Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

DANH HỌA TITIAN


Lúc sinh thời, người ta thường gọi ông là Da Cadore theo nơi ông sinh trưởng. Titian đã đi vào huyền thoại và Arétin, người bạn thân của ông, là người đã góp phần tạo nên những giai thoại về ông

Nếu tác phẩm của một họa sĩ thể hiện cả một thời đại, người ta có thể nói rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của Picasso và thế kỷ 16 ở phương Tây là thế kỷ của Titian, bậc thầy hội họa của thành phố Venise.
tt19.jpgChào đời ở Pieve di Cadore, trong lãnh thổ Cadore, gần Belluno (Veneto), cậu bé Titian (Tiziano Vecelli) chưa đầy 12 tuổi đã cùng người anh là Francesco rời làng mạc ở vùng biên giới Dolomites để đến Venise học nghề với họa sĩ làm tranh ghép Zuccato. Và ngày 27 tháng 8 năm 1576, khi danh họa Titian từ trần giữa lúc sáng tác bức tranh Pietà (Đau Thương), trong khi bệnh dịch hạch đang hoành hành ở thành phố Venise, sổ khai tử của tu viện cho biết tuổi của ông: 103. Nhưng ngày nay có người cho rằng Titian sinh năm 1488, nghĩa là ông chỉ sống đến 88 tuổi. Có sách lại cho là ông sinh năm 1485. Trong một bức thư gởi cho hoàng đế Philip II, ông nói mình sinh năm 1477. Cho đến nay, ngày sinh chính xác của Titian vẫn chưa được xác định dù hầu hết đều cho rằng ông sinh năm 1490.

Lúc sinh thời, người ta thường gọi ông là Da Cadore theo nơi ông sinh trưởng. Titian đã đi vào huyền thoại và Arétin, người bạn thân của ông, là người đã góp phần tạo nên những giai thoại về ông, qua những ghi chép về những hoạt động phong phú và những quan hệ rộng rãi của ông. Người ta kể rằng Hoàng Đế Charles Quint (Charles V của dòng họ Habsburg ở Áo, được phong làm hoàng đế nước Áo, Tây Ban Nha và Ý vào năm 1530) đã cúi xuống nhặt cây cọ ông đánh rơi và chặn đứng những lời xì xào bàn tán của những triều thần không đồng tình với sự tôn kính mà vua dành cho nhà danh họa, bằng một giọng nói như sấm rền: "Titian xứng đáng được César phục vụ".


tt1.jpg


tt2.jpg


Trong khi không một họa sĩ nào khác được lệnh vẽ chân dung của Charles Quint, vị hoàng đế có quyền uy tột bậc này đã trở thành người khách hàng quan trọng nhất và trung thành nhất của Titian, và trong ba năm cuối cùng của đời mình, khi đã từ bỏ ngai vàng và sống ẩn dật trong một tu viện, ông đã mang theo ít nhất 9 bức tranh của Titian. Những thư từ trao đổi giữa Titian và vị hoàng đế cho thấy cả hai đã coi nhau như bạn bè, dù rằng Titian vẫn nhớ đến những phép tắc vượt lên trên tình bạn và không quên "hôn bàn tay Công Giáo bách chiến bách thắng của hoàng đế", đấng quân vương đã tưởng thưởng cho ông bằng nhiều danh hiệu cao quý, từ tước kỵ sĩ đến tước vương công và chức thẩm phán tòa án tối cao, cho phép ông bổ nhiệm các công chúng viên và các quan tòa, giải thoát những người nô lệ hay hợp thức hóa những đứa con ngoài giá thú!

Gombricht cho rằng "Titian không có những kiến thức uyên bác như Leonard de Vinci, cũng không có cá tính mạnh mẽ như Michel-Ange và sức lôi cuốn như Raphael!". Thế nhưng ông đã đạt được vinh quang tột bậc vì tự bản thân ông đã là cả một "đại dương". Nhà văn André Malraux cho rằng: "Tác phẩm của Titian mang lại cho tất cả các họa sĩ một bài học và một sự giải thoát. Nó cởi bỏ sợi dây trói buộc đôi bàn tay của họ". Vô số bức tranh sao chép Titian và những bức phác thảo của các họa sĩ lừng danh như Rubens, Delacroix, Monet, Degas, Cézanne, Poussin, Vélasquez, Watteau cho thấy nhà danh họa của thành phố Venise đã có sức mê hoặc vượt thời gian như thế nào. Tất cả những họa sĩ này đều muốn tận dụng những bài học của Titian mà Victor Basch gọi là "kẻ biết tận dụng", "kẻ biết tiếp thu những yếu tố mà người khác đã sáng tạo ra" để tạo nên bản sắc độc đáo của mình. Titian đã biết tận dụng xưởng thí nghiệm ý tưởng tuyệt vời ở thành phố Venise lúc bấy giờ. Leonard de Vinci đã đến thành phố này vào năm 1500, Durer đã sống ở đây một năm (từ 1505 đến 1506), và những tranh khắc đã giúp cho tác phẩm của Raphael và Michel-Ange lưu hành rộng rãi.


tt3.jpg


tt4.jpg


Sau bốn, năm năm học nghề với Zuccato, Titian bị lôi cuốn bởi "các họa sĩ hiện đại" lúc bấy giờ, chuyển đến xưởng vẽ của Gentile Bellini, trở nên gần gũi với Giovanni Bellini và trở thành người cộng sự của họa sĩ Giorgione. Một cuộc cách mạng trong lãnh vực hội họa đã bắt đầu hình thành ở xưởng vẽ này và tầm vóc của nó có thể sánh được với cuộc cách mạng của Caravage ở thế kỷ sau. Thế nhưng trận dịch năm 1510 đã quật ngã Giorgione ở tuổi 32 và Titian còn lại một mình với một tham vọng lớn lao.

Cuối năm đó, Titian được phái đến Padoue – thành phố mới vừa được chiếm lại bởi vị vương công tương lai Gritti – để thương thuyết sau trận đánh Agnello, nơi các đạo quân của nước Cộng Hòa Venise thảm bại trước các đạo quân của Pháp và các đạo quân của hoàng đế theo liên minh Cambrai. Bức tranh "Những Phép Lạ Của Thánh Antoine" do Titian sáng tác trong khoảng thời gian này đã khẳng định những nguyên lý thẩm mỹ học mới thắng thế bấy lâu nay ở Rome. Khi Titian trở lại Venise – thành phố đã bắt đầu thịnh vượng và tạo được một thế độc lập đầy thách thức đối với nước Ý lúc bấy giờ – con đường dẫn tới vinh quang và sự giàu có đã mở rộng trước mắt ông.


tt5.jpg


tt7.jpg


Năm 1513, khi mới 23 tuổi, Titian đã là một họa sĩ nổi tiếng, được mời đến Rome, ông khéo léo lợi dụng chuyến đi này để đòi hỏi một chức vụ. Chẳng những ông đề nghị vẽ bức tranh "Battle of Cadore" để treo ở phòng họp của Hội Đồng Hồng Y – một điều mà, theo lời ông "cho đến lúc đó, chẳng có một người nào có ý định thực hiện" – mà ông còn muốn thế chỗ của Giovanni Bellini lúc ấy đã ngoài 90 tuổi, để trở thành họa sĩ chính thức của Venise với khoản trợ cấp suốt đời là 100 ducat mỗi tháng. Titian hứa "sẽ hoàn thành tác phẩm nhanh chóng và hoàn hảo đến mức mọi người ở Rome sẽ hài lòng". Thế nhưng ông đã bỏ ra 25 năm để hoàn thành bức tranh này và nó đã bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn lớn vào năm 1577.

Titian sống như một ông hoàng. Đẹp trai, tao nhã, và quyết đoán, chàng họa sĩ trẻ Titian đã tạo lập sự nghiệp chẳng khác gì một đế chế, luôn luôn đòi hỏi những vinh dự lớn lao hơn và nhiều tiền bạc hơn. Chỉ trong vài năm, ông giàu có hơn bất cứ họa sĩ nào khác xưa nay. Một người cùng thời nhận xét rằng "ông có khả năng nói những câu đùa bỡn để tạo bầu không khí vui vẻ trong mọi buổi yến tiệc", còn Arétin nói rằng những bậc thang ở nhà ông mòn nhẵn vì bước chân của những nhân vật có quyền thế bậc nhất thời đó, "chẳng khác gì con đường dẫn tới điện Capitole mòn nhẵn dưới bánh xe của những chiến xa trở về trong chiến thắng".


tt10.jpg


tt11.jpg


Dù Titian chỉ mới ngoài 20 tuổi, những đơn đặt hàng được gởi tới từ khắp mọi nơi, không những từ Venise mà cả từ những thành phố và những cộng đồng tôn giáo "trên đất liền", và những nhân vật có thế lực nhất lúc ấy – từ Alfonso, anh trai của Isabelle d'Este đến Đức Giáo Hoàng và Frédéric de Gonzague, người đã giới thiệu ông với hoàng đế Charles Quint sau lễ đăng quang vào năm 1530 ở Bologne – đã trở thành những khách hàng quen thuộc của ông. Các bức chân dung do Titian vẽ vẫn còn đó như một bằng chứng cho những mối quan hệ rộng rãi và tài năng nghệ thuật của ông. Với phương châm "Natura potentior ars" (nghệ thuật mạnh hơn tự nhiên), Titian đã kết hợp sự thành công vược bậc trong nghề nghiệp với một cuộc chiến đấu lạ lùng cho hội họa. Dần dần, những hình thể và những kết cấu mờ nhạt đi để làm nổi bật màu sắc. Ông đã có lần nói rằng một họa sĩ tài giỏi chỉ cần có 3 màu sắc: màu trắng, đen và đỏ. Vốn đặc biệt coi trọng "nhận thức cảm tính", ông muốn coi tính cách độc lập của màu sắc như một bằng chứng cho tính cách độc lập của một nền hội họa đã hoàn toàn thoát khỏi những ràng buộc của "chủ đề". Goethe cho rằng lúc về già, Titian đã "vẽ những chất liệu mà trước kia ông mô phỏng trong từng chi tiết cụ thể, chẳng hạn như vẽ nhung một cách trừu tượng, như một ý niệm thuần túy về nhung".

Titian sử dụng những cây cọ "lớn như những cây chổi", đôi khi sử dụng cả những ngón tay của mình, "giống như Thượng Đế lúc tạo dựng con người", Palmatre, một học trò của ông, kể rằng khi vẽ tiếp một bức tranh dở dang từ nhiều năm trước, ông nhìn nó "chẳng khác gì một kẻ thù không đội trời chung" và bắt đầu tấn công bằng những nét cọ mạnh mẽ. Ma thuật đã nảy sinh từ cuộc giáp chiến này. Ngày nay Titian vẫn còn là một họa sĩ bí hiểm dù rằng nhiều người đã cảm nhận được tính chất hiện đại tiên phong của ông. Họa sĩ Delacroix thú nhận rằng ông đã mất nhiều thời gian và sức lực để làm sáng tỏ cái "hình bóng vĩ đại" luôn luôn nghe theo "cảm xúc chân thực của mình", còn Cézanne cũng phải thừa nhận sau một thời gian dài quan sát và nghiền ngẫm rằng Titian là "một Shakespeare của bộ môn hội họa".

Giữa tháng 7 năm nay một bức chân dung vô danh được cho là của Titian đã được bán hơn $200,000 trong một cuộc đấu giá ở Leicestershire, Anh. Sau đó báo chí Anh Quốc đưa tin bức họa này được lượng giá tới 5 triệu.


tt12.jpg


tt13.jpg


tt16.jpg


tt17.jpg


tt18.jpg

Sưu tầm


Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

HÔM QUA VÀ NGÀY MAI

                 
Trong một tuần có 2 ngày mà chúng ta không cần phải bận tâm về chúng, có 2 ngày chúng ta không cần phải vướng bận, lo âu hay sợ hãi. 

Ngày đầu tiên chính là ngày hôm qua với tất cả những lỗi lầm, những sai sót, với những nỗi buồn và cả những niềm đau. Ngày hôm qua đã qua rồi và mãi mãi vuột khỏi tầm tay chúng ta. Chẳng có bất kì điều gì có thể thay đổi được ngày hôm qua. Chúng ta chẳng thể lấy lại những thứ đã cho đi, cũng chẳng thể xoá đi dù chỉ là một lời chúng ta đã nói - Bởi ngày hôm qua đã qua rồi. 

Ngày còn lại chính là ngày mai với những thử thách mà chúng ta chẳng thể biết được. Những phiền muộn hay những niềm vui của ngày mai cũng ở ngoài tầm tay của chúng ta. Mặt trời ngày mai sẽ mọc, dù toả sáng rực rỡ hay bị che khuất bởi những đám mây thì mặt trời ngày mai vẫn mọc. Và cho đến tận lúc đó chúng ta chẳng thể nào đánh cuộc chuyện gì sẽ xảy ra ? Bởi ngày mai vẫn chưa đến. 
Chúng ta chỉ còn lại một ngày - đó là ngày hôm nay. Bất cứ một người bình thường nào cũng có thể vượt qua thử thách chỉ trong một ngày hôm nay. Nhưng ngày hôm nay lại thường gục ngã khi phải cộng thêm vào gánh nặng của ngày hôm qua và những gánh nặng của ngày mai. 

Con người thường đau khổ không phải vì hiện tại mà vì những nuối tiếc trong quá khứ và nỗi lo âu trong tương lai. 
Vì thế chúng ta hãy sống cho trọn vẹn một ngày.


Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

CUNG HIẾN VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG LATERANO

CHÚA NHẬT 32 MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM A 
                
                                        Mặt tiền Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Laterano

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG GIOAN LATERANO



E-mail
Print
Mỗi thánh đường thường gợi nhớ và chất chứa bao bao kỷ niệm vui buồn của người Kitô hữu. Đời sống tín hữu gắn liền với thánh đường. Từ đó, họ lớn lên trong niềm tin và trào dâng niềm hy vọng giữa cuộc đời đầy thách đố.
Latêranô là thánh đường lâu đời nhất trong bốn vương cung thánh đường ở Roma. Chính hoàng đế Constantine đã dâng hiến cho Giáo hội trước năm 311. Từ đó, thánh đường Latêranô luôn luôn là trung tâm của đời sống Kitô hữu trong thành phố; dinh thự của các Đức Giáo Hoàng và là nhà thờ chánh tòa của Roma. Qua nhiều thế kỷ, năm Công Đồng chung và nhiều nghị hội địa phận đã nhóm họp tại Thánh Đường Latêranô. Chính vì thế, thánh đường Latêranô xứng đáng "Mẹ của các giáo đường khắp thế giới" .
Năm Đức Tin, tôi có đến Roma kính viếng Thánh Đường Latêranô.
1. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH GIOAN LATERANO
a. Lịch sử
Vào cuối thế kỷ thứ III, Đế quốc Roma theo chế độ "Tứ đầu chế" tức là có 4 vị tiểu hoàng đế trị vì: tại vùng Nocomedia có Hoàng đế Diocleziano, vùng Sirmium có Hoàng đến Galerio, vùng Milano có Hoàng đế Massimio và vùng Trevi có Hoàng đế Costanzo Chlore. Ngày 28 tháng 10 năm 312, tướng La Mã Constantino (306- 337) con của hoàng đế Costanzo Chlore chiến thắng quân của hoàng đế Massenzio (306- 312) là con của Hoàng đế Massimio ở cầu Milvio, và khải hoàn tiến vào Roma. Ngày nay chúng ta còn thấy Khải hoàn môn Constantinô ở cạnh đấu trường Côlôseum ghi nhớ việc ông khải hoàn tiến vào thành Roma. Sau đó ông trở thành hoàng đế Roma ở đế quốc Tây Phương. Nhờ vào dấu hiệu Thánh giá trên bầu trời với hàng chữ latinh "cứ dấu hiệu này ngươi sẽ chiến thắng". Tướng Constantinô đã cho đúc hình Thánh giá trên các khiên thuẫu của binh sĩ ông và quả nhiên ông đã chiến thắng đạo quân của hoàng đế Massenzio
Năm 313, ông ra chiếu chỉ tại Milano, ngưng bách hại các người Kitô hữu, cho tự do hành đạo, và ra lệnh trả lại tất cả tài sản đã tịch thu của Giáo Hội trong thời kỳ bách hại của các hoàng đế tiền nhiệm. Sau cùng, hoàng đế trở lại đạo Công giáo và ấn định Chúa nhật là ngày nghỉ hằng tuần.
Vào khoảng năm 313-318, Hoàng đế Constantinô đã ra lệnh xây Thờ Chúa Cứu Thế ở khu vực Laterano. Đây là khu vực của gia tộc Laterano giàu có đã bị hoàng đế La mã là Nero (54- 68) tịch thu tài sản, sau khi ông ta đã giết người cuối cùng của gia tộc này là Plauzio Laterano bằng cách gán cho ông này tội mưu phản.
Hoàng đế Constantino ra lệnh san bằng doanh trại rộng lớn của đoàn quân cận vệ hoàng đế Massenzio để lấy đất xây Đền thờ Chúa Cứu Thế. Qua quyết định này, ông làm một công đôi việc, một đàng muốn phá hủy dấu tích hùng vĩ của đối phương, đàng khác muốn tái khẳng định ý định nâng đỡ Kitô giáo.
Theo các sử gia, sở dĩ Hoàng đế Constantino chọn khu vực ngoại ô này của thành Roma hồi đó để xây Đền thờ đầu tiên của Kitô giáo, cạnh tường thành Aurelia, là để khỏi đụng chạm đến sự nhạy cảm của nhiều người dân Roma hồi đó vẫn còn theo ngoại giáo.
Tương truyền kể lại rằng: Hoàng đế Constantino bị bệnh phong cùi. Đêm kia trong giấc mộng, ông được Thánh Phêrô và Phaolô hiện ra và hứu chữa khỏi nếu ông lãnh nhận bí tích Rửa tội. Hoàng đế ra lệnh tìm kiếm Đức Giáo Hoàng Silvestro1 (314- 335) và Ngài rửa tội cho hoàng đế năm 314 và chữa ông khỏi bệnh phong cùi. Để tỏ lòng biết ơn, hoàng đế ra lệnh xây cất Đền thờ này.
Năm 334, Đền thờ được Đức Giáo Hoàng Silvestro I thánh hiến. Theo tương truyền có ảnh Chứa Cứu Thế "achiropita", nghĩa là không do tay người phàm vẽ ra, xuất hiện cách lạ lùng trong lễ thánh hiến Đền thờ. Sau này, ảnh này được vẽ lại trên mặt tiền và được coi là phép lạ suốt thời Trung Cổ.
Đền thờ này là Thánh đường đầu tiên của Giám Mục Rôma, và cũng là Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Rôma. Thánh đường này được gọi là "Mater et Caput", là Mẹ và là Đầu của tất cả Nhà thờ khác trên thế giới.
Đền thờ này cũng tượng trưng cho sự trỗi dậy của Kitô giáo. Thật vậy, sau chiếu chỉ tha đạo của hoàng đế Constantino, một cộng đoàn Kitô hữu đã xuất đầu lộ diện, công khai cử hành phụng vụ và biểu lộ đời sống đức tin. Đền thờ này tượng trưng cho chính Giáo hội
Vì tầm quan trọng này, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Gioan Laterano hằng năm được cử hành với lễ kính bậc hai vào ngày 9 tháng 11, quan trọng hơn cả lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Phêrô và Phaolô, cử hành với bậc lễ nhớ bậc ba vào ngày 18 tháng 11.
Đền thờ này lúc đầu được dâng kính Chúa Cứu Thế, sau đó dưới thời Đức Giáo Hoàng Gregorio 1 (590- 601) thì lại được dâng kính cả hai Thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ. Dân chúng ở Roma có lòng kính mến đặc biệt đối với thánh Gioan Tông Đồ, vì theo tương truyền (có nhiều sử liệu chứng minh, trong đó có cả Tertulliano), Thánh nhân đã thoát khỏi cuộc hành hình cách lạ lùng tại thành Roma: tại đây ngài bị dìm vào một chảo dầu đun sôi (cách cửa Latina vài mét, ngày nay có Đền thờ nhỏ kính thánh Gioan ở trong chảo dầu – mang tên San Giovanni in Oleo). Đức Giáo Hoàng Ilaro (461- 468) đã thoát khỏi cuộc bạo động của những người rối đạo, sau đó để ghi ơn, ngài đã cho xây một Nhà nguyện cạnh giếng rửa tội hiện nay ở Laterano, và quyết định dâng kính Đền thờ này cho thánh nhân. Cho nên Đền thờ hiện nay mang tên Gioan Latêranô do Đức Giáo Hoàng Lucio đặt tên vào năm 1144.
Đền thờ chịu nhiều phá hủy qua dòng thời gian: bị quân man di Genserico cướp bóc vào năm 455: bị động đất vào năm 896. Tổng cộng có hơn 20 vị Giáo Hoàng xây cất, tái thiết, tu bổ và trang hoàng Đền thờ. Đặc biệt vào giữa thế kỷ 17, Đức Giáo Hoàng Innocentê 10 (1644- 1655) đã ủy thác cho kiến trúc sư Francesco Borromini điều chỉnh sửa lại hoàn toàn ngôi Đền thờ. Năm 1735 mặt tiền Đền thờ như ta thấy hiện nay với cổng vào do kiến trúc sư Alexandro Galilei thiết kế. Năm 1885 Đức Lêô 13 cho sửa lại hậu cung Đền thờ.
Như thế, trong 10 thế kỷ, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIV, Đền thờ này cũng như tòa nhà bên cạnh đây là trung tâm của Giáo hội Roma, là trụ sở và là biểu tượng của Đức Giáo Hoàng. Cho nên các nhà nguyện, đan viện, nhà trọ và khách sạn được thiết lập chung quanh Trung Tâm này.
Chính tại Đền thờ này, Đức Giáo Hoàng Innocentê III (1198- 1216) đã bãi chức hoàng đế Otto, và phê chuẩn luật dòng của Thánh Phanxico Assisi. Tại đây đã khởi xướng nhiều cuộc xuất quân của Thập tự chinh để tái chiếm Thánh địa khỏi tay người Hồi giáo. Năm 1300, Năm Thánh đầu tiên của Giáo hội được củ hành tại đây.
Vào năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn đưa Tòa Giám Quản Roma đến Laterano và đặt trung tân hành chánh của Giáo phận Roma trong Tòa giám quản này. Sau đó, Đức Phaolô VI đã cho xây tại Vatican các khu bảo tàng viện mới để lưu giữ các kỷ vật trước kia để ở Laterano như Bảo tàng viện truyền giáo và nhân chủng học.
b.Kiến trúc
Mặt tiền Đền thờ có từ thế kỷ XVIII trông rất cân đối, và được coi là hùng vĩ uy nga nhất trong số các mặt tiền Đền thờ ở Roma. Kiến trúc sư Alessandro Galilei, người Florence đã thiết kế mặt tiền này vào năm 1735 theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clemente XII. Tất cả đều bằng cẩm thạch, và rất phù hợp với quảng trường phía trước. Bên trên nóc tiền đường ở giữa là tượng Chúa Cứu Thế, hai bên là tượng Thánh Gioan Tẩy Giả cầm Thánh giá, và Gioan Tông Đồ cầm chén lễ. Hai bên có 12 vị thánh Tiến sĩ Giáo hội La tinh và Đông phương, mỗi tượng cao 7 mét, tượng trưng sự hiệp nhất giáo lý của Hội Thánh Kitô. Tổng cộng là 15 tượng. Bốn Thánh tiến sĩ Giáo hội Đông phương là: Gregorio Nazianzeno, Basillio, Gioan Kim Khẩu, và Anatasio. Bốn thánh tiến sĩ Giáo hội Tây phương là Ambroxio, Augustino, Giêronimo và Hilario.
Mặt tiền có ghi hàng chữ: "Sacrosancta Lateranensis ecclesia omnium uthis et othis ecclesiarum mater et caput". Mẹ và Đầu của tất cả nhà thờ ở Roma và trên thế giới.
Ở giữa mặt tiền Đền thờ, có ban công chính, các Giáo Hoàng thường ban phép lành cho dân chúng trong dịp Năm Thánh. Cũng tại đây Đức Hồng Y Gaspani, nhân danh Đức Piô XI ký hiệp định Laterano với Italia, thành lập Nhà nước Vatican năm 1929, tái lập sự độc lập pháp lý và lãnh thổ của Tòa Thánh. Từ lúc đó, Đức Giáo Hoàng mới long trọng nhận Đền thờ này là Nhà thờ Chính tòa của mình, với tư cách là Giám Mục Roma.
Trong hành lang ở tiền đường Đền thờ, ở phía tay trái, có tượng Hoàng đế Constantino
Các hình nổi trên xà cửa Đền thờ diễn tả những biến cố trong cuộc đời thánh Gioan Tẩy Giả.
Từ thời đầu tiên cho đến ngày nay chỉ còn lại sơ đồ 5 gian và Đền thờ dài 130 mét, gian chính rộng 16 mét, và dài 87 mét.
Trong gian chính của Đền thờ, có 30 cột bằng cẩm thạch màu vàng, ở hai bên có tượng 12 thánh Tông Đồ (cao khoảng 6 mét) do Đức Clemente IX (1700- 1721) cho tạc. Bên trên có hình nổi kể lại sự tích Cựu ước và Tân ước.
Trần Đền Thờ bằng gỗ thật huy hoàng do kiến trúc sư Pirri Ligorio khởi sự theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô IV (1559- 1565), ngài thuộc gia tộc Medici nên có huy hiệu của ngài. Công trình này được hoàn thành dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô V (1566- 1572). Gần tường lối vào là huy hiệu của Đức Piô VI (1775- 1799) là vị đã cho trùng tu trần đền thờ này.
Tranh khảm đá ở hậu cung Đền thờ là của 2 nghệ nhân Jacopo Torriti và Jacopo da Camerino, thực hiện từ 1288 đến 1294 với chủ đề tuyên dương Thánh Giá. Trên mây là Chúa Cứu Thế, có hình các thiên thần xung quanh. Giữa là Thánh giá có hình chim bồ câu đậu trên. Thánh giá ở trên ngọn đồi bao trùm Jêrusalem thiên quốc từ đó có 4 dòng sông chảy xuống là 4 Phúc Âm, giải khát cho cho các con nai và chiên tượng trưng cho dân Chúa. Bên trái có hình Đức Mẹ và Đức Giáo Hoàng Nicola IV đang quỳ, 2 thánh Phêrô và Phaolô. Bên phải có Thánh Gioan và Anrê. Có hai hình nhỏ là Thánh Phanxico Assisi ở bên trái và Thánh Antôn Padova ở bên phải được vẽ thêm vào theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Nicola IV, vì ngài thuộc dòng Phanxicô.
Toàn bộ bức tranh khảm đá này được tháo gỡ ra trong cuộc trùng tu hồi năm 1896, rồi được ghép trở lại, nhưng vì thế bị mất đi phần lớn giá trị nguyên bản.
Ở cánh ngang Đền thờ, gần cửa ra vào bên phải, có đàn phong cầm vĩ đại với 2 ngàn ống, đây là một trong những đàn phong cầm quan trọng nhất tại Italia, được 2 cột lớn bằng cẩm thạch màu vàng, trang trí bằng gỗ mạ vàng, chống đỡ. Do kiến trúc sư Luca Blasi thiết kế năm 1599.
Có nhiều phần mộ trong Đền thờ này, đặc biệt là của các Hồng Y Rasponi (1670), Casati (1287), Antoni del Portogallo... Các vị Giáo Hoàng Sergio IV (1012), Alexandro III.
Bàn thờ của Đức Giáo Hoàng ở điểm chính giữa Đền thờ, được thiết kế lại vào năm 1851. Trước đây, chỉ có Đức Giáo Hoàng được làm lễ tại bàn thờ này mà thôi. Trên bàn thờ có lọng tán kiểu Gôtích, được trang trí bằng những bức bích họa có từ thế kỷ 13. Bàn thờ hiện nay bao gồm bàn thờ cũ bằng gỗ do 33 vị Giáo Hoàng đầu tiên sử dụng, từ thánh Phêro tới thánh Silvestro (thế kỷ thứ I đến IV).
Phần dưới bàn thờ được thiết kế vào thế kỷ thứ IX, ở bên dưới có mộ Đức Giáo Hoàng Martino V Colouna (1484- 1492), là vị Giáo Hoàng đầu tiên ở đây sau cuộc ly khai của anh em chính thống Đông và Tây phương. Ngài cũng là vị đã cho thực hiện lát nền đền Nhà thờ bằng nhiều đá cẩm thạch màu sắc khác nhau.
Theo tương truyền phần trên của Nhà tạm do Đức Urbano V thiết lập năm 1367, với khung xám bằng sắt, có giữ đầu của Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ. Trong thời quân Pháp xâm lăng vào năm 1799, hai Thánh tích này bị cướp mất và phá hủy. Ngày nay, người ta có thể thấy vật sao lại do nghệ nhân Valasier làm. Trong Mặt nhật đựng Thánh tích bên trên bàn thờ để Mình Thánh Chúa (làm năm 1600) có giữ một mảnh gỗ bàn bằng gỗ rất cổ kính và đơn sơ, theo tương truyền ở Roma, đây là bàn thờ, trên đó Thánh Phêrô đã cử hành thánh lễ. Thánh tích này chỉ được trưng bày ngày lễ Phục Sinh.
Ngày nay, Đền thờ này do một vị Hồng y thay mặt Đức Giáo Hoàng làm Giám quản.
c. Giếng Rửa tội
Ở khu vực bên phải Đền thờ, sau Tòa giám quản có giếng rửa tội. Giếng này có từ thời hoàng đế Constantino (theo lưu truyền vị hoàng đế này đã được Đức Giáo Hoàng Silvestro rửa tội tại đây) và từ năm 432 dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixto III (432- 440), giếng rửa tội có hình bát giác, sau đó trở thành kiểu mẫu cho các giếng rửa tội trong toàn thể thế giới Kitô giáo. Giếng này được trùng tu vào năm 1637 dưới thời Đức Giáo Hoàng Urbano VIII.
d. Tháp Bút

                                                           
Đây là tháp bút cao nhất và cổ kính nhất Roma, cao 47 mét tính cả bệ (không có bệ thì cao 32 mét). Tháp bút này bằng đá hoa cương màu đỏ của Ai cập cổ từ thế kỷ XIV trước Công nguyên, và được đưa từ Thèbes bên Ai Cập (tại đền thờ thần Ammoni) về Roma hồi thế kỷ thứ 4, theo lệnh hoàng đế Constanzo 2 trên một con tàu đặc biệt để chở tháp này về Roma. Tháp được đặt tại Circo Massimo dưới chân dinh thự Palatino. Vậy là tháp này có độ tuổi 3.500 tuổi.
Năm 1588 Đức Giáo Hoàng Sixto V đã tái thiết và cho chở từ Circo Massimo về Latêranô và dựng trước Đền thờ. Trước mặt bệ tháp có ghi hàng chữ: "Constantino, người chiến thắng nhờ sự chuyển cầu của Thánh Giá, đã được Thánh Silvestro rửa tội tại nơi này, ông đã truyền bá vinh quang của Thánh Giá".
Tiện đây cũng xin ghi nhận Roma là thành phố cổ có nhiều tháp bút nhất thế giới, tổng cộng có chừng 13 tháp.
e. Khu vực cạnh Đền thờ
Gần Đền thờ có tường thành do Hoàng đế Aurelio xây vào thế kỷ thứ III và có cổng San Giovanni. Phía trước Đền thờ có đài kỷ niệm với tượng thánh Phanxico Assisi, nhắc lại sự tích vào năm 1210, thánh nhân cùng với các bạn đến Laterano để xin Đức Giáo Hoàng Innocentê III phê chuẩn luật dòng của mình.
2. ĐỀN THỜ ĐÍCH THỰC
Kỷ niệm ngày thánh hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, tức chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21). Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại. Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa. Quả thế, Thánh Linh đã phục sinh thân thể Đức Giêsu. Chúa Cha đã đặt Người làm Trung gian duy nhất để chuyển cầu cho nhân loại (x. 2 Tm 2,5; Dt 9,15; 12,24). Không thể cầu nguyện ở bất cứ nơi nào ngoài đền thờ này. Người Do thái đã phá hủy đền thờ này. Nhưng nội trong ba ngày Đức Giêsu đã xây dựng lại nhờ quyền lực Thánh linh để chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa và anh em đồng loại. Tất cả mọi giá trị và ý nghĩa của vương cung thánh đường Latêranô cũng như các thánh đường khác đều phải bắt nguồn từ đền thờ này. Thật vậy, "không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô" (1Cr 3,11) Máu và nước từ cạnh sườn Đức Giêsu tuôn chảy như giòng sông. "Sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống" (Ed 47,9). Nếu Đức Giêsu không chết và sống lại, nhân loại không thể đón nhận được nguồn mạch sự sống lớn lao như vậy.
Người được phúc đón nhận sự sống đó đầu tiên phải là tín hữu. Vì họ là "thân thể Đức Kitô" (2 Cr 12,27). Bởi đó, họ cũng là "Đền Thờ của Thiên Chúa" (1 Cr 3,16). Nếu thế, tất cả những gì diễn ra trong thân xác Đức Giêsu cũng sẽ tìm thấy nơi con người Kitô hữu. Thật là một vinh dự vô cùng lớn lao khi biết Thiên Chúa cư ngự trong thân xác chúng ta. Tội lỗi đã phá hủy đền thờ này nhiều lần. Nhưng Thánh linh đã lấy ân sủng tái thiết và trang hoàng lộng lẫy cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Từ đó, con người có thể tìm lại niềm hy vọng và sự sống mới. Chúa Thánh linh không bao giờ mỏi mệt phục hồi "Đền Thờ của Thiên Chúa". Cuối cùng Thánh linh sẽ phục sinh thân xác chúng ta cũng như đã phục sinh Đức Giêsu (x. 1 Cr 6,14).
Chính vì niêm tin lớn lao đó, Kitô hữu luôn tràn đầy niềm hy vọng giữa bao nhiêu thăng trầm cuộc đời hôm nay. Trái lại, chỉ những ai không tôn trọng Đền Thờ Thiên Chúa, mới đánh mất niềm hi vọng đó. Nhiều giá trị đảo lộn chỉ vì thân xác đã bị lạm dụng cho những mục tiêu văn hóa, chính trị, kinh tế ...Con người đã trở thành công cụ phục vụ chế độ. Người ta sẵn sàng hy sinh con người. Nhưng nên nhớ "ai phá hủy Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy là chính anh em" (1 Cr 3,17).
Hôm nay, trong khi tôn vinh Thánh đường Latêranô, thánh đường Mẹ ở Rôma, chúng ta tôn vinh chính thánh đường của giáo xứ chúng ta, nơi chúng ta họp nhau lại cầu nguyện nhân danh Chúa. Chính Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta khi chúng ta liên kết với Ngài trong tình yêu mến và liên kết với nhau trong tình huynh đệ để xây dựng nên đền thờ của Thiên Chúa.
Xin Chúa cho chúng ta biết xây dựng chính đền thờ tâm hồn mình và biết cùng nhau hiệp nhất xây dựng đền thờ Giáo hội.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

(Nguồn :tonggiaophanhanoi.org)

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

BÍ MẬT CỦA BÚT CHÌ



Hầu hết trong chúng ta đều quen thuộc với cây bút chì, dù bạn có là dân thiết kế, hay kỹ thuật. Cây bút chì đồng hành với chúng ta từ khi vụng về tập cầm bút, cho tới khi trưởng thành. Đối với những người thiết kế thì cây bút chì càng không thể thiếu, hầu như tất cả những tác phẩm sáng tạo trên thế giới đều bắt đầu từ những nét vẽ chì. Nhưng để nói về lịch sử của nó thì không phải ai cũng biết.

Khái niệm về cây bút chì       

Bút Chì là một đồ dùng để viết, vẽ trên giấy hoặc gỗ v..v, lõi thường được cấu tạo bởi than chi, hoặc những hợp chất từ than hoặc tương tự.  




Lịch sử hình thành của cây bút chì. 

Thời La Mã xưa, các nhà truyền giáo đã dùng một que kim loại gọi là stylus để viết ra những kí hiệu màu trắng trên một tờ giấy làm từ vỏ cây papyrus (hay còn loại là giấy cói, được tạo nên từ loại cây papyrus mọc ở châu thổ sông Nine).  Sau đó, than chì được phát hiện, và hình ảnh cầm cục than viết được coi là hành động sử dụng cây bút là ta gọi là bút chì được tạo nên. Đến năm 1564, tại Borrowdale, Anh, người ta đã phát hiện ra than graphite, loại than để lại nét vẽ đậm hơn, tuy nhiên vì các que than mềm và dễ gãy, nên ban đầu người dùng bọc than trong giấy, hoặc cột lại với nhau, cho đến khi than chì được đưa vào thanh gỗ rỗng ruột, vậy là cây bút chì gỗ đầu tiên ra đời. 

Ngành công nghiệp sản xuất bút chì 

Thời gian đầu, Ruột bút chì (loại thường) trong sản xuất công nghiệp thường được tạo ra bằng hỗn hợp than chì và đất sét mịn trộn với nước để tạo các sợi ruột chì dài. Các sợi ruột chì này được nhúng vào dầu hoặc sáp và đổ vào nửa phần vỏ bút có tạo rãnh. Sau đó, nửa phần vỏ bút còn lại được gắn lên trên và ép lại. Sau đó, cây chì dài này được sơn lại và cắt ra thành từng đoạn bút chì để bán.  Nuremberg, Đức được coi là nơi sản xuất cây bút chì gỗ hàng loạt đầu tiên vào năm 1662, sau đó được phát triển mạnh mẽ bởi Faber- Castell(thành lập vào năm 1761), Lyra, Steadtler và các công ty khác, hoạt động sản xuất phát triển cực kì mãnh mẽ vào thể kỷ 19.




Phân loại bút chì theo màu

Về màu sắc, bút chì được phân làm 2 loại, bút chì thường màu đen và bút chì màu có nhiều màu sắc. Bút chì đen thường được sử dụng để viết nháp hoặc tập viết còn bút chì màu được dùng trong hội họa, tô màu là chủ yếu. 





Phân loại bút chì theo độ cứng

Độ cứng của bút chì tại Việt Nam sử dụng theo hệ thống phân loại độ cứng bút chì Châu Âu hiện đại, trải từ 9H (cứng và nhạt nhất) đến 9B (mềm và đậm nhất). Tuy thang phân loại khá dài nhưng người ta chỉ thường dùng loại từ 2H đến 5B mà thôi.




Phân loại theo ứng dụng

  • Bút chì viết 
  • Bút chì kỹ thuật: bút chì kim 
  • Bút chì màu học sinh
  • Bút chì màu nước dùng cho hội hoạ 
  • Bút chì màu dầu
  • Bút chì trang điểm

Câu chuyện về “Giải quyết vấn đề dùng bút chì”  

Trong các khóa huấn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, người ta thường dùng ví dụ về bút chì để minh họa cho ý kiến “Đơn giản là sức mạnh”. Câu chuyện được kể như sau: Vào thập niên 1970, NASA đã chi hàng triệu đô la Mỹ để nghiên cứu một loại bút áp lực để các phi hành gia có thể viết được trong tình trạng không trọng lực. Trong khi đó, người Liên Xô sử dụng một phương pháp đơn giản hơn để đạt được mục đích là viết trong tình trạng không trọng lực: sử dụng bút chì truyền thống. 




Vì sao bút chì được sơn màu vàng?  

Bút chì được sơn vàng từ những năm 1890 và màu vàng sáng này để tìm cho dễ vì nó dễ bị lẫn lộn trên bàn gỗ cùng màu. Trong những năm 1800, graphite tốt nhất được nhập cảng từ Trung quốc. Bởi vậy các hãng chế tạo muốn cho mọi người biết rằng bút chì của họ làm bằng than graphite của Trung quốc. Bên Trung quốc, màu vàng là màu vua chúa, là màu được trọng vọng. Người Mỹ sơn màu vàng sáng trên bút chì để có cảm nhận “vua chúa” và cho thấy rằng cái ruột chì phẩm chất tốt của nó có liên hệ với Trung quốc.  Hiện nay hết 75% số bút chì tại Hoa kỳ được sơn màu vàng. 




Những danh nhân đã dùng bút chì  

John Steinbeck viết quyển The grapes of wrath và Cannery Row, đã dùng mỗi ngày cỡ 60 bút chì gỗ cedar. Ernest Hemingway, tác giả The old man and the sea và The snow of Kilimandjaro rất thích dùng bút chì để ghi tư tưởng của mình.  Trước khi viết Walden, Henry David Thoreau chế ra bút chì trong xưởng của cha ông. Bút chì của Thoreau được nổi tiếng là cứng nhất và đen nhất Hoa kỳ. Thomas Edison có sáng kiến giữ trong túi áo vest mình một đoạn bút chì dài 3,5 inches để ghi. Bút chì là lối thoát tiêu biểu cho những người lính trong thời kỳ nội chiến Nam Bắc Mỹ  Leonardo Da Vinci thường dùng bút chì để phác họa, vẽ tranh. 

Bút chì có cục gôm (Cục tẩy)  

Mẫu viết chì đầu tiên có gắn cục gôm (Cục tẩy) nơi đầu là do Hyman Lipman ở Philadelphia chế ra năm 1858. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các cây bút chì được bán không có cục tẩy ! Cục gôm (Cục tẩy) đầu tiên làm bằng nhựa cây cao su. Càng ngày gôm được chế bằng cao su nhân tạo và thêm đá bọt (pumice, là loại nham xốp nhẹ dùng để tẩy các vết dơ) nhưng sau đó được thay thế bằng vinyl. Vinyl là một loại chất dẻo bền và dai. 




Bút chì bấm  

Viết chì bấm có cấu tạo phức tạp hơn viết chì chuốc. Thân viết dc làm bằng nhiều chất liệu, thường là nhựa cứng, nhẹ mà lại rất bền, chắc. Thân có hình tròn, bán kính có khi tới 0,75cm, để cho những người có bàn tay to cầm vừa. Có loại thân mảnh dẻ hơn, phù hợp với bàn tay của những em hs, sinh viên. Trên đầu viết chì bấm có loại có một cục tẩy nhỏ, có loại chỉ có một cái nắp cùng chất liệu với thân, giúp cho việc bấm, đẩy ngòi. Sau lớp vỏ thân viết là một ống nhựa dẻo hoặc cứng chạy dài theo thân viết, có chức năng giữ cho những cây ngòi đi thẳng từ trong thân ra ngoài. Vỏ viết thì dc trang trí bằng nhiều loại hoa văn từ đơn giản đến cầu kì và có nhiều màu sắc sặc sỡ. Có loại có lò xo ở gần ngòi viết để độ đàn hồi, đẩy cây ngòi ra được ăn, chắc hơn. Có loại chỉ có 1 ống nhựa có thể giữ cây ngòi, và khi bấm viết, nó sẽ đẩy cây ngòi dài ra và giữ lại. Ngòi viết là phần quan trọng nhất, có chức năng định vị, giữ cho cây ngòi yên, không run, dịch chuyển khi dùng. Ngòi viết nhỏ, hình như một cái nắp hay cái chuông tí hon, bằng thiết hoặc sắt. Viết chì bấm thì nếu giữ gìn cẩn thận thì dùng sẽ lâu hơn viết chì chuốt. Vì viết chì chuốc khi chuốt ngắn đi thì sẽ không còn dùng được nữa, phải mua cây mới. Còn viết chì bấm thì chỉ cần thay ngòi, dùng được lâu, bền hơn

(Nguồn : idesign.vn)



Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

CÂU CHUYỆN CỦA CÂY BÚT CHÌ





Khi ra đời, một cây bút chì luôn thắc mắc rằng cuộc sống bên ngoài xưởng làm bút chì sẽ ra sao bởi thỉnh thoảng nó nghe những người thợ nói chuyện với nhau. Bút chì băn khoăn mãi, anh em của nó cũng không biết gì hơn. Cuối cùng, trước hôm được mang đến các cửa hàng, bút chì hỏi người thợ làm bút rằng nó và anh em nó sẽ ra sao ở bên ngoài cuộc sống rộng lớn kia.

Người thợ làm bút mỉm cười. Ông nói:

- Có năm điều cháu và các anh em của cháu nên nhớ khi bắt đầu cuộc sống. Nếu cháu nhớ và làm được thì cháu sẽ trở thành cây bút chì tốt nhất.

Thứ nhất: cháu có thể làm được những điều kì diệu nhất nếu cháu nằm trong bàn tay một người nào đó và giúp họ làm việc.

Thứ hai: cháu sẽ cảm thấy đau đớn mỗi khi bị gọt, nhưng phải như thế cháu mới tốt hơn và có thể tiếp tục cuộc sống của mình.

Thứ ba: nếu cháu viết sai một lỗi, cháu hãy nhớ để sữa lại là được.

Thứ tư: điều quan trọng nhất đối với cháu và những người dùng cháu không phải là nước sơn bên ngoài cháu, mà là những gì bên trong cháu đấy.

Và cuối cùng: trong bất cứ trường hợp nào, cháu cũng vẫn phải tiếp tục viết. Đó là cuộc sống của cháu, cho dù cháu gặp tình huống khó khăn như thế nào cũng vẫn phải viết thật rõ ràng, để lại những dấu ấn của mình.



(Nguồn : songdep.xitrum.net)



Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

9 ĐIỂM NGẮM CẢNH ĐÁNG SỢ NHẤT THẾ GIỚI

Nằm cheo leo ở độ cao khủng, những điểm quan sát này cho du khách chiêm ngưỡng khung cảnh hùng vĩ trong cảm giác "sợ chết khiếp".



9. Đường trên trời Glacier, Jasper, Canada: đài quan sát Glacier Skywalk đem lại cho du khách một trải nghiệm ấn tượng với “sông băng bên trên và chim bay phía dưới”. Nhưng ở độ cao 280m, nơi này không dành cho những người yếu tim. Ảnh: wanderlust.

1. Đường trên trời Glacier, Jasper, Canada:
 Đài quan sát Glacier Skywalk đem lại cho du khách một trải nghiệm ấn tượng với “sông băng và chim bay phía dưới”. Tuy nhiên, ở độ cao 280 m, nơi này không dành cho những người yếu tim.

2. Tháp Sears, Chicago, Mỹ: Tháp Sears ở Chicago là một trong những tòa nhà cao nhất thế giới với 110 tầng. Ở tầng 103, bốn hộp kính được gắn ngoài tòa nhà để du khách có thể bước ra và chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố từ trên cao. Điểm tham quan tên “The Ledge” này có tường, sàn và trần bằng kính trong suốt, được thiết kế để đem lại cho du khách “cảm giác như đang bay”. Mỗi ngày có tới 25.000 du khách tới đây. Phần lớn thừa nhận cảm giác duy nhất mà họ thấy là “sợ chết khiếp”. Ảnh: Wanderlust.co.uk


2. Tháp Sears, Chicago, Mỹ:
 Tháp Sears ở Chicago là một trong những tòa nhà cao nhất thế giới với 110 tầng. Ở tầng 103, 4 hộp kính được gắn ngoài tòa nhà để du khách có thể bước ra và chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố từ trên cao. Điểm tham quan tên “The Ledge” này có tường, sàn và trần bằng kính trong suốt, được thiết kế để đem lại cho du khách “cảm giác như đang bay”. Mỗi ngày có tới 25.000 du khách tới đây. Phần lớn thừa nhận cảm giác duy nhất mà họ thấy là “sợ chết khiếp”.

3. Điểm quan sát Aurland, Norway: Trông như một con dốc trượt ván khổng lồ, đài quan sát do tập đoàn IKEA xây dựng này giúp du khách chiêm ngưỡng vùng vịnh hùng vĩ phía dưới, cũng như cảm giác rằng nếu cứ đi tiếp bạn sẽ ngã xuống. Ảnh: Wanderlust.co.uk


3. Điểm quan sát Aurland, Norway:
 Trông như một con dốc trượt ván khổng lồ, đài quan sát do tập đoàn IKEA xây dựng này giúp du khách chiêm ngưỡng vùng vịnh hùng vĩ phía dưới, cũng như cảm giác rằng nếu cứ đi tiếp bạn sẽ ngã xuống.

4. Đường trên không Grand Canyon, Arizona, Mỹ: Cây cầu trong suốt hình móng ngựa nhô ra khỏi vách đá này đem lại cho du khách cảm giác “đi trên hẻm núi Grand Canyon”. Sàn cầu bằng kính cho phép bạn nhìn thẳng xuống dòng sông Colorado dưới đó 1.450m, dù bạn có muốn hay không. Ảnh: Wanderlust.co.uk


4. Đường trên không Grand Canyon, Arizona, Mỹ:
 Cây cầu trong suốt hình móng ngựa nhô ra khỏi vách đá này đem lại cho du khách cảm giác “đi trên hẻm núi Grand Canyon”. Sàn cầu bằng kính cho phép bạn nhìn thẳng xuống dòng sông Colorado dưới đó 1.450 m, dù bạn có muốn hay không.

5. Chỗ trú chân Geurvasutti, Mont Blanc, Ý: Trông như một phần xác máy bay nhô ra khỏi vách núi, đường ống màu trắng và đỏ này được thiết kế để có thể chứa 12 người leo núi một lúc. Ở độ cao 3.000m so với mực nước biển, treo trên một vực sâu đáng sợ, nơi này cho du khách thưởng lãm cảnh sông băng Frébouze kì vĩ. Tại đây có mạng để những người leo núi có thể Google đường xuống. Ảnh: Wanderlust.co.uk


5. Chỗ trú chân Geurvasutti, Mont Blanc, Italy:
 Trông như một phần xác máy bay nhô ra khỏi vách núi, đường ống màu trắng và đỏ này được thiết kế để có thể chứa 12 người leo núi một lúc. Ở độ cao 3.000 m so với mực nước biển, treo trên một vực sâu đáng sợ, nơi này cho du khách thưởng lãm cảnh sông băng Frébouze kỳ vĩ.

6. Đường trên trời Thiên Môn, Trương Gia Giới, Trung Quốc: Không chịu thua kém Mỹ, Trung Quốc đã xây dựng một đường trên trời ở núi Thiên An Môn tại Trương Gia Giới. Nằm ở độ cao 1.400m so với mực nước biển, cây cầu này có chiều dài hơn 60m. Để tiết kiệm tiền bảo hiểm phải trả cho người lau dọn, du khách phải bọc giày trước khi đi qua để giúp con đường được sạch sẽ. Ảnh: Wanderlust.co.uk


6. Đường trên trời Thiên Môn, Trương Gia Giới, Trung Quốc: 
Không chịu thua kém Mỹ, Trung Quốc đã xây dựng một đường trên trời ở núi Thiên An Môn tại Trương Gia Giới. Nằm ở độ cao 1.400 m so với mực nước biển, cây cầu này có chiều dài hơn 60 m. Để tiết kiệm tiền bảo hiểm phải trả cho người lau dọn, du khách phải bọc giày trước khi đi qua để giúp con đường sạch sẽ.

7. Đường trên trời bằng gỗ, núi Shifou, Trung Quốc: Không để tỉnh bạn qua mặt, cách đó 130km, tỉnh Hồ Nam đã xây dựng một đường trên trời bằng gỗ vô cùng độc đáo ở núi Shifou. Con đường rộng chưa đầy 1m được làm từ ván gỗ nằm ở độ cao 300m so với mặt đất, kéo dài gần 3km. Đây là đường ngắm cảnh dài nhất Trung Quốc. Ảnh: Wanderlust.co.uk


7. Đường trên trời bằng gỗ, núi Shifou, Trung Quốc: 
Tỉnh Hồ Nam đã xây dựng một đường trên trời bằng gỗ vô cùng độc đáo ở núi Shifou. Con đường rộng chưa đầy 1 m được làm từ ván gỗ nằm ở độ cao 300 m so với mặt đất, kéo dài gần 3 km. Đây là đường ngắm cảnh dài nhất Trung Quốc.

8. Bể bơi của Quỷ, thác Victoria, Zambia: Chỉ nhìn thác nước hùng vĩ nhất châu Phi thôi là chưa đủ với bạn? Sao không thử nhìn xuống từ phía trên nó trong lúc bơi lội? Bể bơi của Quỷ là một hồ bơi tự nhiên nằm sát rìa thác Vitoria, dọc sông Zambezi ở biên giới Zambia và Zimbabwe. Vào mùa khô, nước ở Bể bơi của Quỷ hạ xuống đủ để du khách bơi ra rìa thác và nhìn xuống từ độ cao 90m. Hướng dẫn viên địa phương khẳng định bạn sẽ không bị cuốn xuống nhờ có một tường đá tự nhiên ở ngay dưới bề mặt nước. Nhưng bạn có dám thử không?


8. Bể bơi của Quỷ, thác Victoria, Zambia: 
Bể bơi này nằm sát rìa thác Vitoria, dọc sông Zambezi ở biên giới Zambia và Zimbabwe. Vào mùa khô, nước ở Bể bơi của Quỷ hạ xuống đủ để du khách bơi ra rìa thác và nhìn xuống từ độ cao 90 m. Hướng dẫn viên địa phương khẳng định bạn sẽ không bị cuốn xuống nhờ có một tường đá tự nhiên ở ngay dưới bề mặt nước. Nhưng bạn có dám thử không?

9. Cầu thang xoắn Linzhou, dãy núi Taihang, Trung Quốc: Dãy núi Taihang dài hơn 400km  chạy qua địa phận các tỉnh Hà Nam, Sơn Tây và Hà Bắc. Các quan chức địa phương khẳng định cầu thang xoắn dài 90m được xây dựng trên vách núi Taihang sẽ đem lại cho du khách một trải nghiệm ấn tượng. Những du khách muốn đi thử phải kí giấy cam đoan họ không có vấn đề về tim phổi và dưới 60 tuổi. Ảnh: Wanderlust.co.uk


9. Cầu thang xoắn Linzhou, dãy núi Taihang, Trung Quốc:
 Dãy núi Taihang dài hơn 400 km chạy qua địa phận các tỉnh Hà Nam, Sơn Tây và Hà Bắc. Các quan chức địa phương khẳng định cầu thang xoắn cao 90 m được xây dựng bám vào vách núi Taihang sẽ đem lại cho du khách một trải nghiệm ấn tượng. Những du khách muốn đi thử phải ký giấy cam đoan họ không có vấn đề về tim phổi và dưới 60 tuổi.

Ảnh: Wanderlust.co.uk



Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC LẬP BÀN THỜ TỔ TIÊN KHÔNG ?


Hỏi :
     Đạo Công Giáo ngày nay có cho phép gia đình Công Giáo được lập bàn thờ ông bà cha mẹ đã khuất hay không ? Có được thắp nhang đèn, van vái trước bàn thờ tổ tiên, tổ chức giỗ chạp theo phong tục cổ truyền đối với người quá cố như các gia đình Việt Nam khác không có đạo không ?

Trường hợp gia đình cha mẹ con chỉ thờ phượng ông bà tổ tiên thôi thì khi lập gia đình chúng con có thể khấn lạy ra mắt ông bà tổ tiên của gia đình mình cũng như bên gia đình nhà vợ không ?


Giải đáp:

Anh M. thân mến,

Như anh đã biết người Công Giáo cũng có bổn phận thảo hiếu với cha mẹ và tổ tiên ông bà. Ngoài việc chăm lo phụng dưỡng khi còn sống mà cả khi đã qua đời cũng luôn phải nhớ ơn, xin lễ và và cầu nguyện cho các ngài nữa.

Nhân câu hỏi của anh về việc lập bàn thờ cho ông bà, cha mẹ đã khuất và giỗ chạp theo phong tục cổ truyền của người Việt Nam tôi xin trích Thông cáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam làm tại Đà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965 xin Tòa Thánh áp dụng huấn thị Plane compertum est(8-12-1939) về việc tôn kính tổ tiên đã được Bộ Truyền giáo chấp thuận Ngày 20-10-1964 :

Thể thức áp dụng Huấn thị Plane compertum est

1) Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổi nhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tính cách thế tục, lịch sự và xã giao đó, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.

Vì thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, có một ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...) thì được thi hành và tham dự cách chủ động.

2) Trái lại, vì có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công Giáo được tinh tuyền, Giáo Hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặc tự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lý mình dạy.

Vì thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lý Công Giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ lòng phục tùng và sự lệ thuộc của mình đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoan rõ rệt (như đốt vàng mã), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự... thì giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện một cách thụ động như đã ấn định trong giáo luật, khoản 1258 (GL 1917).


Một văn kiện nữa là thông cáo của Hàng Giám Mục Việt Nam sau Đại Hội toàn quốc kỳ VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc đã diễn ra tại Nha Trang từ ngày 12 đến 14 tháng 11 năm 1974 cụ thể hoá hơn nữa những gì được thực hiện phù hợp với tinh thần hội nhập văn hoá của quê hương, đất nước . Kết thúc khóa họp, 7 giám mục tham dự ra thông cáo về "Lễ Nghi Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên." Các giám mục chấp thuận và cho thi hành quyết nghị của Ủy Ban Giám Mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 19 tháng 4 năm 1972.

Thông cáo giải thích thêm 6 điểm của quyết nghị 1972:

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày "kỵ nhật" được "cúng giỗ" trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm "Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên" trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với Ông Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Ðược tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các "yêu thần, tà thần".


Với thông cáo chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam anh có thể yên tâm biểu lộ những cử chỉ tôn kính, hiếu thảo đối với tổ tiên và cả với những người có công với dân tộc trong xã hội nữa. Về những cử chỉ bầy tỏ sự tôn kính trong hôn lễ trước bàn thờ tổ tiên cũng đã được thông cáo trình bầy rõ ràng, chắc hẳn đã trả lời cho những thắc mắc của anh.

Hi vọng những điều vừa trình bầy giúp anh và nhiều người khác hiểu rõ lập trường của Hội Thánh đối với phong tục của dân tộc Việt Nam. Việc tôn kính tổ tiên không những chỉ là một việc nên làm mà còn là bổn phận và nghĩa vụ của con cháu theo lệnh truyền của Chúa là thảo kính cha mẹ, giới răn đứng ngay sau việc thờ phượng Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT giải đáp
(http://nhacthanh.net/diendan/)