Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

NẾU CÓ ĐỨC TIN BẰNG HẠT CẢI

                                      (Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
          Tại một cộng hoà thuộc Liên Xô cũ, trong một cuộc mít tinh nọ, một giáo sư muốn chứng minh cho cử tọa thấy rằng Chúa Giêsu chỉ là một tên phù thủy lừa bịp. Ông lấy một ly nước, đổ vào đó một ít bột, nước liền đổi ra màu đỏ. Ông tuyên bố với cử tọa như sau:
         “Thưa quý vị, tôi vừa mới làm một phép lạ. Ngày xưa Ông Giêsu cũng chỉ làm như tôi vừa làm mà thôi. Ông Giêsu đã biến nước thành rượu theo cách thế tôi vừa làm đó. Nhưng quý vị hãy xem tôi còn làm được điều ngoạn mục hơn nữa”. Nói xong, ông lấy một thứ bột khác cho vào nước. Nước từ từ đổi màu, rồi trở lại nguyên trạng.
         Trong đám cử tọa, một người đứng lên phát biểu: “Thưa ông, ông quả thực là người tài ba nhưng liệu ông có dám uống thử thứ rượu mà ông vừa chế biến hay không?” Quả thực, ông giáo sư biết mình đang làm trò bịp. Nước mà ông đã cho đổi màu ấy chỉ là một hóa chất độc hại. Thấy ông giáo sư chần chừ, người vừa lên tiếng phát biểu mới quay xuống đám đông và bình tĩnh giải thích như sau:
        “Thưa quý vị, đây là sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và ông giáosư nầy: với rượu nho của Ngài, Chúa Giêsu đã rót cho chúng tôi hai ngàn năm hoan lạc rồi. Còn với thứ rượu mà vị giáo sư nầy chế biến, nhân loại hẳn sẽ bị đầu độc”.
          Anh chị em thân mến,
       Hai ngàn năm qua, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục làm phép lạ trong cuộc sống của mọi con người, đặc biệt là trong cuộc sống của những ai tin vào Chúa. Mỗi cuộc đời Kitô hữu là một phép lạ phi thường của Chúa Giêsu. Trong phép lạ lớn lao ấy còn hàm ẩn biết bao phép lạ khác nữa. Chúa Giêsu hôm nay đã nói: “Nếu anh em có lòng tin nhỏ xíu bằng hạt cải thôi, anh em có thể truyền lệnh cho cây dâu nầy bật gốc lên, xuống mọc dưới biển kia cũng được”. Nói như thế, Chúa Giêsu không muốn nói rằng đức tin có khả năng làm phép lạ như một sức mạnh phù phép, bùa chú, hiểu theo nghĩa đen là “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển”. Nhưng Ngài muốn nói: đức tin là một động lực thúc đẩy chúng ta dám nghĩ, dám làm những việc to lớn, phi thường mà nếu không có lòng tin, chúng ta không dám hành động. Bởi vì, người có lòng tin thì hành động bằng quyền năng của Thiên Chúa, chứ không phải bằng khả năng giới hạn của mình. Do đó, người có lòng tin có thể làm được những việc mà chỉ có quyền năng vô biên của Thiên Chúa mới làm được. Thực ra, không phải là người ấy hành động nữa mà là chính Thiên Chúa hành động trong người ấy và qua người ấy.
         Nhờ đức tin thúc đẩy, chúng ta dám khởi công bắt ta vào việc xây dựng cuộc sống cho mình, cho anh chị em mình, rồi Chúa sẽ tiếp tay giúp sức chúng ta bằng quyền năng vô biên của Ngài, để hướng dẫn và biến đổi công việc nhỏ bé của chúng ta trở thành công trình to lớn, vĩ đại, phi thường. Nếu chúng ta không bắt tay vào việc là dấu chứng tỏ chúng ta chưa tin, hoặc không tin. Có tin, chúng ta mới dám làm, chưa làm hay không làm là vì chưa tin hay không tin. Đức tin đòi phải có hành động. Thánh Giacôbê tông đồ đã nói: “Đức tin không có việc làm là đức tin đã chết rồi” (Gc 2,17). Ngài lấy ví dụ: “Nào có ích gì, nếu người nào rêu rao mình có đức tin trong khi chẳng chịu làm gì cả? Nếu có anh chị em nào thiếu ăn thiếu mặc mà một người nào trong anh chị em lại nói với họ: ‘chúc anh chị em đi bình an, ăn no mặc ấm’, mà không cho họ những gì cần thiết để ăn mặc, thì nào có ích gì? Đức tin đó có cứu được người ấy không? Cũng vậy, đức tin không có việc làm là đức tin đã chết mất rồi” (Gc 2,14-17). Bởi vì đức tin sống bằng đức ái. Đức tin phải được biểu lộ trong sự thông cảm, tha thứ, chia sẻ cho nhau cái ăn cái mặc, và nhất là biểu hiện trong sự phục vụ, làm tôi tớ lẫn nhau một cách vô điều kiện.
             Thưa anh chị em,
         Sống đức tin là sống phục vụ. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng một câu chuyện bình dân trong chế độ xã hội phong kiến ở thời đại Ngài mà dạy chúng ta bài học phục vụ. Chế độ phong kiến là chế độ có chủ có tớ, có địa chủ và nông nô. Tớ phải hầu hạ chủ như là chuyện đương nhiên. Chủ không bao giờ mang ơn tớ, cũng là chuyện coi như đương nhiên. Nhưng Chúa Giêsu công bố một đạo lý Tin Mừng khác hẳn quan điểm phong kiến đó. Chính Ngài đã “đến không phải để được hầu hạ, nhưng để làm tôi tớ mọi người” (Mt 20,28), và Ngài đòi hỏi: “Ai lớn nhất trong anh em phải làm tôi tớ mọi người” (Mc 9,35). Tin Chúa, theo Chúa là đem cả cuộc đời mình hiến thân phục vụ anh em như một chuyện đương nhiên, không đòi hỏi được đền ơn, đáp nghĩa, được biểu dương hay khen thưởng. Tin Chúa, theo Chúa không để chi lo cho phận riêng mình cách ích kỷ, không chạy theo lợi lộc, không tìm thăng quan tiến chức, nhưng để phục vụ mọi người như lẽ sống đời mình. Thái độ phục vụ không kể công, không vụ lợi là một yếu tố quan trọng đối với đời sống cộng đồng Giáo Hội cũng như xã hội. Sự đòi hỏi người khác biết ơn và đền ơn, đó là hành động của ước muốn thống trị và là bước đầu đưa tới thống trị trên người khác. Muốn cho tương quan trong cộng đồng xã hội mãi mãi trong sáng là tương quan huynh đệ, Chúa Giêsu đã dạy cách phục vụ không vụ lợi, không kể công. Có làm được điều gì tốt lành thì đó là việc phải làm chứ chẳng có gì để mà vênh vang tự đắc, nghĩa là mình có quyền đòi Chúa hay mọi người biết ơn. Do đó, mỗi khi hoàn thành nhiệm vụ, mỗi người phải khiêm tốn tự nhận mình chỉ là “người tôi tớ tầm thường, vì đã làm việc bổn phận đấy thôi.”
          Anh chị em thân mến,
        Nếu nhờ đức tin, mọi người đều lấy mình làm tôi tớ lẫn nhau thì chắc chắn đức tin ấy sẽ làm được những việc phi thường. Đó là phép lạ của đức tin có hành động. Và cũng chính hành động nầy sẽ kiểm tra chất lượng đức tin của chúng ta xem nó bằng bao nhiêu sánh với hạt cải bé nhỏ. Vì nếu chúng ta có được lòng tin nhỏ bé bằng hạt cải thôi, chúng ta có thể “chuyển núi dời non”, “bứng rừng trồng xuống biển” cũng được. Đức tin có một sức bật kỳ diệu như vậy. Nhà vật lý Archimède đã nói: “Nếu có thể tìm được một điểm tựa bên ngoài vũ trụ, thì với một đòn bẫy, người ta có thể nâng bổng cả vũ trụ lên”. Và văn hào Kierkegaard đã nói: “Điểm tựa ấy chính là đức tin”. Đức tin có cả một sức bật như vậy, nó có khả năng biến đổi cả xã hội, cả thế giới đầy những bất công, bạo lực, chia rẽ, chiến tranh nầy thành một vương quốc của tình yêu, thành một “Trời Mới Đất Mới” trong ngày Cánh Chung.

                                                                                                                      (tgpsaigon.net)

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

LẦN HẠT KINH MÂN CÔI THẾ NÀO CHO ĐÚNG CÁCH ?




Cách Lần Hạt Mân Côi:
  1. (bắt đầu) Làm dấu Thánh Giá và đọc Kinh Tin Kính
  2. Đọc Kinh Lạy Cha
  3. Đọc 3 Kinh Kính Mừng
  4. Đọc Kinh Sáng Danh
     
  5. Đọc Mầu Nhiệm thứ nhất và Kinh Lạy Cha
  6. Đọc 10 Kinh Kính Mừng, và suy gẫm về mầu nhiệm này
  7. Đọc Kinh Sáng Danh và lời nguyện Mân Côi
  8. Đọc mầu nhiệm thứ hai, rồi đọc Kinh Lạy Cha
  9. Lập lại mục 6 và 7 => và tiếp tục cho đến hết các mầu nhiệm thứ 3, 4 và 5
     
  10. Đọc Kinh Lạy Nữ Vương, Kinh Trông Cậy và Các Câu Lạy
  11. Làm dấu Thánh Giá
  12. Hôn Thánh Giá Chúa với tâm hồn kính mến. (hết)

Lần hạt kinh Mân Côi thế nào cho đúng cách? Khi lần 

hạt, chúng ta có cần suy niệm không?


          Thánh Louise De Montfort nói:  Không phải do đọc kinh nhiều, nhưng do lòng sốt sắng cầu nguyện, mà ta làm vui lòng Chúa và được Ngài yêu thương. Chỉ đọc một kinh Kính Mừng cho sốt sắng, sẽ có công phúc hơn là đọc một trăm năm mươi kinh cách hững hờ. Hầu hết các người Công Giáo đều có lần chuỗi Mân Côi một trăm năm chục, hoặc chuỗi năm chục, hoặc ít ra vài chục kinh Kính Mừng. Vậy tại sao có ít người sửa mình, bỏ đàng tội lỗi và tấn tới về các nhân đức, phải chăng vì họ đã không đọc kinh Mân Côi đúng cách?
         Vậy ta hãy xem thế nào là cách lần chuỗi Mân Côi đẹp lòng Chúa và có sức giúp ta nên thánh thiện hơn. Trước hết, người đọc kinh Mân Côi phải ở trong tình trạng có ân sủng, hoặc ít là có quyết tâm muốn ra khỏi đàng tội lỗi. “Theo đó sách Huấn ca có lời rằng: “Lời tôn vinh Thiên Chúa không phát ra từ miệng kẻ tội lỗi” (Hc 15,9). Lời chào của Thiên Thần cũng như lời kinh của Chúa Giêsu không thể đẹp lòng Chúa, khi phát ra từ miệng người tội lỗi không thống hối. Chúa Kitô đã nói: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng nó thì ở xa Ta” (Mt 7,6)
        Chúng ta cầu nguyện bằng kinh Mân Côi là cách cầu nguyện tuyệt hảo nhất. Điều đó tốt, nhưng chưa đủ, còn cần phải đem hết tâm trí vào việc cầu nguyện của chúng ta, vì Thiên Chúa lắng nghe tiếng lòng của ta hơn là tiếng ngoài miệng ta. Đọc kinh cầu nguyện mà để mình chiều theo những sự lo ra là một điều bất kính đối với Thiên Chúa và Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi như thế không ích lợi gì mà còn mang tội vào mình. Làm sao chúng ta dám xin Chúa nghe chúng ta, khi chính bản thân chúng ta không nghe mình, không chú ý những gì miệng mình đọc? “Vô phúc cho kẻ làm công việc của Chúa cách lơ đãng” (Gr 48,10)
           Thật là đáng buồn khi xem nhiều người lần chuỗi Mân Côi! Họ đọc lẹ hết sức, đọc không kịp thở và ăn vần nuốt chữ nhiều chổ trong lời kinh. Thử nghĩ xem, ăn nói với một người thường, ta cũng không nói liến láu như vậy, thì làm sao có thể coi đó là cách tôn vinh Chúa và Đức Mẹ? Cho nên chúng ta đừng ngạc nhiên, khi thấy những lời kinh rất thánh thiện của Kitô giáo không mang lại hoa trái nào cho người ta, và sau khi đọc từng ngàn chuỗi Mân Côi, người ta đã không trở nên thánh thiện hơn.
            Để tránh bị lo ra, bạn hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong mỗi mầu nhiệm của mỗi chục kinh Mân Côi. Hãy dùng trí tưởng tượng để suy ngắm các nhân đức của Chúa và Mẹ Maria nơi mỗi mầu nhiệm đó.
          Trong thư của nữ tu Lucia (thị nhân tại Fatima) gửi cho Cộng Đoàn Thánh Mẫu, cho ta biết thêm sự huyền nhiệm khi lần hạt kinh Mân Côi như sau: “Xin anh chị em ghi nhớ rằng không phải chỉ riêng tôi góp lời cầu nguyện với anh chị em mà còn có toàn thể triều thần thiên quốc cùng hợp chung tiếng hát hòa điệu với các tràng kinh Mân Côi nhịp nhàng anh chị em đọc. Thêm vào đó cũng có các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội kết hợp lời nguyện xin tha thiết của các vị với lời khẩn cầu của anh chị em.
          Ngoài ra, ngay mỗi khi bàn tay anh chị em mân mê tràng chuỗi Mân Côi và bắt đầu lần hạt Mân Côi thì tức khắc các Thánh Thiên Thần và các Thánh Nam Nữ cũng hòa nhịp với anh chị em trong lời kinh.
          Chính vì các lý do trên đây mà tôi khuyến khích anh chị em hãy sốt sắng lần hạt Mân Côi. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm tình với Đức Tin và cùng lúc hãy suy gẫm ý nghĩa các mầu nhiệm của kinh Mân Côi”.
          Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã nói trong tông thư Rosarium Virginis Mariae, như sau: “Kinh mân côi, chính bởi vì nó phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Maria, là một lời kinh chiêm niệm sâu sắc. Không có chiều kích chiêm niệm ấy, kinh mân côi sẽ như một cái xác không hồn, …”
           Thánh Louise De Montfort nói tiếp: Mẹ Maria cũng đã dạy chân phước Alanô, Mẹ bảo ngài rằng: “Đây (kinh Mân Côi – tác giả) là một lời cầu nguyện rất hữu ích. Nguyên việc đọc một trăm năm mươi kinh Kính Mừng (nay là hai trăm kinh – tác giả) đã là việc rất đẹp lòng Mẹ, nhưng họ sẽ làm tốt hơn nếu cùng với việc đọc các kinh Kính Mừng như thế, họ suy ngắm về cuộc đời, về cuộc khổ nạn và về sự vinh hiển của Chúa Giêsu (và Mẹ Thánh Ngài – tác giả), bởi vì sự suy ngắm này là linh hồn của kinh Mân Côi”. … Sự suy ngắm các mầu nhiệm là cái làm cho kinh Mân Côi khác biệt các việc sùng kính khác.
         Thánh Lễ có sức tôn kính Chúa Ba Ngôi một cách vô cùng, bởi vì Thánh Lễ diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Chúng ta dâng lên Chúa Cha những công nghiệp của đức vâng lời, những đau khổ và máu thánh Chúa Kitô. … Vậy mà kinh Mân Côi ta đọc để suy ngắm các mầu nhiệm thánh cũng là một hy lễ ngợi khen dâng lên Thiên Chúa, để cảm tạ Chúa vì ơn cứu chuộc chúng ta. Kinh Mân Côi cũng là một sự sùng mộ kính nhớ những đau khổ, cái chết và vinh quang của Chúa Giêsu Kitô.
          Những Kitô hữu không suy ngắm các mầu nhiệm Mân Côi tỏ ra rất vô ơn bạc nghĩa với Chúa Giêsu Kitô, không mấy qúi trọng tất cả những gì Chúa Cứu Thế đã chịu vì ơn cứu độ loài người. Cách hành xử của họ cho thấy họ không hiểu biết gì về cuộc đời Chúa Giêsu, họ ít bận tâm tìm hiểu những gì Chúa đã làm và đã phải chịu để cứu chuộc chúng ta. Những Kitô hữu đó nên lo sợ rằng: Vì họ đã không biết đến Chúa Giêsu, hoặc vì đã bỏ quên Ngài, cho nên Ngài sẽ xua đuổi họ trong ngày phán xét, với lời quở trách: “Ta bảo thật các ngươi, Ta không biết các ngươi” (Mt 25, 12). Vậy chúng ta hãy suy gẫm về cuộc đời và những đau khổ của Chúa Cứu Thế nhờ kinh Mân Côi.
          Nếu bạn cảm thấy lương tâm bị đè nặng bởi tội lỗi, bạn hãy cầm lấy chuỗi Mân Côi, hãy đọc kinh và suy ngắm để kính nhớ một vài mầu nhiệm của cuộc đời, những đau khổ của cuộc khổ nạn và vinh quang của Chúa Giêsu Kitô. Bạn hãy tin chắc rằng trong khi bạn đang suy gẫm và kính nhớ các mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, Ngài sẽ xin Cha Ngài nhìn xem các thương tích của Ngài, xin Cha Ngài ban cho bạn được ơn thống hối và được ơn tha thứ mọi tội lỗi.
           Thánh Augustinô qủa quyết không có việc đạo đức nào sinh nhiều hoa trái và hữu ích cho ơn cứu độ bằng năng suy gẫm về những đau khổ của Chúa trong cuộc khổ nạn.
Một hôm, Đức Mẹ đã mặc khải cho chân phước Alanô rằng: Sau việc cử hành Thánh Lễ là tưởng niệm số một và sống động của cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, thì không có việc đạo đức nào trọng hơn và nhiều công hơn cho bằng kinh Mân Côi, vì kinh Mân Côi là tưởng niệm thứ hai, diễn lại cuộc đời và cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô (khi đọc kinh Mân Côi có kết hợp suy niệm mầu nhiệm Mân Côi – tác giả).
           Đức Mẹ nói với chân phước Alanô rằng: “Mặc dầu đã có rất nhiều ân xá dành cho những người lần chuỗi Mân Côi, nhưng Mẹ sẽ thêm nhiều ân xá cho những ai quỳ gối lần chuỗi năm chục, cách sốt sắng và trong tình trạng không mắc tội trọng, và những ai trung thành đọc kinh Mân Côi và suy gẫm các mầu nhiệm sẽ được Mẹ trọng thưởng, là được ơn tha các hình phạt về mọi tội lỗi của họ vào lúc cuối đời họ. Con đừng coi đó là điều khó tin. Mẹ dễ dàng làm điều đó, vì Mẹ là Mẹ của Vua trời đất, chính Ngài đã gọi Mẹ là đấng đầy ơn phúc. Thật Mẹ là Mẹ đầy ơn phúc và Mẹ sẽ đổ tràn ơn phúc xuống trên các con yêu dấu của Mẹ”.

Giuse Hoàng Trung Chính

(nguồn : memaria.org)

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

CHUYỆN VỀ THIÊN THẦN BẢN MỆNH



Một Câu Chuyện Có Thật Về Thiên Thần Bản Mệnh

            Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột. Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường. Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Xức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.


             20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố. Một lần nọ, ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù. Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ hẳn vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.

           Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu. Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi: Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ. Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng giả trang trốn đi nơi khác. Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau...

         Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự. Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù. Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui...



Sưu tấm của cha TIẾN LỘC
( nguồn : ngonluanho.net )







Một bà kia đang thong thả đi dạo trên hè phố, bỗng dưng nghe tiếng thét : "Đứng lại !".
Bà vừa dừng chân thì một viên gạch từ trên mái nhà rơi ngay xuống trước mặt. Suýt chết ! Vài phút sau, tới ngã tư, bà ta đang định qua đường, thì lại nghe một tiếng thét nữa : "Đứng lại !".
Chưa đầy 15 giây thì một chiếc xe tải phóng ngang, bất chấp đèn đỏ. Bà ta hú hồn, bèn lên tiếng hỏi : "Ai đấy ?".
Tiếng đó trả lời : "Ta là thiên thần hộ thủ của con. Chắc là con có điều gì muốn nói với ta phải không ?".
Bà thưa : "Chắc rồi. sao Ngài không thét dừng lại lúc con sắp đi lấy chồng ?"
--------- o0o --------
  

Cha Tâm nhận được cú điện thoại kêu đến bệnh viện gấp rút. Cha vội lên xe phóng một mạch để đi ban các bí tích cho người lâm tử. Dọc đường một nữ tu vẫy tay xin quá giang, rồi đến một chủng sinh cũng xin đi ké. Tuy vội vàng, nhưng cha cũng bình tĩnh mở cửa rước họ lên. Nhưng ngồi trên xe chưa bao lâu, chị nữ tu thấy chóng mặt vì cha xứ lái xe quá nhanh, với những pha ngoằn nghèo lách ngang lách dọc, cho nên sợ quá bèn kiếm cớ :
"Thưa cha, con quên tràng hạt ở nhà, xin cha cho con xuống để về lấy chuỗi đọc kinh".
Anh chủng sinh cũng kiếm cớ để đi ra :
"Cha cho phép con xuống để mua cuốn sách bán ở tiệm gần đây bên cạnh".
Cha Tâm thấy nhẹ nhõm và có thể nhấn ga đi nhanh hơn. Bỗng dưng, cha cảm thấy một bàn tay vỗ lên vai với giọng khẩn khoản :
"Cha cho tôi xuống".
 Cha cảm thấy rợn người, không dám quay đầu lại, chỉ ấp úng thưa :
 "Ông là ai vậy ?"
Tiếng ấy trả lời : "Tôi là thiên thần bản mệnh của cha".



(nguồn: http://www.webnode.com)







Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

THIÊN THẦN BẢN MỆNH ĐÌNH CÔNG




Lễ Kính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh
Ngày 2 tháng 10
Thiên Chúa đã trao ban cho hết thảy mọi người chúng ta một thiên thần bản mệnh để bảo vệ và hướng dẫn chúng ta.
Thiên thần bản mệnh thúc giục chúng ta làm lành tránh dữ và tuân theo điều Chúa dạy.

Lạy Thiên Thần Chúa, người được Chúa thương giao phó con cho ngài coi sóc, xin ở bên con mỗi ngày, để soi sáng, giữ gìn, dìu dắt và cai quản con. 
Amen.





CÁC THIÊN THẦN BẢN MỆNH ĐÌNH CÔNG TRÊN THIÊN ĐÀNG 

        Chúa Giêsu cất giọng: “Hãy yên lặng, Micae tối nay con hãy mau họp tất cả các thiên thần bản mệnh ở đây.  Chúng ta sẽ lắng nghe những than phiền của họ.”  Buổi tối, thánh Micae xếp đặt các ngôi sao trong bầu trời theo một trình tự từ nhỏ đến lớn: các thiên thần bản mệnh được gọi về trời, hướng Tây, vào lúc trăng bắt đầu mọc.

          Các thiên thần bản mệnh đã lên gặp Chúa.  Khi tất cả ngồi trên các tầng mây, tạo thành một số lượng lớn không đếm xuể.

           Chúa Giêsu tiến lên giữa họ: “Hỡi các thiên thần, Ta biết các con muốn đình công.  Điều đó thực sự không hợp lý.  Vậy có điều gì không hay?”

          Họ la lên: “Chúng con thấy chán nản về công việc bạc bẽo của chúng con!  Chúng con không thể làm được nữa! Chúng con muốn trở về thiên đàng!  Trên trần gian chúng con quá cô đơn!”

          Chúa Giêsu ngạc nhiên hỏi: “Cô đơn trên trần gian ư?  Nhưng các con đã làm gì cho nhân loại?  Mỗi người các con không có một người bạn mà chúng con gắn bó ngày đêm sao?”

         Một tổng thần vừa đứng dậy vừa nói: “Lạy Chúa! Điều làm chúng con bị cô đơn là loài người không biết đến chúng con.”

           Một thiên thần khác thêm vào: “Quả thật, nhân loại đã lôi kéo nhau vào trong những cuộc rộn ràng điên rồ mà không bao giờ có lấy một chút quan tâm đến chúng con. Có ai nghĩ rằng có một thiên thần luôn theo sát bước chân của họ không?”

          Đến lượt một thiên thần Sêraphim tóc hoe, đứng lên nói: “Chính con, con là thiên thần bản mệnh của Gioan, người ta luôn thấy chú bé nghịch ngợm, và đứng trên bờ tường sắp đổ nát, hoặc trên một sà lúp sửa soạn lật đổ, hay trên một cành cây mỏng manh.  Tuy nhiên, nhờ con mà nó chưa gặp một điều bất trách.  Một ngày kia, nó bị ngã xuống nước, chính con đã ra tay để nó móc vào rễ cây.  Có ngày nó bị lao đầu từ trên cây táo xuống, con đã trải áo của con xuống đất để làm giảm bớt sự va chạm.  Chú bé Gioan đã đứng dạy không bị sao cả.  Chúa nghĩ rằng nó sẽ cảm ơn con ư?...  Nó không hề nghĩ tới con.”




             Khi thiên thần Sêraphim im lặng, một thiên thần áo trắng, thắt lưng vàng phát biểu.  Ngài nói:“Con có sứ vụ bảo vệ Lisa, một cô bé khờ khạo luôn băng qua đường mà không nhìn phải trái.  20 lần con đã kéo tay áo nó lại lúc mà một chiếc xe điện hoặc xe hơi sắp cán nát nó.  Người ta hỏi nó: nhờ phép lạ nào mà nó được đưa ra đúng lúc, vậy mà không bao giờ có ai nghĩ rằng con đã ở bên nó trong sự việc ấy.”

            Một thiên thần mặc áo choàng xanh da trời đã thở than một cách chán nản: “Ôi! các trẻ em đều phụ bạc!”

            Một thiên thần khác buồn rầu chậm rãi nói: “Chúng cũng không nhận ra giọng nói của chúng con trong lúc chúng con thì thầm bên tai chúng lời khuyên tốt lành.”

         Thiên thần Kêrubin nói: “Đối với con, còn tệ hại hơn nữa, Loulou bạn đồng hành của con cũng không biết có con không.  Mẹ nó chưa bao giờ nói điều đó cho nó biết.”

         Những phàn nàn vẫn tiếp tục kéo dài, với giọng điệu dai dảng đó.  Bỗng nhiên, thấy một nhóm thiên thần tỏ ra buồn bã, mệt mỏi hơn các thiên thần kia, Chúa Giêsu hỏi họ:“Còn các con hỡi các thiên thần, các con muốn nói gì?”

          Các thiên thần đáng thương trả lời với một giọng trầm khàn: “Ôi lạy Chúa!  Nỗi bất hạnh của chúng con còn vượt quá những điều mà Chúa vừa nghe thấy!  Chúng con là những thiên thần bản mệnh của người lớn.”

         Vua vũ trụ trở lên căng thẳng.  Người xoáy bộ râu cằm lộ vẻ bối rối.  Một sự trầm lặng nặng nề trên cõi thiên đàng.  Cuối cùng, sau một lúc lâu, Chúa Giêsu nói: “Hỡi các thiên thần, điều các con nói cho Ta đủ làm Ta chán nản.  Cha đã sai các con đến với các thụ tạo yếu hèn để giúp đỡ chúng trong cuộc hành hương ngắn ngủi ở trần gian.  Nhưng sự việc tỏ ra quá đau buồn.  Ta không còn tâm tư để buộc các con làm việc đó quá lâu nữa.  Vậy các con có thể trở về thiên đàng.”

         Qua câu nói vừa rồi vui mừng bọc lộ vang ra từ muôn đôi cánh, và các tầng trời thiên đàng đang rung lên.  Nhưng bỗng Đức Thánh Trinh Nữ xuất hiện giữa đám đông: “Tới phiên ta, ta muốn nói.”

         Như ai cũng biết, Chúa Giêsu, Đấng không bao giờ từ chối Mẹ, Ngài nói:“Vâng, thưa Mẹ.”

       Quay hướng về các thiên thần bản mệnh, Mẹ nói với họ: “Hỡi các thiên thần bản mệnh, còn hơn cả con Ta nữa, ta thấy chán nản về cuộc đình công mà các con dự định.  (Đức Trinh Nữ đã biết rõ rằng các trẻ em ở trần gian sẽ bị mất, không còn các thiên thần bản mệnh nữa!)  Ta muốn các con, vì đặc ân cuối cùng, các con trở lại nhiệm sở của các con trọn một ngày nữa.  Trong thời gian này chúng ta sẽ tổ chức một cuộc bỏ phiếu, và tối mai các con hãy trở về để bỏ phiếu thuận hay chống lại cuộc đình công bi thảm này, nếu đa số thì thắng.”

       Lập tức các thiên thần bản mệnh, quỳ rạp trước nhan Chúa Giêsu và Mẹ Người mà xin bay về trần gian lần nữa.

         Đêm đó Nữ Vương các tầng trời đã rời thiên đàng và thực hiện một cuộc kinh lý lạ thường.  Âm thầm vào từ nhà này sang nhà khác, vì duy chỉ có Thần Ánh Sáng mới biết được việc này.  Mẹ cúi xuống từng giường của các trẻ em đang ngủ và thì thầm vào tai chúng điều gì đó.  Mẹ thích chọn những em bé, những người lớn thì 'nặng tai' hơn.  Mẹ đã làm như thế cho đến hết vòng trần gian.

        Sáng hôm sau, khi thức dậy, các trẻ em trần gian biết rằng chúng có một giấc mơ!  Giấc mơ nào?... không ai nhớ đúng cả.  Nhưng bỗng chúng biết rằng mỗi người trong chúng đều có bên cạnh một thiên thần, họ sẽ buồn rầu, chán nản và ra đi nếu như người ta không có lấy một chút yêu mến họ.  



       Thế là các trẻ em trần gian bắt đầu chắp tay lại và nói: 
“Hỡi thiên thần bản mệnh của con, xin đừng đi!  Con yêu mến Ngài, vì Ngài đã cứu con thoát khỏi nhiều thảm họa.  Con xin Ngài luôn mãi phù hộ con.”

       Tối hôm đó có nhiều cuộc đi lại giữa thiên đàng và trần gian.  Các thiên thần bản mệnh hôm trước quá sa sút, quá mệt mỏi; bây giờ với vẻ mặt rạng rỡ họ đã bỏ lá phiếu của họ vào thùng và trở lại trần gian với tiếng vỗ cánh vui tươi.  Lúc đến mở thùng phiếu, ông Chủ Vũ Trụ đã ngạc nhiên!  Hôm trước các thiên thần đã bằng mọi giá bỏ mặc trần gian, thì bây giờ, tất cả đã tuyên bố chống lại cuộc đình công.

        Đó là phương cách mà Đức Trinh Nữ Maria đã dùng để hơn một lần cứu thoát nhân loại bất hạnh. 

       Hỡi các bạn nhỏ, chuyện này có xảy ra vào thời của các con không?  Các con có nhận ra sự viếng thăm của Đức Trinh Nữ trong giấc ngủ của các con không?...  Có lẽ không.  Nhưng hãy coi chừng!  Thiên thần bản mệnh của các con cũng sẽ rất buồn và sẽ muốn rời xa các con nếu các con quên họ.

Trích từ “L’Oratoire kỷ yếu về thánh Giuse ở Mont royal, Montréal”

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

THÁNG MÂN CÔI




Tháng Mân Côi

        Hằng năm, Giáo hội Công giáo dành Tháng Mười để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi. Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*). Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ bảo thánh Đa Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác.
         Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội. Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời.
      Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi. Chân phước GH Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi khi ngài đi bách bộ. Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi. Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi.
      Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng thánh GH Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571. Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary confraternities) tại Rôma và những nơi khác. Do đó, thánh GH Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó.
Năm 1573, ĐGH Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Năm 1671, ĐGH Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha. Chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary). Do đó, ĐGH Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội.
         Lm. William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống Chúng ta” (Mary in Our Lives): “Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ. Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”.
         Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không vì mong được lợi cho mình mà vì lòng yêu mến chân thành. Người Việt Nam có câu: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Cứ hành động bằng tất cả niềm tin, cậy, mến thì chúng ta không bao giờ phải thất vọng.

                                                    

       Chúng con xin trao phó mọi sự cho Thiên Chúa và Đức Mẹ, xin quan phòng và lo liệu cho chúng con hôm nay và mãi mãi. Amen.

                                                                               Trầm Thiên Thu chuyển ngữ 
                                                                                                               (lamhong.org)

(*) Albigensianism: Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII, có đặc tính của thuyết nhị nguyên (đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện và Ác). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo (Inquisition).
Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia phái tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

TERESA : THÁNH NỮ CỦA TÌNH YÊU

Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu 

§ Lm Anton Nguyen Van Thang
Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
  • Ngài là Thánh Trinh nữ và là Thánh Tiến sĩ tình yêu.
  • Sinh 1873 tại Alençon nước Pháp.
  • Lúc nhỏ, xin vào đan viện Cát-Minh ở Lisieux.
  • Khám phá lối sống Tin Mừng khiêm tốn, mở ra một linh đạo nên Thánh mới mẻ: con đường thơ ấu thiêng liêng.
  • Qua đời: 30.09.1897 (24 tuổi).
  • Ước ao dâng mạng sống, cuộc đời, sự đau khổ, hiểu lầm để các linh hồn được cứu và để Hội Thánh phát triển.
  • 10.1997 (100 năm sau) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong chị là Thánh Tiến sĩ tình yêu.
  • Lúc bé thơ, thánh nữ nhìn lên trời chiêm ngắm những vì sao, và cô sung sướng nhìn thấy có các ngôi sao dệt nên chữ chữ T xinh đẹp. Ôi! Tên của mình đã được Chúa khắc ghi trên trời. Ngài ước ao nên thánh…


Giảng

Vì sao Têrêxa bé nhỏ được nhiều người khắc sâu hình ảnh?
Vì sao thánh nữ được nhiều người tưởng nhớ, mến thương?
Có phải vì tuổi đời còn quá trẻ (24 tuổi), mà người trẻ thì thường khiến cho mọi người dậy lên niềm cảm xúc? Hay là do nét thanh tú, dễ thương trên khuôn mặt hiền hòa, vì cái đẹp bao giờ cũng lay động lòng người? Hay vì nẻo đường nên thánh đơn sơ, khiến cho chúng ta dễ bắt chước, và cảm thấy Thiên Chúa là Đấng gần gũi?
Có thể là tất cả, nhưng hình như vẫn chưa phải là câu trả lời đủ và trọn nghĩa.
Nàng muốn làm linh mục để tế lễ, nàng muốn trở thành sứ đồ đi rao giảng Tin Mừng, mà không phải một nơi mà khắp nơi, cũng không phải chỉ một thời, mà mọi thời: từ thuở tạo thiên lập địa đến ngày tận thế, nàng còn muốn là kẻ tử vì đạo với mọi hình khổ: đóng đinh, vào vạc nước sôi, lên giàn hỏa thiêu, chịu chém bay đầu..., Khiếp, người đâu mà tham thế.
Thế nhưng nghĩ cho cùng, không tham sao được, khi người tình của chị là Chúa Tể càn khôn, bao trùm vũ trụ và lịch sử, vì thế, tình yêu của chị cũng bao trùm cả lịch sử lẫn vũ trụ. Trong thư, chị viết: “Em hiểu rằng, Hội Thánh có một trái tim, và trái tim ấy rực sáng Tình Yêu. Em hiểu rằng chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể trong Hội Thánh hoạt động. Nếu Tình Yêu nguội tắt, thì các sứ đồ không ai đi rao giảng Tin Mừng, nếu Tình Yêu đã tắt, thì các vị tử vì đạo sẽ từ chối việc đổ máu đào. Tình Yêu bao gồm mọi ơn gọi, Tình Yêu là tất cả, Tình Yêu ôm gọn không gian lẫn thời gian. Tắt một lời: Tình Yêu là Vĩnh Cửu”.


Đức cố Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận viết về Thánh nữ như sau:
Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị Thánh lớn nhất của thế kỷ XX, bổn mạng các xứ truyền giáo, là vị Thánh chẳng làm việc gì có giá trị vĩ đại bên ngoài: không giảng thuyết, không đi truyền giáo, không viết sách thần học, không làm phép lạ, không chịu các cực hình như bao vị thánh tử đạo xưa nay. Chị chỉ sống kết hiệp với Chúa từng giây phút qua mọi công việc tầm thường của đời một nữ tu Dòng Kín Carmel. 
Chị viết: “Tôi muốn có một quả tim bao la để yêu mến Thiên Chúa, để ôm ấp tất cả nhu cầu của Giáo Hội…, tôi muốn hy sinh cả cuộc sống tôi để cầu nguyện cho việc truyền giáo” (Lữ hành Hy vọng, tr. 36).
Têrêxa đọc hạnh các thánh và đã thấy có nhiều vị thánh vĩ đại, thánh nữ muốn bắt chước. Có lần Thánh nữ mang cây thánh giá nặng với nhiều gai nhọn, nhưng đau quá, nàng đành phải tháo ra và than: “Con bắt chước không được”. Thế là nàng mở cuốn Phúc âm, và đọc thấy còn đường nên thánh dễ hơn, vừa tầm mình: sống như người bé con trước Thiên Chúa là Cha.
Tâm tư sâu lắng của Têrêxa là thế đó. Chính nhờ đó mà chị đạt đến nét thuần túy nhất của Tin Mừng. Cũng như chính thế đó, mà chị trở thành điểm thu hút của bao nhiêu người. Hằng năm, người ta tìm đến kính viếng xác Thánh đến 80.000 lượt người.
Con người vốn được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng, mỗi con người được gắn liền với Đấng yêu thương ngay từ ngày đầu tiên hiện hữu trên cõi đời.
Khát vọng Tình Yêu hoài còn đó, nhưng xem ra cuộc sống thiếu vắng hơn bao giờ hết. Vì lẽ đó người đời càng ngưỡng vọng những ai dám hiến trọn đời mình cho Tình Yêu.

      

Chuyện:
Hôm ấy, vào dịp lễ Thánh Têrêxa Avila, một nhà Dòng Kín nọ mở cổng cho giáo dân và bà con vào tham quan. Có một người khách hiếu kỳ không hiểu được lý do cuộc sống khắc khổ nhiệm nhặt của các nữ tu này, bèn nghĩ bụng: “Chỉ những người không đủ cơm ăn áo mặc, nghèo khổ xấu số mới liều mình dấn thân vào một nơi kinh khủng như thế này!”.
Ông gặp một nữ tu tại hành lang và hỏi: “Này Chị, giả như Chị có một tòa nhà sang trọng như tòa nhà ở ngoài cổng kia kìa, đối diện với Nhà Dòng Chị đây, thì Chị có thể hy sinh chôn mình vào trong 4 bức tường đóng kín này chăng?”
Chị nữ tu vui vẻ trả lời: “Thưa ông, ngôi nhà ấy chính là nhà của tôi!”.
Quả vậy, đó là tòa nhà của Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng, người nữ tu mà ông khách hiếu kỳ vừa chất vấn. Bố của Chị, ông Louis Martin đã xây nên để được ở gần con (Lữ hành Hy vọng, tr. 172).
Tình yêu làm nên muôn việc diệu kỳ. Đời sống tu trì là dại, là khó, là uổng… đối với người đời, nhưng với lòng yêu mến Chúa, thì điều này đã hiện thực trong Hội Thánh suốt 20 thế kỷ qua.
Chị Chiara Lubich đã kinh nghiệm: “Ai kết hiệp với Đức Kikô, người ấy có thể làm được những điều bất khả”.
Thánh nữ Têrê xa đã nói: “Với lòng kính mến Chúa, thì dù cúi xuống nhặt một cái kim nhỏ, ta cũng cứu được một linh hồn” (Một tâm hồn).

Cần lưu ý:

Tình yêu thì làm nên, và làm được muôn điều kỳ diệu.
Còn có khoáng vật ngăn lối tình yêu, đó là ích kỷ.
Thánh Phaolô có viết một câu khiến chúng ta khó hiểu, thắc mắc: “Giả như tôi đem cả tư gia, vốn liếng mà bố thí, nhưng không có lòng mến thì ích gì?”
Bán cả gia tài, giúp đỡ kẻ nghèo, chẳng phải là hành vi bác ái sao?, sao mà bảo không có lòng mến?
Thưa, vì có khi chỉ là để củng cố cái tôi. Người nghèo được giúp đỡ không vì chính họ, mà chỉ là phương tiện để quay về với chính tôi. La Rochefoucauld cũng có lý khi nói: ”Mọi dòng sông bác ái cuối cùng cũng đỏ về biển cả của ích kỷ”.
Trong Giáo Hội, có những tu sĩ, có nhiều nữ tu chịu giam mình trong 4 bức tường tu viện, trong căn phòng chật chội, nhưng tâm hồn họ mở ra với cả thế giới với các chiều dài rộng và sâu của suốt dòng lịch sử nhân sinh.
Ngược lại, ngày sống của nhiều người lấp đầy bằng những chuyện trò huyên náo, rỗng tuyếch, những gặp gỡ đổi trao, kể cả những nồng nàn say đắm, mà thật ra vẫn chỉ là vòng quay của cái tôi ích kỷ. Trong cuộc sống như vậy có hai hướng đi: Tình yêu và Ích kỷ.
Lạy Chúa, Tình yêu làm nên tất cả, còn Ích kỷ đục khoét tất cả. Amen.
Lm Anton Nguyen Van Thang



Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

XIN ĐỪNG KHÓC THƯƠNG TÔI , SUDAN


Phim tài liệu đầy tình người thật xúc động

                           
  (xem phim truyện "Xin đừng khóc thương tôi Sudan" đầy xúc động về cuộc đời của Linh Mục Gioan Lee Tae Suk phía dưới) 

            Cha Gioan Lee là linh mục dòng Salêriêng Don Bosco. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhưng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong dòng Salêriêng Don Bosco. Ngay sau khi được truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu. Cha đã từ bỏ tất cả công danh, sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Và hơn thế nữa, cha còn muốn trở thành người mục tử nhân lành sống giữa đoàn chiên nghèo khổ để chăn dắt họ. Vì thế nên cha đã tình nguyện đến sống tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những người đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trước khi cha qua đời vị căn bệnh ung thư ruột già. Cuốn phim tài liệu: “Don’t Cry for Me Sudan” năm 2010 (“Đừng Khóc Thương Tôi - Sudan”) đã chia sẻ về cuộc đời truyền giáo của linh mục Gioan Lee Tae Suk và là cuốn phim sẽ tham dự Đại hội điện ảnh lần thứ 61 tại Bá Linh vào năm tới- 2013.



             Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó gồm 10 anh chị em, cha Gioan Lee Tae Suk là người con thứ chin. Năm cha lên 9 tuổi, người bố qua đời để lại gánh nặng gia đình trên đôi vai người mẹ. Người mẹ đã phải tần tảo làm nghề may vá để nuôi nấng đàn con 10 anh chị em. Ngay từ khi còn bé, cha Gioan Lee đã phải sống trong cảnh nghèo khó. Sân chơi của cha chính là ngôi nhà thờ gần nhà. Ngay khi còn học bậc tiểu học, cha đã tỏ ra yêu thương các người nghèo khổ và có ý tưởng thành lập một cô nhi viện cho các trẻ em mồ côi. Một ngày nọ, khi chứng kiến cảnh một người ăn xin nghèo khó, rách rưới mà cha (lúc đó là một cậu bé) không có gì để giúp đỡ người ăn xin này. Cha đã chạy về nhà và hỏi mượn người chị 1 cây kim và sợi chỉ để khâu lại chiếc quần rách rưới cho người ăn xin. Sống trong tuổi thơ nghèo túng, có những ngày cậu bé Gioan Lee Tae Suk đã phải ngồi chờ mẹ về ở ngoài đường, trong con hẻm gần nhà… Do đó, tuổi thơ của cha đã sớm cảm thông với những nỗi bất hạnh của con người. Khi lên bậc trung học, cha đã tự học đàn Guitar và chơi dương cầm… Năng khiếu âm nhạc đến với cha một cách tự nhiên và dễ dàng. Có lẽ đó là nguồn cảm hứng giúp cha giải bày những xúc động ẩn chứa trong tâm hồn khi chứng kiến những cảnh nghèo đói, bất công và bệnh tật của những người nghèo khổ trong xã hội. Cha đã tự sáng tác ra những bản nhạc lúc còn học ở trung học. Những bản nhạc này như một cầu nối giúp cha đến gần với Thiên Chúa. Cha đã chia sẻ những cảm nhận của mình qua âm nhạc. Âm nhạc đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của cha, giúp cha sống đạo hạnh hơn ngay khi còn là một học sinh bậc trung học. Và sau này, trong cuộc đời truyền giáo của mình, âm nhạc đã giúp cha đến được với những đứa trẻ quen sống trong cảnh bạo lực tại Nam Sudan và từ đó, âm nhạc đã giúp cha chuyển hướng tâm hồn chúng thành những đứa trẻ đầy năng khiếu sáng tạo trong âm nhạc. 
                                                                  
Là một trong những đứa trẻ rất nghèo, nhưng cha Gioan Lee Tae Suk đã cố gắng học và thi đậu vào trường y khoa – một nơi mà ngay cả những đứa trẻ nhà giàu được cho ăn học tử tế - cũng rất khó được chọn vào. Và cha đã trở thành một bác sĩ y khoa với con đường giàu sang và danh vọng mở rộng trước mặt; được trở thành một người giàu sang, quyền quí và được xếp vào bậc thượng lưu trong xã hội. Viễn ảnh tương lai thật huy hoàng ngay trước mặt….Nhưng sau những năm tháng phục vụ như một bác sĩ y khoa trong quân đội, cha đã cảm nhận được tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa. Và cha đã quyết định từ bỏ tất cả con đường sự nghiệp đang mở rộng thênh thang trước mắt để bước vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco và trở thành linh mục - người của Chúa. Đứng trước sự chọn lựa của cha, người mẹ đã đau đớn vì phải hy sinh trong suốt bao năm tháng nuôi con trưởng thành; nay lại nhìn thấy viễn cảnh của cuộc sống khó nghèo do bởi sự chọn lựa  đó của con mình. Người mẹ đã không đành lòng mất đi người con yêu dấu sau những tháng ngày vất vả nuôi nấng con nên người. Nhưng rồi bà cũng phải nhận ra Ơn gọi mãnh liệt mà Thiên Chúa đã gieo vào tâm hồn cậu bé Gioan Lee Tae Suk ngay những ngày còn nhỏ. Cha đã biết ơn người mẹ đã hy sinh trọn vẹn cuộc sống để lo cho đàn con. Và giờ đây, lại một lần nữa, người mẹ đó đã hy sinh những danh vọng lẽ ra sẽ nhận được nếu người con tiếp tục con đường phục vụ như một người bác sĩ tại nơi chính quê nhà của ông – Hàn quốc. Người mẹ cuối cùng đã nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa đối với con mình còn cao cả hơn tất cả những gì mà thế gian mang lại. Thế là Gioan Lee Tae Suk bước vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco.
            
Vào những năm tháng còn ở chủng viện, thầy Gioan Lee Tae Suk đã có lần được đến thăm miền Nam Sudan- Phi Châu. Ở nơi đó đã xảy ra cuộc chiến tranh Nam- Bắc vào năm 1983, và cuộc chiến đó đã tàn phá khủng khiếp đất nước này. Cuộc chiến đã làm hơn hai triệu người bị chết và đã để lại bao nhiêu tang tóc cho những người dân quê nghèo khổ. Những người còn sống sót sau chiến tranh thì lại bị chết vì bệnh tật và nghèo đói. Họ phải sống nơi một vùng đất mà nguồn nước uống bị ô nhiễm trầm trọng.
            Do đó, ngay sau buổi lễ truyền chức linh mục tại Vatican- Rome, cha Gioan Lee Tae Suk đã xin tình nguyện đến phục vụ tại miền Nam nước Sudan ở Phi Châu. Tại nơi đây, vào năm 2001, cha đã mở phòng khám bệnh đầu tiên tại Nam Sudan, và là người bác sĩ duy nhất tại đó. Mỗi ngày, cha khám và chữa trên 300 bệnh nhân. Có những bệnh nhân đã đi bộ hàng trăm Kilômét để đến với cha. Có cả những người phải đi bộ 2-3 ngày đường để đến được nơi phòng khám. Mỗi ngày đều có 30-40 người chờ đợi để được khám bệnh. Nhận thấy nhu cầu quá lớn của những người dân tại Nam Sudan, cha đã quyết định xây một bệnh viện bằng những viên gạch do chính tay cha và dân làng tự làm nên. Cha đã đặt mua xi măng từ Kenya và lấy cát từ dòng sông Tonj thuộc Nam Sudan. Dưới cái nóng trên 50 độ C, cha đã cùng làm việc với những người dân làng để đúc những viên gạch và dung chính những viên gạch đó để xây dựng thành một bệnh viện. Năm 2007, bệnh viện do cha Gioan Lee Tae Suk và dân làng xây được hình thành gồm 12 phòng. Nơi đây, cha đã chữa trị cho các bệnh nhân bị bệnh phổi, tiêu chảy, sốt rét, các phụ nữ mang thai, các trẻ em cần chủng ngừa dịch tả v.v…
            Cha không bao giờ từ chối bất kỳ một bệnh nhân nào đến với cha, ngay cả vào ban đêm khi cha đang yên ngủ sau một ngày làm việc mệt nhọc. Khi có những bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch đến cầu cứu cha vào ban đêm, cha vẫn sẵn lòng giúp họ mà không một lời phàn nàn than trách. Các bệnh nhân vẫn liên tục kéo đến với hy vọng được cha chữa lành các vết thương cả thể xác lẫn tâm hồn. Với họ, cha là một người cha và là một thầy thuốc. Cha đã đến với họ bằng tất cả tình yêu thương mà họ chưa bao giờ được ban phát. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong trái tim và tấm lòng của họ. Tại nơi này không có nguồn điện. Do đó, cha đã tự làm những tấm năng lượng mặt trời để tạo ra nguồn điện dùng để cung cấp điện năng cho các tủ lạnh để bảo quản các loại thuốc chủng ngừa cho trẻ em. Mỗi ngày thứ Tư trong tuần, cha lái xe đến 8 ngôi làng khác nhau để chữa bệnh cho những người phong cùi, mù lòa ... khi họ không thể đi xa được, mà chỉ có thể ngồi tại nhà của họ. Thậm chí, có những người không có ai chăm sóc thì bị chết trong nhà mà không ai hay biết. Cha luôn sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ ai cần đến Ngài.
 Năm 2005, khi hòa bình được tái lập giữa miền Nam và Bắc Sudan, bảo đảm sự an ninh khi di chuyển; thì đến năm 2006, cha bắt đầu chương trình thăm viếng các bệnh nhân bị phong cùi khi họ không thể bước chân ra khỏi nhà. Trước khi cha đến, họ đã chết mà cũng không biết chết vì bệnh gì?
             Cha đã thành lập một ngôi làng cho những người mắc bệnh phong ở và cấp thuốc để chữa trị và ngăn ngừa chứng bệnh lây lan. Cha là người duy nhất yêu thương họ, đến với họ và lắng nghe họ. Mỗi lần cha đến thăm họ, cha không bao giờ đi với hai bàn tay không. Cha luôn có quà cho tất cả mọi người, khi thì là những cái áo, khi thì là những đôi vớ, lúc thì là những cái quần, những đôi giày, những cái áo ấm v.v... Cha là người đã khâu những vết thương đầy máu mủ nơi chân tay những người bệnh phong và băng bó vết thương cho họ. Cha đã đo chân từng người và đặt làm những đôi giày cho họ mang để họ bớt đau đớn mỗi khi di chuyển. Không hề có một rào cản nào ngăn cách giữa cha và những người  mắc bệnh phong cùi này. Họ đã sống trong hạnh phúc vì đã được yêu thương mặc dù họ rất nghèo và bị xã hội bỏ rơi. Cha là một linh mục đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc đã từ bỏ đất nước của mình và sang phục vụ bên Phi Châu. Cha đã sống và đã hội nhập để trở thành một người dân làng Tonj.
            Trong cuốn tự truyện: “Các con là những người bạn của cha”, cha đã chia sẻ động lực thúc đẩy cha đến miền Nam Sudan là: Ngay khi còn nhỏ, cha đã cảm nhận được sự hy sinh của người mẹ nuôi nấng và lo lắng, chăm sóc cho đàn con 10 người. Lớn lên, cha nhìn thấy gương hy sinh phục vụ của các cha, các soeur nơi cha sinh trưởng; và nhất là của chính một người anh làm linh mục, và một người chị làm nữ tu. Đặc biệt hơn cả là sự hy sinh tận cùng của người mẹ khi chấp nhận cho cha từ bỏ con đường sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Bà mẹ đã từ bỏ sự hưởng thụ giàu sang khi có con làm bác sĩ để sẵn sàng nâng đỡ cha khi Ngài quyết tâm đi theo lời mời gọi của Chúa. Chính những tấm gương sáng đó đã là những động cơ thúc đẩy cha lên đường đi đến Sudan- một nơi nghèo khổ nhất trên thế giới để phục vụ cho những người nghèo, bệnh tật và bất hạnh. Ở nơi đó, cha là người đã xây dựng một ngôi trường học đầu tiên từ cấp mẫu giáo đến cấp trung học. Các giáo sư được cha mời đến từ Keyna để dạy cho các em. Và chính cha cũng đã dùng thời gian eo hẹp của mình để dạy môn toán cho các em.
            Nhìn cảnh các trẻ em ngay từ nhỏ đã làm quen với súng đạn, cha quyết tâm phát triển năng khiếu âm nhạc nơi tâm hồn các em để thay những khẩu súng trong tay các em thành những chiếc kèn đồng. Cha đã dùng âm nhạc để xoa dịu những vết thương chiến tranh trong lòng các em. Thế là cha đã hy sinh những giờ ngủ để tập những nhạc cụ, tập thổi kèn trước rồi sau đó dạy cho các em học. Và cuối cùng, giấc mơ của cha đã thành hiện thực. Một đội kèn đầu tiên ở Nam Sudan đã được thành lập. Cha đã xin các ân nhân để gửi tặng những bộ đồng phục của ban kèn cho các em mặc. Cha nâng đỡ những đứa trẻ và phát triển tài năng về âm nhạc của chúng để chống lại bạo lực tại nơi đây. Khi tâm hồn những đứa trẻ bị tan vỡ do những vết thương chiến tranh tạo ra, qua âm nhạc, chúng sẽ tìm được niềm vui và hy vọng. Đây là một biến cố vô cùng trọng đại trong một đất nước bị tàn phá quá nhiều do bởi chiến tranh. Đối với những người dân tại Sudan thì có được một ban kèn là một sự việc ngoài trí tưởng tượng của họ, và là một biến cố gây kinh ngạc mãnh liệt cho họ. Vì từ đây, những đứa trẻ không còn cầm súng trên tay mà thay vào đó là những chiếc kèn mang lại những âm thanh của hòa bình, tình yêu và hy vọng….
 
Nhưng thật đau buồn thay, trong một chuyến nghỉ hè vào tháng 10/2008: Khi trở về Hàn Quốc, cha đã làm một cuộc xét nghiệm sức khỏe tổng quát theo lời khuyên của một bác sĩ, và cha đã phát hiện ra mình đang mang chứng bệnh ung thư ruột già ở giai đoạn cuối. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cha vẫn chiến đấu dũng cảm với cơn bệnh qua 14 lần chạy hóa trị (chemotherapy) để mong được trở về lại Sudan thăm các em. Cũng trong những ngày tháng chữa bệnh này, cha đã viết cuốn sách: “Các con là những người bạn của cha”. Và cuốn sách đã được phát hành vào tháng 05/2009. Một tháng trước khi về với Chúa, biết mình không thể trở lại Sudan được, cha đã mời hai em trong đội kèn đến thăm cha tại Hàn Quốc. Và tại đây, cha đã bảo trợ cho hai em đó được vào học đại học.
 Cuối cùng, vào ngày 14/01/2010, cha đã ra đi về với Chúa khi đã sống trọn vẹn 48 năm cuộc đời tại dương thế với những ngày tháng phục vụ trọn vẹn cho những người đau khổ, bệnh tật, phong cùi, nghèo đói ... tại Sudan. Ngày 16/01/2010 là thánh lễ an táng cha tại nhà dòng Saleriêng – Don Bosco. Cha đã ra đi trong nụ cười, còn những người ở lại đã đưa tiễn cha trong những giọt nước mắt của đau đớn và tiếc thương. Mặc dù cha đã ra đi về với Chúa, nhưng Niềm Tin của cha đã biến thành hiện thực. Cha đã sống và đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của cha cho những người đau khổ và bất hạnh.
             Tin cha qua đời bay đến Sudan và những người dân ở đây đã đau đớn và không thể chấp nhận một thực tại phũ phàng, quá nhiều mất mát cho họ. Họ khóc thương cha như khóc thương một người thân yêu duy nhất đã yêu thương họ, đã chăm sóc tận tình cho họ, đã chia sẻ và ủi an họ với một tình yêu đồng lọai mà họ chưa từng được biết đến. Có những người dân làng xa xôi đã đi bộ hơn 4 ngày trời để được đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối tại ngôi Thánh đường mà chính cha đã cùng với họ xây cất nên. Họ mang trên tay những tấm ảnh của cha như muốn níu kéo cha ở lại mãi với họ. Các em trong ban kèn đã diễn hành từ căn nhà thương- nơi cha xây dựng và chữa bệnh đến ngôi thánh đường- nơi cử hành nghi thức tiễn biệt người cha thân yêu của họ. Tất cả những người dân làng từ khắp nơi kéo về, có những người đã đi bộ hơn 400Km để đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối. Những dòng nước mắt khóc thương cho một người cha hiện thân của Tình Yêu và Hy Vọng; hiện thân của Chúa Giêsu trong tâm hồn họ. Chính cha là người đã xoa dịu và chữa lành bao vết thương nơi thể xác lẫn tâm hồn của những người dân đau khổ đang sống tại một nơi nghèo nhất thế giới văn minh này.
             Tại nơi đây, những người dân làng đơn sơ, chất phát đã khóc thương cha như khóc thương người cha tinh thần của họ. Trong tâm hồn và trong trái tim của họ đã không còn ranh giới giữa giàu sang và đói khổ, mà chỉ còn lại tình yêu và sự đau xót nhớ thương. Họ đau đớn vì đã mất đi một con người đã đến sống và ở giữa họ; đã yêu thương và trao tặng họ món quà vô giá của tình người. Họ đau đớn vì đã không còn một niềm an ủi và hy vọng giữa cảnh sống nơi một xã hội mà họ đang bị bỏ rơi một cách nghiệt ngã.
 Cha Gioan Lee Tae Suk không chỉ là một người cha, một linh mục mà cha đã là TẤT CẢ của họ. Cha đã sống và đã rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu bằng chính cuộc đời của cha. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong lòng những người dân làng Tonj tại Nam Sudan, nơi mà bản thân họ đang phải chịu đựng những tổn thương do bởi một xã hội đầy rẫy những bất công và một thế giới tràn ngập những đau khổ tạo ra… Cha đã gieo những hạt giống của Đức Tin và Tình Yêu trong tâm hồn những người dân đau khổ và bất hạnh này. Sự ra đi của cha ở độ tuổi 48 khi Ngài còn đang tha thiết muốn phục vụ và được phục vụ những người dân nghèo là một nỗi đau và là sự mất mát không thể bù đắp nơi tâm hồn của những người dân làng Tonj đầy bất hạnh này. Nhưng Niềm Tin mà cha đã gieo rắc và vun đắp trong trái tim và tâm hồn của các trẻ em, nơi các người già yếu, bệnh tật, phong cùi, mù lòa v.v… ; Niềm Tin đó vẫn sống mãi trong lòng họ… Vì trong một thế giới đầy đầy bất hạnh và bạo lực này, vẫn đang có những bàn tay và những tâm hồn của những người môn đệ theo chân Chúa, những ngừời đang hy sinh cả cuộc đời để sống cho Tình Yêu của Chúa, và mang Tình Yêu đó xoa dịu những vết đau và lau rửa những vết thương trong tâm hồn và nơi thể xác của bao người bất hạnh.
             Trong năm Đức Tin này, hy vọng mỗi người chúng ta cũng sẽ là những bàn tay nối dài của Thiên Chúa. Những bàn tay của những tâm hồn được lớn mạnh trong Đức Tin và được nuôi dưỡng trong Ân sủng để có thể sẵn sàng chia sẻ và làm chứng về Tình Yêu Thiên Chúa cho mọi người. Ước chi cuộc sống chứng nhân của cha Gioan Lee Tae Suk trong thời đại hôm nay luôn sống động trong lòng của tất cả mọi người chúng ta. Qua đó, mỗi người chúng ta cũng sẽ trở nên những người truyền giáo, rao giảng Tin Mừng của Chúa qua chính những việc làm bác ái và yêu thương, cùng với những đóng góp xây dựng một thế giới trong hòa bình qua việc chia sẻ, nâng đỡ, ủi an và yêu thương những người kém may mắn, bất hạnh hơn chúng ta.
             Xin thân ái kính chúc Cộng đòan dân Chúa sống năm Đức Tin tràn đầy Ân sủng và Tình Yêu của Thiên Chúa và qua Ơn lành từ mẫu của Mẹ Maria.
Orange, Ngày 16 Tháng 10 Năm 2012
Maria Trần Thị Lệ Xuân
Cộng Đòan Chúa Kitô Vua- Giáo xứ St. Columban
Bấm vào Xem phim trên Youtube /a>