm lớn lao cho Giáo hội, như mở một đại học, môt bệnh viện, anh chị em có thể còn được đặt một đài tưởng niệm như ân nhân của Giáo hội, nhưng nếu không cầu nguyện, thì ánh sáng sẽ leo lắt và tối tăm.
Cầu nguyện thắp lên đời sống Kitô hữu, và cầu nguyện là vấn đề hệ trọng. Một lời cầu nguyện chúc tụng Chúa Cha, một lời cầu nguyện vinh danh Ba Ngôi, một lời tạ ơn, một lời xin …cầu nguyện phải từ trong tâm hồn.
Kitô hữu cũng là muối khi trao đi cho người khác.
Là trao đi bản thân, ướp thêm hương vi cho cuộc sống của người khác, ướp hương vị bằng thông điệp Tin mừng.
Muối là để dùng, chứ không phải để giữ khư khư.
Điều lý thú là, muối và ánh sáng đều là để cho người khác, chứ không phải cho riêng mình, muối không thêm hương vị cho mình, ánh sáng không chiếu tỏa bản thân.
Tất nhiên, anh chị em có thể tự hỏi liệu muối và ánh sáng có thể tồn tại được bao lâu nếu như chúng ta cứ cho đi không ngừng.
Chính ở đây là nơi biểu lộ quyền năng Thiên Chúa, bởi Kitô hữu là muối Chúa ban trong phép rửa, là ơn không bao giờ hết.
Các Kitô hữu phải chiếu tỏa và luôn luôn thắng cho bằng được cám dỗ muốn chiếu rạng cho riêng mình.
Đó là kiểu linh đạo gương soi, là muốn chiếu rạng cho mình, rất xấu. Hãy là ánh sáng để chiếu tỏa, là muối để đem lại hương vị.’
‘Nguyện xin cho ánh sáng của anh chị em chiếu tỏa trước mọi người, để họ thấy được việc làm thánh thiện của anh em mà dâng lời chúc tụng Cha của anh em ở trên trời.’
J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Vatican Radio Eng

So sánh muối và ánh sáng
Trong “Bài giảng trên núi”, sau khi công bố các Mối Phúc, Đức Giêsu nói với các môn đệ, và qua các môn đệ, Ngài nói với tất cả chúng ta, là Ki-tô hữu: “Chính anh em là muối cho đời”; “chính anh em là ánh sáng cho trần gian”. Hai lời mời gọi này của Đức Giêsu thường được hiểu tách biệt nhau và theo nghĩa thực hành: làm muối cho đời, nghĩa là làm cho môi trường sống của mình thêm “mặn mà” tình bác ái và yêu thương; làm ánh sáng cho trần gian, nghĩa là làm gương sáng về đời sống đức tin và đạo đức.


MuốiÁnh sáng
1. Về mặt vật lí, muối có lẽ có cấu tạo đơn giản.

2. Ở bình diện biểu tượng, muối được dùng trong các lối nói ẩn dụ (“hạt muối cắn đôi”…) và cũng được dùng làm biểu tượng (chẳng hạn muối và bánh mì ở Nga, diễn tả lòng hiếu khách).




3. Tuy cả hai đều cần cho cuộc sống, nhưng muối rất rẻ.




4. Muối được đặt ở trên bàn ăn hay trong nhà bếp trong một góc nào đó.

1. Ánh sáng phức tạp và kì diệu hơn; được nghiên cứu nhiều hơn.
2. Nhưng ở bình diện này, ánh sáng chắc chắn hơn hẳn hạt muối: Ánh Sáng Tin Mừng; ánh sáng là biểu tượng của sự sống, bởi vì nhìn thấy ánh sáng, có nghĩa là đang còn sống; Ngôi Lời là ánh sáng; ánh sáng soi đường, soi lối, soi lòng: “Lời Chúa là đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi”…
3. Còn ánh sáng đắt tiền hơn (khác nhau giữa tiền muối và tiền điện hàng tháng! Nhiên liệu để đốt sáng; các phương tiện chiếu sáng…; và càng ngày càng có những phương tiện chiếu sáng cầu kì, đắt tiền, vì còn là đồ trang trí nội thất).
4. Trong khi các phương tiện chiếu ánh sáng luôn ở vị trí cao để soi sáng và ở khắp nơi.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

THƯ MỜI HỌP MẶT-TĨNH TÂM CỰU HTDC 2017


Trân Trọng Kính Mời 
Anh Chị 
Tham dự ngày HỌP MẶT - TĨNH TÂM  CỦA  CỰU HÙNG TÂM DŨNG CHÍ 
Thời gian :  08g  đến 16g  ngày thứ bảy , 11/02/2017 
Tai : Trung Tâm Mục Vụ TU VIỆN THÁNH MARTIN 
Địa Chỉ : 1/4 KP 10 Tân Biên, Biên Hòa , Đồng Nai .
Sự hiện diện của các Anh Chị sẽ kết nối thêm tình thân và gắn kết hơn nữa với các hoạt động Mục Vụ Tông Đồ Thiếu Nhi . 
                                                                                            
                                                                                                  Tp HCM, ngày 25/01/2017 
                                                                                                               ĐD BTC 



CHƯƠNG TRÌNH 
HỌP MẶT-TĨNH TÂM

8g : Đón tiếp
9g : Khai mạc : - Hát kinh Chúa Thánh Thần
- Cha Phêrô PHAN VĂN TƯƠI tuyên bố khai mạc
9g30: Chia sẻ  của Cha Giuse NGUYỄN TIẾN LỘC
10g30 : Thánh lễ đồng tế
12g : Cơm trưa
14g : Chia sẻ và thảo luận về hoạt động của PT HTDC hiện nay và tương lai .
16g : Chầu Thánh Thể
16g20 :  Lời cám ơn Quý Cha ,quý ân nhân
16g30 : Hát Bài Ca PT– Kết dây thân ái
–Bài ca tạm biệt


                                              

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

NGÀY TẾT, NGƯỜI CÔNG GIÁO BÀN VỀ ĐẠO HIẾU

                Ngày tết, người Công giáo bàn về Đạo Hiếu


‘Đạo hiếu’ là một phong tục đã đâm rễ sâu trong đời sống người Việt (không phải là một tôn giáo đúng nghĩa). Truyền thống ấy được đón nhận và đi vào lối sống của người Việt Nam một cách tự nhiên, ở mọi thời và mọi nơi. ‘Đạo Hiếu’ cũng được các tôn giáo coi trọng được thể hiện qua giáo thuyết và cung cách thực hành. Cũng trong dòng chảy ấy, ‘Đạo Hiếu’ của người Công Giáo được đặt nền tảng vững chắc trên nền tảng Thánh Kinh, Truyền thống Giáo Hội, và được xem như “Hạt giống của Lời” đã và đang gieo vào dòng máu và con tim của dân Việt qua muôn vàn thế hệ. Ngày nay khi gặp được Tin Mừng soi chiếu, nó được đón nhận như một thành phần không thể thiếu được của toàn bộ đời sống của Kitô hữu.




Nhân dịp tết đến xuân về, người viết xin góp nhặt đôi điều về ‘Đạo Hiếu’ của người Công giáo, cùng các bạn trẻ ‘gạn đục khơi trong’ để có thể Phúc Âm hóa đời sống xã hội hôm nay.

Thảo kính cha mẹ

1. Khởi đi từ nền tảng Kinh Thánh như lời Thiên Chúa phán: "Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi..." (Xh 20,12); Theo Sách Huấn Ca, lòng hiếu thảo đối với cha mẹ đem lại nhiều lợi ích: được đền bù tội lỗi, được con cháu báo hiếu, và sẽ được Chúa nhận lời. Thánh Phaolô còn khuyên bảo: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”(Ep 6,1-3). Đặc biệt, trong Tin Mừng, Chúa Giê-su còn nhấn mạnh: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử” (Mt 15,4).

2. Phụng vụ Ki-tô giáo luôn nhớ đến những người đã qua đời trong mỗi Thánh lễ, từng lời kinh, nguyện ngắm. Thánh lễ nào cũng có ý chỉ cầu nguyện cho các linh hồn (ý chung và ý riêng) với lời nguyện: “Lạy Chúa, xin nhớ đến ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại và mọi người đã qua đời trong tình thương của Chúa. Xin cho các linh hồn ấy được vào hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa” (KNTT).

3. Trong ba ngày Tết, Phụng vụ dành riêng ngày mồng 2 để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Ngày này, các giáo xứ thường tổ chức Thánh Lễ rất long trọng tại Thánh địa, trong đó nghi thức Kính Nhớ Tổ Tiên được cử hành trước như đưa dẫn cộng đoàn vào tâm tình Thánh lễ, với lời nguyện nhập lễ được trích từ sách Châm ngôn: “Con ơi giữ lấy lời cha, Chớ quên lời mẹ, nhớ mà nghi tâm. Đèn soi trong chốn tối tăm, Ấy là chính những lời răn lệnh truyền. Nhớ cầu cho bậc tổ tiên, Khắc ghi công đức một niềm tri ân (Cn 6,20-23).

4. Đạo Công giáo dành riêng tuần Bát Nhật đầu tháng 11 để viếng nghĩa địa lãnh ơn toàn xá và nhường lại cho các linh hồn, dành cả tháng 11 gọi là tháng Các Đẳng, hay còn gọi ‘Mùa Báo Hiếu Kitô giáo’, để cầu nguyện cho những người đã qua đời, bằng việc đọc kinh, xin lễ và tham dự Thánh lễ.

5. Hội thánh cũng dạy các tín hữu phải chu toàn Đạo hiếu như: tôn kính, biết ơn và vâng lời ông bà cha mẹ trong những điều chính đáng như: chăm lo cho cha mẹ được đầy đủ phần xác cũng như phần hồn; khi cha mẹ qua đời phải lo việc tang ma, làm các việc thiện, cầu nguyện và xin lễ cho các ngài, đặc biệt trong những ngày các ngài qua đời cũng như trong tháng cầu hồn.

6. Người Công giáo có truyền thống xin lễ cầu hồn và tổ chức đọc kinh tại gia và dùng bữa (ăn giỗ) hiệp thông với gia đình, đi thăm mộ, sửa mộ trong các dịp: 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, 3 năm... Ngoài ra, nhiều gia đình còn có thói quen xin lễ cho tiền nhân và thân nhân vào các dịp kỷ niệm của gia đình để nhớ về nguồn cội.

7. Trong ngày tổ chức Lễ Thành Hôn, người Công giáo đều hướng về bàn thờ để cử hành nghi lễ Gia tiên, để cảm tạ Thiên Chúa và tỏ lòng hiếu lễ với tiên tổ; đồng thời, nguyện xin các Ngài chúc phúc cho tình yêu lứa đôi được trăm năm hạnh phúc.

8. Người Công giáo luôn có thói quen nguyện tắt: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi…; Giêsu, Maria, Giuse, Con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn; cùng với những Kinh Bổn mang đậm màu sắc cầu hồn như: Kinh Vực Sâu, Kinh cầu các thánh, Kinh Tin Kính… 

Thờ cúng tổ tiên

9. Đã từ lâu, thành kiến “theo đạo thì bất hiếu” đã ăn sâu trong lòng người Việt, lương cũng như giáo, khiến cho một tôn giáo chân thật và tốt lành bị xuyên tạc và hiểu lầm hết sức tai hại. “Theo Đạo (Công giáo) là bỏ Ông Bà”, đó là một trong những lý do khiến khá nhiều người minh chứng để từ chối hoặc do dự gia nhập đạo Công giáo.

10. Thành kiến ấy chính là hậu quả lâu dài lịch sử truyền giáo tại Việt Nam trong cách hiểu về việc thờ cúng tổ tiên, với biết bao những khó khăn và những hiểu lầm…. Cho đến nay, Giáo hội Việt Nam đã có những hướng dẫn theo tinh thần của Tòa Thánh, đặc biệt từ Công đồng Vaticano II về việc hội nhập văn hóa bản địa…. Tuy nhiên, các ngài cũng nhắc nhở các tín hữu cần áp dụng có chọn lọc, nhất là bài trừ các hình thức thờ cúng mang tính dị đoan, bói toán,…ngược với Giáo lý Đức tin tinh tuyền Công giáo.

11. Chữ “thờ” hiểu theo nghĩa của người Việt Nam là “thờ kính” cha mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục… Tuy nhiên, người Công Giáo không thờ cúng tổ tiên như một đấng thần linh phải thờ lạy và cúng bái, hay hiểu cùng một cấp độ như “thờ phượng” Thiên Chúa. Vì thế, người Công giáo thường lập bàn thờ gia tiên dưới bàn thờ Chúa, với mục đích nhắc nhở cho con cháu về sự tồn tại của các ngài trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của tổ tiên loài người và mỗi chúng ta.

12. Việc tang chế của người Công giáo có nhiều yếu tố hội nhập với văn hóa bản địa như:  vái hương, trưng hoa, bày mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên vào các dịp giỗ, dịp tết,… Nhưng, người Công giáo không tin người chết sẽ hưởng dùng những hoa trái ấy, mà chỉ biểu lộ lòng thành kính, hiếu thảo của cháu con và gợi lại những sinh hoạt của người thân khi còn sống mà thôi.

Như vậy, việc ứng xử của người Công giáo Việt Nam với tục thờ cúng tổ tiên là một biểu hiện sống động nhất của quá trình hội nhập giữa Công giáo và Văn hóa Việt Nam cũng như quá trình Công giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc.

Với một chút suy tư về Đạo Hiếu: cung cách Thảo Kính Cha Mẹ và quan điểm về việc Thờ Cúng Tổ Tiên như thế, mong sao các gia đình Công giáo, đặc biệt các bạn trẻ hãy gắng học hiểu, thực hành và diễn giải cho những người ngoài Công giáo mỗi khi có dịp đối thoại, để Phúc Âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc, ngõ hầu mang lại những giá trị đúng đắn của Đạo Hiếu mà xưa nay nhiều người còn lầm tưởng!

Tham khảo

- Kinh Bổn và Kinh Thánh.
- Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo 1992 & Lễ nghi Rôma.
- Các văn thư và bài viết của các tác giả, từ wed: Thờ Cúng Tổ Tiên…  

Chủ nhật - 15/01/2017 23:14
Tác giả bài viết: Giuse Phạm Quang
(Nguồn : http://baoconggiao.net/)

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

CHÚC MỪNG NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017 - NẺO VỀ HẠNH PHÚC




2017

Trong không khí vui tươi, chào đón năm mới. 
Kính  gửi đến các bạn và gia đình lời chúc năm mới sức khỏe, thành đạt
với

LỜI CHÚC PHÚC CỦA CHÚA GIÊ SU 





NẺO VỀ HẠNH PHÚC

Thi đàn Trung Quốc từ cổ chí kim nổi lên một tên tuổi lớn, đó là nhà thơ Lý Bạch, thời Thịnh Đường (701 – 762).  Ông tự xem mình như tiên ông bị lưu đày xuống thế.  Ông ưa sống kiếp lãng du, say mê vẻ đẹp đất trời, vẻ đẹp sông núi, trăng sao…
Theo truyền tụng nhân gian, vào một đêm trăng tỏ, Lý Bạch buông thuyền xuôi theo giòng sông Thái Trạch lấp lánh ánh trăng đêm.  Ông đàn hát ngâm vịnh và uống rượu thưởng thức trăng.  Càng về khuya, men rượu nồng bốc lên càng làm ngây ngất lòng thi sĩ.  Sông nước, cảnh vật lúc ấy càng huyền ảo nên thơ.  Thi nhân cảm thấy mình như đang lạc vào bồng lai tiên cảnh.  Mảnh trăng diệu huyền in hình dưới làn nước lung linh như đang gọi mời ông tao ngộ.  Trong hơi men chếnh choáng, ông nhoài mình qua mạn thuyền, cúi thật sâu xuống nước để ôm lấy vầng trăng mà ông say đắm lâu nay. 
Than ôi! Ông đã bỏ hình bắt bóng và giòng sông oan nghiệt đã kết liễu đời ông.  Trên cao, vầng trăng thật như đang mỉm cười chế giễu ông.
Câu chuyện của nhà thơ họ Lý cũng là câu chuyện thời sự của thế kỷ chúng ta.  Nhân loại hôm nay đang kêu gào hạnh phúc, đang khao khát kiếm tìm hạnh phúc.  Nhưng họ đâu biết rằng Thiên Chúa là Cội Nguồn của hạnh phúc.
Một vầng trăng thật in thành hàng tỷ bóng trăng trên các ao hồ khe suối.  Một Cội Nguồn Hạnh Phúc (là Thiên Chúa) tỏa xuống vô vàn mảnh vụn hạnh phúc trong các sự vật phù du ở đời.  Thay vì tìm về Cội Nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa, người ta dại dột đâm đầu vào những chiếc bóng của hạnh phúc nơi những tạo vật chóng tàn.  Quả thế, người ta tưởng hạnh phúc nằm nơi bạc tiền, của cải, nơi lạc thú vật chất… rồi người ta đâm đầu vào đó như những những con thiêu thân lao vào lửa, như Lý Bạch nhào xuống nước tìm trăng.
Thiên Chúa là Cội Nguồn hạnh phúc, Thiên Chúa là nguồn mạch của hoan lạc và an bình, Thiên Chúa là Tình Yêu.  Tất cả những ai đang khao khát tình yêu, an bình, hạnh phúc là đang khao khát Chúa.  Nhưng tiếc thay, người ta đã bỏ hình bắt bóng.  Người ta săn đuổi ảo ảnh của hạnh phúc mà không chịu tìm đến cội nguồn hạnh phúc là Chúa Cả trên trời.
Thời thanh xuân, Augustino là con người khao khát hạnh phúc cách mãnh liệt.  Anh bôn ba kiếm tìm hạnh phúc trong văn chương và triết lý, trong dục vọng và lạc thú trần gian… nhưng anh đã thất vọng ê chề và cảm thấy tâm hồn chất đầy sầu đau khắc khoải.  Mãi đến năm ba mươi tuổi, Augustino mới cảm thấy tất cả những gì Anh đạt được chỉ là ảo ảnh của hạnh phúc, chẳng khác chi bóng trăng in hình đáy nước và chỉ có Thiên Chúa mới là “Vầng Trăng” thật, là Hạnh Phúc thật mà thôi.  Bấy giờ, với tâm hồn tràn đầy hoan lạc, Augustino thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Ngài nên hồn con thổn thức khôn nguôi cho đến khi được an nghỉ trong Ngài.”
Thiên Chúa mới là nguồn Hạnh Phúc đích thật mà loài người luôn vươn tới, luôn khát khao.  Chính Thiên Chúa đã đặt vào cõi lòng mỗi người chúng ta một khát vọng vô biên hướng về hạnh phúc mà không gì trên đời nầy có thể khoả lấp được, và để lòng khao khát đó luôn thôi thúc chúng ta kiếm tìm, kiếm tìm không mệt mỏi cho đến khi gặp được Ngài là Hạnh Phúc đích thật.
Qua trích đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta tám nẻo đường đưa nhân loại về cội nguồn hạnh phúc mà ta quen gọi là tám mối phúc thật.  Ai bước theo tám nẻo đường nầy chắc chắn sẽ đi đến Cội Nguồn Hạnh Phúc là Thiên Chúa, là Nước Trời, là Đất hứa:
* Tinh thần nghèo khó: biết nhận ra sự nghèo nàn của nội tâm mình, nhận biết rằng mình không là gì cả, tất cả những gì ta có là của Chúa ban…
* Cư xử hiền lành, biết nhường biết nhịn và mềm mỏng với mọi người…
* Chấp nhận sầu khổ hơn là gây khổ đau cho người khác…
* Khao khát trở nên người công chính,
* Đầy lòng xót thương, đối xử nhân ái với mọi người…
* Tâm hồn trong sạch, không chất chứa điều tà, điều gian ác, điều bất công…
* Chung tay xây dựng hoà bình, sống hoà thuận với mọi người cũng như làm cho mọi người hoà thuận với nhau…
* Sẵn lòng chịu bách hại vì sống công chính thanh liêm…
Nẻo về Hạnh Phúc đã rộng mở.  Bí quyết vào Nước Trời đã được giải bày.  Vấn đề còn lại là chúng ta hôm nay có đủ khôn ngoan và bản lãnh để chọn cho mình con đường mà Chúa đã đề nghị với chúng ta hay không.
LM Ignatiô Trần Ngà
(trích từ “Cùng Đọc Tin Mừng”)

NGƯỜI VIỆT NAM CÔNG GIÁO VỚI TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết Nguyên đán, theo nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn. 
Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu Xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng, làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tình thầy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ… Tết cũng là dịp “tính sổ” mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón năm mới với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm những ngày 20 tháng Chạp trở đi, cũng có thể nhận thấy ngay không khí nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về… Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn. Nào là mua trữ lương thực, cải dưa, hành, kiệu, thịt heo gói giò, gạo nếp đậu xanh chuẩn bị gói bánh… Ngày 23 theo tục lệ là ngày đưa ông Táo, nhà nào cũng làm một mâm cỗ gọi là “Tiễn ông bà Táo “ về chầu Trời. Ở ngoài Bắc vẫn còn giữ lệ thả cá chép ra sông với ý nghĩa là giúp phương tiện để các Ông bà Táo cưỡi về chầu trời. Cá càng to, càng mập chứng tỏ người thả có lòng thành cao.
Người Việt Nam Công giáo, những ngày cận Tết, nhà thờ, nhà xứ được trang hoàng đón xuân sang bằng những chậu hoa tươi thắm chưng trên cung Thánh, bàn thờ, treo những câu đối Xuân chúc tụng Thiên Chúa là Chúa Xuân của vũ trụ. Nhiều nhà thờ cho dựng bàn thờ kính tổ tiên với ảnh hay phù điêu các Thánh tử đạo Việt Nam như các bậc tiên tổ của Hội Thánh Công giáo nước nhà. Trên bàn thờ có chưng bông hoa, đĩa trái cây truyền thống như biểu tỏ tinh thần Đạo Hiếu của dân tộc. Hầu như nhà thờ nào cũng thực hiện những “Lộc Lời Chúa” đặt trong phong bao màu đỏ treo trên cây mai hay cây đào để giáo dân đón nhận vào đêm Giao thừa.
Ngày 29, 30 Âm lịch, sau khi nhà cửa đã chuẩn bị chu đáo, gia chủ sẽ đi tảo mộ, viếng nghĩa trang chăm sóc phần mộ gia tộc, mời đón Ông Bà về ăn Tết với con cháu, đoạn đi chợ tất niên để mua cây trái quen gọi là ngũ quả, ít chục bông hoa hay đôi chậu cảnh. Ngoài Bắc thì thường sắm hoa Đào, trong Nam chủ yếu là hoa Mai chưng Tết. Cha mẹ, người lớn trong gia đình thì chuẩn bị ít phong bao lì xì. Trưa hoặc chiều, mỗi nhà đều làm một mâm cỗ để dâng trên bàn thờ Tổ tiên và thắp hương kính cẩn mời Ông Bà về ăn Tết. Sau đó con cháu trong họ tộc ngồi chung với nhau ngày cuối năm, gẫm sự đời, nhớ về những vui buồn của một năm đã qua. Quãng độ chập tối thì tiệc tàn, cả nhà chuẩn bị để đón Giao thừa.
Người Công giáo vào hai ngày này cũng dọn bàn thờ Thiên Chúa cho trang trọng, thường mỗi nhà treo hai câu đối như: “Phụng Thiên Chúa toàn tâm trí lực/ Hiếu Tổ tiên trọn nghĩa ân tình”... Gia đình xin lễ tạ ơn qua một năm và cầu bình an trong năm mới, đi viếng nhà chờ Phục sinh nơi giữ tro cốt của ông bà cha mẹ đã về với Chúa.
 Đúng Giao thừa, chủ gia mặc đồ lễ trang trọng làm lễ tế THIÊN tại bàn thờ ngoài sân, hay sân thượng. Con cái cháu chắt cùng tạ ơn Trời sau một năm làm ăn, học tập, cầu mong một năm mới an lành. Sau lễ, có tục lệ đi Chùa cầu phúc, hái lộc đầu năm.
Giáo dân thì tham dự thánh lễ chiều tối hay lễ đêm tại nhà thờ giáo xứ, hái lộc Lời Chúa, sau đó cũng về nhà đón Giao thừa theo truyền thống dân tộc bằng việc dâng kinh tạ ơn, công bố Lời Chúa mà gia đình nhận được, thắp hương kính nhớ tổ tiên, xin ơn bình an trong năm mới. Thường mỗi gia đình cũng có bữa tiệc nhỏ, cha mẹ, con cái liên hoan đón mừng năm mới theo dõi trên truyền hình.
Ngày mùng Một con cháu tập trung trong nhà chúc tuổi ông bà, cha mẹ, chúc nhau thêm một tuổi mới. Các ngày mùng Hai, mùng Ba, họ hàng đi thăm nhau, mở tiệc Xuân đãi nhau cho tới hết mùng. Ngày nay cũng gọn lại, nhưng cũng phải mùng 6 hay mùng 8 cửa tiệm mới mở lại, người người mới rục rịch trở lại cuộc sống đời thường.
Tết với người Việt Nam chúng ta có lẽ không bao giờ mất. Nước Việt còn thì Tết Việt còn. Tết với người Công giáo còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, vì Tết là tận hưởng niềm vui Chúa ban. Chúa là mùa Xuân của nhân loại.
Fx. Đỗ Công Minh
(Nguồn :http://www.cgvdt.vn/)