Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

BỨC TRANH "ĐÔI BÀN TAY NGUYỆN CẦU "

 Albrecht Dürer và tác phẩm “Đôi bàn tay nguyện cầu”  “The praying hands”

albrecht-durer

Vào thế kỷ 15, tại một làng nhỏ nọ, có một gia đình có tới 18 người con. Cha của họ phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà cả gia đình chỉ đủ để đắp đổi qua ngày. Thế nhưng, hai người con lớn trong nhà vẫn có nhiều mơ ước. Cả hai đều muốn học vẽ vì họ có năng khiếu từ nhỏ.
Sau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau 4 năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏ.
Đồng xu được tung lên, Albrecht Durer thắng cuộc và được đi học. Albert thua, và đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, và trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học.
Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của Albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì Albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.

albrecht-tranh

Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và Albrecht nói:
- Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình. Albert mỉm cười, rồi bật khóc:
- Không, anh không thể tới Nuremberg được. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…


Hơn 450 năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng… của Albrecht Durer đã được treo ở những Viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ: có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của Albrecht Durer. Đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai Albert, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là “Đôi tay”, nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là “Đôi tay cầu nguyện”.


the-praying-hands
“The praying hands”


Nếu có lúc nào bạn nhìn vào bức tranh cảm động đó, hãy nhìn lại lần thứ hai. Nó sẽ nói với bạn rằng, không có ai, chắc chắn không có ai, có thể thành công một mình bao giờ!

                                               

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

NHÂN LỄ GIỖ ĐẦU ANH NGUYỄN CÔNG KHANH


MẤY LỜI GỬI ANH KHANH

 

Anh Khanh,


Ngày 20-5

Sổ lễ của tôi ghi : “Ngày 20-5 Anh Khanh qua đời”. Nhưng con cái và anh em của Anh làm giỗ đầu cho Anh ngày hôm qua 8-5. Có lẽ theo âm lịch ?
Ngày 4-5 ngày chịu chức linh mục của tôi. Được 40 năm. Ngày 4-5 là Chúa nhật. Cha Hiến không bỏ lễ Chúa nhật được. Hơn nữa ngày mừng vào ngày nào chẳng được. Nên ngày 5-5 cha Hiến vào tôi, không thể dự lễ giỗ của Anh và tôi cũng chẳng ra Đà Nẵng để dự lễ giỗ của Anh.
Ngày Anh qua đời cũng là ngày tôi dưỡng bệnh. Tôi bị tai biến, liệt nửa người ngày 13-7, trước ngày anh qua đời được hơn một năm, đi xa bằng honđa khó khăn. Nhờ chị Loan thuê xe taxi cho đi nhờ. Chị Lý, chị Loan và tôi đến nhà anh ở ngã ba vũng Tầu để nhìn mặt anh lần cuối.
Chúng tôi đứng bên giường Anh nằm, đọc kinh cầu nguyện cho Anh. Miệng đọc kinh, mắt thì không rời chiếc khăn quàng hữu trách để trên ngực Anh, chưa kịp quấn vào cổ Anh.

Tình Hùng Dũng réo gọi nhau về

Cha Khải hồi còn làm cha phó Hội An, nhưng ở họ Lê Lợi, tuyên úy đoàn Hùng Dũng. Hè 1973 ngài mở trại Hùng Dũng. Ngài bảo tôi làm một bài hát cho ngày trại đó. Cả mấy tháng trời nặn mãi không ra. Ngồi trên xe đò từ Đà Nẵng về Hội An, đầu óc cứ băn khoăn lo lắng, sợ cha Khải buồn. Thay vi bài hát cho trại, thì lại nghĩ ra bài hát giã từ trại. Cha Khải không vùa ý. Cha bảo chị Tuyết ra phố mua chè bắp. Biết đâu chè bắp sẽ gợi được hứng. Đúng vậy, chè bắp đã gơi hứng cho bài hát “Tình Hùng Dũng réo gọi nhau về. Về Đất thiêng Hội An máu hồng.”
Tình Hùng Dũng đã réo gọi anh em chúng ta đến với nhau. Những năm 1971-1973, hồi Anh làm liên đoàn trưởng Gia Phước, biết bao lần gặp nhau ở các trại, biết bao lần gặp nhau ở Gia Phước, tôi chẳng để ý đến Anh. Mãi đến ngày giỗ cha Ngạn, cũng là ngày mừng 25 linh mục của cha Hạnh, chị Loan tổ chức ở Nhà thờ Chí Hòa năm 1998, tôi mới chung vui sẻ buồn với Anh. Và từ ngày đó, đi đâu cũng có hai anh em mình.

Quả chuông Hà Lam và Trung Phước

Hai quả chuông đó ngày nay vẫn rung hằng ngày, để thay tiếng Chúa réo gọi con cái Chúa về Nhà Chúa.
Quả chuông Hà Lam vẫn còn và mãi mãi vẫn còn tên Anh trên đó. Khi được anh biếu tặng, tôi đã xây cái tháp rất đơn giản, rất nhanh, để tranh thủ hai ba ngày là xong, kẻo phải gặp khó khăn vì chuyện phép tắc. Quả chuông được rung những tiếng chuông đầu tiên mừng lễ Phục Sinh năm 2000, Năm Thánh. Ngày đó Đức cha Nguyễn Bình Tĩnh về dâng lễ. Anh Chị cũng về dự lễ.
Anh Chị rất khiêm nhường, không muốn tôi công bố với cộng đoàn : đây là quà tặng của Anh Chị. Xong lễ Anh Chị lên xe về Đà Nẵng, không ở lại dự tiệc với Đức cha, với giáo xứ.

Làm gương cho con cái
Thấy Anh làm giỗ cho Cha Nhẫn, Cha Thiều và làm các việc bác ái khác, có lần tôi hỏi Anh : Tại sao Anh không để dành tiền lo lắng cho bản thân anh và gia đình, mà Anh lại dùng những đồng tiền vất vả làm ra để làm những việc bác ái ? Anh trả lời : để con cái theo gương quảng đại với Chúa, với tha nhân.


Đoàn trưởng Hùng Dũng

Cha Hạnh mời Anh ra Đà Nẵng gánh vác trách vụ Đoàn trưởng. Anh hỏi ý tôi. Tôi can Anh đừng ra. Anh sống ở Sài Gòn, làm sao cáng đáng nổi việc Đà Nẵng. Anh không trả lời, và anh nhận lời cha Hạnh. Nhìn tấm lịch Hùng Dũng, thấy ảnh Anh cầm cờ đoàn trình diện Đức cha trong Nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng ngày ra mắt, mới hiểu được lòng nhiệt thành của Anh.

Ông Lò Vôi mặc áo đen

Ngày mồng 4 Tết 2012 mẹ tôi qua đời. Tôi không báo tin cho ai biết cả, ngay cả những người thân quen ở Đà Nẵng hay ở đâu, kể cả Anh. Tôi không muốn ai phải vất vả với tôi. Không biết sao Anh biết. Mồng 6 Tết, tôi chôn mẹ tôi. Trong những ngày đó, sáng sớm đã thấy Anh. Anh ngồi trên ghế ngoài hè. Đến giờ cơm trưa hay chiều thì không thấy Anh. Ông cậu tôi bảo tôi : “Ông Lò Vôi áo đen” đi đâu mà không thấy, để mời ông vào ăn cơm.”
Mấy năm trước gia đình Anh ở ngôi nhà đối diện với Đài Liệt Sĩ Gò Vấp, và anh làm việc ở Lò Vôi dưới cầu xa lộ Đại Hàn. Hồi ấy, Anh hay đến thăm má tôi và tôi cũng thường đến ăn “mì quảng” ở nhà Anh. Tôi còn gửi một chị Tu hội của cha cố Thuận đến nhà Anh học may với chị Liên. Sau đó Anh dọn về ngã ba Vũng Tầu.
Anh thường mặc áo trắng. Mẹ tôi chết Anh mặc áo đen. Cậu tôi đã gọi Anh là “Ông Lò Vôi mặc áo đen” là vì thế.

Mộng chưa thành
Mùa tĩnh tâm 2012, mùa Chay, tôi ra Đà Nẵng tĩnh tâm. Anh vì gia đình, không được ở trong nhà mình, phải ở nhờ một căn phòng của nhà xứ Gia Phước. Tôi đến ở chung với Anh. Hai anh em mình sống chung với nhau được vài ngày.
Cha Hạnh, chị Trâm … mua thức ăn đem sang đãi anh em mình. Từ những ngày đó, hai anh em mơ ước mua một căn nhà ở Đà Nẵng. Hai anh em mình sống chung với nhau. Anh cô đơn vì vợ đã chết; còn tôi thì mẹ cũng đã chết. Cô đơn thì dễ sống với nhau. Mộng chưa thành, ngày 13-7-2012 tôi bị bại liệt; tiếp đến anh bị ung thư.

Ung thư không giết được tình Hùng Dũng

Biết mình bị ung thư, Anh từ Đà Nẵng về Sài Gòn. Anh ở nhà chị Liên, con gái trưởng của Anh. Chúng tôi : chị Loan, chị Lý đến thăm Anh. Anh còn khỏe. Anh hy vọng sẽ vượt qua nhờ nấm cây xanh của Quảng Nam gửi vào.
Tôi bị bại liệt, nằm ở nhà đường Phan Văn Trị, Gò Vấp. Anh đến thăm tôi, đem theo  sừng tê giác, mài ra cho tôi uống. Tôi hy vọng sừng tê giác sẽ đẩy vi trùng ung thư ra khỏi người Anh.
Phái đoàn Hùng Dũng, dưới sự hướng dẫn của cha Hiến, du lịch miền Nam, đến thăm tôi. Cả đêm không ngủ, phái đoàn muốn trú lại, nhất là tài xế, để nhắm đôi mắt một chút. Nhà buôn bán, nghỉ ngơi bất tiện. Anh biết tin. Dù vi trùng ung thư làm thân xác anh mệt mỏi, Anh cũng đến và kiếm chỗ cho phái đoàn nghỉ ngơi. Thật là ung thư cũng không giết được tình Hùng Dũng trong tâm hồn Anh.

Hùng Dũng ở đâu cũng đón tiếp Anh

Anh nằm xuống. Anh muốn về Đà Nẵng nằm bên vợ Anh. Anh dừng chân ở giáo xứ Ngọc Lâm, Hùng Dũng đã đón Anh.
Anh đi tiếp ra Đà Nẵng, Hùng Dũng cũng đón Anh. Cha Ninh cho Anh nằm ở căn phòng mà hai anh em mình đã ngủ chung. Đức cha cho phép các cha đồng tế dâng lễ cho Anh.
Và hôm qua ngày 8-5, ngày giỗ đầu của Anh, Đức cha cũng cho phép các cha đồng tế dâng lễ cho Anh.
Con cái Hùng Dũng ở dưới đất nhớ ơn Anh, đón tiếp Anh. Phương chi Chúa Kitô, Vua của Hùng Dũng, chả nhẽ không đón Anh trên thiên đàng.
Trên thiên đàng, Anh nhớ chúng tôi, và xin Chúa thương đoàn Hùng Dũng của Anh nhé !

LM. NGUYỄN TRUNG THÀNH
CHỢ CẦU 9-5-2014

                                                                          (Nguồn hungtamdungchi.org)

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2014

NIỀM TIN VÀO ĐỜI SAU


SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH - NĂM A- 18/5

                                                                     Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

   Chúa Giêsu đã hứa rằng: "Thầy đi trước để dọn chỗ cho các con, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó với Thầy". Đây là một lời hứa thật đẹp. Đẹp vì nó mở ra cho chúng ta một khung trời hy vọng vì ngày mai tốt đẹp hơn. Đẹp vì cuộc sống của chúng ta không đi vào ngõ cụt. Cuộc sống của chúng ta từ nay đã có một lối đi về. Cuộc sống của chúng ta không dừng lại ở cái chết là hết một kiếp người. Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Cuộc sống được nối dài vĩnh viễn trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa là Cha, là cội nguồn sự sống.

   Người ta kể rằng: Có một gia đình kia. Chồng là người ngoại đạo. Ông không tin vào Chúa. Ông còn luôn miệng nhạo báng, khinh miệt những hành vi thờ phượng kính mến Chúa. Ngược lại, bà vợ thì rất sùng đạo, luôn dạy con giữ đạo sốt sắng. Ngày nào bà cũng dắt con đi lễ cầu nguyện. Dù sống giữa hai niềm tin trái ngược nhau, nhưng đứa con trai duy nhất của họ vẫn hiếu thảo với cha mẹ. Cho tới một hôm, em lâm bệnh hiểm nghèo. Em biết rằng mình chẳng còn sống được bao lâu ở dương gian. Em đã mạnh dạn hỏi bố rằng: "Bố ơi, trong ít ngày nữa con sẽ không còn sống ở dương gian nữa! Con xin bố hãy dạy cho con biết, con phải tin theo ai? Theo bố hay theo mẹ? Tin theo bố thì chẳng có thiên đàng để tiếp tục sự sống, chẳng có Chúa hay có Mẹ để yêu thương và bảo vệ cho con được hạnh phúc đời đời? Còn tin theo mẹ, thì có Thiên Chúa là cha nhân lành sẽ ban thưởng hạnh phúc thiên đàng vĩnh cửu và có Mẹ Maria luôn bầu cử chở che.
Ông bố nghe mà tái tê lòng. Ông ôm con vào lòng và nói: "Con hãy tin theo mẹ". Đứa bé lại nói tiếp: "Nhưng nếu bố không tin theo mẹ, thì làm sao con có thể chờ đợi bố ở trên thiên đàng được?" Trước lời nói đơn sơ và chân thành của em bé, ông bố đã không kiềm nổi những giọt nước mắt ứ tràn nơi khoé mắt, và để mặc cho nó tuôn tràn trên gò má già nua của ông. Kể từ ngày đó, ông đã đổi đời, ông chọn Chúa là lẽ sống và là cùng đích của đời mình.

     Vâng câu nói: "Con hãy tin theo Mẹ" của người cha là câu nói hay nhất trong cuộc đời của ông. Câu này đã giúp cho con ông cảm thấy thanh thản khi bước vào đời sau. Câu này cũng giúp ông thay đổi đời sống mà từ trước tới nay ông đã cố tình không sống theo. Ông biết rằng phải có đời sau. Ông biết rằng là người thì hơn muôn loài muôn vật, vì con người có sự sống thần linh, con người có hồn thiêng bất tử. Thế nhưng, vì lười biếng và cố chấp ông đã không dám nhìn nhận sự thật từ trong sâu thẳm lòng mình là tin có Trời, có thần thánh, có hồn thiêng và cả đời sau. Ông lừa đối chính mình và lừa dối tha nhân. Hôm nay, ông đã phải nuốt những giọt nước mắt mặn đắng để nói lên sự thật của lòng mình trước mặt đứa con yêu dấu, sắp sửa từ giã ông tiến vào đời sau.
      Thực vậy, là người ai cũng tin có đời sau. Là người ai cũng tin có quả phúc. Có thưởng có phạt đời sau. Từ trong sâu thẳm tâm hồn luôn có tiếng nói của Thượng Đế nhắc nhở con người phải sống ngay lành, sống thánh thiện như tình trạng ban đầu là "nhân chi sơ tính bản thiện". Sống đúng theo lề luật tối thượng của Thượng Đế, con người mới được bình an và hạnh phúc. Người khôn ngoan phải biết sống thuận theo ý trời mới được trời chúc phúc cho cuộc sống an khang hạnh phúc. Đạo lý đó đã được cha ông ta gom lại thành đạo lý tam tài: "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa".
      Chúa Giêsu trong tư cách là một con người. Ngài đã luôn tìm kiếm ý Cha trên trời để thực thi. Cuộc sống của Ngài luôn mang hai chiều kích: hướng về Thiên Chúa và hướng về tha nhân. Ngài phục vụ tha nhân để tôn vinh Thiên Chúa. Ngài phụng sự Thiên Chúa qua việc phục vụ nhân loại theo thánh ý Chúa Cha. Có thể nói, Ngài đã sống cả cuộc đời vì yêu thương nhân loại và tôn vinh Chúa Cha. Vì Chúa Cha mà Ngài đã nhập thể làm người. Vì Chúa Cha mà Ngài đã hy sinh chịu chết cho con người được sống dồi dào.
     Là người kytô hữu, chúng ta được mời gọi bước theo con đường Chúa Giêsu đã đi. Đó là con đường đi tìm thánh ý Chúa và thực thi đến hơi thở cuối cùng. Đó không phải là con đường trải thảm rộng thênh thang mà là con đường hẹp, đầy chông gai giăng kín hành trình. Đó là con đường từ bỏ, đường thập giá, đường hiến tế đẫm máu trên đỉnh đồi Calve. Đó là con đường của tình yêu, tận hiến và hy sinh như thầy Chí Thánh Giêsu. Và như thế, đó chính là con đường duy nhất để chúng ta tiến vào nhà Cha, nơi đó, Chúa đã đi trước để dọn chỗ cho chúng ta.
     Nguyện xin Chúa Giêsu Phục Sinh luôn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Xin Người nâng đỡ những yếu đuối của chúng ta. Xin Người chỉ đường dẫn lối để chúng ta luôn tiến bước về nhà Cha trong an bình và thanh thoát với những bận rộn của cuộc sống bon chen hôm nay. Amen.

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

ĐỨC MẸ SAO BIỂN VÀ CÁC Srs. "AN HÒA" Ở SAO BIỂN ĐÀ NẴNG

             Hình ĐỨC MẸ SAO BIỂN , nguyên trước kia MH đặt cho giáo xứ An Hòa  , thời cha HẠNH là cha chánh xứ ,đến khi cha NHAN đổi đến  thì thay tượng khác . Một Sr. bạn của MH  xin về để kính ở nhà MÁI ẤM nơi hưu  dưỡng của các người già mà các soeurs chăm sóc  . Sợ tượng Đức Mẹ quá lớn so với khung cảnh ở Mái Ấm  nên Sr. Hòa - là cô giáo trước đây ở An Hòa - xin về  và đặt tượng MẸ ở  bãi biển SAO BIỂN của nhà dòng PHAOLÔ Đà Nẵng  và xin Đức Mẹ giữ dùm cho mảnh đất đó để nhà nước khỏi lấy bán cho nước ngòai xây khách sạn cao ngất làm mất không gian của nhà dòng  nơi các Srs. nghỉ hưu .
          Đức Mẹ đã nhận lời  và mảnh đất sát nhà hưu dưỡng của các Srs. và sát biển giờ trở thành công viên , nơi tụ tập sinh họat  của mọi người mỗi buổi sáng về đây tập thể dục , nhẩy đầm thể dục nhịp điệu với nhau cũng vui nhộn lắm .
          Các bạn xem hình thấy rất nhiều hoa dâng tặng MẸ mỗi ngày vì rất nhiều người được ơn theo ý họ xin , nhất là những người cán bộ và ngọai đạo ; Nên nói đến ĐỨC MẸ SAO BIỂN  là các nơi trong nước và nước ngòai đều biết  .
          Đức Mẹ Sao Biển hiện giờ rất linh thiêng và rất nổi tiếng khắp Nam Trung Bắc ,
 nhiều gia đình , hội đòan đã thuê xe để đến cầu khấn với ĐỨC MẸ SAO BIỂN  ở Đà Nẵng này . Nếu các bạn có dịp về Việt Nam hay đi du lịch Đà Nẵng xin bớt thời giờ đến viếng MẸ ,khấn xin ơn với MẸ , và tiện thể thăm các Srs.trước đây  là cô giáo đã giúp xứ An Hòa Đà Nẵng .

                                                                      MH



ĐỨC MẸ tại nhà HƯU DƯỠNG của các Srs. PHAOLÔ, sát cạnh bãi biển SAO BIỂN 
(MH - đứng giữa - chụp chung với các cháu)


Tượng Thánh PHAOLÔ tại nhà nghỉ SAO BIỂN 


Tượng THÁNH TÂM CHÚA cũng được đặt tại công viên bãi biển SAO BIỂN 


Tượng Thánh GIUSE  cũng được đặt gần ĐỨC MẸ SAO BIỂN , nên bãi biển tại Sao Biển có đầy đủ GIA ĐÌNH THÁNH GIA . Tượng thánh GIUSE   đặt phía tay trái tượng ĐỨC MẸ SAO BIỂN ; Tượng THÁNH TÂM CHÚA được đặt đối diện với ĐỨC MẸ SAO BIỂN , tạo cho khung cảnh thật ấm áp , nên công viên này rất nhộn nhịp ; ngay từ sáng sớm ai cũng muốn đi dạo biển , tập thể dục và hẹn hò trò truyện . 
Các bạn nên một lần đến thăm .


Bà NHẤT thứ nhì ở An Hòa - bà đã 90 tuổi lưng không vẹo mà vẫn khỏe mạnh , bà đang chuẩn bị đi dạy đàn Piano .



Sr. ANTOINE  NGOAN là bà Nhất  thứ tư ở An Hòa  - Sr. đeo kính , chụp với Sr. THU HƯƠNG là cháu cha NHAN cha xứ AN HÒA sau khi cha Hạnh về hưu, Cha cũng về với CHÚA cách đây vài năm -,1 Sr. bạn và các cháu của MH dịp đến thăm các Srs. ngày 10/4/2014 vừa qua .




Sr. CHAT là chị của MY ở giáo xứ AN HÒA - con ông bà PHÁP nhà cạnh cuối của nhà thờ AN HÒA 

Ngòai ra , ở khu nhà hưu dưỡng này còn ;
* Sr. JEAN THERESE - Ca đòan nhà thờ giáo xứ An Hòa , Đà Nẵng - , Sr. đã mất vì chứng bệnh đau bao tử cách đây hơn một năm.
* Cô HÒA  trước là cô giáo lớp 3 của Trường Gioan XXIII - có bạn nào là học sinh của cô không ? - trước là Tập Sinh của dòng PHAOLÔ và đi dậy thực tập tại An Hòa ,  giờ là Sr. giúp ở nhà nghỉ mát tại Sao biển Đà Nẵng





Cha Hạnh , MH và các cháu tại đài Đức Mẹ xứ NGỌC QUANG , Đà Nẵng  ngày 10/4/2014
Cha Hạnh đã nghỉ hưu nhưng bị bệnh tim ,  nay cũng còn khỏe .


Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Sr. STEOPHAN NGƯỜI THẦY GIÁO ĐẦU TIÊN CỦA TRƯỜNG GIOAN XXIIII , AN HÒA ĐÀ NẴNG


Sr. Steophan ở nhà nghỉ Sao Biển khi MH đến thăm 

          Sr. STEOPHAN đang nghỉ ở nhà HƯU DƯỠNG các Srs. tại SAO BIỂN . Các bạn nếu có thời giờ nên đến thăm Sr , Sr vui lắm đấy . Hôm Sr. CHAT, Sr. NHIEM , TÒAN (cháu Cha cố Antôn ở Úc về ) và CƯỜNG ở Mỹ về có đến thăm , các Srs cảm động lắm .
          Sr. Steophan đã bị ung thư lưỡi, đã chữa nay nói được rồi , Sr. cũng bị tai biến nay đã đi được nhưng bàn tay phải và các ngón tay không duỗi thẳng được , nên phải nhờ các Srs. khác phụ tắm rửa , thay quần áo .
          Mai Hương đã gặp và thăm Sr. sau khi Cha Hạnh, Sr. Chat, Sr. Nhiem, Tòan và Cường đã thăm Sr. một ngày trước đó . Sr. rất cảm động và vui mừng , vẫn nhắc đến các học sinh thi lớp 5 ***   lần đầu mà đậu tòan bộ  .
        Hiện ở Sao Biển còn có Bà Nhất ANDRE, Sr. MADELEINE NGAI, Sr. COI  giúp phòng áo ; Hình như còn vài Srs.  nữa nhưng Mai Hương vội quá vì ngắn giờ nên không thăm hết được .
       Nếu các bạn đến thăm thì xin gặp Sr Liệu  ( là em của chị Yêu , vợ anh Luận  đang giúp gần đó )  Sr. sẽ hướng dẫn và dẫn đi thăm các Srs. khác .
       Có gì Mai Hương sẽ liên lạc sau .
                                                                                          
                                                                                              Mai Hương (USA)
                                                  (Một cựu học sinh Trường Gioan XXIII ,An Hòa Đà Nẵng)


·         ***Ghi chú :   (Lớp 5 , lớp “nhất” bấy giờ của trường giáo xứ An Hòa Đà Nẵng cũ thi tiểu học vào năm 1962 lúc đó vẫn dùng danh nghĩa của Trường Thánh Tâm Đà Nẵng , mãi đến năm 1964 Cha Cố An Tôn Bùi Hữu Ngạn mới đặt tên chính thức là trường Trung Tiểu Học Gioan XXIII) -  
                 bllcht



Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

ĐỨC MẸ FATIMA

Đức Mẹ Fatima


Đức Mẹ Fatima là một trong số nhiều tước hiệu mà người Công giáo dành cho  Mẹ Maria. Tước hiệu này phát xuất từ việc Đức Mẹ hiện ra 6 lần với 3 em bé chăn cừu làng Fatima (Bồ Đào Nha) là Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto từ ngày 13.5 tới ngày 13.10.1917.

                                                   
                                              Dân chúng ngẩng nhìn phép lạ tại Fatima

Bối cảnh lịch sử

Từ tháng 8 năm 1914, châu Âu xảy ra trận thế chiến thứ nhất, giết chết khoảng 6 triệu binh sĩ. Bồ Đào Nha theo phe Hiệp ước tham gia trận chiến từ tháng 5/1916. Bồ Đào Nha có khoảng 50.000 binh sĩ đồn trú ở Pháp .

Vị trí thành phố Fatima trên bản đồ Bồ Đào Nha

Lúcia dos Santos (ở giữa) với Jacinta và Francisco Marto, 1917.
Năm 1917, Fatima là 1 giáo xứ nông thôn gồm khoảng 2.500 người cư ngụ rải rác trong khoảng 40 thôn xóm. Mọi người đều lao động trên các đồng ruộng. Các trẻ em cũng phải giúp đỡ cha mẹ những việc nhẹ như chăn dắt bò, dê, cừu vv...Phần lớn dân cư đều mù chữ, chỉ có khoảng 10% phụ nữ biết đọc, biết viết.
Các gia đình Dos Santos và Marto cư ngụ trong thôn Aljustrel. Gia đình Dos Santos có 1 bé gái, sinh ngày 22.3.1907. Gia đình người em họ Marto có 1 con trai là Francisco Marto, sinh ngày 11.6.1908 và 1 con gái là Jacinta Marto, sinh 11.3.1910. Ba em bé này thường chăn dắt đàn cừu tại bãi gọi là «Cova de iria», cách thôn chừng 2 km.
Trong năm 1915, Lúcia, Francisco và Jacinta đã gặp thiên thần hiện ra với chúng ở bãi này. Khi về nhà thuật lại với cha mẹ, chúng bị cha mẹ mắng, cho là đặt chuyện nói láo. Mùa xuân và mùa hè năm 1916, thiên thần lại hiện ra với chúng và dạy chúng cầu nguyện như sau:
« Lạy Chúa !
Con tin, con thờ lạy
Con trông cậy và con yêu mến Chúa.
Con xin Chúa tha thứ
cho những ai không tin,
không thờ lạy,
không trông cậy,
và không yêu mến Chúa. »

Đức Mẹ hiện ra lần đầu

Ngày 13.5.1917, vào lúc trưa, 1 bà mặc áo trắng toát hiện ra với 3 em bé chăn cừu, nói với các em là hãy lần chuỗi đọc kinh Mân Côi hàng ngày để cầu nguyện cho thế giới chấm dứt chiến tranh, được hòa bình. Trước khi biến đi, Bà bảo 3 em hãy trở lại nơi đây đúng giờ trưa ngày 13 tháng sau.
Jacinta - quên giữ kín - về nhà thuật lại sự việc cho cha mẹ nghe. Tin này loan truyền nhanh khắp làng. Mọi người tỏ ra không tin. Vị linh mục chính xứ hỏi Lúcia, nhưng cũng không tin. Trong báo cáo gửi lên Giám mục cai quản giáo phận Leiria, vị linh mục viết: «cần phải xa lánh chuyện này».

Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai

Ngày 13 tháng 6, đúng giờ trưa, 3 em lại tới nơi hẹn, theo sau có khoảng vài chục người tò mò đến xem sự thể ra sao. Mọi người lần chuỗi đọc kinh. Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, nhắc Lúcia về tầm quan trọng của việc đọc kinh Mân Côi câu nguyện dân kính «trái tim vô nhiễm Maria», đồng thời báo trước cái chết của 2 anh em Francisco và Jacinta Marto: «Ta sẽ sớm đưa Francisco và Jacinta về trời, còn con, con sẽ ở lại thế gian một thời gian. Chúa Giêsu muốn dùng con để loan truyền cho mọi người biết ta và yêu mến ta». Đức Mẹ cũng yêu cầu Lúcia học chữ để dễ loan báo lời Đức Mẹ cho các người khác.
Những người đi theo không nhìn và nghe thấy gì. Họ chỉ nhìn thấy cành cây nhỏ (mà Đức Mẹ đứng) trĩu xuống dưới 1 sức nặng, rồi đột nhiên bật lên (khi Đức Mẹ biến đi)

Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba



Ngày thứ Sáu 13.7.1917, «bà mặc áo trắng» lại hiện ra với 3 em - có khoảng 4.000 người theo sau. Đức Mẹ vẫn nhắc Lúcia việc đọc kinh Mân Côi mọi ngày, để chiến tranh chóng chấm dứt. Lần này Đức Mẹ tiết lộ cho 3 em "bí mật" gọi là "bí mật Fatima". (Năm 1942, 2 bí mật đầu đã được công bố, còn bí mật thứ 3 thì mãi tới năm 2000, Giáo hội Công giáo Rômamới công bố).

Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư

Ngày 10.8.1917, viên chánh tổng - 1 người chống đối hàng giáo sĩ - đòi 3 em Lúcia, Francisco và Jacinta tới để tra hỏi, nhưng không có kết quả. Ngày 13.8, ông ta nhốt 3 em vì làm rối loạn trật tự công cộng và tiếp tục tra hỏi, nhưng hoài công. Rốt cuộc, ngày 15.8, ông ta phải thả 3 em ra.
Tuy nhiên, ngày 13.8, có khoảng 18.000 người tới bãi chờ xem sự lạ, nhưng 3 em vắng mặt vì còn bị nhốt. Chúa nhật 19.8, khi 3 em dẫn đàn cừu tới thả ở bãi Cova de iria, Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, yêu cầu các em nói với mọi người cầu nguyện cho những người tội lỗi mau thống hối và hứa sẽ làm 1 phép lạ cho mọi người tin.

Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm

Ngày 13.9, có khoảng 30.000 người tụ họp tại bãi Cova de iria, cầu nguyện cùng với 3 em. Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em và cho biết tháng sau, sẽ có Chúa, Đức Mẹ núi Carmêlô, thánh Giuse và Chúa Hài đồng Giêsu sẽ cùng tới.

Đức Mẹ hiện ra lần thứ sáu


Bản sao chụp 1 trang của báo Ilustração Portugueza ngày 29.10.1917 cho thấy đám đông dân chúng đang ngẩng nhìn Phép lạ Mặt trời, khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima
Ngày 13.10.1917, mưa như trút nước trên bãi Cova da Iria. Một đám đông khoảng 70.000[3] người - kể cả nhiều phóng viên chụp hình và các ký giả - tụ tập tại đây lần chuỗi, đọc kinh cầu nguyện. Lúc giữa trưa, Đức Mẹ hiện ra với 3 em và yêu cầu cho xây 1 nguyện đường tại đây để vinh danh Đức Mẹ. Đức Mẹ cũng loan báo thế chiến thứ nhất sẽ sớm chấm dứt và yêu cầu những kẻ có tội hãy mau sám hối.
Khi Đức Mẹ biến về trời thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất hiện trên bầu trời xanh biếc. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào mặt trời và thấy mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu. Mặt trời dường như xuống thấp gần trái đất, khiến đám đông sợ hãi. Việc lạ xảy ra trong 10 phút, sau đó mọi sự trở lại bình thường. Hiện tượng này được hầu hết đám đông chứng kiến, và một số người ở cách đó mấy dặm cũng nhìn thấy.
Trong thời gian này, các nhà khoa học trên thế giới không hề ghi nhận 1 hiện tượng khác thường nào của mặt trời.
Trong khi đó, riêng 3 em nhìn thấy Thánh Gia, rồi Đức Mẹ Sầu Bi, Chúa Hài Đồng Giêsu và sau chót là Đức Mẹ núi Carmêlô lần lượt xuất hiện như đã hứa trước với 3 em.

Ba bí mật của Fatima

Hai bí mật đầu tiên

Bí mật đầu tiên là một thị kiến về hỏa ngục mà Lucia đã mô tả trong hồi ký thứ ba của bà như sau:
"Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân mình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rớt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các quỷ dữ có thể được phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiếp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suốt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Ðấng đã báo trước cho chúng con trong lần Hiện ra thứ nhất khi hứa rằng Ngài đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết điếng vì sợ hãi và kinh khiếp."
Bí mật thứ hai bao gồm các lời hướng dẫn của Đức Mẹ để làm thế nào cứu các linh hồn trong hỏa ngục và biến đổi thế giới theo đức tin Kitô giáo, cũng được Lucia viế trong hồi ký thứ ba của bà:
"Sau đó mắt chúng con hướng về Ðức Bà. Ngài hết sức âu yếm và buồn bã nói với chúng con:
“Chúng con đã thấy hoả ngục, nơi mà các linh hồn tội lỗi đáng thương đi vào. Ðể cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm. Nếu điều Mẹ nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu và sẽ có hoà bình. Chiến tranh sẽ kết thúc: nhưng nếu dân chúng không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tranh tồi tệ sẽ xảy ra trong triều Giáo hoàng của đức Piô XI. Khi chúng con thấy một đêm tối được chiếu sáng bởi một ánh sáng chưa từng biếât, chúng con hãy biết rằng đó là dấu chỉ lớn lao mà Thiên Chúa ban cho các con để biết rằng Người sắp trừng phạt thế gian vì những tội ác của nó, bằng chiến tranh, đói kém, và những bách hại đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha. Ðể tránh điều này, Mẹ sẽ xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, và Hiệp thông đền tạ vào ngày Thứ Bảy đầu tháng. Nếu lời cầu xin của Mẹ được chấp nhận, Nước Nga sẽ hoán cải, và sẽ có hoà bình; nếu không, nó sẽ phổ biến những lầm lạc trên khắp thế giới, gây nên những chiến tranh và bách hại cho Hội Thánh. Những kẻ lành sẽ bị giết hại; Ðức Thánh Cha sẽ đau khổ nhiều; nhiều quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ toàn thắng. Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, và nó sẽ được hoán cải, và một giai đoạn hoà bình sẽ được ban cho thế giới”.

Số phận 3 em chăn cừu

Francisco và Jacinta Marto bị chết sớm trong đợt dịch cúm Tây ban nha, Francisco chết năm 1919, Jacinta chết năm 1920. Cả 2 em đã được giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng đáng tôn kính (venerable) ngày 13.5.1989 và được phong chân phước ngày 13.5.2000. Mộ của 2 em hiện nằm trong lòng Vương cung thánh đường Fatima.
Còn Lúcia Dos Santos vào tu viện dòng Dorothea ở Pontevedra (Galicia, Tây ban nha) ngày 24.10.1925, sau đó khấn lần đầu ở Tuy (Tây ban nha) năm 1928. Năm 1925 và 1929, Lúcia lại được Đức Mẹ hiện ra với mình. Tháng 10/1934, Lúcia khấn vĩnh viễn và lấy tu danh là nữ tu Đức Mẹ Maria Sầu Bi.
Sau nhiều năm điều tra, Giám mục da Silva, cai quản giáo phận Leiria, trong thư mục vụ ngày 13.10.1930 đã công nhận sự kiện Đức Mẹ hiện ra với 3 em nói trên ở Fatima và chính thức cho phép việc tôn sùng Đức Mẹ Fatima. Theo lệnh hàng giáo phẩm, Lúcia đã viết các hồi ký về sự kiện trên gồm 4 bản (versions): 1 bản năm 1935, 1 năm 1937, 1 năm 1941 và 1 đầu năm 1942.
Năm 1946, nhân kỷ niệm 300 năm ngày dâng nước Bồ Đào Nha cho Maria, vị sứ thầntòa thánh Vatican là hồng y Masella đã đội (vương miện) triều thiên lên tượng Đức Mẹ Fatima, với sự tham gia chứng kiến của khoảng 600.000 tín hữu hành hương. Vương miện này do các phụ nữ Bồ Đào Nha cung hiến để cảm tạ Đức Mẹ đã gìn giữ Bồ Đào Nha trong cuộc thế chiến thứ nhất.
Từ năm 1948, Lúcia vào tu trong đan viện dòng kín Carmêlô ở Coimbra (Bồ Đào Nha), dưới tên nữ tu Lúcia Trái Tim Vô nhiễm nguyên tội.
Lúcia từ trần ngày 14.2.2005 ở tuổi 97.

Dâng hiến nước Nga

Theo Lucia, Maria đã hứa sẽ chuyển đổi nước Nga và mở ra một kỷ nguyên của hòa bình[8].

Bí mật thứ ba

Bí mật thứ ba là thị kiến về cái chết của giáo hoàng và các nhân vật tôn giáo khác, do Giám mục giáo phận Leiria ghi chép lại:
"Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian: chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!'. Và chúng con thấy trong một luồng sáng lớn là Thiên Chúa: ‘một cái gì tương tự như cách người ta xuất hiện trong một tấm gương khi người ta đi ngang qua’ một Giám mục bận đồ trắng ‘chúng con có cảm nhận đó chính là Ðức Thánh Cha’. Các Giám mục, các Linh mục, các tu sĩ nam nữ khác leo lên một ngọn núi dốc thẳng, trên đỉnh núi có một Thánh giá lớn làm bằng thân cây thô nhám như thể của một cây bần với vỏ cây; trước khi đến đó, Ðức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn, một nửa bị tàn phá và một nửa rung chuyển, với bước chân nghiêng ngả, buồn khổ vì đau đớn và ưu phiền, ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thân xác ngài gặp trên đường; khi đã lên đỉnh núi, quỳ dưới chân Thánh giá lớn, ngài đã bị một nhóm lính giết hại bằng đạn và mũi tên, và cùng một cách thức như thế các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ khác, và các người giáo dân thuộc mọi giai cấp và địa vị xã hội khác nhau lần lượt bị giết hại. Bên dưới hai cánh tay của Thánh giá có hai Thiên thần, mỗi vị cầm trong tay một chiếc bình bằng pha lê, trong đó các ngài hứng máu của các vị Tử đạo và với máu đó các ngài rảy trên các linh hồn đang tiến về Thiên Chúa."

(Nguồn : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)