Những tác phẩm nghệ thuật khổng lồ
Dưới bàn tay tài hoa của người nông dân Nhật Bản, các ruộng lúa đã biến thành những tác phẩm nghệ thuật khổng lồ.Nghệ thuật Tanbo – trồng lúa để tạo nên tranh vẽ trên đồng của Nhật Bản ra đời từ năm 1993, khi ngôi làng Inakadateở tỉnh Aomori tìm cách vực dậy nền kinh tế địa phương. Họ muốn tạo ra một điều gì đó độc đáo để hấp dẫn khách du lịch.Các nghiên cứu cho thấy lúa gạo đã được trồng ở địa phương từ hơn 2.000 năm. Để tôn vinh truyền thống lịch sửnày, dân làng quyết định tạo ra một bức tranh trên cánh đồng lúa phía sau tòa thịchính. Từ đó, những ruộng lúa Tanbo đã ra đời.Theo thông lệ, vào tháng 4 hàng năm, dân làng sẽ họp để lên kế hoạch trồng lúa. Đến tháng 5 việc gieo hạt bắt đầu được tiến hành.Những hình vẽ sẽ được thiết kế trên máy vi tính tương ứng với diện tích các thửa ruộng. Những chiếc khuôn sẽ được tạo và đem ra đồng ướm vào những vịtrí cần gieo hạt.Có bốn màu sắc chính là xanh, vàng, trắng, tím than, được tạo nên từ 4 giống lúa khác nhau. Ngoài ra còn có cả màu nâu, màu đỏ...Thời điểm tốt nhất để thưởng thức những tác phẩm Tanbo là tháng 9, mùa lúa chín ở Nhật Bản. Nhiều tháp cao đã được dựng lên để phục vụ nhu cầu của du khách.Chủ đề của các bức tranh lúa thường là các tranh vẽ, họa tiết truyền thống Nhật Bản, nhưng cũng có khi là các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, văn hóa thế giới, như Hoàng đế Napoleon ở tác phẩm này.Không chỉ giới hạn trong những thửa ruộng riêng biệt, các chủ ruộng còn liên kết với nhau để tạo ra những hình vẽlớn bao trùm lên nhiều thửa ruộng khác nhau.Qua từng năm, các mẫu thiết kế trở nên phức tạp và tinh tế hơn. Trong ảnh là những bức bích họa trên ruộng lúa gần đây nhất, mùa hè năm 2013.Những bức tranh Tanbo đã thu hút hàng vạn khách du lịch mỗi năm, đem lại nguồn thu đáng kể cho địa phương.Theo gương làng Inakadate, nhiều ngôi làng khác cũng bắt đầu áp dụng nghệthuật Tanbo như làng Yonezama, Yamagata…
Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013
NGHỆ THUẬT TANBO CỦA NHẬT
Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
TIN SỰ SỐNG ĐỜI SAU
ĐGH Phanxicô ôm hôn và cầu nguyện cho người dị tật 6/11/2013
(vietcatholic.net)
CN 32 TN C -
Muốn cho cuộc sống của mình được hạnh phúc trường sinh với Chúa thì: hãy sống như những người tỉnh thức để đợi chủ về.
Jos. Vinc. Ngọc Biển
Có ngày sinh ắt có ngày chết. Đó là chân lý. Nếu ngày sinh, chúng ta cất tiếng khóc trong niềm vui mừng của mọi người, thì ngày chết, mọi người sẽ khóc cho kiếp người của ta đến đây kết thúc. Vậy, chết là lẽ thường tình của một kiếp nhân sinh. Tuy nhiên, điều mà chúng ta cần đặt ra, đó là: chết rồi sẽ đi về đâu? Bên kia cái chết là gì?
Những câu hỏi như thế, nhóm Sa đốc trong bài Tin Mừng hôm nay cũng đã đặt ra cho Đức Giêsu. Nhân cơ hội, Đức Giêsu đã mạc khải cho họ biết về cuộc sống mai hậu. Và đây cũng chính là câu trả lời cho mỗi chúng ta về thắc mắc trên.
1.Tại sao nhóm Sa đốc không tin sự sống lại
Bài Tin Mừng hôm nay được đặt vào trong bối cảnh sau khi Đức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn lần thứ ba, và cũng là một trong những bài giáo huấn quan trọng của Ngài tại Giêrusalem. Đức Giêsu lên Giêrusalem lần này là để chuẩn bị cho cuộc thương khó mà Ngài sẽ chịu: "Này chúng ta lên Giêrusalem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất” (Lc18,31). Vì thế, khi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài ở đây, nhóm Pharisêu và Biệt Phái luôn tìm cách gài bẫy để bắt Đức Giêsu nhằm loại trừ Ngài và xóa bỏ giáo lý mà Ngài đang loan báo. Hôm nay, thêm một nhóm nữa cũng với ý đồ như hai nhóm trên, họ chính là nhóm Sa đốc.
Nhóm này là một trong ba nhóm quyền lực nhất trong dân thời bấy giờ, đó là: Pharisêu, Biệt Phái và Sa đốc. Hai nhóm đầu họ chỉ chú trọng đến việc đạo đức và giữ luật cách tỉ mỉ, hình thức bên ngoài. Còn nhóm Sa đốc thì lại chú tâm đến vấn đề chính trị và tiền bạc. Thái độ và cách thức khác nhau, nhưng họ đều là những người chống đối Đức Giêsu. Chủ trương của nhóm Sa đốc này là không tin có sự sống lại. Họ hoàn toàn phủ nhận tất cả những gì không nằm trong bộ Ngũ Thư, bởi vì họ chỉ tin năm cuốn sách đầu của Cựu Ước, và họ bác bỏ hết tất cả các sách còn lại. Trong bộ Ngũ Thư của Mô sê không có nói trực tiếp đến vấn đề sống lại. Có chăng chỉ là những hình ảnh. Vì thế, họ không tin. Mặt khác, giả thiết của nhóm này là: nếu có tin thì sự sống đời sau chẳng khác gì cuộc sống hiện tại trên trần gian và, quyền năng của Thiên Chúa không xa hơn khả năng của con người là bao.
Khởi đi từ quan điểm, lựa chọn trên của nhóm này, nên họ đã đặt ra cho Đức Giêsu một tình huống hết sức ly kỳ. Họ trưng ra một câu chuyện theo kiểu trào phúng: khi có hai người lấy nhau, người chồng chết mà không con, theo luật, người vợ đó sẽ được lấy tiếp người anh em còn sống để có con nối dõi, và lần lượt như thế tới 7 đời chồng mà vẫn không có con, vấn nạn đặt ra là sau khi sống lại, người đàn bà này sẽ là vợ của ai? (x. Lc 20, 27-38)
Khi đặt ra cho Đức Giêsu câu hỏi như vậy, họ đã dùng biện pháp “nhất tiễn diệt song điêu”một mũi tên bắn hai đích. Một phần họ muốn gài bẫy Đức Giêsu để kiếm cớ tố cáo Ngài; mặt khác, họ muốn so tài với nhóm Biệt Phái và Pharisêu, vì hai nhóm này đã bị thất bại nhiều lần và chịu sự khiển trách nặng nề của Đức Giêsu công khai trước mặt toàn dân.
Khi nhóm Sa đốc đặt ra cho Đức Giêsu câu hỏi về sự sống lại như thế, nhân cơ hội này, Ngài đã mạc khải cho họ về sự sống lại và cuộc sống của con người sau cái chết.
2.Mạc khải của Đức Giêsu về sự sống lại
Ngay sau khi nghe họ đặt câu hỏi, Đức Giêsu đã đi thẳng vào vấn đề: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần”(Lc 20, 35).
Thật vậy, ở đời này có lấy vợ gả chồng chỉ là chuyện sinh, lão, bệnh, tử, nên cần phải có người giúp đỡ, phục vụ và nối dõi. Khi con người đã trở thành bất tử, họ không còn sống phụ thuộc vào không gian và thời gian nữa, vì thế, họ cũng không cần phải lấy vợ gả chồng. Họ sẽ bước vào cuộc sống thần thiêng như các thiên thần, cuộc sống của họ lúc này là trường sinh bất tử, sung mãn, trọn vẹn và tồn tại muôn đời với Đấng Hằng Hữu. Công việc của họ chính là ca ngợi Chúa trong vinh quang Nước Trời như các thiên thần, bởi vì: Thiên Chúa vẫn là Đấng Hằng Hữu, là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải là một vị Thiên Chúa của kẻ chết.
Tuy nhiên, không phải ai cũng được vào dự phần vinh phúc đó, chỉ những người được chọn và gọi mà thôi: “những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết” (Lc 20, 35) thì sẽ được dự phần phúc ấy. Họ là những con chiên được tuyển chọn và được tách ra khỏi dê, là lúa tốt được phân rẽ ra khỏi cỏ lồng vực, là cá tốt được lọc ra khỏi cá xấu... Họ là con cái Thiên Chúa, khi chết, họ trở về ngôi nhà vĩnh cửu của Cha mình để hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối: “Điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người là điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ được”(1Cr 2,9).
Nhưng được hạnh phúc, được dự phần hay không, còn do thái độ của chính đương sự, chứ Chúa không ép buộc: "Đây Ta đưa ra cho các ngươi chọn: hoặc con đường đưa tới sự sống, hoặc con đường đưa tới sự chết” (Gr 21,8) hay: “Ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29). Quả thật, ân sủng của Chúa vẫn có đó, con người được ơn cứu độ hay không là tùy vào thái độ đón nhận hay không đón nhận.
3.Niềm tin vào sự sống lại của chúng ta
Như vậy, qua mạc khải của Đức Giêsu về sự sống lại, nên chúng ta tin: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26); “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51); "Ai ăn thịt và uống máu Ta sẽ được sống đời đời" (Ga 6,59). Niềm tin ấy đạt đến đỉnh cao khi chính Đức Giêsu, Đấng đã chết, được mai táng trong mồ ba ngày, và ngày thứ ba đã trỗi dậy từ cõi chết. Niềm tin này đã được các tông đồ loan báo và làm chứng: “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3, 15; x. Cv 2,32; 10,41). Thật vậy: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1 Cr 6,14). Niềm tin này đã được Giáo Hội tuyên tín trong kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”.
Khi tin như thế, cái chết chỉ là một sự chuyển hóa, là cánh cửa ta cần bước qua để tiến vào sự sống viên mãn, vĩnh cửu hơn mà thôi. Quả thật, nếu không có sự sống lại sau cõi chết, thì niềm tin của chúng ta trở nên mù quáng, điều này cũng đã được chính thánh Phaolô diễn tả khi nói: “Nếu chết là hết, thì quả thực chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong cả thiên hạ” (x. Cr 15,19).
Tuy nhiên, sống hay chết là một sự chọn lựa. Cuộc sống đời sau là có thật, nhưng để đạt được hạnh phúc hay không lại tùy vào thái độ và sự lựa chọn của mỗi chúng ta. Chọn lựa tốt thì sẽ được hạnh phúc, chọn lựa sai thì sẽ bị đau khổ.
Như vậy, muốn cho cuộc sống của mình được hạnh phúc trường sinh với Chúa thì: hãy sống như những người tỉnh thức để đợi chủ về. Hãy sống như các cô trinh nữ khôn ngoan. Và, hãy sống như đây là giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu, chính mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa là bảo chứng tuyệt đối của chúng con vào cuộc sống mai hậu. Xin cho chúng con ý thức rằng một ngày nào đó chúng con sẽ phải từ giã cuộc sống tạm bợ này để về với Chúa là nguồn bình an, hạnh phúc thực sự. Vì thế, xin cho chúng con ngay từ giây phút này, biết chuẩn bị cho xứng đáng ngày trở về với Chúa. Amen.
Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013
LỊCH SỬ & CÁC BÍ ẨN CỦA TƯỢNG NỮ THẦN TỰ DO
Mặt trời lặn phía sau tượng Nữ thần Tự do ở New York , 26/05/2013
Sau khi trận siêu bão Sandy tràn qua New York hồi năm ngoái, nó đã gây thiệt hại cho rất nhiều công trình lớn của thành phố, trong đó có tượng Nữ thần Tự do, khiến tượng phải đóng cửa trong 8 tháng liền để sửa chữa. Và đến ngày 04/07/2013 vừa qua, tượng Nữ thần Tự do đã mở cửa trở lại để đón khách tham quan.
Tượng Nữ thần Tự do không chỉ là một biểu tượng riêng của thành phố New York, mà nó còn là biểu tượng của nước Mỹ. Bức tượng cao 46m này là một quà tặng của người Pháp dành cho nước Mỹ vào năm 1886. Trước đây, tượng cũng đã nhiều lần bị đóng cửa vì lý do sửa chữa và an ninh. Nhân dịp này cũng xin giới thiệu đến các bạn một số hình ảnh bên ngoài và trong của tượng Nữ thần Tự do trong suốt hơn 130 lịch sử, từ khi tượng được khởi tạo cho đến ngày nay.
Một góc chụp cận cảnh tượng Nữ thần Tự do, khi đảo Tự do mở cửa trở lại lần đầu tiên cho khách tham quan vào ngày 04/07/2013 kể từ sau khi trận siêu bão Sandy tàn phá New York. Tượng Nữ thần Tự do là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Mỹ.
Năm 1875, một bức ảnh chụp quá trình làm cánh tay của tượng Nữ thần Tự do trong một xưởng điêu khắc ở Paris . Được thiết kế bởi Frederic Auguste Bartholdi, bức tượng này là quà tặng nước Mỹ của nhân dân Pháp.
Ảnh trái: Phần bàn tay và ngọn đuốc đang được thực hiện tại một xưởng điêu khắc ở Paris vào khoảng năm 1875. Bên phải: Phần đầu của tượng Nữ thần Tự do đang được hoàn thiện vào khoảng năm 1880.
Các công nhân đang làm tượng Nữ thần Tự do bên trong xưởng điêu khắc của Bartholdi, mùa Đông năm 1882
Tượng Nữ thần Tự do vươn cao trên bầu trời Paris vào năm 1884, bên ngoài xưởng của Bartholdi
Lễ khánh thành tượng Nữ thần Tự do, "Tự do chiếu sáng thế giới", tại cảng New York , 28/10/1886. Buổi lễ này do tổng thống Grover Cleveland chủ trì, với sự góp mặt của quân đội và hải quân.
Tượng Nữ thần Tự do, nhìn từ đảo Ellis, từ góc nhìn của một cậu bé và cha mẹ của em, khoảng năm 1930
Con tàu Queen Mary đi ngang qua tượng Nữ thần Tự do khi nó đang tiến vào New York sau khi hoàn thành chuyến hành trình đầu tiên đến nước Mỹ, 01/06/1936
Khách du lịch xem những dòng chữ viết bên trong vương miện trên đỉnh đầu của Nữ thần Tự do, 04/08/1946. Rất nhiều du khách đã lưu lại những thông điệp để đánh dấu rằng họ đã đến New York
Khách du lịch ngó đầu ra ở bên dưới chiếc vương miện của tượng Nữ thần Tự do tại cảng New York , 26/10/1946
Những chiếc tàu chiến đi trên sông Hudson ngang qua toà tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới, 03/07/1976
Khách du lịch nhìn ra bên ngoài qua các cửa sổ nhỏ trên vương miện của tượng Nữ thần Tự do, tại New York , 07/09/1976
Những con thuyền nhỏ đậu quanh tượng Nữ thần Tự do trong lúc tượng đang được sửa chữa với nhiều giàn giáo xung quanh, 04/07/1984
Ảnh chụp cận cảnh bàn chân phải của tượng Nữ thần Tự do, cho thấy những lỗ đinh, 1984
Bên trong bàn chân phải cho thấy những thanh thép giằng những ngón chân, tháng 02/1984
Hệ thống thanh thép giằng phần áo của bức tượng, tháng 02/1984
Một người thợ ló đầu ra các cửa sổ trên vương miện của tượng Nữ thần Tự do trong lúc trùng tu, 04/04/1985
Hệ thống thang xoắn bên trong khung thép chính của bức tượng, 1988
Ngọn lửa cũ kỹ và phần ngọn đuốc nhìn từ phía Đông, cùng với cảng New York , đảo Ellis và vùng hạ Manhattan
Một người thợ đang chỉnh sửa phần ngọn lửa của tượng Nữ thần Tự do tại xưởng trên đảo Liberty , New York , 16/12/1984. Ngọn lửa được hạ xuống và để trên một bệ đỡ để chỉnh sửa trước khi chuyển đến California .
Ngọn lửa mới được mạ vàng, 31/10/1985
Ngọn lửa mới đang được lắp đặt lên đúng vị trí của nó, 1985
Tượng Nữ thần Tự do sau khi mới được làm mới, với toà tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới ở phía sau, 20/05/1986
Bà Nancy Reagan cùng với Kristeen Reft, 9 tuổi, trái và Laurence Honore đến từ Pháp, vẫy tay chào từ vương miện của tượng Nữ thần Tự do trong buổi lễ nhân dịp tượng được mở cửa trở lại, 05/07/1986.
Pháo hoa nổ tung trên các toà nhà cao tầng ở hạ Manhattan trong ngày quốc khánh Mỹ, 04/07/2000
Ngày 11/09/2001, những đám khói đen nghịt bốc lên trời từ khu vực phía sau tượng Nữ thần Tự do, nơi toà tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới bị tấn công.
Hai luồng sáng tưởng niệm vụ tấn công khủng bố 11/09/2001 - "Tribute in Light" phía sau tượng Nữ thần Tự do, 11/03/2002
Bên trong khu vực vương miện của tượng Nữ thần Tự do, 02/06/2009 ở cảng New York
Một phần cánh tay phải của tượng Nữ thần Tự do nhìn từ vương miện của bức tượng, 20/05/2009
Tàu con thoi Enterprise nằm bên trên chiếc máy bay chuyên dụng Boeing 747 bay ở gần tượng Nữ thần Tự do và các toà nhà cao tầng ở Manhattan , 27/04/2012
Ảnh chụp Nữ thần Tự do từ ngọn lửa trên tay của tượng, trong một bão lớn, 29/10/2011
Một cầu tàu bị hư hỏng nặng, gần tượng Nữ thần Tự do, vẫn đóng cửa sau sáu tuần khi cơn bão Sandy tràn qua New York , 13/12/2012.
Tượng Nữ thần Tự do và các toà nhà cao tầng ở hạ Manhattan , 26/10/2006
http://baomai.blogspot.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)