Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

HÃY CHIA VUI VỚI CHÚA

 SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN C


E-mailPrintPDF



PM. Cao Huy Hoàng


Khi nói đến “Con chiên lạc”, có thể bạn, tôi, chúng ta nghĩ ngay đến một số thành phần không mấy tốt đẹp, không mấy đàng hoàng trong Hội Thánh. Có người nghĩ ngay đến những người rối vợ, rối chồng công khai, hoặc nghĩ đến ả giang hồ ở cuối xóm, tên du thử du thực lang thang chè chén tối ngày ở đầu phố. Người khác lại nghĩ đến cụ già đôi ba vợ kia đã đến lúc sắp hết hơi rồi mà chưa chịu xưng tội rước lễ, hoặc nghĩ đến bao người nay ăn nên làm ra rồi, khá giả rồi, ở nhà thoải mái, bỗng trở nên cao ngạo, ươn lười, nguội lạnh với Nhà Thờ Nhà Thánh…
         Nghĩ như thế là do bởi lòng kiêu ngạo xúi giục tự nhận mình là thánh thiện hơn bao nhiêu người khác và gắn cho mình con mắt, cõi lòng đầy thành kiến xấu xa về tha nhân.
         Nghĩ như thế, thì thiết tưởng chính mình là… con chiên lạc trước tiên. Lạc mà không biết mình lạc. Còn lầm lạc hơn nữa, khi tỏ ra bất bình với một số người nhiệt thành trong Hội Thánh Chúa, mặc lấy tấm lòng nhân hậu của Chúa, luôn nghiêng về phía những người đau khổ, tội lỗi, thấp kém.
         Nghĩ như thế thì có khác gì người Pharisêu đã từng suy nghĩ và lẩm bẩm về việc Chúa Giêsu làm trong Tin Mừng hôm nay: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”.
         Cả hai dụ ngôn “Con chiên lạc” và “Đồng bạc bị đánh mất” được Chúa nói cho cả hai đối tượng: người Pharisêu và người thu thuế, kẻ tội lỗi.
         Đối với người Pharisêu, hai dụ ngôn ấy là một lời cảnh tỉnh trực diện để họ phải nhận ra rằng chính họ mới là “con chiên lạc”, là “đồng bạc bị đánh mất”. Lạc vì họ đang sống kiêu căng, sống thiếu tình khoan dung, yêu thương; lạc vì họ không muốn hiểu đường lối của Chúa, vì không muốn mặc lấy tình thương của Chúa trong con tim mình… Bài học dành cho người Pharisêu là đừng lầm tưởng mình đạo đức, nếu không mặc lấy đức khiêm cung và lòng nhân hậu mà đối xử với tha nhân. Họ cần có cái nhìn mới mẻ hơn đối với người tội lỗi, cái nhìn của Thiên Chúa, cái nhìn của lòng thương xót xoáy vào sâu thẳm hơn, để cảm thông hơn vì bao nỗi bất hạnh, không phải cái nhìn nông cạn bề ngoài để rồi sinh ra ganh tỵ, xét đoán…
Còn đối với người tội lỗi, cả hai dụ ngôn là Lời rất vui mừng cho họ, vì:
        - Lời mặc khải cho họ biết một Thiên Chúa vô cùng khiêm cung, và yêu thương. Lòng thương xót, khoan dung, nhân hậu của Ngài luôn luôn lớn hơn tội lỗi, thân phận của họ.
        - Lời xóa tan nỗi ám ảnh bị khinh bỉ, phân biệt, có khi còn bị trừng phạt dã man cho đến chết vì luật xua đuổi khỏi cộng đồng, luật ném đá…
        - Lời khơi dậy cho họ một niềm hy vọng, mở ra cho họ một con đường sống và nhất là tái lập cho họ một tương quan quí giá đối với Thiên Chúa, tái lập cho họ một nhân vị xứng đáng là con cái Thiên Chúa.
        - Và cũng qua hai dụ ngôn, cả người Pharisêu và người tội lỗi có thể nhận ra một điều kỳ diệu là Thiên Chúa luôn đi bước trước đối với những tội nhân.
         Đề cập đến bước trước, tôi nhớ câu chuyện về Đức Tin đơn sơ của cụ Biên ở phía sau nhà tôi. Cụ luôn là người khôi hài vui vẻ. Đến lúc gần chết cũng còn vui vẻ. Năm 1979, trong cơn hấp hối, khi nghe một anh Legio giữ kẻ liệt cầm sách mục lục đọc kinh cho cụ, đọc sai chỗ nào, cụ đập nhẹ bàn tay, bảo: “Đọc lại, đọc lại, đọc sai làm sao Chúa hiểu”. Đêm cuối cùng, cụ chỉ cho mọi người biết là cụ đang chết từ dưới chân lên đến giữa lưng rồi. Rồi cụ nói: “Còn nói được mấy câu nữa thôi, cho tôi nói với Chúa. Chúa đã lỡ bước xuống đời rồi, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới đây đưa con về với Chúa. Chúa ơi, con tin”. Rạng sáng hôm ấy, cụ đã về với Chúa.
            “Chúa đã lỡ bước xuống, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới”. Câu nói đơn sơ mà cho thấy cả một xác tín. Hôm nay, nghe lại dụ ngôn “Con chiên lạc”, mới ngộ ra là không chỉ Chúa chẳng ngần ngại gì mà không bước tới, mà còn dám bước trước, và bước kiên trì nữa: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ?”
            Vâng đó là một bước trước, và kiên trì: “Đi tìm cho kỳ được” Quả là kỳ diệu ! Nếu trước đây chưa ai dám tiếp xúc với những người thu thuế tội lỗi, vì sợ nhơ bẩn con người, thanh danh của mình, thì Chúa Giêsu đã bước một bước trước đến với họ.
            Hai dụ ngôn hôm nay còn vén màn một chi tiết độc đáo của tình thương Thiên Chúa, đó chính Người đích thân đi tìm con chiên lạc, gọi đích danh, tha thứ vô điều kiện, âu yếm ẵm trong vòng tay, vui mừng vác chiên lên vai, mở tiệc tưng bừng. Thiên Chúa mời mọi người đến chia vui vì“trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”.
           Người ta mở tiệc ăn mừng những dịp cưới hỏi, tân gia, sinh nhật, thi đỗ, thoát nạn… Trong đời tôi, lại được tham dự một bữa tiệc lạ thường.
Chuyện là thế này: 
          Giáo Xứ tôi có một người tên là T. được rửa tội năm 1972 tại Thủ Đức khi anh lập gia đình với chị N. Anh kể với các anh chị Legio, anh đã giữ đạo sốt sắng hơn 7 năm. Đến năm 1979, anh sa đà đủ món ăn chơi trên trần gian này. Chị N. bỏ anh đi. Anh càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Bỏ lễ, bỏ các Bí Tích. 
         Năm 1996, anh em Legio thăm và khuyên bảo anh xưng tội, anh nói: “Nhiều quá, làm sao xưng cho hết ! Chúa không thể tha một lúc nhiều như vậy đâu !” Sau hơn 3 năm, cha sở và các anh chị Legio kiên trì cầu nguyện cho anh, năm 1999, anh quyết định đi xưng tội. Cha sở FX. Lê Quang Diễn đã yêu thương lắng nghe anh nói chuyện tòa ngoài với ngài hết một buổi sáng và thêm nửa buổi chiều. Chiều hôm đó, anh xưng tội. Ngày hôm sau, anh mở tiệc mừng. Có khoảng 3 bàn tiệc. Anh nói mấy câu trước khi vào tiệc: “Con cảm ơn cha, cảm ơn mọi người, xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Từ đó, anh đổi mới hoàn toàn, thật sốt sắng với Chúa và dễ thương với mọi người. Anh đã qua đời năm 2008. Linh hồn Phaolô.
          Mọi người bất ngờ về câu nói của anh: “xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Thiết tưởng, anh không chỉ cảm nghiệm được niềm vui của mình là được trở về, mà với Đức Tin, anh còn dám cảm nghiệm được “niềm vui của Chúa’, của Chúa Chiên, người đã bỏ chín mươi chín con chiên tốt lành kia trong ràn, mà đi tìm anh, con chiên lạc.
          Cảm nghiệm được niềm vui của Chúa phải là người đang sống thông hiệp mật thiết với Chúa lắm, như hai người tình đang kết hợp toàn tâm toàn ý với nhau, và dĩ nhiên, niềm vui không của riêng chỉ một người. Suy tư ấy có thể là suy tư cách rất con người, rất chủ quan thôi. Nhưng rõ ràng, thử hỏi ai trong chúng ta, những người vỗ ngực xưng tên mình là đạo đức, đã có bao giờ có được cái cảm nghiệm “chia vui với Chúa” cách trọn vẹn, nếu không đặt trọn niềm tin vào lòng thương xót của Chúa, nếu không mặc lấy tình thương xót ấy mà xót thương bao kẻ tội lỗi, khốn cùng.
         Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con Đức Tin vào lòng thương xót của Chúa để biết mình là con chiên lạc được Chúa tìm về, và mặc lấy tình thương ấy mà cộng tác với Chúa, chia vui với Chúa khi có người anh em tìm được hạnh phúc được Chúa thứ tha. Amen

                                                                      (nguồn : menchuayeunguoi.net)


Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

QUỐC ĐIỂU

5 LOÀI CHIM THÚ VỊ ĐƯỢC CHỌN LÀM QUỐC ĐIỂU 


Biểu tượng quốc gia là thứ đặc trưng nhất về một đất nước, thể hiện được quan điểm của nước đó trong quan hệ với bạn bè quốc tế. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có ít nhất một biểu tượng đại diện cho mình, từ các loài động vật, cây cối, đến các đồ vật hay danh lam thắng cảnh. 

1. Chim oanh châu Âu - Anh


Chim oanh châu Âu là loài chim nhỏ ăn côn trùng, sống ở vùng Tây Siberia, Bắc Phi và châu Âu (đặc biệt là nước Anh). Loài chim này rất dễ bị “nhận dạng” bởi chiếc yếm màu cam nổi bật trên bộ lông màu nâu xám. Truyền thuyết kể rằng, khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá, một chú chim oanh đã bay đến cạnh Chúa, hót khẽ bên tai để xoa dịu nỗi đau của Người. Máu của Chúa đã nhuốm đỏ phần ức chú chim. Từ đó trở đi, các chú chim oanh sinh ra đều mang dấu vết thiêng liêng ấy trên mình.


Theo truyền thuyết, chiếc yếm màu cam của loài chim này chính là dấu máu của Chúa Giê-su.

Chim oanh châu Âu có khả năng thích nghi rất tốt với môi trường sống. Chúng thích làm tổ trong những vật dụng bỏ đi như ấm nước, xô cũ... và rất thích lại gần khi người ta đang đào đất để kiếm giun. Đến với Anh quốc, ta có thể bắt gặp hình dáng nhỏ bé xinh xắn của chúng ở bất cứ đâu từ các khu rừng, nông trại, đến vườn nhà và công viên. Theo ước tính, chỉ riêng ở nước Anh đã có tới hơn 4 triệu cặp chim oanh thuộc loài này. Chúng được người Anh chọn làm loài chim biểu tượng của quốc gia sau một cuộc bình chọn (không chính thức) vào những năm 60.


Các loài chim oanh thường sống rất gần gũi với con người.

2. Chim thiên đường - Papua New Guinea

Chắc hẳn, chúng ta không còn xa lạ gì với đất nước Papua New Guinea – quốc đảo xinh đẹp phía Tây Bắc châu Úc với hệ động thực vật vô cùng phong phú, đặc biệt là giống chim thiên đường. 

Chim thiên đường là một trong những loài chim xinh đẹp nhất trên Trái Đất.

Chim thiên đường ưa sống trong các khu rừng nhiệt đới vì ở đó có rất nhiều món “khoái khẩu” của chúng như các loài sâu bọ, động vật chân khớp và trái cây chín mọng. Khoác trên mình bộ cánh với đủ sắc màu sặc sỡ của vùng xích đạo: đỏ, cam, vàng, hồng, xanh dương, xanh lục... cùng chiếc đuôi dài thướt tha, những chú chim thiên đường trống đắm mình trong các “vũ điệu kết đôi” đầy quyến rũ để thu hút chim mái. 



Những điệu múa mê hoặc của chim thiên đường.

Ở Papua New Guinea, chim thiên đường đã trở thành một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động văn hóa, đặc biệt là tôn giáo. Từ hàng ngàn năm trước, các thổ dân nơi đây đã sử dụng lông và da của chim thiên đường làm đồ trang sức, phục vụ các nghi thức tế lễ. Ngày nay, các lễ hội thi hát, nhảy múa giống chim, trang điểm bằng lông chim hay ngắm chim nhảy múa... vẫn được tổ chức đều đặn mỗi năm. 


Papua New Guinea quả là xứ sở của chim thiên đường khi nơi đây sở hữu tới ba phần tư số loài chim thiên đường hiện có trên Trái Đất.









3. Hồng hạc Ca-ri-bê – Bahamas

Bahamas – quốc đảo ở vùng biển Ca-ri-bê với khí hậu nhiệt đới vô cùng dễ chịu đã được loài hồng hạc chọn làm bến đỗ. Chúng sống thành các đàn rất lớn, nhiều khi lên tới hàng chục ngàn con ở những nơi nước nông có nhiều loại tảo, động vật thân mềm như hồ, phá, đầm lầy. 

Hồng hạc có bộ lông đỏ cực nổi bật với nhiều sắc độ khác nhau, từ hồng nhạt tới đỏ son. Tuy nhiên, đây không phải màu lông bẩm sinh mà do một loại tảo xanh chúng ăn, có khả năng chuyển hóa lông thành màu hồng trong quá trình tiêu hóa.

Sắc tố carotenoid có trong loại tảo ưa thích của hồng hạc khiến lông của chúng có màu hồng.



Hồng hạc rất thích đứng trên một chân, có thể do tư thế này giúp chúng giảm sự tiêu hao thân nhiệt khi đứng trong nước, hoặc đơn giản đứng như vậy khiến chúng cảm thấy thư giãn và được nghỉ ngơi. 

Không chỉ có bộ lông rực rỡ, hồng hạc còn sở hữu đôi chân dài thanh mảnh và lối bước đi “lững thững” - cực kỳ chậm rãi, nhẹ nhàng. Chúng sống ôn hòa, không có kẻ thù và gần như không bị săn đuổi. Loài chim duyên dáng, hiền hòa này đã được chọn làm biểu tượng của quốc đảo Bahamas, tượng trưng cho chính con người nơi đây.


Hình ảnh hồng hạc trên đồng tiền xu Bahamas.


4. Đại bàng đầu trắng – Mỹ

Trái với hồng hạc, đại bàng đầu trắng Bắc Mỹ lại có vẻ ngoài hùng dũng đầy sức mạnh với sải cánh dài hơn 2m, cặp mắt sắc bén và đôi vuốt cực khỏe. Bằng khả năng tấn công chính xác và những cú bổ nhào sấm sét với tốc độ lên tới 160km/h, chúng trở thành kẻ săn mồi thống trị vùng thung lũng. 

Đại bàng đầu trắng.

Đại bàng đầu trắng sống đơn độc trên các đỉnh núi cao chót vót, tự do sải rộng đôi cánh lướt xuống thung lũng bên dưới hoặc vút lên bầu trời bát ngát phía trên. Một con đại bàng đầu trắng có thể sống tới 30 năm - tuổi thọ dài hơn nhiều so với các loài chim khác.

Đại bàng đầu trắng với cuộc sống tự do không giới hạn giữa thiên nhiên.

Những đặc tính đầy dũng mãnh trên đã khiến đại bàng đầu trắng trở thành biểu tượng lý tưởng cho sức mạnh và tự do của nước Mỹ – cường quốc hàng đầu thế giới, một đất nước mà mỗi công dân đều đòi hỏi quyền tự do từ tư tưởng đến lời nói, hành động. Hình ảnh đại bàng đầu trắng xuất hiện trên đồng đô la, quốc huy nước Mỹ, huy hiệu của Tổng thống và nhiều cơ quan liên bang khác như Quốc hội, Thượng – Hạ viện, Pháp viện tối cao...

Đại bàng đầu trắng – biểu tượng cho sức mạnh và tự do của nước Mỹ.


5. Đà điểu châu Úc – Úc

Tuy nhỏ hơn một chút so với người họ hàng châu Phi, nhưng đà điểu châu Úc (hay Emu) cũng có thể cao tới 2m và nặng 60kg. Chúng không thể bay lượn như những loài chim khác do cánh ngắn và xương ức yếu. Tuy nhiên, nhờ cặp giò cao, chắc khỏe, chúng lại trở thành những vận động viên ma-ra-tông cừ khôi của vùng đồng cỏ và sa mạc với vận tốc lên tới 50km/h. Nhưng bạn biết không, loài “chim chạy” này còn có khả năng bơi khá tốt nữa đấy!

Đà điểu - vận động viên ma-ra-tông cừ khôi của vùng sa mạc.

Đà điểu Úc cũng nổi tiếng bởi tính tò mò và… dễ dụ. Chúng rất dễ bị thu hút bởi những âm thanh lạ hay các vật thể chuyển động vui mắt. Lợi dụng đặc điểm này, thổ dân châu Úc chỉ cần huýt sáo, hoặc buộc một chiếc khăn tay nhiều màu vào cây gậy rồi để nó bay phấp phới trong gió, là các chú đà điểu hiếu kỳ ngay lập tức sập bẫy.

Những chú đà điểu hiếu kỳ trước ống kính.

Kanguru và đà điểu là hai loài động vật luôn chạy hướng về phía trước, chỉ biết tiến chứ không biết đi lùi. Bởi vậy, người Úc đã chọn chúng làm biểu tượng quốc gia, đại diện cho sự tiến bộ và phát triển vươn lên của đất nước. 

Hình ảnh Kanguru, đà điểu Emu trên quốc huy nước Úc.

HUỲNH LỆ NGUYÊN (Sưu tầm)

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

LỬA THIÊNG

          Trong những năm đầu phát triển Phong Trào Hùng Tâm Dũng Chí ở Quảng Nam , Đà Nẵng  (1963-1975), LM Nguyễn Trung Thành  đã là một người Thầy , người Anh của các huynh trưởng và đoàn viên HTDC .  Hiện nay  Cha Thành đã lớn tuổi , nhưng vẫn một lòng miệt mài với những hoài bão phát triển mạnh mẽ PT HTDC trong giới trẻ . 
           Chúng tôi xin phép  trích giới thiệu tập LỬA THIÊNG  ( LỬA TRẠI ) , một tập hợp những  bản nhạc sáng tác vào thời kỳ 1965-1975 của Ngài như :  Đà Nẵng Linh Thiệng , Hội An , Ai Bảo Người Đã Chết , Tim Môi Nhắc Nhớ ... và Lạy Mẹ Trà Kiệu  ....ngoài những sáng tác cho sinh hoạt phong trào như Cầu Lửa , Mừng Lửa .... đã được in lại vào tháng 11/2005  như một cách nhớ ơn những người khai phá . 
                                                                                              cuuhuynhtruong 











MỞ ĐẦU

Tôi đã đến mang Lửa xuống thế gian và ước gì Lửa bùng cháy

       Với chiều hướng đưa Thánh Kinh vào cuộc chơi đời trẻ và tìm về Dân Tộc , chúng tôi xin gửi đến bạn tập Lửa Thiêng .
       Bạn biết Lửa trong Thánh Kinh không chỉ là vật chất , nhưng tượng trưng cho một thực tại siêu việt :
-                                                       Lửa Maisen thấy trong bụi gai .
-                                                     Cột lửa dẫn lối dân Do Thái .
-                                                      Lửa trên đầu các tông đồ trong ngày hiện xuống .
-                                                      Lửa phục sinh .

-                        Và bạn sẽ hiểu rõ hơn khi tìm hiểu ý nghĩa từ : ánh sáng , tối tăm , ngày , đêm như trong Ga 1 .
        Để lột được những ý nghĩa linh thiêng ấy ; hình thức lửa thiêng lồng trong khung cảnh đêm Phục Sinh  và diễn tả qua các cử điệu Phụng vụ Giáo hộiDân tộc . Đồng thời , dùng các danh xưng : cầu lửa , mừng lửa , đem lửa cho đời , thay cho gọi lửa, nhảy lửa , lửa tàn .

       Tuy nhiên trong bước đầu tìm kiếm còn nhiều thiếu sót, xin các bạn chỉ giáo .
       Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của các bạn .

                                   Huế , những ngày cuối niên học 1970-1971
                                               Nguyễn Trung Thành
                                                      Đà Nẵng





CỬ ĐIỆU


SỬA SOẠN VẬT DỤNG

       Mỗi khán giả đi mang theo một cây đuốc hay nến .
       Mỗi trại sinh một cây đuốc , hình thức tiện lợi nhất là một thanh củi dài độ 50 cm , đầu quấn giẻ buộc bằng dây thép để khi cháy giẻ không bị tuột  và bao bằng nylon cho dầu khỏi thấm qua áo . Giắt đuốc sau lưng . Một cây đuốc lớn nếu dùng thay đống củi . Tùy tiện hóa trang .              Muốn tăng thêm rùng rợn thì nên cắm  thêm  vài cành lá rừng lên đầu, lưng , chân …..
       Một bộ chiêng trống . Nếu không có thì dùng thùng thiếc . Riêng mỗi người kiếm lấy một vật gì để khuya vang (lon sữa , hộp nhựa ….)



MỜI DỰ LỬA .

         Sau khi sửa soạn đầy đủ , trại sinh hóa trang đàng hoàng , quản trò đi mời quan khách . Quan khách gần tới , quản ca hú , rú và chiêng trống nổi lên đánh hiệu báo động .
         Quan khách tới nơi quản ca lên tiếng cầu cứu . Không dùng kiểu gọi mời đội …… ra dự lửa trại , nhưng gọi , hú theo tên đội, tiếng gọi của đội . Khi nghe gọi thì từng đội khuya vang , xếp thành , xếp thành hàng 1 cúi mình chạy tới . Trống chiêng thúc dục  kèm theo tiếng hú , tiếng gõ sẽ tạo một bầu khí hãi hùng như muốn nói đêm đã về tất cả phải họp nhau lại khỏi thú dữ và sương lạnh . Tới nơi các đội vất khí cụ , xếp vòng tròn cầu lửa . Chiêng trống bớt thôi thúc , thỉnh thoảng điểm vài cái như chuông cầu hồn .



CẦU LỬA

1-    Quỳ sấp mình xuống đất, tay vòng lại đầu tì lên (tư thế than van diễn tả con người cầu mong thoát khỏi thương đau ).
2-    “Thét gào “ vừa dứt thì chiêng trống dập liên hồi .
3-     Như 1 .
4-    Đầu hơi nghiêng lên, hai tay duỗi thẳng ra đằng trước từ từ ngả về bên trái .
5-    Bên phải .
6-    Trở lại hai bên .
7-    Hai tay ngửa ra đặt trên đất như van xin .
8-    Từ từ nâng hai tay và người lên , tay ngang hông .
9-    Tay cao ngang vai .
10- Quỳ hẳn lên , ngửa tay giơ cao lên trời .

Hết : sấp mình xuống đất , hai tay ôm đầu .










            LỬA ĐẾN


        Quản trò mời vị quan khách nào đó , Cha tuyên úy chẳng hạn, ra giữa vòng tròn đốt lửa . Qủan trò giới thiệu : “ TRỜI THƯƠNG NHẬN LỜI CẦU CỦA CHÚNG TA SAI CHA TUYÊN ÚY  ….. ĐEM LỬA ĐẾN ĐỂ XUA TAN MÀN ĐÊM VÀ SƯỞI ẤM LÒNG NGƯỜI “. Tất cả quỳ thẳng lên , chắp tay đặt ngang trán hướng về Cha …… , cúi đầu chào .
        Quản trò quẹt lửa giúp Cha ….. đốt đuốc . Đuốc do quản trò cầm quỳ  một gối đầu hơi cúi . Đuốc vừa bùng cháy ( có trái sáng lúc đó thì tuyệt vời ) , tất cả đứng dậy  A!A!A!A!.......thật dài , mặt tươi vui, hai tay đưa lên trời rung rung chào mừng . Chiêng trống cũng nổi liên hồi mừng reo .



              MỪNG LỬA

          Xin bạn đừng quên hình thức Lửa Thiêng này lồng trong khung cảnh Đêm Phục Sinh , nên bạn hãy tưởng tượng bạn đang tham dự đêm huy hoàng ấy . Tất cả những phần vừa qua diễn tả nghi  thức cầu nguyện đốt lửa ở hiên Thánh đường và bây giờ đến phần rước lửa và ca Exsultet (Hãy vui lên ) .

1-    Đứng vòng tròn , nắm tay nhau vừa nhảy vừa tiến về phía bên phải :

                Hồng     :     Chân trái
                Cháy     :     Chân phải
                (Hai lần như nhau )
Để vòng tròn khỏi hẹp , nhảy xéo chân ra ngoài một chút .

2-    Và  
3-    Vung tay lên cao và hạ xuống
4-    Giơ cao tay lên trời , rung nhè nhẹ .
5-    Như 1 nhưng quay ngược sang trái .

        Lửa      :    chân phải
        Soi       :     chân trái
        Giới      :    chân phải
        Lửa      :     chân phải
        Ấm       :     chân phải

6-    Đứng quay mặt vào trong , bỏ tay , lùi lại nới rộng vòng ra .
7-    Quản trò cầm đuốcnhảy múa điều khiển trong vòng , giơ cao ngọn đuốc hò .
8-    Tất cả :ơi “ thật to .
9-    Quản trò giơ cao đuốc hò
10- Tất cả lập lại tay phải vung lên .
11- Như 9
12- Lập lại vung tay trái .
13- Trong khi quản trò hò , tất cả lấy đuốc giát sau lưng  ra .
14- Tất cả lập lại nhưng một số ít người hai tay cầm đuốc bước tới chỗ quản trò hay đống lửa , bước chân phải trước .

                                Ta                :              chân phải
                                To                :              chân trái
                                Sáng           :              chân phải
                   Liệu sao bước tới chữ “ sáng “  thì đến nơi và châm lửa .

15-  Quản trò vừa chuyển lửa vừa hò .
16- Tất cả lập lại và một số người đốt xong đi giật lùi ra , chân phải trước .
              
                     Ta                   :          chân phải
                     To                   :          chân trái
                     Hết                  :         chân phải
                     Hận                 :          chân trái
                     Thù                  :          tới chỗ cũ

Cứ hát đi hát lại từ  9 – 16 cho tới khi tất cả đuốc đã cháy . Đứng tại chỗ chuyển lửa cho nhau không cần  làm những cử điệu 14 – 16 ,. Những ai đuốc đã cháy thì mỗi lần đến số  14 thì  giơ đuốc lên cao và đến số  16 thì quơ sang trái như xua đuổi .

17-  Hai tay cầm đuốc cao ngang trán , đi vòng tròn bên phải trước , dậm chân trái rồi tới chân phải như 1 .
18-  Đứng lại quay vào giơ  cao đuốc rồi hạ xuống .
19-  Như 18
20-  Giơ cao đuốc và rung rung
21-  Trở lại phía trái như 5
22-  Đứng lại giơ cao đuốc ngang trán cúi đầu chào . Đuốc vất vào đống lửa hoặc cắm vòng quanh .






ĐEM LỬA CHO ĐỜI

        Đứng vòng tròn đọc một kinh hay một lời nguyện cám ơn Chúa .
       Tiếp đến cầu nguyện bên lửa ( không thể thiếu ý tưởng : hãy đem lửa , đem tình thương Chúa vừa lãnh nhận đến cho mọi người ) .
       Rồi tất cả , kể cả khán giả , quỳ xuống lãnh phép lành của các Cha (nếu có ) . Các Ngài đến đặt tay lên đầu từng người . Trong khi đó tất cả hát bài kính Đức Mẹ .
Xong Cha trở về chỗ cũ và cất cao giọng : ANH CHỊ EM ĐI BẰNG AN  và tất cả đứng lên hát bài : “ ĐEM LỬA CHO ĐỜI
1-    Một người xướng , tất cả đứng lên lặp lại , xếp thành hàng đi vòng tròn 1 lần rồi dần dần đi về lều , về nhà ….
2-    Hai ba người đứng khác chỗ thay nhau hò . Tất cả đứng lại hướng về người hò và đốt đuốc . Sau khi đuốc đã cháy thì tất cả hò  “ CHIẾU SOI“  thay  “ ĐỐT LÊN “ .


                         






                                                            LM  NGUYỄN TRUNG THÀNH 
              



Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU



LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU

Hà Tam làm nghề lái xe chở hàng hóa. Hôm nay, xe đang bon bon chạy trên đường bỗng nhiên "khực" một cái rồi dừng lại. Hỏng rồi! Hà Tam xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe. Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Hà Tam lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp.
Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to: "Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!". Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Hà Tam đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy. Hà Tam toét miệng cười, nói do vội đi nên quên mất. Nói vậy song anh ta vẫn cố ý nhấn ga cho xe chạy.

Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to: "Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ? Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta…"
Những lời trách cứ của ông lão chăn bò bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hà Tam cười thầm trong bụng: Lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân?
Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Hà Tam hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Hà Tam thừ người ra: Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy? Cẩn thận nhớ lại, Hà Tam mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Hà Tam vội vã vẫy taxi quay lại chỗ sửa xe
Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Hà Tam tìm khắp nơi không thấy cái ví cũng không thấy ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo: "Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi".
Ôi mẹ ơi! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Hà Tam kêu to lên: "Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!".
Khi Hà Tam vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ: "Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi". Hà Tam tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Hà Tam cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Hà Tam đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên
Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Hà Tam vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Hà Tam vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Hà Tam vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi. 
Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu. 
Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết: 
"Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi. Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý: 

" Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không
được để mất lương tâm".


                                                                               CHÂU NGÂN LÊ (Kể)