Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

SỐNG ĐIỀU MÌNH TIN



          
SUY NIỆM
CHÚA NHẬT VI NĂM A MÙA THƯỜNG NIỆN - 12/2/2017                                                                
Một hôm, một người có đạo gặp một người vô đạo. Người vô đạo hỏi:
- Anh đi đâu về?
- Tôi đi nhà thờ về,
- Bữa nay, nhà thờ giảng gì?
- Giảng về vấn đề nên thánh.
- Anh đã nên thánh chưa?
Anh có đạo đáp:
- Anh coi cái mặt tôi đây thì đủ biết.
- À để coi thử.
Nói rồi, anh vô đạo tát một cái thật mạnh vào mặt anh có đạo. Anh này quạu cọ, chửi mắng om sòm.
Giơ tay giơ chân đòi đánh lại. Người vô đạo nói:
- Anh tự xưng là nên thánh, sao còn chửi mắng và đòi đánh tôi? Anh có đạo nói:
- Tôi nói cái mặt nên thánh, chứ cái miệng, cái tay, cái chân thì chưa nên thánh, nên tao đánh được.
Người vô đạo nói:
- Ôi tưởng anh nên thánh trọn vẹn, chứ anh nên thánh nửa vời như vậy còn xấu hơn cả tôi. Xin anh nên thánh trọn vẹn mới là người sống đạo.
Có người nói rằng tin đạo chứ không tin người có đạo. Bởi vì vẫn còn đó những người mang danh Ky-tô hữu mà sống thiếu bác ái, thiếu công bình và thiếu tình yêu. Họ đi lễ nhưng không dám sống thánh lễ trong cuộc đời của họ. Họ có đạo nhưng hành động của họ lại ngược với giáo huấn của Chúa. Họ có đạo nhưng họ vẫn sống rối vợ rối chồng, vẫn chồng chung vợ chạ, vẫn lăng nhăng, vẫn ngoại tình... Họ vẫn đến nhà thờ nhưng vẫn trộm cắp gian tham, vẫn ăn gian nối dối, vẫn buôn bán lường gạt... Họ mang danh Chúa Ky-tô nhưng lại sợ hy sinh, sợ trách nhiệm và trốn tránh bổn phận với gia đình và giáo hội.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống theo tinh thần phúc âm. Hãy ăn ở ngay lành. Hãy làm việc thiện. Hãy từ bỏ những tính hư nết xấu, những đam mê tội lỗi. Đừng có đạo mà sống xa rời tình nghĩa với anh em, xa rời tình nghĩa với Chúa. Đạo không dừng lại ở việc tuân giữ điều này điều kia mà còn thể hiện tình liên đới, sự chia sẻ, cảm thông với anh em. Đạo được quy chiếu vào lòng mến. Mến Chúa thì phải yêu mến anh em. Tình yêu đó đòi hỏi phải sống hiệp thông với nhau trong yêu thương và tha thứ. Tình yêu đó đòi hỏi tránh xa những mâu thuẫn, những ghen ghét, giận hờn. Chúa còn coi trọng sự hoà giải với nhau hơn cả việc đến dâng của lễ. Vì khi "anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người đang bất bình với anh, thì hãy bỏ của lễ mà đi làm hoà trước đã rồi hãy trở lại mà dâng lễ".
Nhìn vào thế giới hôm nay đó là một thế giới đầy bạo lực. Con người không cần lý lẽ. Người ta có thể dùng quyền để bẻ cong công lý. Người ta dùng sức mạnh để đè bẹp tự do và xâm phạm quyền sống của tha nhân. Vâng, giữa một thế giới mà sự thù hận luôn đòi loại trừ nhau bằng bạo lực, bằng gươm đao. Giữa một thế giới mà lòng nhân đã đánh mất chỉ còn sự giả hình, hay nhẹ hơn là mạnh ai nấy lo, sống thiếu tình liên đới với nhau. Người kytô hữu cần phải thể hiện cho người ta thấy lòng bao dung và tha thứ vẫn còn tồn tại trên trần gian. Vì Chúa chúng ta vẫn có thể làm điều ấy. Vì Chúa chúng ta hãy nhịn nhục lẫn nhau. Vì Chúa chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Vì Chúa chúng ta hãy "chín bỏ làm mười", sống vị tha và bác ái với nhau.
Nguyện xin Chúa là Đấng đã tha thứ cho mọi tội khiên của nhân loại xin cũng tha thứ cho những yếu đuối của chúng ta, và xin Ngài giúp chúng ta cũng biết sống tha thứ và hoà giải với nhau. Amen.
(Trích từ 'Cùng Nhau Suy Niệm')
         Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LỘ ĐỨC (LOURDES) NĂM 1858


        (Lễ Kính ngày 11 tháng 2)


            Lộ đức là một thành phố nhỏ thuộc miền tây nam nước Pháp. Lộ đức ngày nay được nhiều người trên thế giới biết đến là nhờ cuộc hiện ra của Đức Mẹ Chúa Trời với một em nhỏ cách đây 150 năm.

1. Sự tích hiện ra: Hôm đó là ngày 11 tháng 2 năm 1858,  trời mùa Đông ở miền núi, lạnh kinh khủng. Bernadette Soubirous cùng với 2 bạn  khác ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi.  Bernadette lúc đó 15 tuổi mà chưa biết đọc biết viết, vì nhà nghèo, em phải làm việc để phụ vào với gia đình.

Sau khi vào tu Dòng, Benadette được học và cô tả lại như sau trong lá thư trình bề trên như sau: "Hôm ấy tôi đi kiếm củi với 2 đứa bạn ở bờ sông Gave. (Khi 2 ra tới bờ sông, em kia đi xa hơn, còn Benađette tìm củi quanh hang Massabiel. Bất ngờ) tôi nghe có tiếng động. Tôi ngoái nhìn về phía đồng cỏ. Không thấy cây cối rung động gì cả. Tôi ngẩng đầu nhìn lên hang. Tôi thấy một Bà mặc áo trắng (bà còn trẻ lắm, chừng 16, 17 tuổi, mặc áo dài trắng, thắt dây lưng xanh da trời, hai tay chắp lại, đeo tràng hạt trên cánh tay phải.  Bà đẹp vời Benadette tiến lại gần hơn và mỉm cười với em). Áo bà trắng nhưng thắt lưng lại xanh, và mỗi bên bàn chân có một bông hồng vàng. Mầu chuỗi hạt của Bà cũng vàng nữa.

Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm. Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt. Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán. Tay tôi rớt xuống. Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá. Tay tôi run quá. Tôi thử làm dấu lại và làm được. Tôi bắt đầu lần chuỗi. Hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi. Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì.

(Khi gặp lại hai đứa bạn kia )"Tôi hỏi hai đứa không thấy gì sao? Chúng bảo không. Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy, và buộc tôi phải nói cho chúng nghe. Tôi kể rằng tôi đã thấy một Bà mặc áo trắng, nhưng tôi không biết Bà đó là gì, và không cho chúng được kể lại với ai. Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa. Tôi bảo không. Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại đó lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi. Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong 15 ngày liên tiếp không. Tôi bằng lòng. Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này. Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối. Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi ra đi uống nước ở sông Gave. Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ suối nước. Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước dơ. Tôi thò tay xuống nhưng không múc được. Tôi liền cào đất ra, và tôi đã múc được nước, nhưng tôi lại hất đi ba lần, đến lần thứ bốn tôi mới dám uống. Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

Trong 15 ngày liên tiếp, tôi đã trở lại nơi đó. Ngày nào tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ ngày thứ Hai và thứ Sáu. Bà nói đi nói lại với tôi rằng:" Tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây. Tôi phải đến rửa ở suối nước, và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại.

Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai? Nhưng Bà chỉ cười. Rồi bỏ tay thõng xuống, Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi Bà là Đấng đầu thai Vô nhiễm.

Trong khoảng thời gian 15 ngày đó, Bà nói với tôi 3 điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy".

2. Sứ điệp Đức Mẹ muốn nhắn nhủ con cái Người qua Benađette là:

"Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội"

"Hãy nói với các linh mục xây nhà thờ kính Mẹ ở đây, và để dân chúng đến đây rước kiệu"

          

3. Ta là Đấng Vô nhiễm: Khi linh mục xứ muốn biết tên Bà, Bênađêta đã hỏi thì ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình là: "Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội". Nhưng Bênađêta không hiểu. Khi cô nói lại với cha xứ ngài mới nhận ra bà lạ đó là Đức Mẹ hiện ra.

            Để chứng tỏ Mẹ hiện ra thật,  Mẹ bảo Bênađêta bới đất chỗ cô qùy để có một giòng nước vọt ra cho cô uống và sau đó chữa mọi thứ bệnh.

            Sau này, đức giám mục giáo phận đã gửi Bênađêta đi tu tại Nevers cách xa Lộ đức cả nửa ngày đường xe. Bênađêta sống rất khiêm tốn ở đây. Cô bị nhiều xỉ nhục nơi các chị em dòng, bị nhiều bệnh đau đớn cho tới chết, nhưng lúc nào Tràng hạt Mân côi cũng là niềm an ủi  của cô. Chính kinh Mân côi đã là đường lối nên thánh của cô.(Riêng Bênađêta Đức Mẹ đã nói: " Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng là hạnh phúc đời sau.)

4. Lộ đức ngày nay đã trở nên một trung tâm hành hương lớn nhất thế giới. Hàng năm có tới 4 triệu người đến kính viếng và xin ơn Đức Mẹ.

Giáo hội đã đặt lễ kính Đức Mẹ hiện ra tại Lộ đức vào ngày 11 tháng 2 hàng năm. Từ năm 1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 đã chỉ định ngày lề Đức Mẹ Lộ đức là ngày Thế giới cầu cho các bệnh nhân.

(Theo tài liệu của Lm. Hồng Phúc, Mẹ Maria trang 189-208 và Dictionary of Mary p. 178)

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

LÒNG THAM - NHỮNG TẤM GƯƠNG XƯA


Có người hỏi một tu sĩ:
- Trời sanh con người ra, sanh tánh nào trước?
Tu sĩ đáp:
- Tánh tham.
- Sao biết?
- Đứa bé vừa lọt lòng mẹ liền đòi bú. Cho bú đã vừa rồi, bà mẹ rút vú ra, đứa bé liền khóc vì còn tham bú nữa.
Người kia vỗ tay cười:
- Như thế lời của thầy Mạnh Kha : " Nhân chi sơ tánh bổn thiện" sai rồi sao?
Tu sĩ ôn tồn đáp:
- Phải nói "Nhân chi so tánh bổn tham" thì đúng hơn.
Lời tu sĩ mới nghe thì có vẻ khôi hài, nhưng xét kỹ lại thì là chơn lý. Vì lòng tham của đứa bé cứ theo ngày tháng mà lớn dần.
Tục ngữ có câu: "Hễ tham thì thâm, bụt đã bảo thầm, bảo đừng có tham".
Bụt bảo thì bảo mà người tham thì tham. Và vì tham mà bị thâm, xưa nay thật không hiếm kẻ. Như vua nước Thục thời Đông Châu là một.
Vua nước Thục có tiếng là tham lam.
Vua Huệ Vương nước Tấn muốn đánh Thục, nhưng vì núi khe hiểm trở khó tiến binh. Huệ Vương lấy đá tạc hình một con trâu to lớn đem để gần địa giới nước Thục, mỗi ngày sai người lén đem bỏ vàng sau đuôi trâu mà phao lên rằng : " trâu đá vãi phân vàng " . Tiếng đồn thấu tai vua Thục. Vua Thục liền sai xẻ núi, lấp khe và cho năm mươi người lực sĩ vào rừng kéo con trâu đá về. Vua Huệ Vương sẵn lối đi, đem quân sang đánh nước Thục. Nước Thục không đề phòng nên chưa đánh đã rã, nước bị mất, vua bị giết, để lại một trò cười cho nghìn sau.
Rõ là: "Điều tham thật nhi vong, nhân tham tài nhi tử " . Lẽ xưa nay bao giờ cũng thế.
Mà có tham thì tham vừa vừa, người ta còn chịu nổi, còn có thể chiều hay nể mà thoả mãn lòng tham của mình, chớ tham quá lắm , thì " tức nước phải lở bờ". Như chuyện Ngu Công yêu cầu ngọc, kiếm, trong Tả Truyện.
Ngu Thúc là em Ngu Công có một viên ngọc bích và một thanh bửu kiếm vô cùng quí giá.
Ngu Công muốn lấy ngọc, sai người đến cầu. Ngu Thúc ban đầu không chịu, sau hối lại, nói rằng:
- Ngạn ngữ nhà Châu có câu :" Kẻ thường dân vô tội, vì giữ ngọc bích mà thành tội ". Ta dùng vật ấy làm gì cho sanh hại vào thân.
Bèn đem vật dâng cho Ngu Công.
Ngu Công được ngọc rồi lại đòi luôn cả kiếm. Ngu Thúc cả giận nói:
- Như thế là con người vô liêm! Lòng tham không chán. Đã không chán, tất sẽ hại đến thân ta. Không trừ không được.
Liền cử binh đánh.
Ngu Công bị thua, chạy ra đất Cung Trì.
Lữ Đông Lai bàn rằng:
"Ngu Công vì tham lam mà mất nước. Ngu Thúc vì keo kiết mới đuổi vua. Một bên tham, một bên keo, tuy không đồng danh nhưng đồng tánh, vì cả hai bởi lòng yêu của mà sanh ra. Nếu Ngu Công biết lòng cầu kiếm của mình cũng như lòng giữ kiếm của Ngu Thúc, thì không đến nỗi tham lam. Và nếu Ngu Thúc biết lòng giữ kiếm của mình cũng giống như lòng cầu kiếm của Ngu Công, thì không đến nổi keo kiết. Vì không rộng lượng dung cho nhau nên trở lại tránh lẫn nhau, mới gây thành giận lớn.
" Vậy nên làm thế nào ?
" Xin đáp:
" Nên dùng tham lam trị tham lam, nên dùng keo kiết trị keo kiết. Trong chí lý không có điều gì bỏ được, thì trong lòng người không có ý niệm nào trừ được. Nếu không có ý niệm tham lam và keo kiết , thì làm sao có sự keo kiết và tham lam được? Vậy thì đối với tham lam và keo kiết, không đáng cưỡng bách cho đừng có, mà cũng chẳng cần bảo là không nên có. Nếu lòng ta không còn vương vấn điều chi nữa, ngày ngày như tuyết như băng, thì tham lam hay keo kiết, điều nào không phải là chí lý?
"Vả chăng, về việc thì có lành có dữ. Còn về ý niệm thì không có gì là dữ với lành. Ý niệm ấy gia vào việc lành thì gọi là " thiện niệm " , gia vào việc dữ thì gọi là " ác niệm ". Như vậy, về ý chỉ có một , nào phải là hai.
Đời Chê Ngu Công là tham làm vì lòng thích cầu không biết chán. Nhưng nếu Ngu Công biết dùng ý niệm tham đó để cầu Đạo, khi bực " lập" chưa rồi đã cầu đến bực " quyền ", làm "hiền" chưa xong đã cầu "thánh". Như vậy có khác gì đức Khổng Tử " học hoài không biết chán " ư ?
"Đời lại cho Ngu Thúc là keo kiết, vì lòng thích giữ của không muốn mất. Nếu Ngu Thúc biết dùng ý niệm keo kiệt đó để giữ Đạo, khi đạo sống thì sống với , vật dục không dời lòng được; khi Đạo chết thì sẽ chết theo, uy quyền không cướp đạo được. Như vậy khác gì Nhan Hồi " được điều lành mau ghi vào dạ, không để cho mất " ư ?
"Vậy thì tham lam với keo kiết, trước là ác, sau là thiện, theo vật mà đổi tên, chớ nào phải hai ý niệm ".
Lời bàn thật là cao siêu mà cũng thật là chí lý.

(Nguồn : http://www.maxreading.com)

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

BÀI HỌC CHO LÒNG THAM




MUA ĐẤT 

Có một người muốn mua một miếng đất để trồng trọt, nghe nói có người muốn bán đất, anh ta liền quyết định đến đó hỏi mua. Người có miếng đất kia bảo với anh ta rằng: “Anh chỉ cần đưa trước cho tôi một nghìn lượng bạc, tôi cho anh thời gian là một ngày, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, anh có thể bước chân vòng quanh được bao nhiêu mét đất, thì số đất ấy sẽ là của anh, thế nhưng nếu như anh không thể kịp quay trở lại nơi xuất phát ban đầu, thì một tấc đất anh cũng không có”.
Người nông dân kia nghĩ: “Nếu như hôm nay mình vất vả một chút, bước đi nhiều một chút, chẳng phải là đi một vòng rất lớn thì số đất giành được cũng rất lớn sao? Vụ mua bán này xem ra thật là quá có lợi rồi!”
Thế là anh ta ký kết hợp đồng với người sở hữu mảnh đất đó. Ngay khi mặt trời vừa mới ló ra từ chân trời xa, anh ta đã mau chóng bước đi thật nhanh về phía trước, đến trưa rồi mà bước chân của anh ta vẫn không chịu dừng lại chút nào, cứ một mực bước về phía trước, trong lòng nghĩ: “Cố gắng nhẫn chịu một ngày, sau này sẽ được hưởng thụ những hồi báo mà sự vất vả của ngày hôm nay đem lại”.
Anh ta lại hướng về phía trước bước trên con đường đã rất xa rồi, khi mắt đã nhìn thấy mặt trời sắp xuống núi rồi mới bắt đầu quay trở lại, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không kịp quay trở về chỗ ban đầu mà nói, thì một tấc đất cũng không có được, thế là anh ta đi tắt về điểm xuất phát. Thế nhưng mà mặt trời đã như sắp hạ xuống rồi, anh ta đành phải liều mạng mà chạy thật nhanh, cuối cùng, chỉ còn hai bước nữa là về đến điểm xuất phát, nhưng anh ta đã kiệt sức mà gục ngã xuống chỗ đó.
Dục vọng của con người nằm giữa một cái hào rộng lớn, vĩnh viễn không cách nào vượt qua, bởi vì người tham lam vĩnh viễn không có chừng mực, không có bờ bến để dừng lại, vĩnh viễn cũng sẽ không thấy thỏa mãn, đây là chỗ thiếu sót đáng tiếc nhất trong tính cách của con người.
(Sưu Tầm)
CẠM BẪY CỦA ĐỜI NGƯỜI : SƠ SUẤT, CẢ TIN, và THAM LAM 

Có ba tên trộm đã nhìn thấy một thiếu phụ, một tên trong số đó nói: “Tôi sẽ đi ăn trộm con dê rừng mà thiếu phụ kia sẽ không hay biết gì cả”.
Một tên trộm khác nói: “Tôi sẽ dắt trộm con lừa ngay từ trong tay người thiếu phụ kia”.
Tên trộm thứ ba nói: “Cái này có khó gì, tôi có thể lấy trộm hết toàn bộ quần áo đang mặc trên người thiếu phụ kia”.
Tên trộm thứ nhất ngay tại chỗ rẽ của con đường đã lén lén đến gần con dê rừng, cởi bỏ cái lục lạc xuống, buộc vào đuôi con lừa, sau đó dắt con dê rừng đi. Người thiếu phụ nhìn quanh một lượt, phát hiện dê rừng không thấy đâu nữa, liền bắt đầu tìm kiếm.
Lúc này, tên trộm thứ hai đi đến trước mặt thiếu phụ, hỏi bà đang tìm kiếm gì, thiếu phụ nói bà đã bị mất một con dê rừng. Tên trộm nói: “Tôi đã nhìn thấy, vừa nãy có một người dắt theo một con dê rừng đi ra khỏi khu rừng này, bây giờ vẫn còn có thể đuổi kịp được”.
Thiếu phụ cầu khẩn người này dắt con lừa thay bà, còn mình thì đuổi theo lấy lại con dê rừng. Tên trộm thứ hai đã nhân cơ hội dắt trộm con lừa đi mất.
Người thiếu phụ từ trong rừng trở về, con lừa cũng không thấy đâu nữa
Bà vừa đi đường vừa khóc, đang đi đang đi, bà nhìn thấy bên cái đầm nước có một người ngồi đó, cũng đang khóc. Thiếu phụ hỏi anh ta đã xảy ra chuyện gì.
Người đó liền nói, anh ta đã làm rớt một cái túi xuống hồ, ai mà giúp anh ta nhặt lên thì sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng.
Người kia nói: “Ông chủ nhờ tôi đem một túi vàng vào trong thành, vì đi đường quá mệt mỏi, tôi bèn ngồi nghỉ ở bên đầm này, không ngờ đã ngủ quên mất, trong giấc mơ đã ném cái túi đó xuống đầm nước rồi”.
Thiếu phụ hỏi sao anh không xuống vớt cái túi đó lên. Người đó nói: “Tôi sợ nước, bởi vì tôi vốn không biết bơi, nếu ai có thể vớt túi vàng này lên đây. Tôi hứa sẽ tặng cho người đó hai mươi thỏi vàng”.
Người thiếu phụ mừng rỡ, nghĩ thầm trong lòng rằng: “Chính là vì người ta đã lấy trộm mất con dê rừng và lừa của mình, nên ông trời mới ban hạnh phúc cho mình”. Thế là, bà liền cởi bỏ quần áo bên ngoài, lặn xuống nước, nhưng dù cố gắng đến mấy bà cũng tìm không thấy túi vàng kia đâu. Khi bà từ dưới nước bò lên bờ, thì phát hiện quần áo không thấy đâu nữa. Thì ra tên trộm thứ ba đã lấy trộm quần áo của bà đi mất.
BÀI HỌC
Đây chính là ba cạm bẫy lớn của đời người: sơ suất, cả tin và tham lam.
Thế gian đầy rẫy những giả tướng mê hoặc người ta, bản tính con người luôn tồn tại chỗ thiếu sót, làm việc tuyệt đối không được sơ suất, không nên nhẹ dạ cả tin người khác, tham lam luôn sẽ nhận phải sự trừng phạt.
Hãy nhớ kỹ đời người có ba điều cấm kỵ lớn, hãy là người quyết định sáng suốt. Nhẹ dạ cả tin người khác luôn sẽ phải trả giá.

CÁI GIẾNG NƯỚC 


Một vị thiền sư đi ngao du thiên hạ, khi đến một vùng núi nọ thì bị ốm nặng. Ông được một bà goá là chủ quán trà cứu và đưa về nhà chăm sóc. Mặc dù không biết tung tích vị thiền sư, quán nghèo thưa thớt khách, không có tiền nhưng người phụ nữ vẫn tận tình chăm sóc và cứu chữa cho ông.
Hơn 3 tháng ròng vị thiền sư mới bình phục. Cảm động ân tình của bà chủ quán, vị thiền sư trước khi rời đi dành một tuần liền để đào một cái giếng cạnh quán cho bà goá tiện dùng nước, không phải ra tận suối gánh nữa.
Không ngờ, từ khi dùng nước giếng mà vị thiền sư đã đào để pha trà bán, trà của bà goá có mùi thơm thật đặc biệt và vị của trà cũng rất ngon. Ai uống một lần cũng phải quay lại. Tiếng lành đồn xa, quán trà của bà goá khách đến đông nườm nượp. Người đàn bà goá trở nên giàu có từ đó.
Ít lâu sau, vị thiền sư có dịp ghé qua quán để thăm lại ân nhân của mình, thấy cơ ngơi khang trang, vị thiền sư rất mừng cho bà goá. Khi hỏi về giếng nước, bà goá than phiền với thiền sư: “Giếng nước này tốt lắm, có điều nước cạn liên tục, vài ngày mới lại đầy nên tôi chẳng bao giờ đủ để bán cho khách”. Vị thiền sư nghe xong lắc đầu, nói: “Không tốn kém gì cả, từ nguồn nước trời cho rồi kiếm ra nhiều tiền mà bà vẫn không thấy hài lòng ư?” .
Ông viết lên tường một câu: “Trời đất bao la nhưng lòng tham của con người còn mênh mông hơn thế!” rồi lẳng lặng quay đi, không bao giờ quay trở lại quán nữa. Giếng nước từ ấy cũng cạn dần.
Chúng ta phần lớn giống như bà goá kia, không bao giờ hài lòng với cái mình có mà thường đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thường hay so sánh, hay mong ước viển vông mà quên vui hưởng hiện tại của mình.
(Nguồn: https://nghetruyenmoi.com/)

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

CÁC PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là cách đáp ứng của từng cá nhân với sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đến với Chúa một cách kính cẩn với một trái tim lắng nghe. Chúa nói trước và chúng ta lắng nghe. Trong lúc cầu nguyện, chúng ta cảm nhận sự hiện diện của Chúa và đáp ứng tình yêu của Chúa một cách biết ơn. Trọng tâm luôn luôn là Chúa và những gì Chúa làm. 
Sau đây là những đề nghị để trợ giúp và khiến cho chúng ta có thể nghe Lời Chúa và lời đáp trả duy nhất của chúng ta:
Chuẩn bị:
Hãy dự trù để dành ít nhất từ 20 phút đến một giờ để cầu nguyện hằng ngày. Mặc dù không có gì là “thiêng liêng” về con số sáu mươi phút, đa số chúng ta nhận thấy rằng cần đến một giờ để đủ thời gian cho việc lắng đọng, và để bước vào đoạn Phúc Âm v.v… Đêm trước, dành thì giờ để đọc các phần giải thích hay chú giải Kinh Thánh trong các sách phụ dẫn để hiểu rõ về đoạn Phúc Âm, và đọc đoạn Phúc Âm. Trước khi đi ngủ, hãy nhớ lại đoạn Kinh Thánh ấy.
Lịch trình của thời gian cầu nguyện:
  • Hãy lắng đọng; cả bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn. Hãy thoải mái. Hít vào thật sâu, đếm đến bốn, rồi thở ra từ từ bằng miệng.
  • Lập lại nhiều lần. Nhận thức được rằng chúng ta không đáng là gì cả nếu không có Chúa; nói với Chúa là chúng ta tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa.
  • Xin Chúa cho chúng ta ơn lành chúng ta ước muốn và cần thiết.
  • Đọc và suy nghĩ về đoạn Kinh Thánh đã lựa chọn, sử dụng hình thức cầu nguyện thích hợp: suy niệm những Thánh Vịnh và những đoạn không kể chuyện, chiêm niệm những đoạn kể chuyện hay có biến cố xảy ra (Xem phần chỉ dân về các hình thức cầu nguyện ở các trang sau).
  • Kết thúc thời gian cầu nguyện bằng một cuộc đối thoại với Chúa Giê-su và Chúa Cha.
  • Nói và lắng nghe. Chấm dứt bằng một kinh Lạy Cha.
Kiểm điểm giờ cầu nguyện:
Kiểm điểm cầu nguyện là suy nghĩ vào cuối thời gian cầu nguyện. Mục đích là gia tăng nhận thức của chúng ta về cách thức Chúa đã đến và hiện diện với chúng ta trong thời gian cầu nguyện.
Sự kiểm điểm nhắm vào những xúc cảm bên trong về việc được an ủi hay bị thất vọng xảy đến qua cảm nghĩ của chúng ta về sự vui sướng, bình an, buồn rầu, sợ hãi, bối rối, tức giận, v. v.
Nhiều khi trong lúc kiểm điểm, chúng ta biết rõ cách thức Chúa đáp lại lời cầu xin của chúng ta về một ơn lành nào. Trong trường hợp không có người linh hướng hay bạn đường cầu nguyện, viết những cảm nghĩ xuống có thể thay thế cho việc lượng giá và giải thích.
Nếu có vị linh hướng, kiểm điểm bằng cách viết xuống sẽ giúp cho dễ chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện với vị linh hướng.
Phương pháp:
Hãy ghi xuống sau mỗi buổi cầu nguyện, trong một tập vở hay nhật ký, ngày giờ và đoạn Phúc Âm. Trả lời các câu hỏi sau đây:
  • Có câu nào hay đoạn nào đánh động chúng ta. Cảm tưởng chúng ta ra sao?
  • Chúng ta có thấy bình an?… yêu thương?… tin cậy?… buồn rầu?… chán nản?…
  • Các cảm tưởng này nói gì với chúng ta?
  • Chúng ta đã cảm nhận hơn thế nào về sự hiện diện của Chúa. Có điểm nào có thể giúp đỡ thêm nếu trở lại cầu nguyện trong thời gian kế tiếp.
CÁC HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN MỘT MÌNH:
Có nhiều hình thức cầu nguyện với Kinh Thánh. Mỗi hình thức thích hợp với mỗi người. Bằng cách thực tập nhiều lần các phương pháp khác nhau chúng ta trở nên quen thuộc trong việc xử dụng hình thức thích hợp cho đoạn Kinh Thánh và thích ứng với nhu cầu cá nhân cũng như cá tính của chúng ta. Có các hình thức sau đây:
1. Suy niệm
Khi suy niệm chúng ta đến với đoạn Kinh Thánh như với một lá thư tình; hình thức này rất hữu ích khi cầu nguyện với những đoạn như Thánh Vịnh.
* Phương pháp:
Đọc đoạn Kinh Thánh thật chậm, lớn tiếng hay thì thầm, để cho các chữ bao trùm lên bạn, và nghiền ngẫm từng chữ. Dừng lại ở những chữ đặc biệt làm bạn chú ý; hấp thụ chúng như người khát mong uống nước mưa trời. Lập lại một chữ hay một câu nhiều lần, nhận thức những cảm giác đang được đánh thức dậy. Đọc, và đọc lại đoạn Kinh Thánh nhiều lần một cách trìu mến, y như đang đọc một lá thư tình, hay như khi bạn hát nhẹ nhàng điệp khúc của một bài ca.
2. Chiêm niệm
Khi chiêm niệm, chúng ta bước vào một biến cố hay một đoạn kể chuyện trong Kinh Thánh. Chúng ta bước vào đoạn này bằng sự tưởng tượng, và sử dụng tất cả các cảm quan của chúng ta.
Các nhà thần học dạy rằng qua chiêm niệm, chúng ta có thể “nhớ lại và hiện diện trong những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Ki-tô”. Thánh Linh của Chúa Giê-su hiện diện trong chúng ta qua phép rửa tội, dạy dỗ chúng ta y như Chúa Giê-su đã dạy dỗ các Tông Đồ.
Thánh Linh gợi lại và làm sống động các mầu nhiệm chúng ta bước vào qua việc cầu nguyện. Cũng như ở trong Thánh Thể, Chúa Giê-su lên trời đã làm hiện diện mầu nhiệm Phục Sinh, trong việc chiêm niệm Thánh Linh đem tới biến cố đặc biệt mà chúng ta chiêm niệm và Thánh Linh tự xuất hiện trong mầu nhiệm ấy.
* Phương pháp:
Trong khi chiêm niệm, chúng ta bước vào câu chuyện y như chính chúng ta có mặt ở đó: Quan sát những gì xảy ra; lắng nghe những gì đã được nói. Trở nên một thành phần của mầu nhiệm; lãnh vai trò của một nhân vật. Nhìn từng nhân vật; nhân vật đó đang có kinh nghiệm gì? Nhân vật đó đang nói với ai? Nếu tôi nghe được Lời Chúa nói với tôi trong đoạn Kinh Thánh đó thì có ảnh hưởng gì đến đời sống của tôi, gia đình tôi, xã hội tôi?
Trong câu chuyện Kinh Thánh, bước vào một cuộc đối thoại với Chúa Giê-su: Có mặt ở đó với Chúa và vì Chúa. Ước muốn Chúa, thèm khát Chúa. Lắng nghe Chúa.
3. Cầu nguyện tập trung
“Trong khi cầu nguyện tập trung, chúng ta vượt qua các ý tưởng và hình ảnh, vượt qua các cảm quan, và vượt qua trí óc lý luận tới trung tâm của tâm hồn chúng ta nơi Chúa đang làm những việc lạ lùng”.
Cầu nguyện tập trung là một hình thức cầu nguyện rất giản dị, rất trong sáng, thường thì không ra lời; đó là cách mở trái tim chúng ta cho Thánh Linh đang ngự trị trong chúng ta.
Trong cầu nguyện tập trung, chúng ta tuột một dốc xoáy ốc để đi xuống tận đáy sâu của tâm hồn chúng ta. Đó là điểm yên tĩnh trong ta nơi đa số chúng ta cảm nghiệm đã được cấu tạo bởi một Thiên Chúa thương yêu đã thổi hơi thở cho chúng ta được sống.
Muốn bước vào sự cầu nguyện tập trung, chúng ta phải tuyên xưng chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa và đầu hàng trước tình yêu thương của Người”…
Thánh Linh cũng đến để giúp đỡ chúng ta những lúc yếu đuối. Thánh Linh trình bày những lời cầu xin của chúng ta dưới những hình thức không thể diễn tả bằng lời..”. (Rm 8,26) Thánh Thần của Chúa Giê-su kêu lớn trong chúng ta “Áp-ba, Lạy Cha” (Rm 8,15).
* Phương pháp:
  • “Dừng lại một lát và nhận biết ta là Thiên Chúa” (Tv 46,10).
  • Ngồi yên lặng, thoải mái và dễ chịu. An nghỉ trong mong muốn và ao ước của Chúa.
  • Di chuyển vào trung tâm sâu xa của bản thể chúng ta.
  • Sự di chuyển này có thể dễ dàng nếu tưởng tượng như khi chúng ta đang tuột xuống trong một cầu thang máy, hay khi đang bước xuống một cầu thang dài, hay khi đang leo xuống một triền núi, hay lặn sâu xuống một hồ nước.
  • Trong sự yên tĩnh, trở nên nhận thức được sự hiện diện của Chúa; hấp thụ tình yêu Chúa một cách an bình.
4. Lời nguyện (Mantra)
Một hình thức cầu nguyện tập trung là sử dụng lời nguyện. Lời nguyện có thể là một chữ hay một câu. Có thể là một chữ trong đoạn Kinh Thánh, hay một chữ được xuất phát từ đáy tim chúng ta. Chữ hay câu này biểu tượng cho ta sự hiện hữu đầy đủ của Chúa.
Một hình thức thay đổi của lời nguyện có thể bao gồm tên “Giê-su” hay hình thức đã được mệnh danh là “kinh Giê-su”, “Lạy Chúa Giê-su, Con Chúa Trời hằng sống, xin thương xót con là kẻ có tội”.
* Phương pháp:
Chữ hay câu được lập lại nhẹ nhàng, bên trong tâm hồn để cho hòa hợp với hơi thở. Thí dụ, phân nửa đầu của kinh Giê-su được nói trong khi hít vào, và nửa sau được nói khi thở ra.
5. Đọc chiêm niệm
“Người lại phán với tôi: “Hỡi con người, hãy ăn cho no bụng và nuốt cho đầy dạ cuộn sách Ta ban cho ngươi đây”. Tôi đã ăn cuộn sách, và nó ngọt như mật trong miệng tôi” ((Ed 3,2-3).
Một cách cầu nguyện là chiêm niệm khi đọc một đoạn Kinh Thánh hay các bài văn viết về các bài linh thao khá các bài linh thao khác. Đọc như vậy luôn luôn giúp cho đời sống cầu nguyện của chúng ta được phong phú hơn.
Phương pháp được mô tả sau đây đặc biệt có ích khi chúng ta cảm thấy khô khan nguội lạnh.
* Phương pháp:
Đọc một cách chậm rãi, ngưng laị nhiều lần để cho các chữ các câu xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Khi một tư tưởng vang động sâu xa, dừng lại ở đó, để cho ý nghĩa đầy đủ của chúng xâm nhập tâm hồn chúng ta. Tận hưởng những chữ đã cảm nhận được. Đáp trả một cách tự nhiên y như khi đối thoại.
6. Viết nhật ký
“Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Ki-tô thế nào” (Ep 3,4).
Viết nhật ký là một hình thức viết trong chiêm niệm. Khi chúng ta đặt bút trên giấy, linh hồn và thân thể hỗ trợ để giải tỏa con người thực của chúng ta.
Có sự khác biệt giữa hình thức cầu nguyện này với cách chúng ta giữ nhật ký hằng ngày. Cầu nguyện bằng nhật ký là cảm nhận trong ánh sáng mỗi khi các hình ảnh mới được phát xuất từ tiềm thức của chúng ta được ban cho những ý nghĩa mới.
Cầu nguyện bằng nhật ký đòi hỏi phải bỏ sang một bên những thành kiến và những sự kiềm chế đã có sẵn. Viết trong chiêm niệm giống như viết thư cho người yêu. Các kỷ niệm được gợi lại, các niềm tin được làm cho sáng tỏ và tình cảm nổi dậy mãnh liệt trong chúng ta.
Trong khi viết xuống chúng ta có thể khám phá rằng các cảm xúc được tăng cường và kéo dài. Vì thế viết nhật ký có thể giúp cho chúng ta nhận định được cảm xúc bị che dấu, bị đè nén, như tức giận, sợ hãi và thù hận. Cuối cùng, cầu nguyện bằng nhật ký có thể giúp chúng ta tôn trọng hơn những chữ những câu đã được viết trong Kinh Thánh.
* Phương pháp:
Có nhiều hình thức khác nhau khi cầu nguyện bằng nhật ký: Viết một lá thư cho Chúa. Viết một cuộc đối thoại giữa chúng ta và người khác; người khác có thể là Giê-su, hay một người nào quan trọng.
Cuộc đối thoại có thể được ghép theo một biến cố, một kinh nghiệm hay một giá trị. Thí dụ, sự chết, sự chia ly, sự khôn ngoan, một tài khéo; và được tưởng tượng ra y như đang nói chuyện với người ấy.
Viết câu trả lời cho một câu hỏi, chẳng hạn, “Con muốn Ta làm gì cho con” (Mc 10,51). Hay “Tại sao con khóc” (Ga 20,15). Để cho Giê-su hay một nhân vật khác trong Kinh Thánh nói với chúng ta qua ngòi bút của chúng ta.
7. Lập lại
Thánh I-nhã thành Lôi-ô-la nói: “Tôi sẽ tiếp tục chiêm niệm về điểm trong đó tôi đã khám phá ra điều tôi mong ước, và không muốn đi xa thêm trước khi tôi hoàn toàn hài lòng”.
Lập lại là việc trở về một thời gian cầu nguyện trước đó với mục đích để cho những hoạt động của Chúa ăn sâu trong trái tim ta. Qua sự lập lại, chúng ta tô điểm cho sự nhạy cảm của chúng ta đối với Chúa và đối với cách thức Chúa nói với chúng ta qua việc cầu nguyện và trong những hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta.
Cầu nguyện lập lại giúp cho kinh nghiệm của sự tổng hợp điều chúng ta là ai với điều Chúa đang bày tỏ cho chúng ta biết Chúa là ai. Lập lại là một cách để tôn kính Lời Chúa nói với chúng ta trong các buổi cầu nguyện trước.
Đó là nhớ lại và suy nghĩ về một cuộc đối thoại trước đây của chúng ta với một người chúng ta yêu. Cũng giống như khi chúng ta nói với Chúa,”Lạy Chúa xin hãy nói lại với con điều ấy; con đã nghe thấy Chúa nói gì với con”. Trong cuộc đối thoại tiếp theo hay lập lại này, chúng ta mở lòng cho sự hiện diện chữa lành thông thường có mãnh lực để biến cải những sự đau buồn và bối rối chúng ta đã cảm nhận được trong các buổi cầu nguyện trước đó.
Khi lập lại, không những các sự an ủi (vui sướng, ấm áp, bình an) được mạnh mẽ hơn, mà các sự thất vọng (đau khổ, buồn bã, và bối rối) thường đưa tới một trình độ mới để thấu hiểu và chấp nhận kế hoạch Chúa dành cho chúng ta.
* Phương pháp:
Giai đoạn cầu nguyện chúng ta lựa chọn để lập lại là buổi cầu nguyện trong đó chúng ta đã kinh nghiệm một xúc động đáng kể về vui mừng hay buồn khổ hay bối rối.
Cũng có thể là một giai đoạn trong đó không có gì xảy ra, có lẽ vì chúng ta thiếu chuẩn bị. Nhớ lại những cảm xúc của lần trước. Sử dụng để làm một điểm khởi đầu, một khung cảnh, một câu chữ, hay một cảm xúc đáng kể trong lần trước. Để cho Thánh Linh hướng dẫn các động tác nội tâm của trái tim trong buổi cầu nguyện này.
Bùi Hữu Thư dịch
(Nguon: http://songloichua.org/)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Lấy ý từ bài Tin mừng trong ngày, Đức Phanxicô nói về những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ, ‘Các con là muối cho đất, là ánh sáng cho thế gian.’
‘Kitô hữu phải là muối và ánh sáng, nhưng không bao giờ là phục vụ cho riêng mình, muối phải thêm vị và ánh sáng phải chiếu rọi cho người khác.
Vậy một Kitô hữu phải làm gì để muối không lạt đi ,để dầu trong đèn không cạn?
‘Pin’ của một Kitô hữu để tạo ra ánh sáng, chính là lời cầu nguyện.
Có nhiều điều chúng ta có thể làm, nhiều việc thiện, nhiều việc làm lớn lao cho Giáo hội, như mở một đại học, môt bệnh viện, anh chị em có thể còn được đặt một đài tưởng niệm như ân nhân của Giáo hội, nhưng nếu không cầu nguyện, thì ánh sáng sẽ leo lắt và tối tăm.
Cầu nguyện thắp lên đời sống Kitô hữu, và cầu nguyện là vấn đề hệ trọng. Một lời cầu nguyện chúc tụng Chúa Cha, một lời cầu nguyện vinh danh Ba Ngôi, một lời tạ ơn, một lời xin …cầu nguyện phải từ trong tâm hồn.
Kitô hữu cũng là muối khi trao đi cho người khác.
Là trao đi bản thân, ướp thêm hương vi cho cuộc sống của người khác, ướp hương vị bằng thông điệp Tin mừng.
Muối là để dùng, chứ không phải để giữ khư khư.
Điều lý thú là, muối và ánh sáng đều là để cho người khác, chứ không phải cho riêng mình, muối không thêm hương vị cho mình, ánh sáng không chiếu tỏa bản thân.
Tất nhiên, anh chị em có thể tự hỏi liệu muối và ánh sáng có thể tồn tại được bao lâu nếu như chúng ta cứ cho đi không ngừng.
Chính ở đây là nơi biểu lộ quyền năng Thiên Chúa, bởi Kitô hữu là muối Chúa ban trong phép rửa, là ơn không bao giờ hết.
Các Kitô hữu phải chiếu tỏa và luôn luôn thắng cho bằng được cám dỗ muốn chiếu rạng cho riêng mình.
Đó là kiểu linh đạo gương soi, là muốn chiếu rạng cho mình, rất xấu. Hãy là ánh sáng để chiếu tỏa, là muối để đem lại hương vị.’
‘Nguyện xin cho ánh sáng của anh chị em chiếu tỏa trước mọi người, để họ thấy được việc làm thánh thiện của anh em mà dâng lời chúc tụng Cha của anh em ở trên trời.’
J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Vatican Radio Eng

So sánh muối và ánh sáng
Trong “Bài giảng trên núi”, sau khi công bố các Mối Phúc, Đức Giêsu nói với các môn đệ, và qua các môn đệ, Ngài nói với tất cả chúng ta, là Ki-tô hữu: “Chính anh em là muối cho đời”; “chính anh em là ánh sáng cho trần gian”. Hai lời mời gọi này của Đức Giêsu thường được hiểu tách biệt nhau và theo nghĩa thực hành: làm muối cho đời, nghĩa là làm cho môi trường sống của mình thêm “mặn mà” tình bác ái và yêu thương; làm ánh sáng cho trần gian, nghĩa là làm gương sáng về đời sống đức tin và đạo đức.


MuốiÁnh sáng
1. Về mặt vật lí, muối có lẽ có cấu tạo đơn giản.

2. Ở bình diện biểu tượng, muối được dùng trong các lối nói ẩn dụ (“hạt muối cắn đôi”…) và cũng được dùng làm biểu tượng (chẳng hạn muối và bánh mì ở Nga, diễn tả lòng hiếu khách).




3. Tuy cả hai đều cần cho cuộc sống, nhưng muối rất rẻ.




4. Muối được đặt ở trên bàn ăn hay trong nhà bếp trong một góc nào đó.

1. Ánh sáng phức tạp và kì diệu hơn; được nghiên cứu nhiều hơn.
2. Nhưng ở bình diện này, ánh sáng chắc chắn hơn hẳn hạt muối: Ánh Sáng Tin Mừng; ánh sáng là biểu tượng của sự sống, bởi vì nhìn thấy ánh sáng, có nghĩa là đang còn sống; Ngôi Lời là ánh sáng; ánh sáng soi đường, soi lối, soi lòng: “Lời Chúa là đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi”…
3. Còn ánh sáng đắt tiền hơn (khác nhau giữa tiền muối và tiền điện hàng tháng! Nhiên liệu để đốt sáng; các phương tiện chiếu sáng…; và càng ngày càng có những phương tiện chiếu sáng cầu kì, đắt tiền, vì còn là đồ trang trí nội thất).
4. Trong khi các phương tiện chiếu ánh sáng luôn ở vị trí cao để soi sáng và ở khắp nơi.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

THƯ MỜI HỌP MẶT-TĨNH TÂM CỰU HTDC 2017


Trân Trọng Kính Mời 
Anh Chị 
Tham dự ngày HỌP MẶT - TĨNH TÂM  CỦA  CỰU HÙNG TÂM DŨNG CHÍ 
Thời gian :  08g  đến 16g  ngày thứ bảy , 11/02/2017 
Tai : Trung Tâm Mục Vụ TU VIỆN THÁNH MARTIN 
Địa Chỉ : 1/4 KP 10 Tân Biên, Biên Hòa , Đồng Nai .
Sự hiện diện của các Anh Chị sẽ kết nối thêm tình thân và gắn kết hơn nữa với các hoạt động Mục Vụ Tông Đồ Thiếu Nhi . 
                                                                                            
                                                                                                  Tp HCM, ngày 25/01/2017 
                                                                                                               ĐD BTC 



CHƯƠNG TRÌNH 
HỌP MẶT-TĨNH TÂM

8g : Đón tiếp
9g : Khai mạc : - Hát kinh Chúa Thánh Thần
- Cha Phêrô PHAN VĂN TƯƠI tuyên bố khai mạc
9g30: Chia sẻ  của Cha Giuse NGUYỄN TIẾN LỘC
10g30 : Thánh lễ đồng tế
12g : Cơm trưa
14g : Chia sẻ và thảo luận về hoạt động của PT HTDC hiện nay và tương lai .
16g : Chầu Thánh Thể
16g20 :  Lời cám ơn Quý Cha ,quý ân nhân
16g30 : Hát Bài Ca PT– Kết dây thân ái
–Bài ca tạm biệt