Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013
Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013
Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013
BÀI CA PHONG TRÀO HTDC
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013
PHÉP TẮC VÔ CÙNG
GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 8: PHÉP TẮC VÔ CÙNG
Lòng tin tưởng trông cậy tuyệt đối vào Chúa,
đó là một điều Chúa đòi hỏi trước hết nơi chúng ta. Vì đó là biểu hiện lòng tôn
giáo sâu xa nhất, vì am hợp với địa vị và tư thế của Chúa là Chúa tể duy nhất
(Is 45, 5-6; Jo 17,3). Và cũng chính vì thế mà điều Chúa mạc khải cho chúng ta
trước hết về Chúa, là cho chúng ta thấy Chúa là Đấng có quyền phép, là Đấng
toàn năng như thế nào… Vì lòng tin tưởng trông cậy tuyệt đối chỉ có thể đặt vào
Đấng có quyền năng thực sự hoàn toàn mà thôi !
1. Mạc khải về Chúa toàn năng
a. Cựu Ước
Từ ông tổ của dân Chúa, ông Abraham, Thiên
Chúa đã tỏ mình ra như là một Đấng muốn sao được vậy: “Bằng giờ sang năm, Sara
vợ ông sẽ có một đứa con trai” (St 18,10).
Mặc dầu 2 ông bà Abraham lúc đó đã già rồi và
vẫn son sẻ (Rm 4,18-22). Ông Abraham đã tin lời Chúa. nhưng để niềm tin đó được
thực sự tuyệt đối, Chúa ra lệnh cho Abraham giết đứa con duy nhất đó làm của lễ
(St 22,1-19)… Abraham quả thật đã đạt tới niềm tin tuyệt đối vào Đấng có quyền
năng để thực hiện lời hứa dòng dõi đông đúc như sao trời cát biển dù bây giờ
theo sự tính toán của loài người là không có thể ! Nếu có phải tuyên xưng Đức
Tin, Abraham cũng sẽ nói như ta ngày nay: “tôi tin kính Đức Chúa Trời phép tắc
vô cùng !”.
Nhưng đặc biệt một biến cố đã ghi những nét
sâu đậm nhất trong Cựu Ước, để Dân Chúa luôn nhớ Chúa là Đấng Toàn Năng không
ai sánh bằng, đó là biến cố Xuất Ai Cập: Chúa cứu cả một dân tộc, dân Chúa
chọn, ra khỏi cảnh nô lệ một nước khác.
Các bút tích ghi lại sự kiện vĩ đại và kỳ diệu
đó đã cho thấy rõ dân Chúa đã thuộc bài học kinh nghiệm về Chúa là Chúa toàn
năng thế nào: Xh 6,1+6; Dnl 4,34; 5,15; 7,19; 26,8…
Các tiên tri vì thế đã dễ dàng ca ngợi và nhắc
lại cũng như quảng diễn thêm đề tài mà đã được chính Maisen ca hát. Đề tài:
Chúa là sức mạnh và sự cứu thoát ta: Xh 15,1-21; Is 12,1-6; 35,1-10; 41,8-20.
Các tiên tri đã ca ngợi quyền năng của Chúa qua hình ảnh: “Chúa các cơ binh”
(Yahveh Sabaot) (Is 6,3; Gr 5,14; Tv 24,10), và quyền năng của Chúa trên mọi
dân tộc (Gr 46,51).
Mạc khải về “Chúa toàn năng” đã là mạc khải
chính yếu của Cựu Ước, và như là một phương diện khác của mạc khải về “Chúa duy
nhất”. Vì nếu chỉ mình Chúa là Chúa thật, thì ai hay sự gì có thể cản trở được
ý muốn của Chúa ?
b. Tân Ước
Bước sang Tân Ước chúng ta thấy mạc khải về
Toàn Năng của Chúa có một sắc thái khác hẳn: sắc thái đã được báo trước trong
cuộc Chúa hiện ra với Tiên Tri Elia qua cơn gió hiu hiu dịu dàng, đi sau bão
táp, động đất, lửa cháy bừng bừng… (1 V 19,9-13). Chúa của Tân Ước vẫn là Chúa
toàn năng uy quyền :
vì : “sức mạnh Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà” (Lc 1,35)
vì : “Thiên sứ là “Gabriel” nghĩa là “sức mạnh” của Chúa” (Lc 1,26)
vì : “Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại… đã vung cánh tay ra oai thần lực” (Lc 1,49.51).
Nhưng sự oai phong toàn năng của Chúa được mặc
lấy hình thức hiền lành khiêm nhu trong Chúa Giêsu (Mt 11,29). Chúa Giêsu đã
làm những sự lạ lùng (phép lạ) một cách hết sức bình thản khiêm tốn!
Tuy nhiên nhận định lại cho kỹ, sức mạnh của
Thiên Chúa trong Tân Ước đã được mạc khải vượt xa Cựu Ước rất nhiều ! Vì là sức
mạnh có sức cải tạo toàn diện loài người và vạn vật trong sức Phục Sinh con
người và vũ trụ để tiến tới “Trời Mới Đất Mới” (Rm 8,18-25; Kh 21,1). Nên không
lại gì Thánh Phaolô định nghĩa Phúc Âm là “sức mạnh của Thiên Chúa” (Rm 1,16).
2. Niềm tin vào Cha “phép tắc vô cùng”
Khi chúng ta nói: “tôi tin kính Đức Chúa Trời
là Cha phép tắc vô cùng”, chúng ta có ý nói lên sự phán đoán của trí khôn, sự
chấp thuận của lòng muốn đối với những mạc khải về những kỳ công của Chúa tỏ ra
cho chúng ta trong lịch sử.
Vì Chúa là Đấng quyền phép, toàn năng như thế,
nên chúng ta tin vào Chúa tuyệt đối: tin như Abraham (Dt 11,8-19), như Isaia
(Is 43,10-12) ! Tin và phó thác như Đức Mẹ Maria : “Này tôi là tôi tá Chúa !
Tôi xin vâng như lời Thiên Sứ Chúa truyền dạy !” (Lc 1,38).
Và nhất là như Chúa Giêsu : “Xin làm theo ý
Cha” (Mt 26,39), “Con xin trao phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Đề tài trao đổi
Chúng ta tin Chúa quyền phép, vì chúng ta đã
thấy Chúa làm được những việc gì ?
Tại sao chúng ta có thể sống phó thác trong tay Chúa ?
Tại sao chúng ta có thể sống phó thác trong tay Chúa ?
Lm Antôn Trần Văn Trường
(nguồn : giaolyductin.net)
(nguồn : giaolyductin.net)
Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013
LÀ CHA
GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 7: LÀ CHA
Trong bản tuyên xưng Đức Tin : “Tôi tin kính
Đức Chúa Trời là Cha”, hai chữ “Là Cha” đây có ý nghĩa gì ? Diễn tả niềm tin gì
?
1. Dựa vào các bản cổ và ngắn hơn của kinh Tin Kính các Tông Đồ,
chúng ta có thể biết được ý tứ chính của hai chữ “Là Cha”.
“Là Cha” đây nhất định không thể hiểu theo nghĩa thông thường :
Thiên Chúa yêu thương ta như người Cha thương con ! Ý tứ hai chữ đó ở đây sâu
xa hơn nhiều : chúng ta tin Đức Chúa Trời “Là Cha” thực sự, chứ không phải chỉ
theo nghĩa bóng !
Vì bản cổ của Kinh Tin Kính : phần thứ nhất
dành cho việc tuyên xưng Đức Tin vào Chúa Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Đấy
cũng là một ý thức quan hệ nhất của Giáo Hội tiên khởi : Giêsu Kitô quả thực là
Con Thiên Chúa theo nghĩa thực sự và đầy đủ của chữ “Con”, nghĩa là đồng bản
tính với Chúa Cha. Ý niệm về Ba Ngôi Thiên Chúa càng rõ ràng và mạnh mẽ thêm
dưới áp lực của các bè rối xoay quanh thân thế Chúa Giêsu. Việc cử hành phụng
vụ đã nhanh chóng hưởng thụ công việc ý thức mạnh mẽ này. Thay vì Rửa Tội “nhân
danh Chúa Giêsu” (Cv 2,38), từ rất sớm đã được đổi thành Rửa Tội “nhân danh
Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19).
Sau phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Ba Ngôi,
mới đến phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Kitô và công việc của Ngài.
Trong bản Kinh Tin Kính các Tông Đồ như ta đọc
ngày nay, phần thứ hai nói về Chúa Kitô, đã chen lấn sang phần thứ nhất. Vì thế
mà phần tuyên xưng Đức Tin về Chúa Ba Ngôi không còn rõ ràng nữa, vì đoạn nói
về Chúa Con quá dài so với đoạn Chúa Cha và Thánh Thần!
“Là Cha”, chính là khởi đầu cho phần tuyên
xưng Đức Tin về Thiên Chúa Ba Ngôi ! Đức Tin đó có thể diễn tả vắn tắt thế này
: Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là : Cha, Con, Thánh Thần !
Nhờ Chúa Giêsu (Ga 1,18), từ lời giảng dạy (Ga
6,45-46; 10,25-38) cho đến cách Ngài cầu nguyện (Ga 17), ăn ở (Ga 4,34 ; 5,17),
chúng ta biết được :
Đấng mà ta vẫn gọi là Thiên Chúa (Ga 8,54), là
Đấng Tạo Dựng (Mt 5,45 ; 6,25-34), Đấng ấy là một Vị Cha, vì Ngài có một Con
(Ga 5,19-23 ; 20,17) mà Ngài đã sinh ra từ thuở đời đời (Ga 1,1.2.14.18).
Dựa vào mạc khải trên, do chính Con Chúa nói,
chúng ta ngày nay có được niềm tin : Thiên Chúa là Cha, theo đúng nghĩa chữ
“Cha”. Niềm tin mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính : “Tôi tin kính Đức
Chúa Trời là Cha”.
Thiên Chúa là Cha, Cha của Chúa Con đã xuống
thế là Chúa Giêsu, nhưng cũng còn là Cha chúng ta, Cha theo một nghĩa khác
nhưng là Cha thật. Vì chúng ta đã tiếp nhận Con Một của Ngài xuống thế, nên
chúng ta được trở nên Con Thiên Chúa (Ga 1,12 ; 1 Ga 3,1-2).
2. Quan niệm “Cha – Con thực sự” ở nơi Thiên Chúa quả thực là
một mạc khải đặc biệt của Tân Ước. Nhưng cũng như nhiều Tín Điều khác, Tín Điều
này đã bắt đầu từ trong Cựu Ước và tiến triển dần theo sư phạm giáo dục của
Thiên Chúa.
Vì quả thực bên cạnh các đạo giáo do trí óc loài người bày vẽ
tưởng tượng ra cùng với các vị Thần sinh sống theo kiểu loài người : cũng phối
hợp để rồi sinh con đẻ cái, cũng có đời sống tình dục…, một mạc khải vội vàng
không chuẩn bị về “Cha–Con Thiên Chúa” có thể đưa đến ngộ nhận ghê gớm ! Vì trí
óc con người nặng nề và đầy ẩn khuất về tình dục, đâu có dễ dàng chấp nhận ngay
ý niệm “Cha–Con” thuần thiêng, siêu việt, và hoàn hảo ! Ngay ý niệm về Thiên
Chúa thuần thiêng, siêu việt, khác hẳn loài người, mà còn phải một thời gian
lâu lắc hàng ngàn năm Dân Chúa mới lĩnh hội được !
Thánh Kinh đã cho thấy công việc chuẩn bị lâu
dài kiên nhẫn đầy khôn ngoan của Thiên Chúa để loài người đón nhận mạc khải về
“Thiên Chúa Cha–Con” như thế nào.
Chúng ta có thể ghi nhận 2 cuộc chuẩn bị song
song với nhau : cuộc chuẩn bị để ta nhận Thiên Chúa là Cha thực sự vì Ngài sinh
ra một Con thực sự ; và cuộc chuẩn bị để ta nhận Thiên Chúa là Cha ta hơn mọi
người Cha dưới thế, vì Ngài đã làm cho ta thành con Ngài còn hơn cha mẹ phần
xác ta.
Cả hai cuộc chuẩn bị đều bắt đầu bằng khái
niệm “Cha–Con” trần thế (vì cũng dùng một danh từ Cha–Con). Nhưng cuộc chuẩn bị
thứ nhất kết thúc bằng mạc khải : “Thiên Chúa là Cha thực sự vì đã sinh ra Chúa
Con thực sự” ; còn cuộc chuẩn bị thứ hai kết thúc bằng mạc khải “Thiên Chúa
nhận chúng ta là nghĩa tử của Ngài trong Con Một Ngài là Chúa Giêsu”.
Cuộc chuẩn bị trước bắt đầu bằng việc Thiên
Chúa bênh vực săn sóc Israel như Cha thương Con (Xh 4,22). Thiên Chúa như người
Cha cứu chuộc Israel (Xh 6,6). Tư tưởng “Thiên Chúa là Cha Israel” được các
tiên tri quảng diễn sâu rộng (Is 1,2 ; Hs 11,1-4 ; Gr 3,19-20 ; 31,20) và được
thêm giàu ý do việc móc nối với công việc tạo dựng (Is 64,7) và so sánh với
tình Cha con thể xác (Is 63,16 ; Tv 27,10 ; 103,13).
Tư tưởng Thiên Chúa là Cha đã thu hẹp vào
Israel (Chúa yêu thương Israel hơn mọi dân tộc khác). Tư tưởng “Cha Thiên Chúa”
đó còn tiếp tục thu hẹp với quan niệm Chúa là Cha đặc biệt đối với các vị xét
xử dân (Quan Án) (Tv 82,6 ; 58,1) và nhất là đối với các Vua, kể từ Đavít và
con cháu Đavit (2 Sm 7,14). Cùng với lời hứa Đấng Cứu Thế sẽ là con cháu Đavít,
“Thiên Chúa là Cha” sẽ càng được hiểu một cách đặc biệt đối với “người con cháu
Đavít” này, vì Ngài là Đấng Cứu Thế. Các lời tiên tri càng làm cho ý nghĩa này
trở nên khắng khít (1 Cr 17,13 ; Tv 89, 27-38; 2,7). Thế là mọi sự đã được
chuẩn bị sẵn sàng để chính Con Thiên Chúa xuống thế nói cho ta biết sự thật
hoàn toàn, kèm theo ấn tín của Thiên Chúa tức cuộc Phục Sinh vinh hiển (Cv
2,32-36).
Cuộc chuẩn bị thứ hai bắt đầu từ liên hệ
Cha–Con thể xác ; Israel là con cháu Abraham (St 12,2) cùng với nghi lễ gia
truyền (Phép Cắt Bì) và lời chúc lành hiệu nghiệm của Cha già trước khi chết
(St 27,1…; 49,1…).
Thế nhưng, liên hệ thể xác dần dần đã bị lu mờ
trước liên hệ tinh thần : Abraham là Cha tất cả mọi người tin như Ông (St 12,3)
; Gioan Tẩy Giả nói rõ :
“Từ hòn đá Chúa có thể tạo nên con cháu
Abraham” (Mt 3,9)
Chúa Giêsu cũng quả quyết không kém (Ga 8,9),
Thánh Phaolô còn phân biệt :
“Israel thật” không phải là Israel theo thể
xác (Rm 9,6).
Một khái niệm về “Cha tinh thần hơn Cha thể
xác” đã thành hình, Mạc Khải chỉ cần quả quyết dứt khoát rõ ràng : Thiên Chúa
chọn chúng ta làm nghĩa tử trong Con Một Ngài, và để thực hiện Ngài đã ban cho
ta Chúa Thánh Thần để giúp tâm hồn ta có những tâm ý của người Con Thiên Chúa
(Rm 8,15-16), đang khi chờ đợi về hưởng gia tài của Cha ta trên Trời (Rm 8,17)
cùng với Anh Cả chúng ta là Chúa Giêsu (Rm 8,29).
Đề tài trao đổi
Khi chúng ta đọc : “Tôi tin kính Đức Chúa Trời
là Cha”, chúng ta có ý tuyên xưng niềm tin gì ? Bạn hãy dựa vào Thánh Kinh để
chứng minh niềm tin đó.
Lm Anton Trần Văn Trường
Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013
ĐỨC CHÚA TRỜI
GIÁO LÝ TÍN LÝ - BÀI 6 ĐỨC CHÚA TRỜI
“Đức Chúa Trời”, “Thiên Chúa” hay “Chúa”, đôi
khi “Thượng Đế”, “Đấng Tối Cao”… : đó là những chữ chúng ta thường dùng để gọi
Đấng là Chúa Tể tạo dựng muôn loài, Đấng đã tỏ mình ra cho loài người theo như
Thánh Kinh.
Trong lịch sử, lúc Đạo Công Giáo vừa du nhập
vào Việt Nam, vấn đề dùng chữ gì để chỉ Đấng Đạo Công Giáo thờ, đã là một vấn
đề rất gay go !
Các vị Thừa Sai người ngoại quốc, không phải là
không biết đến chữ “Chúa”, “Thiên Chúa” hay “Thượng Đế”…! Nhưng vấn đề là làm
sao để đừng lẫn lộn Thiên Chúa của Đức Tin Công Giáo, với Thiên Chúa của đạo
Khổng chẳng hạn ! Vì nếu lẫn lộn, thì làm sao có thể có vấn đề trở lại Đạo Công
Giáo được ?! Vì cả hai bên đều tin có Thiên Chúa, có Ông Trời mà ! Dân Việt đâu
có phải là dân vô thần !
Cho tới ngày nay, còn hiếm gì người lẫn lộn
Chúa nọ Chúa kia, và vì thế không thể hiểu được tại sao Đạo Công Giáo bắt người
ngoài trở lại Đạo ?
Cái mới mẻ của Đạo Công Giáo phải làm sao diễn
tả được ngay trong danh xưng của Vị Thần của mình, và đừng gây lẫm lẫn ! Đó là
mối bận tâm của các Tông Đồ Phúc Âm.
Lúc đầu, khuynh hướng của đa số Thừa Sai, là
chấp nhận danh từ được phiên âm chữ “Deus” tiếng Latinh để lập thành một chữ
hoàn toàn mới, đó là “Chúa Dêu”. Như ta còn thấy trong các kinh cổ thời đầu của
Giáo Hội Việt Nam. Ngày nay, Đạo Công Giáo đã quá rõ ràng đối với người Việt
Nam nên chữ “Chúa”, “Thiên Chúa”… có một nội dung, một ý tứ khác với chữ “Ông
trời” “Trời” của các tôn giáo khác. Chính vì thế, vấn đề danh từ không còn quan
hệ như lúc đầu nữa.
Thực sự, vấn đề danh xưng Thiên Chúa không
phải là vấn đề riêng gì ở Việt Nam. Ngay trong chính Thánh Kinh cũng đã có vấn
đề đó.
Vấn đề Tên Chúa trong Thánh Kinh :
Như chúng ta biết, Thánh Kinh chính là lịch sử
Đạo Độc Thần, Đạo thật ! Đạo đó phải được tách biệt ra khỏi các thứ đạo khác,
như vàng thật đối với vàng giả. Vàng đối với những thứ rõ ràng không phải là
vàng, như đất, đá, sắt, chì… thì rất dễ phân biệt và chẳng ai lầm lẫn. Nhưng
vàng thật với vàng giả, đạo thật với đạo không thật, Chúa thật với Chúa giả,
phân biệt cho được và dùng danh từ cho đúng để tránh được sự lầm lẫn, đấy
là vấn đề.
Vị Chúa thật đã chọn Abraham ra khỏi quê quán
dân tộc của ông, để bắt đầu từ ông gây dựng một Đạo thật, tôn thờ Chúa thật, Vị
Chúa đó đã không có một danh xưng nào ngoài danh xưng: “Chúa của Abraham, Isaac
và Giacop” hay “Chúa của tổ phụ các người” (Xh 3,6; Mt 22,32 ; Cv 3,13).
Đối với Maisen, người có trách nhiệm thiết lập dứt khoát Do Thái giáo như là một Đạo duy nhất thật, vì tôn thờ một Vị Chúa duy nhất thật (Xh 19,5 ; Dnl 6,4; Is 44,6; 45,5-6), Maisen cũng đã bận tâm vấn đề Danh Xưng thực sự của Chúa. Bên bụi gai cháy một cách lạ lùng, Maisen đã cả dám hỏi đích danh Chúa : Thiên Chúa của Cha ông chúng, nhưng chúng hỏi tên Ngài là gì? (Xh 3,13) Và Chúa đã trả lời bằng một kiểu nói mà sau đã trở thành Tên riêng của Chúa (Xh 3,14). Chúa nói : “Ta là Ta”, “Ta là Đấng Ta đang là” (nguyên văn Do Thái là : “Ehyéh asher éhyéh”) ; và vì động từ dùng trong câu đó có hai nghĩa : “là” hay “có”, nên có thể dịch : “Ta là đấng có” ; khuynh hướng triết học dịch là : “Ta là Đấng vốn có, bản tính là có”, vì thế có thể dịch “Ta là Đấng Tự Hữu” ; nhưng theo ý nghĩa Thánh Kinh : “Ta là Đấng có” phải hiểu là : “Ta là Đấng có thật” chứ không như các “hư thần” không có thật, chỉ là đá, gỗ do tay loài người làm ra…(Gr 2,27 ; 10,1-6 ; Is 40,19-20…).
Đối với Maisen, người có trách nhiệm thiết lập dứt khoát Do Thái giáo như là một Đạo duy nhất thật, vì tôn thờ một Vị Chúa duy nhất thật (Xh 19,5 ; Dnl 6,4; Is 44,6; 45,5-6), Maisen cũng đã bận tâm vấn đề Danh Xưng thực sự của Chúa. Bên bụi gai cháy một cách lạ lùng, Maisen đã cả dám hỏi đích danh Chúa : Thiên Chúa của Cha ông chúng, nhưng chúng hỏi tên Ngài là gì? (Xh 3,13) Và Chúa đã trả lời bằng một kiểu nói mà sau đã trở thành Tên riêng của Chúa (Xh 3,14). Chúa nói : “Ta là Ta”, “Ta là Đấng Ta đang là” (nguyên văn Do Thái là : “Ehyéh asher éhyéh”) ; và vì động từ dùng trong câu đó có hai nghĩa : “là” hay “có”, nên có thể dịch : “Ta là đấng có” ; khuynh hướng triết học dịch là : “Ta là Đấng vốn có, bản tính là có”, vì thế có thể dịch “Ta là Đấng Tự Hữu” ; nhưng theo ý nghĩa Thánh Kinh : “Ta là Đấng có” phải hiểu là : “Ta là Đấng có thật” chứ không như các “hư thần” không có thật, chỉ là đá, gỗ do tay loài người làm ra…(Gr 2,27 ; 10,1-6 ; Is 40,19-20…).
Chữ “Giavê” (Yahveh, hay “YHVH”) là động từ
“là” hay “có” ở câu trên, nhưng phiên sang ngôi thứ ba, và có nghĩa : “Đấng
là”, “Đấng có”.
Như thế, Danh Xưng mà Maisen đã hỏi Chúa và
Chúa đã trả lời, Danh Xưng đó có thể hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất, Chúa không có Danh Xưng : vì
cách trả lời : “Ta là Ta”, tức là từ chối không nói tên của mình ra.
Lý do Chúa không nói tên Chúa có thể vì Chúa
không muốn để Dân Chúa xử dụng tên Chúa, theo kiểu nhiều thổ dân ở miền đó, để
bắt chẹt Chúa. Nhưng cũng là vì lý do đơn sơ là Chúa không có tên ! Không có
tên, vì Ngài là Đấng duy nhất có, ngoài Ngài tất cả đều hư vô (Is 45,6 ; Ga
1,3). Như vậy, “Ta là Ta” có nghĩa : Có ai như Ta đâu ! Ta có thể tự diễn tả
bằng gì được, ngoài ra bằng chính Ta !… Qua kiểu nói đó chúng ta có thể ý thức
được tính cách siêu việt tuyệt đối của Vị Chúa thật.
Nghĩa thứ hai và theo khuynh hướng Triết Học, Chúa có thể có một tên, đó là “Đấng Tự Hữu” (như nhiều khi ngày nay chúng ta dùng). Nhưng tên đó diễn tả đặc tính của Chúa hơn là tên thật. Theo khuynh hướng Thánh Kinh, như đã nói ở trên, Chúa quả quyết : Ngài là Chúa có thật, Chúa thực sự, chứ không phải hư thần !
Nghĩa thứ hai và theo khuynh hướng Triết Học, Chúa có thể có một tên, đó là “Đấng Tự Hữu” (như nhiều khi ngày nay chúng ta dùng). Nhưng tên đó diễn tả đặc tính của Chúa hơn là tên thật. Theo khuynh hướng Thánh Kinh, như đã nói ở trên, Chúa quả quyết : Ngài là Chúa có thật, Chúa thực sự, chứ không phải hư thần !
Tóm lại, dựa vào Thánh Kinh, ta thấy vấn đề
tên Chúa vẫn còn y nguyên. Tuy nhiên, điều đó vẫn không cản trở Dân Do Thái coi
chữ “YAHVEH” (YHVH) là “Bốn chữ” cực thánh, đến nỗi không dám đọc đúng, mà phải
đọc trại là : “Giêhôvah” ! Nhưng đồng thời cũng không cản trở các Thánh Ký sau
khi đi đày về ; đặc biệt là một hai thế kỷ trước Chúa Giêsu, đã bỏ chữ “Chúa
Giavê” có vẻ quá riêng tư cho Dân Do Thái, để dùng những chữ khác có thể diễn
tả được ý tưởng phổ quát cho mọi dân tộc : vì Chúa thật là Chúa muôn dân chứ
đâu có phải chỉ là Chúa dân Do Thái, mặc dù Ngài đã trao cho dân Do Thái một sứ
mệnh đặc biệt !
Đấy cũng là lý do để Tân Ước (ví dụ : Kinh Lạy
Cha), và Giáo Hội ngày nay không nhất thiết phải dùng chữ “Yahveh” để chỉ Chúa
thật, Chúa của Đạo Công Giáo. Tuy nhiên với ý thức dần dần sau cuộc Phục Sinh
lên Trời của Chúa Giêsu, và việc Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội Công Giáo
đã có được một Tên đặc biệt nhất không thể lầm lẫn với bất cứ Chúa nào : Đó là
“Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Sau này Thần Học gọi chung một danh từ :
“Chúa Ba Ngôi”.
Kết luận, các Danh Xưng trong ngôn ngữ các Dân
Tộc ngày nay, cũng như Danh Xưng đặc biệt nhất trong Thánh Kinh, “Chúa Giavê”,
cũng đều có tính cách tương đối : đó không phải là Tên Chúa theo nghĩa thông
thường về tên gọi, nhưng chỉ là những danh từ loài người ước định với nhau dùng
để chỉ Vị Chúa thật thôi.
Điều đó vẫn không cản trở việc ta phải tuân
giữ Giới Răn II : Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ ! Vì danh từ nào cũng vẫn chỉ
là một tiếng kêu ước định của loài người ; nhưng nếu là tiếng kêu chúng ta đã
ấn định dành cho Chúa thật, thì ta phải kính trọng tiếng kêu đó, cũng như ta
kính trọng chính Chúa.
Trái lại, với tên “Giêsu”, thì sự thể lại khác
: đó là tên Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Thần đã nói rõ ràng cho
Thánh Giuse : phải đặt tên đó cho Con trẻ (Mt 1,21). Tên đó có sức cứu thoát
mọi người (Cv 4,12) nên người Kitô hữu được rửa tội nhân danh Giêsu (Cv 2,38).
Điều nhận định sau hết, và cũng là trở lại vấn đề tên “Đức Chúa Trời”, hay chữ nho “Thiên Chúa” rất am hợp với kiểu diễn tả của Phúc Âm : “Đấng ngự trên Trời” (Mt 5,16.48 ; 6,9).
Điều nhận định sau hết, và cũng là trở lại vấn đề tên “Đức Chúa Trời”, hay chữ nho “Thiên Chúa” rất am hợp với kiểu diễn tả của Phúc Âm : “Đấng ngự trên Trời” (Mt 5,16.48 ; 6,9).
Đề tài trao đổi
Chúa của chúng
ta có tên và không có tên như thế nào ? Bạn hãy trình bày rõ ràng như bạn hiểu.
Lm. An tôn Trần văn Trường
(nguồn : giaolyductin.net)
Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013
LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG MÀ THIẾU THỢ GẶT
Sứ mạng của người môn đệ (Chúa Nhật 14 Thường Niên C)
Đức Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian để thực thi sứ vụ loan báo về Nước Trời và mời gọi mọi người tin để được cứu độ. Vì thế, đây chính là mối bận tâm hàng đầu của Ngài. Mối ưu tư đó được thể hiện rất rõ qua bài Tin Mừng hôm nay, khi thầy trò đang đi qua cánh đồng; “tức cảnh sinh tình”, Ngài nhìn các môn đệ và chỉ ra đồng lúa đã chín vàng rồi cất tiếng nói: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về.” (Lc 10,2).
Ngay sau đó, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi rao giảng Tin Mừng.
Jos.Vinc. Ngọc Biển
1. Sứ mạng tông đồ
Trong thời Cựu Ước, sứ mạng này thuộc về các ngôn sứ, thủ lãnh và các vua chúa. Các ngài là những trung gian để nói lời của Thiên Chúa cho dân; đồng thời cũng là những người chuyển cầu lên Chúa những nhu cầu của dân…
Thật vậy, Bài đọc I hôm nay cho chúng ta thấy: Tiên tri Isaia loan báo cho dân về một giai đoạn tự do. Dân không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa, bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó...! Biết được sự trăn trở của họ, Tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người. Cuối cùng là lời hứa cho những ai đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa, họ sẽ được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.
Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô nêu lên cốt lõi của niềm tin và lời rao giảng nơi người môn đệ chính là Mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô.
Nếu thành Giêrusalem trong thời Cựu Ước là niềm hy vọng, là sự bình an của dân Israel, thì sang thời Tân Ước, chính thập giá của Đức Kitô mới đem lại ơn cứu độ thực sự cho dân Ngài.
Thật vậy, Thánh Phaolô đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp).” (1 Cr 1,22-23).
Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô.”
Như vậy, nội dung của lời rao giảng nơi Thánh Phaolô chính là Thập giá Đức Kitô. Lời loan báo này đi ngược lại với lối hiểu và niềm hy vọng của con người, cho nên khi thi hành sứ mạng ấy, người môn đệ không thể nào tránh khỏi những cám dỗ về quyền hành, tiền bạc và danh vọng; đồng thời những khó khăn về địa lý, về tâm thức, cũng như bị chống đối vì hiểu lầm, bị bắt bớ và đe doạ cả đến tính mạng là điều luôn luôn xảy ra đối với đời sống tông đồ. Người môn đệ Đức Kitô muốn thoát ra khỏi những thứ đó để vẫn rao giảng cách trung thành và toàn diện về một Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất thì phải có một tinh thần tông đồ sâu sắc.
2. Tinh thần tông đồ
Sang bài Tin Mừng, khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ loan báo Tin Mừng qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, trước hết, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch cho Ngài. Ngài sai “cứ từng hai người” một. Khi sai các môn đệ đi từng hai người một, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, thì trước tiên phải có sự hiệp thông; mặt khác, khi sai các ông đi từng cặp như vậy, Đức Giêsu trang bị cho các ông một điểm tựa, điểm tựa ấy là sự thật, bởi vì lời chứng của hai người là sự thật.
Khi đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một lời nói, cùng chia sẻ với nhau trong cùng một nội dung của lời giảng, người môn đệ đem lại cho con người niềm hy vọng. Niềm hy vọng này bắt nguồn từ truyền thống của dân Israel thời Cựu Ước.
Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói.” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác được vào và khi ấy họ sẽ tìm cách triệt hạ những người được mời gọi. Chiên thì hiền lành mà sói thì hung dữ. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong. Khi đưa ra hình ảnh của “chiên” và “sói”, Đức Giêsu muốn dạy cho người môn đệ bài học về sự kiên trì, chịu đựng, và trong mọi hoàn cảnh họ phải sống đúng bản chất của mình là “chiên” chứ không phải là “sói”, để yêu thương ngay cả kẻ thù của mình nữa.
Tiếp theo, tinh thần siêu thoát nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Trên hành trình ấy, Đức Giêsu không chấp nhận người môn đệ mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người môn đệ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành củ tỏi”. Vì thế, Ngài nói:“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...”. Các môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới, mới dám chấp nhận tất cả vì sứ mạng.
Hơn nữa, loan báo về Nước Trời phải là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng “đừng chào hỏi ai dọc đường”. Ngài sai các ông lên đường với một mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Khi truyền cho các ông như thế, Đức Giêsu muốn dạy các ông rằng: khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.
Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nói: ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…? Rồi biết bao những chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn nữa… Vì vậy, Ngài nói: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…”. Chúa muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội.
Như vậy, Đức Giêsu căn dặn, cảnh báo cho các ông tất cả những đức tính cần phải có nơi người môn đệ, đồng thời những khó khăn các ông sẽ gặp trên hành trình loan báo ấy, rồi đến lượt chúng ta, chúng ta loan báo bằng cách nào?
3. Sứ mạng tông đồ của mỗi chúng ta
Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Nói như Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng.” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu - “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” - phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an.
4. Cách thức loan báo Tin Mừng
Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin của họ đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải trở nên ánh sáng cho trần gian và muối ướp cho đời.
Nếu muối có tác dụng làm tăng vị cho thức ăn, ướp cho khỏi hư thối, thì người Kitô hữu cũng phải có bổn phận trở nên chứng nhân của sự thật, một sự thật sẵn sàng sống chết để bảo vệ cho chân lý.
Nếu ánh sáng để soi sáng cho người ta đi đường và giúp tìm ra những thứ ở trong bóng tối thế nào, thì người Kitô hữu truyền giáo cũng phải trở nên ánh sáng, gương mẫu cho mọi người như vậy.
Sứ mạng truyền giáo ấy khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…
Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ.
Có thế, chúng ta mới được coi là xứng đáng đón nhận phần thưởng của Chúa trao ban cho những ai đã cùng Ngài để quy tụ muôn dân về một mối là Nước Trời: “Hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi Trên Trời.”
Lạy Chúa, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao nhiêu con chiên lạc chưa được đưa về đàn. Xin Chúa ban cho những người con của Chúa luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một đàn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen.
(nguồn : baoconggiao.com)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



