Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

HOA VÀ RÁC


 Những ngày gần Tết, hoa và cây cảnh được bày bán khắp mọi nẻo đường phố thị. Đủ mọi loại hoa kiểng, lắm màu hương sắc. Gia đình nào cũng mua hoa chưng Tết. Tôi cũng mua cây mai nhiều nụ và mấy chậu hoa hồng hoa cúc để làm đẹp phòng khách. Nâng niu, chăm sóc thật kỹ lưỡng. Đến Mồng Ba Tết, hoa đã héo rụng đầy phòng. Phải quét rác thôi, gom cả mai cả hoa đi đốt. Ôi Hương sắc của hoa! Hôm qua tươi đẹp, hôm nay héo tàn rụng úa. Hôm qua “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, hôm nay quét bỏ như rác rưởi.

Thứ Tư Lễ Tro, nghĩ về hoa và rác như nghĩ về thân phận tro bụi của kiếp người theo lời Thánh Vịnh 102:

Đời sống con người giống như hoa cỏ

Như bông hoa nở trên cách đồng

Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi

Nơi nó mọc không còn mang vết tích.

Đời người cũng tựa đời hoa. Khi tươi nở, hoa rực rỡ khoe sắc, hoa ngào ngạt toả hương, ai cũng yêu cũng quý. Khi ủ rũ héo tàn, hương sắc của hoa rụng úa tàn tạ, chỉ mau vứt vào thùng rác. Hôm trước nâng niu, hôm sau vứt bỏ. Một đời hoa chóng tàn phai như lời sách Giảng viên:

“Phù hoa nối tiếp phù hoa,
chi chi chăng nữa cũng là phù hoa”
(Gv 1,2).

Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu. Linh mục đọc "Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro” và xức tro trên trán tín hữu. Đây là lời Thiên Chúa báo cho Ađam biết khi ông vừa phạm tội. Giáo Hội cũng sẽ lặp lại những lời ấy trong phần xức tro đễ nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.

Nghi thức xức tro bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của dân Do thái. Trong Cựu ước, mỗi khi muốn tỏ lòng ăn năn hối cải, người Do thái thường xức tro trên đầu, ngồi trên đống tro và mặc áo vải thô hoặc xé áo ra. Việc xức tro và xé áo trước hết nói lên sự buồn phiền đau đớn vì đã phạm nhiều tội lỗi. Việc xức tro và xé áo cũng làm cho tội nhân ý thức thân phận con người bọt bèo, cuộc đời mau chóng tàn phai như giấc mộng. Đời người như một nắm tro bụi, chỉ một làn gió nhẹ thoảng qua đủ xoá sạch vết tích.

Sách Giảng Viên viết rằng: "Tất cả chỉ là phù vân". Phù là trôi nổi, huyền ảo. Vân là mây. Phù vân là bèo dạt mây trôi, là hay thay đổi, mau qua, tàn phai. Mọi của cải vật chất trên trần gian này, kể cả cuộc sống của mỗi người đều là phù vân. Văn chương Việt nam khi nói tới cái gì bấp bênh, vô định, chóng tàn, thường dùng hình ảnh bọt bèo:

"Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau"
(Nguyễn Du).

Bọt là bong bóng nước mong manh, tan trong chốc lát. Hình ảnh bọt diễn tả cái vắn vỏi của cuộc đời. Bèo gợi lên ý tưởng về sự lênh đênh, trôi nổi, vô định:

”Lênh đênh duyên nổi phận bèo.
 Tránh sao cho khỏi nước triều đầy vơi”
(Ca dao).

“Bèo dạt, mây trôi đành với phận”
(Chu Mạnh Trinh)

Cuộc đời làm sao mà không bi đát khi nó là phù vân, khi nó vừa là bọt chóng tan, vừa là bèo trôi nổi, dật dờ không bến ?

Cuộc đời tuy có là bèo bọt. Phận người dù phù hoa, mau chóng tàn phai trở về bụi đất. Con người bởi đất nhưng con người không bằng đất, con người có sinh khí, có hơi thở. Con người là hoạ ảnh và hình ảnh của Đấng dựng nên mình. Sự cao cả của con người là bắt nguồn từ chính Đấng là Sự Sống, Đấng Hằng Sống, con người là hình ảnh và hoạ ảnh của Đấng vô thuỷ vô chung, nên sự sống con người mang hình thái bất diệt, vượt xa các loài được tạo dựng. Lòng thương xót của Thiên Chúa không dựng nên con người, theo cái bên ngoài của Thiên Chúa, nhưng cho con người mang hoạ ảnh và hình ảnh của Người. Theo quan niệm của Nho Giáo, con người là sự tích tụ của tinh thần và khí chất nên con người có sự sáng suốt để hiểu các sự vật. Là hoạ ảnh và hình ảnh của Thiên Chúa, con người có một phẩm giá trổi vượt trên các loài được tạo dựng, con người một phần giống Thiên Chúa bởi quyền cai quản trên vạn vật và bởi con người có trí khôn, tự do.

Ba việc đạo đức được nhắc nhở rất nhiều trong mùa chay là: Bố thí, ăn chay và cầu nguyện. Đây là ba vũ khí tuyệt hảo để chống lại sự tấn công của ma quỷ và đền bù tội lỗi mình. Những việc lành phúc đức này, khi được thi hành thì hãy làm với tất cả tấm lòng của mình; không làm để khoe khoang. Chỉ cần Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho chúng ta là đã đủ rồi. Đừng làm để được người đời khen và vì thế mà chúng ta mất đi lời khen tặng của Thiên Chúa. (x.Mt 6,1-6).

Ăn chay và kiêng thịt, chịu tro chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi. Canh tân nội tâm vẫn là trọng tâm của mùa chay. Kiêng bớt các tội là điều mà Thiên Chúa mong muốn. Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Bớt nói hành, nói xấu, lười biếng việc đạo đức là điều phải thực hành.

Nói một cách hình tượng, thì con người của Mùa Vọng là một con người ÐI, con người hành hương, lòng tràn trề hy vọng đang tiến về cùng đích tối hậu của cuộc đời; con người của Mùa Phục Sinh là một con người ÐỨNG, tự do, chủ động và tự tín đối diện với thế giới, còn con người của Mùa Chay thì NGỒI trong thái độ chiêm nghiệm, trầm tư. (Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống).

Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: "Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi". Ý nghĩa của lời đó quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết. Vậy anh lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui..., anh nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng v.v. nhưng khi chết đến, anh mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho anh? Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời? Ðâu là bậc thang giá trị đời anh?

Có ba quan niệm sống có thể tạo ra một thái độ tiêu cực trước cuộc đời.

Một là cho rằng chết là hết, không còn gì tồn tại. Nếu quả thực mọi sự sẽ chấm dứt với cái chết, nếu số phận người tốt kẻ xấu đều sẽ như nhau sau khi chết, thì người ta sẽ có lý mà lập luận rằng: Ta hãy ăn uống, vui chơi, hãy hưởng thụ giây phút hiện tại cho thoả thích, vì chết rồi sẽ chẳng còn gì !

Hai là tin vào thuyết định mệnh, nghĩa là tin rằng mọi sự đã được an bài sẵn và số phận của mỗi người đã được thần thánh định đoạt. Nếu thế thì con người chẳng cần và chẳng có thể làm gì nữa, mọi cố gắng đều vô ích.

Ba là tin vào thuyết luân hồi, cuộc sống là một vòng luân chuyển, hết kiếp này qua kiếp khác. Nếu kiếp này chưa đạt cõi phúc thì sẽ chờ kiếp sau, khi được đầu thai lại, luân hồi theo vòng nghiệp chướng. Dĩ nhiên thuyết luân hồi không đương nhiên dẫn tới tiêu cực, nhưng dù sao cũng không dành cho cuộc sống hiện tại một giá trị và tầm quan trọng quyết định đối với số phận mỗi người.

Khác với ba quan niệm trên, Kitô giáo dạy rằng: Thiên Chúa thực sự giao cho ta chịu trách nhiệm về thế giới này và về sự thành công của cuộc đời chúng ta. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cữu. Chúa Giêsu khuyên chúng ta “phải lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa” bằng cách “ Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá”.

Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn minh hoạ bài học tỉnh thức của Mùa Chay.

Dụ ngôn người đầy tớ đợi chủ về: tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn”. Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ. Tỉnh thức để đợi chủ về. Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm, chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình. Vì thế người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời một cách hết sức tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay bây giờ. Dụ ngôn người quản gia trung thành. Quản gia chỉ là quản lý mà “ ông chủ đặt lên coi sóc gia nhân, cấp phát thóc gạo đúng giờ đúng lúc”. Mỗi người chúng ta là người quản lý của Thiên Chúa. Sự sống, tài năng, trí thông minh, sức khoẻ, sắc đẹp…tất cả đều là do Chúa ban tặng. Những gì mà ta có đều là của Chúa. Người quản lý khôn ngoan phải biết nhìn xa, làm sao cho sự sống, trí tuệ, tài năng… giúp ta hướng tới những giá trị vĩnh cửu.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa.Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn.Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử.

Chờ đợi hướng về tương lai tức là hy vọng. Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin. Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng. Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô. Nhờ đức tin chúng ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.

Biết mình đang đi về đâu, người có lòng tin không vì thế mà đương nhiên hết còn cảm nhận tính bi đát của cuộc đời “ phù vân, bèo bọt” vì họ vẫn là con người như mọi người, nhưng họ có một niềm hy vọng giúp họ giữ được thái độ lạc quan và an bình.

Biết rằng mình được cứu chuộc bằng giá máu Chúa Kitô, người Kitô hữu luôn có đựơc điểm tựa an toàn cho hạnh phúc đích thực.

Con người là “hoa” và cũng là “rác”, nhưng với tình yêu Chúa Kitô, con người không còn là bèo bọt, không là phù hoa mà là con người của thần khí, trổ sinh những hoa quả của Thánh Linh (Gal 5,22). Làm việc thiện, luôn bình an, thư thái, tự chủ. Nhờ đó, chúng ta sống một Mùa Chay thánh thiện.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

HÃY CÁM ƠN CUỘC ĐỜI VÌ CHÚNG TA VẪN CÒN ĐANG SỐNG


Bạn sẽ làm gì nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình? Nếu hôm nay bạn vẫn đang phải vật lộn với những khó khăn thường ngày trong thế giới này, vậy xin chúc mừng vì chúng ta đều là những người còn đang sống trên chuyến hành trình cuộc đời.
Một buổi tối, tôi đang lái xe về khách sạn sau một cuộc họp dài lê thê. Đó là một đêm trăng tuyệt đẹp, bầu trời quang đãng lạ thường. Khoảnh khắc hiếm hoi này khiến tâm trí tôi trở nên vô cùng tĩnh lặng, yên bình.
Vợ tôi gọi điện nói rằng cô muốn chắc chắn là tôi vẫn còn đang còn sống bởi vì “ngày tận thế” vừa mới trôi qua. Cô ấy nói đùa rằng tất cả mọi người nên ăn mừng vì điều đó.
Steve Jobs, nhà sáng lập của Apple, thường hỏi câu này trong các bài phát biểu của mình: “Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình, bạn sẽ làm gì?”. 
Điều ông ấy muốn chỉ ra là mọi người hãy làm những điều mà bản thân cho là quan trọng và đừng lãng phí bất cứ phút giây nào.
Đôi khi, tôi không thể không nghĩ về những điều mà người ta có thể làm nếu chỉ được sống một ngày duy nhất. Có lẽ một số người sẽ đi thưởng thức những món ăn ngon, những thú vui vật chất; một số sẽ tiêu xài tất cả số tiền mà họ có; những người khác thì có thể sẽ lo lắng hay căm phẫn bất bình.
Tôi biết cũng có nhiều người sẽ dành khoảng thời gian cuối cùng này cho gia đình của họ; có người sẽ đến nhà thờ, giáo đường, hay chùa miếu để nương tựa tâm linh.https://blogger.googleusercontent.com/img/proxy/AVvXsEj8kI1JjSnCVY3Lh01KgepSR6nHklum4fzVMAVdA_aiaezkLJTr1KB9cicZBTSFKnl29lcroitfDfj-6rUwHegXdvfMg5nfcjfnWqnncLsoib9kXa927fGacmkCZvY3gBF7gXoSC5CQM4VDFfLg6jUheXBRrjMDSw=https://blogger.googleusercontent.com/img/proxy/AVvXsEj8kI1JjSnCVY3Lh01KgepSR6nHklum4fzVMAVdA_aiaezkLJTr1KB9cicZBTSFKnl29lcroitfDfj-6rUwHegXdvfMg5nfcjfnWqnncLsoib9kXa927fGacmkCZvY3gBF7gXoSC5CQM4VDFfLg6jUheXBRrjMDSw=

Cách mà con người lựa chọn để sống ngày cuối cùng có thể phản ánh thái độ của mỗi cá nhân đối với cuộc sống và thế giới quan khác nhau của họ.

Nếu đó là ngày cuối cùng của tôi, tôi sẽ thiền định với gia đình tôi và để cho cuộc sống của mình trở về với cát bụi trong tĩnh lặng.
Vài năm trước đây ở Trung Quốc, tôi đã gặp một người bạn bị kết án 2 năm tù giam vì dám phản đối chính phủ. Cô ấy nói rằng 2 năm ở trong tù khiến cô nhận ra rằng hạnh phúc cá nhân chỉ liên quan đến ba từ: Biết ơn, yêu thương và thỏa mãn.

Hãy biết ơn những người khiển trách ta. Vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ.
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã. Vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn.
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta. Vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.
Hãy biết ơn những người đánh đập ta. Vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta. Vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.
Hãy biết ơn những người làm hại ta. Vì họ đã tôi luyện tâm trí cho ta.

Chúng ta nên trân trọng tất cả những gì chúng ta có được và đối xử tốt với tất cả mọi người, bao gồm cả bản thân mình, bởi vì chúng ta thực sự là những người còn sống sót.
Từ quan điểm của tôi, mỗi ngày trên hành tinh này chính là ngày cuối cùng. Rất nhiều người đang mê lạc trong cõi hồng trần này, vẫn đang cảm thấy lo lắng, giận dữ và sợ hãi.
Nếu bạn vẫn còn đang gặp những trắc trở của cuộc đời, hãy chấp nhận lời chúc mừng của tôi, bởi vì bạn vẫn còn đang tồn tại.

Theo Vision Times
(http://tinhhoa.net/)


Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

KHỔNG TỬ DẬY HỌC TRÒ



Khổng tử dậy học trò :3 x 8 = 23, vì sao?

Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.
Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải. Anh bước đến hỏi mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.

Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”
Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói: “Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.
Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói:“Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”
Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”
Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”
Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.

Khổng Tử và Nhan Uyên

Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói: “Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”
Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ. Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia nhưng trong lòng không phục. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.

Nhan Uyên cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa. Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học… Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.
Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.

Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to. Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa. Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”
Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng. Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia. Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”

Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.
Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói: “Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”
Nhan Uyên cảm thấy kính phục thầy sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử. Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”
Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”

Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói 3 nhân 8 bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói 3 nhân 8 bằng 24 mới đúng, người mua bán kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”

Nhan Uyên bỗng giật mình tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”
Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ...
Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm: 

  “Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”
 – Tranh cãi với khách hàng. Bạn thắng rồi. Khách mất đi.
– Tranh cãi với đồng nghiệp. Bạn thắng rồi. Đoàn đội tiêu tan.
– Tranh cãi với người nhà. Bạn thắng rồi. Tình thân biến mất.
– Tranh cãi với bạn hữu. Bạn thắng rồi. Bạn hữu dần xa.
– Tranh cãi với vợ / chồng. Bạn thắng rồi. Tình cảm nhạt phai.
– Tranh cãi với bất kỳ ai. Bạn thắng rồi thì sao??? Thắng có nghĩa là bạn THUA???

Hãy tranh cãi, tranh đấu với chính bản thân. Nếu tự thắng Bản thân sẽ trở thành người: Từ Bi, Khiêm Tốn, Bao Dung Độ Lượng… thì lúc đó bạn mới thật sự THẮNG”.

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

ĐỪNG LO LẮNG


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN A - 26/02/2017 

                                                                   Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

Dường như sự tiến bộ về nhiều lãnh vực không làm con người trên thế giới cảm thấy thanh thản hơn. Trái lại, nó tạo ra những mối lo âu mới, khiến con người sống trong trạng thái bất an, căng thẳng. Bao nhiêu triệu người phải đối mặt với nạn thất nghiệp do khủng hoảng, với nạn đói và thiếu nước, với những bệnh mới chưa có thuốc chữa. Bao nhiêu triệu gia đình sống trong bạo hành, bị tan vỡ; giới trẻ bơ vơ, rơi vào nghiện ngập dưới đủ mọi hình thức. Con người phải sống trong một thiên nhiên bị khai thác đến cạn kiệt, nên thiên nhiên tốt lành lại trở nên kẻ thù đe dọa con người. Các nước lớn phải chạy đua vũ trang để giữ vị thế quân sự. Nói chung người giàu, kẻ nghèo, nước giàu, nước nghèo đều không sao thoát được nỗi lo âu trước tương lai với bao bài toán mới chưa có lời giải đáp.
Cách nay hai ngàn năm, Đức Giêsu đã dạy môn đệ Ngài đừng lo. Xem ra nỗi lo âu đã có từ xa xưa rồi. Người xưa cũng phải lo những nhu cầu căn bản: lo ăn, lo mặc (c. 25). Đức Giêsu mời môn đệ nhìn ngắm những đàn chim trời (c. 26). Chúng có vẻ thảnh thơi, không vất vả làm việc, cũng không tích trữ. Nhưng chúng vẫn sống no đủ, vì được Cha trên trời dưỡng nuôi. Ngài còn mời môn đệ nhìn ngắm những bông huệ ngoài đồng (c. 28), ngắm vẻ đẹp của chiếc áo Thiên Chúa mặc cho chúng, đơn sơ nhưng sang trọng hơn cả áo vua Salomon. Khi ngắm chim trời và hoa huệ, ta sẽ thấy lòng nhẹ nhàng, thư thái, vì Cha quan tâm săn sóc đến cả những sinh vật bé bỏng và tầm thường. Khi biết mình có giá trị hơn chúng nhiều, được Cha quý hơn nhiều, chúng ta được giải phóng khỏi nỗi lo canh cánh về đời sống vật chất.
Thật ra kitô hữu không phải là người ngây thơ, không biết lo. Họ cũng chẳng phải là hoa huệ hay chim trời sống vô tư, thụ động. Kitô hữu cũng phải lo: lo liệu, lo toan, thậm chí lo xa nữa. Nhưng họ lo mà như không lo, lo trong bình an thanh thản, vì đó là cái lo của một người con biết Cha trên trời đã lo cho mình, biết Cha thấu rõ nhu cầu thầm kín của mình và sẽ cung cấp đủ (cc. 32-33). Đó không phải là cái lo âu, lo lắng xao xuyến, hay lo sợ bồn chồn của người dân ngoại không có đức tin (cc. 30. 32). Nhưng đó là cái lo của một người con có tinh thần trách nhiệm. Kitô hữu không phải là kẻ ăn xổi ở thì, sống chỉ biết hôm nay. Nhưng họ lại không để mình bị nỗi lo âu về ngày mai đè nặng, đơn giản vì tương lai của họ ở trong tay Thiên Chúa.
Sống tín thác vào sự quan phòng của Chúa không phải là khoanh tay nhưng là nỗ lực làm mọi sự hết mình trong bình an. Hãy để mọi nỗi lo toan của ta ở dưới và ở sau nỗi lo toan về Nước Chúa. Hãy để cho đời mình chỉ phụng sự một chủ là Thiên Chúa (c. 24). Khi dành ưu tiên cho Thiên Chúa, ta sẽ thấy mình chẳng thiếu gì.

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

SỨC MẠNH CỦA CÁI THIỆN

                        >

           Miền Bắc Ấn Độ có một một thôn làng tên là Cách Y Mã. Nơi này đất đai cằn cỗi, cuộc sống mọi người khốn khổ, ngay cả việc làm sao để được ăn no cũng là một vấn đề. Người dân trong thôn cũng muốn thay đổi hiện trạng này, khổ nỗi tìm không được kế sinh nhai nào cả.
         Cách thôn Cách Y Mã không xa là một con đường quốc lộ thô sơ, giao thông qua lại khá khó khăn, xe cộ đi qua thường hay phát sinh sự cố. Có một lần, một chiếc xe hàng vận chuyển thức ăn gặp phải mương sâu lật nhào, các chum vại đồ ăn rơi vãi tứ tung. Lái xe bị thương, đi nhờ một chiếc xe thuận đường tới bệnh viện, hàng hóa không ai trông giữ. Người dân thôn Cách Y Mã thấy thế, bèn trộm lấy những chum vại đồ ăn đó về nhà, liên tiếp mấy ngày, nhà nào cũng có thức ăn.             
          Chuyện này đã khơi dậy trong đầu người dân thôn Cách Y Mã một cách kiếm ăn. Tục ngữ nói: “Ở gần núi thì nhờ núi mà có cái ăn, ở gần nước thì nhờ nước mà có cái ăn”, dân thôn hoàn toàn có thể kiếm lợi từ con đường gần nhà họ. Thế là, bọn họ thường xuyên loanh quanh ở gần đoạn đường ấy, hy vọng lại gặp những chuyến xe vận tải đồ ăn. Nơi nào xảy ra chuyện, họ sẽ thừa cơ thu hoạch.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
         Nhưng tai nạn thì không thể thường xuyên phát sinh. Mắt nhìn mấy chiếc xe vận chuyển đồ ăn tới rồi lại đi mà hoàn toàn không thu lượm được gì, họ rất không cam lòng. Vì thế, họ bèn theo chủ ý của một người, đêm đến, thừa lúc con đường không có ai, bọn họ dùng công cụ đào khoét mặt đường tạo ra nhiều hầm hố. Cứ như thế, xe cộ qua đây thường xảy ra tai nạn hơn. Dù cho không bị sự cố đi nữa, thì cũng bởi tình hình giao thông quá kém, tất cả xe đều đi rất chậm, dân thôn đi theo sau xe, thừa dịp lái xe không chú ý liền ăn trộm hàng hóa của họ.
         Ban đầu, dân thôn chỉ trộm đi một ít đồ ăn, về sau, những thứ hàng hóa khác họ cũng trộm, mang đến chợ bán lấy tiền. Cuối cùng, bọn họ không còn ăn trộm lén lút nữa, mà trắng trợn cướp luôn. Trong khoảng thời gian đó, con đường thô sơ bên cạnh thôn Cách Y Mã trở thành đoạn đường hết sức không an toàn. Cục cảnh sát mỗi tháng đều nhận được báo cáo về mấy vụ xe chở hàng hóa bị cướp bóc, bèn điều động lực lượng để phá án. Cảnh sát bắt quả tang tại hiện trường hai người dân thôn Cách Y Mã đang cướp hàng hóa và nhốt vào tù.
          Nhưng làm như thế cũng không răn đe được những người dân thôn khác, ngược lại còn khiến họ càng thêm bí mật và lanh lợi trong lúc làm việc xấu. Họ bắt đầu phạm tội một cách có tổ chức, có người chuyên phụ trách canh chừng báo động, còn hàng hóa cướp được thì đem về nhà cất giấu, hoặc là thay đổi bao bì hàng hóa để cảnh sát đến tìm kiếm lục soát không ra vật chứng. Chính quyền địa phương cũng suy nghĩ rất nhiều biện pháp, muốn người dân thôn Cách Y Mã bỏ thói trộm cướp hàng hóa vô đạo đức và phi pháp ấy, hướng dẫn cho họ đi theo chính đạo. Tiếc rằng, dân thôn Cách Y Mã dấn thân vào con đường trộm cướp thường thu được lợi lộc, nên đã quen với phương thức kiếm ăn không nhọc sức mà thu hoạch này rồi. Vậy là nạn trộm cướp hàng hóa xung quanh khu vực thôn Cách Y Mã liên tục phát sinh.
           Mùa đông năm đó, bởi đoạn đường qua thôn Cách Y Mã thường xuyên bị mất hàng hóa, cho nên rất nhiều lái xe lựa chọn đi đường vòng tránh đoạn đường qua thôn. Như thế, suốt mấy ngày người dân thôn không thu hoạch được gì. Một hôm rốt cục có một chiếc xe hàng đi qua nơi đó, trên xe chở toàn những bao đựng tinh bột a-xít-phốt-pho-ríc. Dân thôn Cách Y Mã đều không có văn hóa, trong mắt họ tinh bột chính là lương thực, có thể chế tác các thứ đồ ăn ngon. Lập tức, mọi người ùa ra, cướp đi 20 bao đựng tinh bột a-xít-phốt-pho-ríc.
           Anh lái xe trẻ tuổi thấy có người cướp hàng hóa của mình, liền dừng lại, đi theo dấu những kẻ cướp tìm đến thôn Cách Y Mã. Ngược lại, những dân thôn khác nhân cơ hội đó, thoải mái tự do tới chỗ chiếc xe lấy hết những bao tinh bột ấy, bỏ lại chiếc xe rỗng không. Chàng trai tìm tới thôn, thỉnh cầu dân thôn trả hàng hóa lại cho mình. Dân thôn làm sao dễ dàng giao trả đồ ăn cướp được, đều không thừa nhận đã lấy hàng của anh. Chàng trai trăm lần khẩn cầu đều không được, anh bèn nói cho dân thôn biết rằng tinh bột này không phải là thứ tinh bột làm thức ăn thông thường, mà là tinh bột cho công nghiệp. Nó có độc, ăn vào sẽ chết người, dân thôn có lấy cũng vô dụng thôi. Chàng trai nói lời chân thật, nhưng dân thôn đều không tin, bởi loại bột a-xít-phốt-pho-ríc này từ màu sắc hay là sờ vào thì đều giống hệt loại tinh bột bình thường làm thức ăn hàng ngày của họ.
            Chàng trai trẻ thấy dân thôn không tin, sợ lắm mà không biết phải làm sao. Anh vốn muốn đi báo cảnh sát, nhưng lại lo rằng một khi anh rời đi, thật sự sẽ có người nhân lúc ấy lấy bột này chế thành đồ ăn, khi đó sẽ có án mạng. Tuy rằng có chết người cũng không phải là trách nhiệm của anh, nhưng anh không thể trơ mắt mà nhìn những người này phải chịu chết! Anh bèn đến tận nhà những người dân thôn, nói rõ tình hình, thậm chí còn quỳ xuống trước mặt họ thỉnh cầu: “Số tinh bột ấy các vị không giao trả cho tôi cũng không sao cả, nhiều lắm tôi cũng chỉ bị tổn thất chút ít, nhưng tôi van xin các vị, ngàn vạn lần không được ăn thứ tinh bột này, như vậy sẽ gây chết người”.
            Chàng trai cố gắng như thế, khiến dân thôn từ chỗ không tin đến chỗ nửa tin nửa ngờ, có người đem thứ tinh bột ấy cho gà ăn thử, để kiểm nghiệm xem chàng trai nói thật hay không. Kết quả, con gà ăn tinh bột này chỉ trong chốc lát lăn ra chết. Lập tức dân thôn kinh hãi, rồi chuyển sang vô cùng cảm động. Họ cướp hàng hóa của chàng trai kia, anh lẽ ra phải oán hận bọn họ, để cho bọn họ ăn thứ tinh bột đó mà trúng độc chết, thế cũng là xứng đáng. Nhưng chàng trai vì để cứu mạng họ, không ngại quỳ xuống thỉnh cầu họ đừng ăn. Lòng nhân từ thiện lương như thế, tấm lòng tốt đẹp nhường ấy khiến họ xấu hổ vô cùng, cảm động mãi không thôi.
             Dân thôn tự nguyện mang trả lại xe những bao tinh bột mà họ đã lấy. Từ đó trở đi, người dân thôn Cách Y Mã không còn trộm cướp hàng hóa của xe cộ qua lại nữa. Nếu có người chủ ý làm vậy, lập tức có người đứng ra nói chuyện: “Ngẫm lại người hảo tâm kia mà xem, chúng ta làm hại anh ta, anh ta lại cứu mạng toàn bộ dân thôn. Nghĩ đến anh ấy, chúng ta còn mặt mũi nào tiếp tục thứ thủ đoạn hại người này nữa đây? Chẳng lẽ chúng ta thực sự là ma quỷ hay sao?”.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
            Vùng xung quanh con đường quốc lộ qua thôn Cách Y Mã đã thanh bình. Dưới sự cai quản của cảnh sát, sự hướng dẫn của chính quyền đều chưa từng có hiệu quả. Thế rồi, một người lái xe trẻ tuổi lương thiện lại thay đổi được tất cả. Thói quen của người ta là có thể thay đổi được, thiện niệm của con người là có thể thức tỉnh được, chỉ là xem thử làm cách nào chúng ta mới có thể thức tỉnh được họ mà thôi. Bất luận là ai đi nữa, trong lòng kỳ thực đều có một mầm thiện tâm, chỉ lòng nhân từ mới có thể khơi dậy nó thôi. Muốn người ta lương thiện, đầu tiên cần phải có lòng thương, đối với người ác, ta dùng lòng thương, thì đều có thể thức tỉnh được thiện tâm của họ, khiến họ trừ bỏ được ác niệm. Chúng ta tin tưởng rằng, chỉ cần mọi người đều có một chút tâm lương thiện, đều có một chút lòng thương, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn lên!

(st)

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

12 ĐIỀU TÂM NIỆM HÙNG TÂM DŨNG CHÍ


12 ĐIỀU TÂM NIỆM 
Nhạc : LM. GIUSE NGUYỄN TIẾN LỘC 





12 ĐIỀU TÂM NIỆM 
HÙNG TÂM DŨNG CHÍ

            Hùng Dũng mọi lúc mọi nơi,
Là người công giáo sống đời nết na .
            Hùng Dũng ngay thẳng thật thà,
Luyện lòng trong trắng nõn nà tốt tươi .
            Hùng Dũng vui vẻ tươi cười
Dù khi nguy khó vẫn cười vui luôn
            Hùng Dũng sạch sẽ luôn luôn
Tính tình cẩn thận ghi lòng sắt son.
            Hùng Dũng tử tế vuông tròn
Nói cười lịch thiệp đẹp lòng người ta
            Hùng Dũng thảo hiếu mẹ cha,
Là anh em bạn thiết tha mọi người .
            Hùng Dũng mau mắn vâng lời
Tuân theo triệt để ý lời cấp trên .
            Hùng Dũng chu đáo vẹn toàn ,
Thực hành mọi việc toại nguyền ước mong .
            Hùng Dũng hăng hái chí lòng,
Ham mê lo việc hăng nồng vui chơi .
           Hùng Dũng sung sướng giúp người ,
Hiến thân phụng sự vui cười ngại chi .
           Hùng Dũng ưa thích khó nguy,
Hy sinh can đảm ngại gì gian truân .
           Hùng Dũng quyết chí hiến thân
Giao chinh cho Chúa toàn phần thế gian .