Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

GIAI THOẠI VỀ SONATE ÁNH TRĂNG CỦA BEETHOVEN


Mời nghe
Moonlight Sonata - Michael Lucarelli trình bày bằng guitar




                                   

Beethoven sáng tác bản Sonata cho piano số 14 năm 1801 và đề tặng cho cô học trò 17 tuổi của mình là nữ bá tước Giulietta Guicciardi. Sau khi Beethoven qua đời vài năm, nhà thơ và cũng là nhà phê bình âm nhạc Đức Ludwig Rellstab đã so sánh những giai điệu mượt mà trong chương đầu của tác phẩm với ánh trăng trên hồ Lucerne. Từ đó bản nhạc này được mọi người biết đến dưới cái tên "Sonata ánh trăng".

"Sonata ánh trăng" huyền ảo quá, và ngay cả sự ra đời của nó cũng có thật nhiều giai thoại. Sau đây là một giai thoại nổi tiếng về xuất xứ của bản nhạc bất hủ này.

                                  

Năm 1801, Beethoven đang sống ở kinh đô âm nhạc thế giới là thành Vienna – thủ đô nước Áo. Để trang trải khó khăn trong cuộc sống thường ngày, ngoài việc sáng tác, Beethoven còn dạy nhạc cho con gái các nhà quý tộc. Beethoven xấu trai nhưng mang một trái tim nghệ sĩ đa tình. Ông đem lòng yêu say đắm một học trò của mình là Giulietta Guicciardi. Cô thiếu nữ dường như cũng biết được điều đó nhưng chỉ im lặng khiến Beethoven càng thêm hy vọng. Thế nhưng, tình cảm ấy của Beethoven đã bị cự tuyệt khi ông ngỏ lời với Giulietta dưới vòm hoa nhà nàng vào một buổi tối sau khi dạy xong. Tuyệt vọng và đau đớn, đêm hôm đó Beethoven đã lang thang vô định trong thành Vienna rồi đứng cô độc trên cây cầu bắc qua dòng Danube xanh xinh đẹp. Đó là một đêm trăng rất sáng, Beetthoven như sực tỉnh khi đắm mình trong một không gian tĩnh lặng ngập tràn ánh trăng với nước sông Danube lấp lánh huyền ảo. Thành Vienna đã chìm sâu vào giấc ngủ, chỉ còn người nhạc sĩ đau đáu một mảnh tình đơn phương đang đứng cô độc giữa đất trời thấm đẫm ánh trăng. Đâu đây tiếng dương cầm vang lên xa vắng, tiếng đàn như hút hồn dẫn bước chân Beethoven đi một cách vô thức đến một ngôi nhà trong khu lao động nghèo. Ở đó chỉ có người cha đang ngồi nghe cô con gái mù của mình chơi dương cầm. Người cha đau khổ bảo Beethoven rằng con gái mình chỉ có một ước mơ duy nhất suốt cuộc đời là được ngắm nhìn ánh trăng trên dòng Danube, nhưng ông chẳng bao giờ có thể đem đến cho con niềm hạnh phúc giản dị ấy. Xúc động trước tình cảm của người cha dành cho con gái và ngạc nhiên trước tiếng dương cầm thánh thót của người thiếu nữ mù, Beethoven ngồi vào cây đàn và bắt đầu chơi. Những nốt nhạc vang lên ngẫu hứng, ào ạt dâng theo cảm xúc mãnh liệt của nhà soạn nhạc thiên tài, lúc nhẹ nhàng hiền dịu như ánh trăng, lúc lại mạnh mẽ mênh mang như sóng sông Danube. Dường như không còn cuộc sống vất vả với những lo toan thường nhật, không còn những mảnh đời đau khổ, những bi thương tuyệt vọng mà chỉ còn một thế giới huyền ảo, lung linh như cổ tích. Tiếng nhạc ngân lên trong ánh trăng, thấm đẫm trong ánh trăng, dạt dào trong ánh trăng, đọng lại từng giọt cảm xúc đầy khát vọng bứt ra khỏi lời nguyền của số phận.


Didi (sưu tầm và giới thiệu)


Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

THIÊN TÀI ÂM NHẠC BEETHOVEN : TÌM HẠNH PHÚC TRONG KHỔ ĐAU BỆNH TẬT


Mời nghe tuyệt phẩm
Beethoven - Moonlight Sonata (60 Minutes Version)


TRƯƠNG TẤT THỌ

     Những người yêu nhạc cổ điển chắc sẽ không thể nào quên được tiếng dương cầm réo rắt làm say đắm lòng người với nhạc phẩm “Lettre à Elise” hay “Sonata quasi una Fantasia” (dạo khúc ánh trăng) của Beethoven. Ông là đại nhạc sư của nền âm nhạc thế giới, nhưng mấy ai biết được, ông cũng là người nghệ sĩ mang trong mình nhiều bệnh trong đó có cả bị điếc và không nghe được những âm thanh do mình sáng tạo nên cho nhân loại?

TÀI HOA NỞ TRÊN ĐAU KHỔ

Nhạc sĩ Beethoven (1770 – 1827)có tên là Ludwig van Beethoven, sinh ngày 16 tháng 12, năm 1770, tại Bonn, Đức quốc. Cuộc đời của Beethoven (Ludwig van Beethoven) là một chuỗi liên tiếp rủi ro, bất hạnh. Cha ông, một người đàn ông nghiện ngập đã “giúp” Beethoven “học nhạc” bằng những cuộc nhậu rượu thâu đêm và bắt con trai chơi đàn mua vui cho bạn nhậu. Mặc dù bị ép chơi nhạc trong nỗi sợ hãi và ghê tởm, nhưng cũng nhờ thế, mà từ rất sớm, Beethoven đã hình thành được “sự nhạy cảm” và khả năng cảm thụ âm nhạc tinh tế. Chính trong những buổi dạy với đòn roi, la hét của cha, cậu bé Ludwig đã sớm thể hiện tài năng lớn đồng thời cũng trở nên ương ngạnh, bất hòa với cha mình.
Đến năm 8 tuổi, Beethoven chính thức trình diễn cho công chúng xem. Sang năm 12 tuổi Beethoven trở thành một nhạc sĩ dương cầm xuất sắc, mang nhiều triển vọng cho tương lai và được Tòa Tổng giám mục tại Bonn mướn chơi đàn, mà mức lương Beethoven kiếm được cao hơn cha ông gấp bội. Tới năm 17 tuổi, Tòa Tổng giám mục thấy tiềm năng dương cầm đầy hứa hẹn của Beethoven nên bảo trợ cho ông sang Áo với mục đích theo thọ giáo kỹ thuật dương cầm cao cấp của tay đàn cự phách, lẫy lừng Mozart tại Vienna, khi ấy Mozart được 30 tuổi. Đến năm 1792, ông được 22 tuổi và ông trở lại Vienna, học đàn với các danh cầm như Haydn, Schenck, Albrechtsberger và Salieri.. Beethoven hầu như là người thất bại và cô đơn trên tình trường. Và chính vì không có vợ con ông đã dành toàn thời gian cho việc phát triển tài nghệ âm nhạc.
TÀI HOA, ĐA BỆNH


Đau khổ khi phát hiện mình khiếm thính

Khi đường danh vọng của ông lên cao thì ngược lại sức khỏe của ông lại càng sa sút, yếu kém.
Kể từ năm 1798 đến 1801 ông nhận thấy tai mình không nghe rõ nữa, ông bị mất đi thính giác khi chỉ mới ba mươi tuổi. Ông bị điếc dần dần, bắt đầu là bằng nghe tiếng vo ve và ầm ừ trong lỗ tai rồi điếc đặc. Khi xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng, thính giả đã nồng nhiệt vỗ tay ông nhưng vì điếc Beethoven hoàn toàn dửng dưng với điều đó. Cuối cùng, có người phải kéo tay áo ông nhắc nhở và giúp ông quay lưng lại để ông có thể thấy đám đông hâm mộ mình. Ông đã khóc và đó là một trong những dịp hiếm hoi người ta thấy ông khóc.
Ông đành giã từ nghề nhạc sĩ trình tấu piano bậc thầy nên đâm ra khổ sở, tuyệt vọng, có ý định tự tử rồi quyết định sống ẩn dật, tránh né đám dông, quần chúng.

Những đau đớn thể xác vì nhiều bệnh

Trong cuộc đời của mình, Ludwig van Beethoven đã phải chịu đựng sự hành hạ đau đớn về mặt thể xác. Nguyên nhân bệnh tật của ông cho đến hôm nay vẫn còn là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học. Ngoài chứng điếc tai, ông còn bị chứng viêm phổi, sưng gan, đau bụng hành hạ.
Khi nghiên cứu về Beethoven, nhiều người đã đi đến kết luận sức khỏe ông suy sụp ngay từ khi đang ở độ tuổi 20 và ngày càng trở nên tồi tệ. Ông thường đau bụng dữ dội, biểu hiện của nhiễm độc chì. Tới gần 30 tuổi thì ông bị điếc, nhưng do sức khỏe của Beethoven tồi tệ nên cũng có thể chính các phương pháp và các loại thuốc chữa trị đã khiến cơ thể ông bị nhiễm độc chì.
Có một thời người ta cho rằng Ludwig van Beethoven mắc bệnh giang mai bẩm sinh.

Biến đau thương thành hành động: Trở thành nhạc sĩ sáng tác

Nhưng sự kiên cường vươn lên trong đời, sự đam mê âm nhạc đã thôi thúc ông, đã buộc ông hướng tới tương lai  và coi điều bất hạnh của mình như một động lực để sáng tác, trở thành một Beethoven bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống lại số phận. Ông nói, việc ông bị điếc là thách thức lớn với ông, và ông nhất định chiến thắng. Ông tâm sự Tôi đã thoát khỏi nỗi u buồn và tôi sẽ là một người đàn ông chín chắn, thiết tha với cuộc sống. Bạn có thể nghĩ tôi đang cố tỏ ra hạnh phúc trong điều bất hạnh. Không! Tôi không cam chịu. Cuộc đời này đẹp lắm và tôi có hàng nghìn lý do để sống”.
Chính trong giai đoạn giao thời khi âm nhạc thoát thai từ cổ điển biến dạng sang khuynh hướng lãng mạn, Beethoven đã đóng góp tích cực cho trào lưu mới, ông dồn khả năng cảm thụ âm nhạc và viết lên những tác phẫm mới thật tuyệt vời như “Moonlight” hay “Waldstein”. Đây cũng là giai đoạn ông rung cảm từ con tim, tuy không nghe được, nhưng tưởng tượng ra và ghi lại thành nốt nhạc. Năm 1812 ông cho ra bài hòa tấu khúc số 7 (the Seventh Symphony) và bài số 8 ra đời sau đó không lâu.

Những ngày cuối cùng

Đầu tháng 12-1826, Beethoven trở lại Vienna, bệnh viêm phổi đã lui dần nhưng vài ngày sau, ông phải nằm liệt giường vì mắc chứng xơ gan, toàn thân Beethoven phù nề đáng sợ. Đầu tháng 3/1827, sức khoẻ của ông suy sụp nghiêm trọng,  5:45 chiều ngày 26/3/1827, tim Beethoven ngừng đập, hưởng dương 57 tuổi. Theo kết luận chính thức của y giới thời ấy, ông chết do xơ gan và tràn dịch khoang bụng.
An ủi cuối đời.
Cuộc đời ông chịu nhiều khổ sở về gia đình, về tình ái, và bệnh tật nhưng ở cuối đời, ngày đám tang của ông được tổ chức thật linh đình, trọng thể. Đã có gần 20,000 quan khách tiễn đưa và bạn đồng nghiệp là nhạc sĩ Franz Schubert đứng ra đọc điếu văn từ giã một thiên tài trong âm nhạc. Ông được chôn cất tại Wahring Cemetery. Năm 1888, hài cốt nhà soạn nhạc thiên tài được chuyển tới Zentral ( Vienna)  – nơi an nghỉ dành riêng cho những nghệ sĩ vĩ đại

NGHIÊN CỨU HỘP SỌ BEETHOVEN

Giữa tháng 11 năm 2005, Trung tâm Nghiên cứu Beethoven, thuộc Đại học San Jose (Hoa Kỳ) chính thức tuyên bố đã tìm ra hộp sọ của Beethoven. Đây là tài sản thừa kế của nhà doanh nghiệp Paul Kaufmann (người gốc Áo hiện đang sống tại Danville, California, Hoa Kỳ). Chiếc hộp sọ này gồm 13 mảnh (2 mảnh lớn phía sau sọ, 11 mảnh nhỏ) được khai quật năm 1863 rồi được cất giữ tại Pháp trước khi được chuyển giao cho Paul Kaufmann vào năm 1990. Qua nghiên cứu hộp sọ so sánh DNA với các mẫu tóc của Beethoven, một số giả thuyết về cái chết của Beethoven được củng cố như hàm lượng chì cao. Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne ở Chicago đã đưa ra bằng chứng là ngay từ thời thanh niên Ludwig van Beethoven đã bị nhiễm độc chì rất nặng Công bố này dựa vào sự phân tích một mẫu xương sọ của Ludwig van Beethoven bằng X quang. Như vậy có thể nói ngay từ khi ông mới 20 tuổi Ludwig van Beethoven đã chịu đựng tác động rất nặng của tình trạng nhiễm độc chì. Tuy nhiên người ta vẫn chưa rõ liệu chứng điếc của ông có phải do nhiễm độc chì hay không. Các nhà khoa học cũng không tìm thấy thủy ngân trong cơ thể của Beethoven, như vậy có thể loại trừ giả thiết từ lâu nay rằng ông bị chết bởi bệnh giang mai, căn bệnh thời đó thường được chữa trị  bằng thủy ngân
Gia tài âm nhạc của ông để lại cho hậu thế rất đáng nể gồm:Chín bản Giao hưởng từ 1 đến 9, 1 vở nhạc kịch “Fidelio”, 32 bản sonata cho piano, 5 bản concerto cho piano, 16 bản nhạc cho bộ tứ đàn dây; 16 bản sonata cho piano với nhạc cụ khác (cello, violin)…

(Nguồn :vanthonhactrieuchau.blogspot.com)


Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

DANH HỌA TITIAN


Lúc sinh thời, người ta thường gọi ông là Da Cadore theo nơi ông sinh trưởng. Titian đã đi vào huyền thoại và Arétin, người bạn thân của ông, là người đã góp phần tạo nên những giai thoại về ông

Nếu tác phẩm của một họa sĩ thể hiện cả một thời đại, người ta có thể nói rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của Picasso và thế kỷ 16 ở phương Tây là thế kỷ của Titian, bậc thầy hội họa của thành phố Venise.
tt19.jpgChào đời ở Pieve di Cadore, trong lãnh thổ Cadore, gần Belluno (Veneto), cậu bé Titian (Tiziano Vecelli) chưa đầy 12 tuổi đã cùng người anh là Francesco rời làng mạc ở vùng biên giới Dolomites để đến Venise học nghề với họa sĩ làm tranh ghép Zuccato. Và ngày 27 tháng 8 năm 1576, khi danh họa Titian từ trần giữa lúc sáng tác bức tranh Pietà (Đau Thương), trong khi bệnh dịch hạch đang hoành hành ở thành phố Venise, sổ khai tử của tu viện cho biết tuổi của ông: 103. Nhưng ngày nay có người cho rằng Titian sinh năm 1488, nghĩa là ông chỉ sống đến 88 tuổi. Có sách lại cho là ông sinh năm 1485. Trong một bức thư gởi cho hoàng đế Philip II, ông nói mình sinh năm 1477. Cho đến nay, ngày sinh chính xác của Titian vẫn chưa được xác định dù hầu hết đều cho rằng ông sinh năm 1490.

Lúc sinh thời, người ta thường gọi ông là Da Cadore theo nơi ông sinh trưởng. Titian đã đi vào huyền thoại và Arétin, người bạn thân của ông, là người đã góp phần tạo nên những giai thoại về ông, qua những ghi chép về những hoạt động phong phú và những quan hệ rộng rãi của ông. Người ta kể rằng Hoàng Đế Charles Quint (Charles V của dòng họ Habsburg ở Áo, được phong làm hoàng đế nước Áo, Tây Ban Nha và Ý vào năm 1530) đã cúi xuống nhặt cây cọ ông đánh rơi và chặn đứng những lời xì xào bàn tán của những triều thần không đồng tình với sự tôn kính mà vua dành cho nhà danh họa, bằng một giọng nói như sấm rền: "Titian xứng đáng được César phục vụ".


tt1.jpg


tt2.jpg


Trong khi không một họa sĩ nào khác được lệnh vẽ chân dung của Charles Quint, vị hoàng đế có quyền uy tột bậc này đã trở thành người khách hàng quan trọng nhất và trung thành nhất của Titian, và trong ba năm cuối cùng của đời mình, khi đã từ bỏ ngai vàng và sống ẩn dật trong một tu viện, ông đã mang theo ít nhất 9 bức tranh của Titian. Những thư từ trao đổi giữa Titian và vị hoàng đế cho thấy cả hai đã coi nhau như bạn bè, dù rằng Titian vẫn nhớ đến những phép tắc vượt lên trên tình bạn và không quên "hôn bàn tay Công Giáo bách chiến bách thắng của hoàng đế", đấng quân vương đã tưởng thưởng cho ông bằng nhiều danh hiệu cao quý, từ tước kỵ sĩ đến tước vương công và chức thẩm phán tòa án tối cao, cho phép ông bổ nhiệm các công chúng viên và các quan tòa, giải thoát những người nô lệ hay hợp thức hóa những đứa con ngoài giá thú!

Gombricht cho rằng "Titian không có những kiến thức uyên bác như Leonard de Vinci, cũng không có cá tính mạnh mẽ như Michel-Ange và sức lôi cuốn như Raphael!". Thế nhưng ông đã đạt được vinh quang tột bậc vì tự bản thân ông đã là cả một "đại dương". Nhà văn André Malraux cho rằng: "Tác phẩm của Titian mang lại cho tất cả các họa sĩ một bài học và một sự giải thoát. Nó cởi bỏ sợi dây trói buộc đôi bàn tay của họ". Vô số bức tranh sao chép Titian và những bức phác thảo của các họa sĩ lừng danh như Rubens, Delacroix, Monet, Degas, Cézanne, Poussin, Vélasquez, Watteau cho thấy nhà danh họa của thành phố Venise đã có sức mê hoặc vượt thời gian như thế nào. Tất cả những họa sĩ này đều muốn tận dụng những bài học của Titian mà Victor Basch gọi là "kẻ biết tận dụng", "kẻ biết tiếp thu những yếu tố mà người khác đã sáng tạo ra" để tạo nên bản sắc độc đáo của mình. Titian đã biết tận dụng xưởng thí nghiệm ý tưởng tuyệt vời ở thành phố Venise lúc bấy giờ. Leonard de Vinci đã đến thành phố này vào năm 1500, Durer đã sống ở đây một năm (từ 1505 đến 1506), và những tranh khắc đã giúp cho tác phẩm của Raphael và Michel-Ange lưu hành rộng rãi.


tt3.jpg


tt4.jpg


Sau bốn, năm năm học nghề với Zuccato, Titian bị lôi cuốn bởi "các họa sĩ hiện đại" lúc bấy giờ, chuyển đến xưởng vẽ của Gentile Bellini, trở nên gần gũi với Giovanni Bellini và trở thành người cộng sự của họa sĩ Giorgione. Một cuộc cách mạng trong lãnh vực hội họa đã bắt đầu hình thành ở xưởng vẽ này và tầm vóc của nó có thể sánh được với cuộc cách mạng của Caravage ở thế kỷ sau. Thế nhưng trận dịch năm 1510 đã quật ngã Giorgione ở tuổi 32 và Titian còn lại một mình với một tham vọng lớn lao.

Cuối năm đó, Titian được phái đến Padoue – thành phố mới vừa được chiếm lại bởi vị vương công tương lai Gritti – để thương thuyết sau trận đánh Agnello, nơi các đạo quân của nước Cộng Hòa Venise thảm bại trước các đạo quân của Pháp và các đạo quân của hoàng đế theo liên minh Cambrai. Bức tranh "Những Phép Lạ Của Thánh Antoine" do Titian sáng tác trong khoảng thời gian này đã khẳng định những nguyên lý thẩm mỹ học mới thắng thế bấy lâu nay ở Rome. Khi Titian trở lại Venise – thành phố đã bắt đầu thịnh vượng và tạo được một thế độc lập đầy thách thức đối với nước Ý lúc bấy giờ – con đường dẫn tới vinh quang và sự giàu có đã mở rộng trước mắt ông.


tt5.jpg


tt7.jpg


Năm 1513, khi mới 23 tuổi, Titian đã là một họa sĩ nổi tiếng, được mời đến Rome, ông khéo léo lợi dụng chuyến đi này để đòi hỏi một chức vụ. Chẳng những ông đề nghị vẽ bức tranh "Battle of Cadore" để treo ở phòng họp của Hội Đồng Hồng Y – một điều mà, theo lời ông "cho đến lúc đó, chẳng có một người nào có ý định thực hiện" – mà ông còn muốn thế chỗ của Giovanni Bellini lúc ấy đã ngoài 90 tuổi, để trở thành họa sĩ chính thức của Venise với khoản trợ cấp suốt đời là 100 ducat mỗi tháng. Titian hứa "sẽ hoàn thành tác phẩm nhanh chóng và hoàn hảo đến mức mọi người ở Rome sẽ hài lòng". Thế nhưng ông đã bỏ ra 25 năm để hoàn thành bức tranh này và nó đã bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn lớn vào năm 1577.

Titian sống như một ông hoàng. Đẹp trai, tao nhã, và quyết đoán, chàng họa sĩ trẻ Titian đã tạo lập sự nghiệp chẳng khác gì một đế chế, luôn luôn đòi hỏi những vinh dự lớn lao hơn và nhiều tiền bạc hơn. Chỉ trong vài năm, ông giàu có hơn bất cứ họa sĩ nào khác xưa nay. Một người cùng thời nhận xét rằng "ông có khả năng nói những câu đùa bỡn để tạo bầu không khí vui vẻ trong mọi buổi yến tiệc", còn Arétin nói rằng những bậc thang ở nhà ông mòn nhẵn vì bước chân của những nhân vật có quyền thế bậc nhất thời đó, "chẳng khác gì con đường dẫn tới điện Capitole mòn nhẵn dưới bánh xe của những chiến xa trở về trong chiến thắng".


tt10.jpg


tt11.jpg


Dù Titian chỉ mới ngoài 20 tuổi, những đơn đặt hàng được gởi tới từ khắp mọi nơi, không những từ Venise mà cả từ những thành phố và những cộng đồng tôn giáo "trên đất liền", và những nhân vật có thế lực nhất lúc ấy – từ Alfonso, anh trai của Isabelle d'Este đến Đức Giáo Hoàng và Frédéric de Gonzague, người đã giới thiệu ông với hoàng đế Charles Quint sau lễ đăng quang vào năm 1530 ở Bologne – đã trở thành những khách hàng quen thuộc của ông. Các bức chân dung do Titian vẽ vẫn còn đó như một bằng chứng cho những mối quan hệ rộng rãi và tài năng nghệ thuật của ông. Với phương châm "Natura potentior ars" (nghệ thuật mạnh hơn tự nhiên), Titian đã kết hợp sự thành công vược bậc trong nghề nghiệp với một cuộc chiến đấu lạ lùng cho hội họa. Dần dần, những hình thể và những kết cấu mờ nhạt đi để làm nổi bật màu sắc. Ông đã có lần nói rằng một họa sĩ tài giỏi chỉ cần có 3 màu sắc: màu trắng, đen và đỏ. Vốn đặc biệt coi trọng "nhận thức cảm tính", ông muốn coi tính cách độc lập của màu sắc như một bằng chứng cho tính cách độc lập của một nền hội họa đã hoàn toàn thoát khỏi những ràng buộc của "chủ đề". Goethe cho rằng lúc về già, Titian đã "vẽ những chất liệu mà trước kia ông mô phỏng trong từng chi tiết cụ thể, chẳng hạn như vẽ nhung một cách trừu tượng, như một ý niệm thuần túy về nhung".

Titian sử dụng những cây cọ "lớn như những cây chổi", đôi khi sử dụng cả những ngón tay của mình, "giống như Thượng Đế lúc tạo dựng con người", Palmatre, một học trò của ông, kể rằng khi vẽ tiếp một bức tranh dở dang từ nhiều năm trước, ông nhìn nó "chẳng khác gì một kẻ thù không đội trời chung" và bắt đầu tấn công bằng những nét cọ mạnh mẽ. Ma thuật đã nảy sinh từ cuộc giáp chiến này. Ngày nay Titian vẫn còn là một họa sĩ bí hiểm dù rằng nhiều người đã cảm nhận được tính chất hiện đại tiên phong của ông. Họa sĩ Delacroix thú nhận rằng ông đã mất nhiều thời gian và sức lực để làm sáng tỏ cái "hình bóng vĩ đại" luôn luôn nghe theo "cảm xúc chân thực của mình", còn Cézanne cũng phải thừa nhận sau một thời gian dài quan sát và nghiền ngẫm rằng Titian là "một Shakespeare của bộ môn hội họa".

Giữa tháng 7 năm nay một bức chân dung vô danh được cho là của Titian đã được bán hơn $200,000 trong một cuộc đấu giá ở Leicestershire, Anh. Sau đó báo chí Anh Quốc đưa tin bức họa này được lượng giá tới 5 triệu.


tt12.jpg


tt13.jpg


tt16.jpg


tt17.jpg


tt18.jpg

Sưu tầm


Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

HÔM QUA VÀ NGÀY MAI

                 
Trong một tuần có 2 ngày mà chúng ta không cần phải bận tâm về chúng, có 2 ngày chúng ta không cần phải vướng bận, lo âu hay sợ hãi. 

Ngày đầu tiên chính là ngày hôm qua với tất cả những lỗi lầm, những sai sót, với những nỗi buồn và cả những niềm đau. Ngày hôm qua đã qua rồi và mãi mãi vuột khỏi tầm tay chúng ta. Chẳng có bất kì điều gì có thể thay đổi được ngày hôm qua. Chúng ta chẳng thể lấy lại những thứ đã cho đi, cũng chẳng thể xoá đi dù chỉ là một lời chúng ta đã nói - Bởi ngày hôm qua đã qua rồi. 

Ngày còn lại chính là ngày mai với những thử thách mà chúng ta chẳng thể biết được. Những phiền muộn hay những niềm vui của ngày mai cũng ở ngoài tầm tay của chúng ta. Mặt trời ngày mai sẽ mọc, dù toả sáng rực rỡ hay bị che khuất bởi những đám mây thì mặt trời ngày mai vẫn mọc. Và cho đến tận lúc đó chúng ta chẳng thể nào đánh cuộc chuyện gì sẽ xảy ra ? Bởi ngày mai vẫn chưa đến. 
Chúng ta chỉ còn lại một ngày - đó là ngày hôm nay. Bất cứ một người bình thường nào cũng có thể vượt qua thử thách chỉ trong một ngày hôm nay. Nhưng ngày hôm nay lại thường gục ngã khi phải cộng thêm vào gánh nặng của ngày hôm qua và những gánh nặng của ngày mai. 

Con người thường đau khổ không phải vì hiện tại mà vì những nuối tiếc trong quá khứ và nỗi lo âu trong tương lai. 
Vì thế chúng ta hãy sống cho trọn vẹn một ngày.


Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

CUNG HIẾN VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG LATERANO

CHÚA NHẬT 32 MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM A 
                
                                        Mặt tiền Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Laterano

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG GIOAN LATERANO



E-mail
Print
Mỗi thánh đường thường gợi nhớ và chất chứa bao bao kỷ niệm vui buồn của người Kitô hữu. Đời sống tín hữu gắn liền với thánh đường. Từ đó, họ lớn lên trong niềm tin và trào dâng niềm hy vọng giữa cuộc đời đầy thách đố.
Latêranô là thánh đường lâu đời nhất trong bốn vương cung thánh đường ở Roma. Chính hoàng đế Constantine đã dâng hiến cho Giáo hội trước năm 311. Từ đó, thánh đường Latêranô luôn luôn là trung tâm của đời sống Kitô hữu trong thành phố; dinh thự của các Đức Giáo Hoàng và là nhà thờ chánh tòa của Roma. Qua nhiều thế kỷ, năm Công Đồng chung và nhiều nghị hội địa phận đã nhóm họp tại Thánh Đường Latêranô. Chính vì thế, thánh đường Latêranô xứng đáng "Mẹ của các giáo đường khắp thế giới" .
Năm Đức Tin, tôi có đến Roma kính viếng Thánh Đường Latêranô.
1. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH GIOAN LATERANO
a. Lịch sử
Vào cuối thế kỷ thứ III, Đế quốc Roma theo chế độ "Tứ đầu chế" tức là có 4 vị tiểu hoàng đế trị vì: tại vùng Nocomedia có Hoàng đế Diocleziano, vùng Sirmium có Hoàng đến Galerio, vùng Milano có Hoàng đế Massimio và vùng Trevi có Hoàng đế Costanzo Chlore. Ngày 28 tháng 10 năm 312, tướng La Mã Constantino (306- 337) con của hoàng đế Costanzo Chlore chiến thắng quân của hoàng đế Massenzio (306- 312) là con của Hoàng đế Massimio ở cầu Milvio, và khải hoàn tiến vào Roma. Ngày nay chúng ta còn thấy Khải hoàn môn Constantinô ở cạnh đấu trường Côlôseum ghi nhớ việc ông khải hoàn tiến vào thành Roma. Sau đó ông trở thành hoàng đế Roma ở đế quốc Tây Phương. Nhờ vào dấu hiệu Thánh giá trên bầu trời với hàng chữ latinh "cứ dấu hiệu này ngươi sẽ chiến thắng". Tướng Constantinô đã cho đúc hình Thánh giá trên các khiên thuẫu của binh sĩ ông và quả nhiên ông đã chiến thắng đạo quân của hoàng đế Massenzio
Năm 313, ông ra chiếu chỉ tại Milano, ngưng bách hại các người Kitô hữu, cho tự do hành đạo, và ra lệnh trả lại tất cả tài sản đã tịch thu của Giáo Hội trong thời kỳ bách hại của các hoàng đế tiền nhiệm. Sau cùng, hoàng đế trở lại đạo Công giáo và ấn định Chúa nhật là ngày nghỉ hằng tuần.
Vào khoảng năm 313-318, Hoàng đế Constantinô đã ra lệnh xây Thờ Chúa Cứu Thế ở khu vực Laterano. Đây là khu vực của gia tộc Laterano giàu có đã bị hoàng đế La mã là Nero (54- 68) tịch thu tài sản, sau khi ông ta đã giết người cuối cùng của gia tộc này là Plauzio Laterano bằng cách gán cho ông này tội mưu phản.
Hoàng đế Constantino ra lệnh san bằng doanh trại rộng lớn của đoàn quân cận vệ hoàng đế Massenzio để lấy đất xây Đền thờ Chúa Cứu Thế. Qua quyết định này, ông làm một công đôi việc, một đàng muốn phá hủy dấu tích hùng vĩ của đối phương, đàng khác muốn tái khẳng định ý định nâng đỡ Kitô giáo.
Theo các sử gia, sở dĩ Hoàng đế Constantino chọn khu vực ngoại ô này của thành Roma hồi đó để xây Đền thờ đầu tiên của Kitô giáo, cạnh tường thành Aurelia, là để khỏi đụng chạm đến sự nhạy cảm của nhiều người dân Roma hồi đó vẫn còn theo ngoại giáo.
Tương truyền kể lại rằng: Hoàng đế Constantino bị bệnh phong cùi. Đêm kia trong giấc mộng, ông được Thánh Phêrô và Phaolô hiện ra và hứu chữa khỏi nếu ông lãnh nhận bí tích Rửa tội. Hoàng đế ra lệnh tìm kiếm Đức Giáo Hoàng Silvestro1 (314- 335) và Ngài rửa tội cho hoàng đế năm 314 và chữa ông khỏi bệnh phong cùi. Để tỏ lòng biết ơn, hoàng đế ra lệnh xây cất Đền thờ này.
Năm 334, Đền thờ được Đức Giáo Hoàng Silvestro I thánh hiến. Theo tương truyền có ảnh Chứa Cứu Thế "achiropita", nghĩa là không do tay người phàm vẽ ra, xuất hiện cách lạ lùng trong lễ thánh hiến Đền thờ. Sau này, ảnh này được vẽ lại trên mặt tiền và được coi là phép lạ suốt thời Trung Cổ.
Đền thờ này là Thánh đường đầu tiên của Giám Mục Rôma, và cũng là Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Rôma. Thánh đường này được gọi là "Mater et Caput", là Mẹ và là Đầu của tất cả Nhà thờ khác trên thế giới.
Đền thờ này cũng tượng trưng cho sự trỗi dậy của Kitô giáo. Thật vậy, sau chiếu chỉ tha đạo của hoàng đế Constantino, một cộng đoàn Kitô hữu đã xuất đầu lộ diện, công khai cử hành phụng vụ và biểu lộ đời sống đức tin. Đền thờ này tượng trưng cho chính Giáo hội
Vì tầm quan trọng này, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Gioan Laterano hằng năm được cử hành với lễ kính bậc hai vào ngày 9 tháng 11, quan trọng hơn cả lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Phêrô và Phaolô, cử hành với bậc lễ nhớ bậc ba vào ngày 18 tháng 11.
Đền thờ này lúc đầu được dâng kính Chúa Cứu Thế, sau đó dưới thời Đức Giáo Hoàng Gregorio 1 (590- 601) thì lại được dâng kính cả hai Thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ. Dân chúng ở Roma có lòng kính mến đặc biệt đối với thánh Gioan Tông Đồ, vì theo tương truyền (có nhiều sử liệu chứng minh, trong đó có cả Tertulliano), Thánh nhân đã thoát khỏi cuộc hành hình cách lạ lùng tại thành Roma: tại đây ngài bị dìm vào một chảo dầu đun sôi (cách cửa Latina vài mét, ngày nay có Đền thờ nhỏ kính thánh Gioan ở trong chảo dầu – mang tên San Giovanni in Oleo). Đức Giáo Hoàng Ilaro (461- 468) đã thoát khỏi cuộc bạo động của những người rối đạo, sau đó để ghi ơn, ngài đã cho xây một Nhà nguyện cạnh giếng rửa tội hiện nay ở Laterano, và quyết định dâng kính Đền thờ này cho thánh nhân. Cho nên Đền thờ hiện nay mang tên Gioan Latêranô do Đức Giáo Hoàng Lucio đặt tên vào năm 1144.
Đền thờ chịu nhiều phá hủy qua dòng thời gian: bị quân man di Genserico cướp bóc vào năm 455: bị động đất vào năm 896. Tổng cộng có hơn 20 vị Giáo Hoàng xây cất, tái thiết, tu bổ và trang hoàng Đền thờ. Đặc biệt vào giữa thế kỷ 17, Đức Giáo Hoàng Innocentê 10 (1644- 1655) đã ủy thác cho kiến trúc sư Francesco Borromini điều chỉnh sửa lại hoàn toàn ngôi Đền thờ. Năm 1735 mặt tiền Đền thờ như ta thấy hiện nay với cổng vào do kiến trúc sư Alexandro Galilei thiết kế. Năm 1885 Đức Lêô 13 cho sửa lại hậu cung Đền thờ.
Như thế, trong 10 thế kỷ, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIV, Đền thờ này cũng như tòa nhà bên cạnh đây là trung tâm của Giáo hội Roma, là trụ sở và là biểu tượng của Đức Giáo Hoàng. Cho nên các nhà nguyện, đan viện, nhà trọ và khách sạn được thiết lập chung quanh Trung Tâm này.
Chính tại Đền thờ này, Đức Giáo Hoàng Innocentê III (1198- 1216) đã bãi chức hoàng đế Otto, và phê chuẩn luật dòng của Thánh Phanxico Assisi. Tại đây đã khởi xướng nhiều cuộc xuất quân của Thập tự chinh để tái chiếm Thánh địa khỏi tay người Hồi giáo. Năm 1300, Năm Thánh đầu tiên của Giáo hội được củ hành tại đây.
Vào năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn đưa Tòa Giám Quản Roma đến Laterano và đặt trung tân hành chánh của Giáo phận Roma trong Tòa giám quản này. Sau đó, Đức Phaolô VI đã cho xây tại Vatican các khu bảo tàng viện mới để lưu giữ các kỷ vật trước kia để ở Laterano như Bảo tàng viện truyền giáo và nhân chủng học.
b.Kiến trúc
Mặt tiền Đền thờ có từ thế kỷ XVIII trông rất cân đối, và được coi là hùng vĩ uy nga nhất trong số các mặt tiền Đền thờ ở Roma. Kiến trúc sư Alessandro Galilei, người Florence đã thiết kế mặt tiền này vào năm 1735 theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clemente XII. Tất cả đều bằng cẩm thạch, và rất phù hợp với quảng trường phía trước. Bên trên nóc tiền đường ở giữa là tượng Chúa Cứu Thế, hai bên là tượng Thánh Gioan Tẩy Giả cầm Thánh giá, và Gioan Tông Đồ cầm chén lễ. Hai bên có 12 vị thánh Tiến sĩ Giáo hội La tinh và Đông phương, mỗi tượng cao 7 mét, tượng trưng sự hiệp nhất giáo lý của Hội Thánh Kitô. Tổng cộng là 15 tượng. Bốn Thánh tiến sĩ Giáo hội Đông phương là: Gregorio Nazianzeno, Basillio, Gioan Kim Khẩu, và Anatasio. Bốn thánh tiến sĩ Giáo hội Tây phương là Ambroxio, Augustino, Giêronimo và Hilario.
Mặt tiền có ghi hàng chữ: "Sacrosancta Lateranensis ecclesia omnium uthis et othis ecclesiarum mater et caput". Mẹ và Đầu của tất cả nhà thờ ở Roma và trên thế giới.
Ở giữa mặt tiền Đền thờ, có ban công chính, các Giáo Hoàng thường ban phép lành cho dân chúng trong dịp Năm Thánh. Cũng tại đây Đức Hồng Y Gaspani, nhân danh Đức Piô XI ký hiệp định Laterano với Italia, thành lập Nhà nước Vatican năm 1929, tái lập sự độc lập pháp lý và lãnh thổ của Tòa Thánh. Từ lúc đó, Đức Giáo Hoàng mới long trọng nhận Đền thờ này là Nhà thờ Chính tòa của mình, với tư cách là Giám Mục Roma.
Trong hành lang ở tiền đường Đền thờ, ở phía tay trái, có tượng Hoàng đế Constantino
Các hình nổi trên xà cửa Đền thờ diễn tả những biến cố trong cuộc đời thánh Gioan Tẩy Giả.
Từ thời đầu tiên cho đến ngày nay chỉ còn lại sơ đồ 5 gian và Đền thờ dài 130 mét, gian chính rộng 16 mét, và dài 87 mét.
Trong gian chính của Đền thờ, có 30 cột bằng cẩm thạch màu vàng, ở hai bên có tượng 12 thánh Tông Đồ (cao khoảng 6 mét) do Đức Clemente IX (1700- 1721) cho tạc. Bên trên có hình nổi kể lại sự tích Cựu ước và Tân ước.
Trần Đền Thờ bằng gỗ thật huy hoàng do kiến trúc sư Pirri Ligorio khởi sự theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô IV (1559- 1565), ngài thuộc gia tộc Medici nên có huy hiệu của ngài. Công trình này được hoàn thành dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô V (1566- 1572). Gần tường lối vào là huy hiệu của Đức Piô VI (1775- 1799) là vị đã cho trùng tu trần đền thờ này.
Tranh khảm đá ở hậu cung Đền thờ là của 2 nghệ nhân Jacopo Torriti và Jacopo da Camerino, thực hiện từ 1288 đến 1294 với chủ đề tuyên dương Thánh Giá. Trên mây là Chúa Cứu Thế, có hình các thiên thần xung quanh. Giữa là Thánh giá có hình chim bồ câu đậu trên. Thánh giá ở trên ngọn đồi bao trùm Jêrusalem thiên quốc từ đó có 4 dòng sông chảy xuống là 4 Phúc Âm, giải khát cho cho các con nai và chiên tượng trưng cho dân Chúa. Bên trái có hình Đức Mẹ và Đức Giáo Hoàng Nicola IV đang quỳ, 2 thánh Phêrô và Phaolô. Bên phải có Thánh Gioan và Anrê. Có hai hình nhỏ là Thánh Phanxico Assisi ở bên trái và Thánh Antôn Padova ở bên phải được vẽ thêm vào theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Nicola IV, vì ngài thuộc dòng Phanxicô.
Toàn bộ bức tranh khảm đá này được tháo gỡ ra trong cuộc trùng tu hồi năm 1896, rồi được ghép trở lại, nhưng vì thế bị mất đi phần lớn giá trị nguyên bản.
Ở cánh ngang Đền thờ, gần cửa ra vào bên phải, có đàn phong cầm vĩ đại với 2 ngàn ống, đây là một trong những đàn phong cầm quan trọng nhất tại Italia, được 2 cột lớn bằng cẩm thạch màu vàng, trang trí bằng gỗ mạ vàng, chống đỡ. Do kiến trúc sư Luca Blasi thiết kế năm 1599.
Có nhiều phần mộ trong Đền thờ này, đặc biệt là của các Hồng Y Rasponi (1670), Casati (1287), Antoni del Portogallo... Các vị Giáo Hoàng Sergio IV (1012), Alexandro III.
Bàn thờ của Đức Giáo Hoàng ở điểm chính giữa Đền thờ, được thiết kế lại vào năm 1851. Trước đây, chỉ có Đức Giáo Hoàng được làm lễ tại bàn thờ này mà thôi. Trên bàn thờ có lọng tán kiểu Gôtích, được trang trí bằng những bức bích họa có từ thế kỷ 13. Bàn thờ hiện nay bao gồm bàn thờ cũ bằng gỗ do 33 vị Giáo Hoàng đầu tiên sử dụng, từ thánh Phêro tới thánh Silvestro (thế kỷ thứ I đến IV).
Phần dưới bàn thờ được thiết kế vào thế kỷ thứ IX, ở bên dưới có mộ Đức Giáo Hoàng Martino V Colouna (1484- 1492), là vị Giáo Hoàng đầu tiên ở đây sau cuộc ly khai của anh em chính thống Đông và Tây phương. Ngài cũng là vị đã cho thực hiện lát nền đền Nhà thờ bằng nhiều đá cẩm thạch màu sắc khác nhau.
Theo tương truyền phần trên của Nhà tạm do Đức Urbano V thiết lập năm 1367, với khung xám bằng sắt, có giữ đầu của Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ. Trong thời quân Pháp xâm lăng vào năm 1799, hai Thánh tích này bị cướp mất và phá hủy. Ngày nay, người ta có thể thấy vật sao lại do nghệ nhân Valasier làm. Trong Mặt nhật đựng Thánh tích bên trên bàn thờ để Mình Thánh Chúa (làm năm 1600) có giữ một mảnh gỗ bàn bằng gỗ rất cổ kính và đơn sơ, theo tương truyền ở Roma, đây là bàn thờ, trên đó Thánh Phêrô đã cử hành thánh lễ. Thánh tích này chỉ được trưng bày ngày lễ Phục Sinh.
Ngày nay, Đền thờ này do một vị Hồng y thay mặt Đức Giáo Hoàng làm Giám quản.
c. Giếng Rửa tội
Ở khu vực bên phải Đền thờ, sau Tòa giám quản có giếng rửa tội. Giếng này có từ thời hoàng đế Constantino (theo lưu truyền vị hoàng đế này đã được Đức Giáo Hoàng Silvestro rửa tội tại đây) và từ năm 432 dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixto III (432- 440), giếng rửa tội có hình bát giác, sau đó trở thành kiểu mẫu cho các giếng rửa tội trong toàn thể thế giới Kitô giáo. Giếng này được trùng tu vào năm 1637 dưới thời Đức Giáo Hoàng Urbano VIII.
d. Tháp Bút

                                                           
Đây là tháp bút cao nhất và cổ kính nhất Roma, cao 47 mét tính cả bệ (không có bệ thì cao 32 mét). Tháp bút này bằng đá hoa cương màu đỏ của Ai cập cổ từ thế kỷ XIV trước Công nguyên, và được đưa từ Thèbes bên Ai Cập (tại đền thờ thần Ammoni) về Roma hồi thế kỷ thứ 4, theo lệnh hoàng đế Constanzo 2 trên một con tàu đặc biệt để chở tháp này về Roma. Tháp được đặt tại Circo Massimo dưới chân dinh thự Palatino. Vậy là tháp này có độ tuổi 3.500 tuổi.
Năm 1588 Đức Giáo Hoàng Sixto V đã tái thiết và cho chở từ Circo Massimo về Latêranô và dựng trước Đền thờ. Trước mặt bệ tháp có ghi hàng chữ: "Constantino, người chiến thắng nhờ sự chuyển cầu của Thánh Giá, đã được Thánh Silvestro rửa tội tại nơi này, ông đã truyền bá vinh quang của Thánh Giá".
Tiện đây cũng xin ghi nhận Roma là thành phố cổ có nhiều tháp bút nhất thế giới, tổng cộng có chừng 13 tháp.
e. Khu vực cạnh Đền thờ
Gần Đền thờ có tường thành do Hoàng đế Aurelio xây vào thế kỷ thứ III và có cổng San Giovanni. Phía trước Đền thờ có đài kỷ niệm với tượng thánh Phanxico Assisi, nhắc lại sự tích vào năm 1210, thánh nhân cùng với các bạn đến Laterano để xin Đức Giáo Hoàng Innocentê III phê chuẩn luật dòng của mình.
2. ĐỀN THỜ ĐÍCH THỰC
Kỷ niệm ngày thánh hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, tức chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21). Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại. Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa. Quả thế, Thánh Linh đã phục sinh thân thể Đức Giêsu. Chúa Cha đã đặt Người làm Trung gian duy nhất để chuyển cầu cho nhân loại (x. 2 Tm 2,5; Dt 9,15; 12,24). Không thể cầu nguyện ở bất cứ nơi nào ngoài đền thờ này. Người Do thái đã phá hủy đền thờ này. Nhưng nội trong ba ngày Đức Giêsu đã xây dựng lại nhờ quyền lực Thánh linh để chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa và anh em đồng loại. Tất cả mọi giá trị và ý nghĩa của vương cung thánh đường Latêranô cũng như các thánh đường khác đều phải bắt nguồn từ đền thờ này. Thật vậy, "không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô" (1Cr 3,11) Máu và nước từ cạnh sườn Đức Giêsu tuôn chảy như giòng sông. "Sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống" (Ed 47,9). Nếu Đức Giêsu không chết và sống lại, nhân loại không thể đón nhận được nguồn mạch sự sống lớn lao như vậy.
Người được phúc đón nhận sự sống đó đầu tiên phải là tín hữu. Vì họ là "thân thể Đức Kitô" (2 Cr 12,27). Bởi đó, họ cũng là "Đền Thờ của Thiên Chúa" (1 Cr 3,16). Nếu thế, tất cả những gì diễn ra trong thân xác Đức Giêsu cũng sẽ tìm thấy nơi con người Kitô hữu. Thật là một vinh dự vô cùng lớn lao khi biết Thiên Chúa cư ngự trong thân xác chúng ta. Tội lỗi đã phá hủy đền thờ này nhiều lần. Nhưng Thánh linh đã lấy ân sủng tái thiết và trang hoàng lộng lẫy cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Từ đó, con người có thể tìm lại niềm hy vọng và sự sống mới. Chúa Thánh linh không bao giờ mỏi mệt phục hồi "Đền Thờ của Thiên Chúa". Cuối cùng Thánh linh sẽ phục sinh thân xác chúng ta cũng như đã phục sinh Đức Giêsu (x. 1 Cr 6,14).
Chính vì niêm tin lớn lao đó, Kitô hữu luôn tràn đầy niềm hy vọng giữa bao nhiêu thăng trầm cuộc đời hôm nay. Trái lại, chỉ những ai không tôn trọng Đền Thờ Thiên Chúa, mới đánh mất niềm hi vọng đó. Nhiều giá trị đảo lộn chỉ vì thân xác đã bị lạm dụng cho những mục tiêu văn hóa, chính trị, kinh tế ...Con người đã trở thành công cụ phục vụ chế độ. Người ta sẵn sàng hy sinh con người. Nhưng nên nhớ "ai phá hủy Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy là chính anh em" (1 Cr 3,17).
Hôm nay, trong khi tôn vinh Thánh đường Latêranô, thánh đường Mẹ ở Rôma, chúng ta tôn vinh chính thánh đường của giáo xứ chúng ta, nơi chúng ta họp nhau lại cầu nguyện nhân danh Chúa. Chính Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta khi chúng ta liên kết với Ngài trong tình yêu mến và liên kết với nhau trong tình huynh đệ để xây dựng nên đền thờ của Thiên Chúa.
Xin Chúa cho chúng ta biết xây dựng chính đền thờ tâm hồn mình và biết cùng nhau hiệp nhất xây dựng đền thờ Giáo hội.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

(Nguồn :tonggiaophanhanoi.org)

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

BÍ MẬT CỦA BÚT CHÌ



Hầu hết trong chúng ta đều quen thuộc với cây bút chì, dù bạn có là dân thiết kế, hay kỹ thuật. Cây bút chì đồng hành với chúng ta từ khi vụng về tập cầm bút, cho tới khi trưởng thành. Đối với những người thiết kế thì cây bút chì càng không thể thiếu, hầu như tất cả những tác phẩm sáng tạo trên thế giới đều bắt đầu từ những nét vẽ chì. Nhưng để nói về lịch sử của nó thì không phải ai cũng biết.

Khái niệm về cây bút chì       

Bút Chì là một đồ dùng để viết, vẽ trên giấy hoặc gỗ v..v, lõi thường được cấu tạo bởi than chi, hoặc những hợp chất từ than hoặc tương tự.  




Lịch sử hình thành của cây bút chì. 

Thời La Mã xưa, các nhà truyền giáo đã dùng một que kim loại gọi là stylus để viết ra những kí hiệu màu trắng trên một tờ giấy làm từ vỏ cây papyrus (hay còn loại là giấy cói, được tạo nên từ loại cây papyrus mọc ở châu thổ sông Nine).  Sau đó, than chì được phát hiện, và hình ảnh cầm cục than viết được coi là hành động sử dụng cây bút là ta gọi là bút chì được tạo nên. Đến năm 1564, tại Borrowdale, Anh, người ta đã phát hiện ra than graphite, loại than để lại nét vẽ đậm hơn, tuy nhiên vì các que than mềm và dễ gãy, nên ban đầu người dùng bọc than trong giấy, hoặc cột lại với nhau, cho đến khi than chì được đưa vào thanh gỗ rỗng ruột, vậy là cây bút chì gỗ đầu tiên ra đời. 

Ngành công nghiệp sản xuất bút chì 

Thời gian đầu, Ruột bút chì (loại thường) trong sản xuất công nghiệp thường được tạo ra bằng hỗn hợp than chì và đất sét mịn trộn với nước để tạo các sợi ruột chì dài. Các sợi ruột chì này được nhúng vào dầu hoặc sáp và đổ vào nửa phần vỏ bút có tạo rãnh. Sau đó, nửa phần vỏ bút còn lại được gắn lên trên và ép lại. Sau đó, cây chì dài này được sơn lại và cắt ra thành từng đoạn bút chì để bán.  Nuremberg, Đức được coi là nơi sản xuất cây bút chì gỗ hàng loạt đầu tiên vào năm 1662, sau đó được phát triển mạnh mẽ bởi Faber- Castell(thành lập vào năm 1761), Lyra, Steadtler và các công ty khác, hoạt động sản xuất phát triển cực kì mãnh mẽ vào thể kỷ 19.




Phân loại bút chì theo màu

Về màu sắc, bút chì được phân làm 2 loại, bút chì thường màu đen và bút chì màu có nhiều màu sắc. Bút chì đen thường được sử dụng để viết nháp hoặc tập viết còn bút chì màu được dùng trong hội họa, tô màu là chủ yếu. 





Phân loại bút chì theo độ cứng

Độ cứng của bút chì tại Việt Nam sử dụng theo hệ thống phân loại độ cứng bút chì Châu Âu hiện đại, trải từ 9H (cứng và nhạt nhất) đến 9B (mềm và đậm nhất). Tuy thang phân loại khá dài nhưng người ta chỉ thường dùng loại từ 2H đến 5B mà thôi.




Phân loại theo ứng dụng

  • Bút chì viết 
  • Bút chì kỹ thuật: bút chì kim 
  • Bút chì màu học sinh
  • Bút chì màu nước dùng cho hội hoạ 
  • Bút chì màu dầu
  • Bút chì trang điểm

Câu chuyện về “Giải quyết vấn đề dùng bút chì”  

Trong các khóa huấn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, người ta thường dùng ví dụ về bút chì để minh họa cho ý kiến “Đơn giản là sức mạnh”. Câu chuyện được kể như sau: Vào thập niên 1970, NASA đã chi hàng triệu đô la Mỹ để nghiên cứu một loại bút áp lực để các phi hành gia có thể viết được trong tình trạng không trọng lực. Trong khi đó, người Liên Xô sử dụng một phương pháp đơn giản hơn để đạt được mục đích là viết trong tình trạng không trọng lực: sử dụng bút chì truyền thống. 




Vì sao bút chì được sơn màu vàng?  

Bút chì được sơn vàng từ những năm 1890 và màu vàng sáng này để tìm cho dễ vì nó dễ bị lẫn lộn trên bàn gỗ cùng màu. Trong những năm 1800, graphite tốt nhất được nhập cảng từ Trung quốc. Bởi vậy các hãng chế tạo muốn cho mọi người biết rằng bút chì của họ làm bằng than graphite của Trung quốc. Bên Trung quốc, màu vàng là màu vua chúa, là màu được trọng vọng. Người Mỹ sơn màu vàng sáng trên bút chì để có cảm nhận “vua chúa” và cho thấy rằng cái ruột chì phẩm chất tốt của nó có liên hệ với Trung quốc.  Hiện nay hết 75% số bút chì tại Hoa kỳ được sơn màu vàng. 




Những danh nhân đã dùng bút chì  

John Steinbeck viết quyển The grapes of wrath và Cannery Row, đã dùng mỗi ngày cỡ 60 bút chì gỗ cedar. Ernest Hemingway, tác giả The old man and the sea và The snow of Kilimandjaro rất thích dùng bút chì để ghi tư tưởng của mình.  Trước khi viết Walden, Henry David Thoreau chế ra bút chì trong xưởng của cha ông. Bút chì của Thoreau được nổi tiếng là cứng nhất và đen nhất Hoa kỳ. Thomas Edison có sáng kiến giữ trong túi áo vest mình một đoạn bút chì dài 3,5 inches để ghi. Bút chì là lối thoát tiêu biểu cho những người lính trong thời kỳ nội chiến Nam Bắc Mỹ  Leonardo Da Vinci thường dùng bút chì để phác họa, vẽ tranh. 

Bút chì có cục gôm (Cục tẩy)  

Mẫu viết chì đầu tiên có gắn cục gôm (Cục tẩy) nơi đầu là do Hyman Lipman ở Philadelphia chế ra năm 1858. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các cây bút chì được bán không có cục tẩy ! Cục gôm (Cục tẩy) đầu tiên làm bằng nhựa cây cao su. Càng ngày gôm được chế bằng cao su nhân tạo và thêm đá bọt (pumice, là loại nham xốp nhẹ dùng để tẩy các vết dơ) nhưng sau đó được thay thế bằng vinyl. Vinyl là một loại chất dẻo bền và dai. 




Bút chì bấm  

Viết chì bấm có cấu tạo phức tạp hơn viết chì chuốc. Thân viết dc làm bằng nhiều chất liệu, thường là nhựa cứng, nhẹ mà lại rất bền, chắc. Thân có hình tròn, bán kính có khi tới 0,75cm, để cho những người có bàn tay to cầm vừa. Có loại thân mảnh dẻ hơn, phù hợp với bàn tay của những em hs, sinh viên. Trên đầu viết chì bấm có loại có một cục tẩy nhỏ, có loại chỉ có một cái nắp cùng chất liệu với thân, giúp cho việc bấm, đẩy ngòi. Sau lớp vỏ thân viết là một ống nhựa dẻo hoặc cứng chạy dài theo thân viết, có chức năng giữ cho những cây ngòi đi thẳng từ trong thân ra ngoài. Vỏ viết thì dc trang trí bằng nhiều loại hoa văn từ đơn giản đến cầu kì và có nhiều màu sắc sặc sỡ. Có loại có lò xo ở gần ngòi viết để độ đàn hồi, đẩy cây ngòi ra được ăn, chắc hơn. Có loại chỉ có 1 ống nhựa có thể giữ cây ngòi, và khi bấm viết, nó sẽ đẩy cây ngòi dài ra và giữ lại. Ngòi viết là phần quan trọng nhất, có chức năng định vị, giữ cho cây ngòi yên, không run, dịch chuyển khi dùng. Ngòi viết nhỏ, hình như một cái nắp hay cái chuông tí hon, bằng thiết hoặc sắt. Viết chì bấm thì nếu giữ gìn cẩn thận thì dùng sẽ lâu hơn viết chì chuốt. Vì viết chì chuốc khi chuốt ngắn đi thì sẽ không còn dùng được nữa, phải mua cây mới. Còn viết chì bấm thì chỉ cần thay ngòi, dùng được lâu, bền hơn

(Nguồn : idesign.vn)



Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

CÂU CHUYỆN CỦA CÂY BÚT CHÌ





Khi ra đời, một cây bút chì luôn thắc mắc rằng cuộc sống bên ngoài xưởng làm bút chì sẽ ra sao bởi thỉnh thoảng nó nghe những người thợ nói chuyện với nhau. Bút chì băn khoăn mãi, anh em của nó cũng không biết gì hơn. Cuối cùng, trước hôm được mang đến các cửa hàng, bút chì hỏi người thợ làm bút rằng nó và anh em nó sẽ ra sao ở bên ngoài cuộc sống rộng lớn kia.

Người thợ làm bút mỉm cười. Ông nói:

- Có năm điều cháu và các anh em của cháu nên nhớ khi bắt đầu cuộc sống. Nếu cháu nhớ và làm được thì cháu sẽ trở thành cây bút chì tốt nhất.

Thứ nhất: cháu có thể làm được những điều kì diệu nhất nếu cháu nằm trong bàn tay một người nào đó và giúp họ làm việc.

Thứ hai: cháu sẽ cảm thấy đau đớn mỗi khi bị gọt, nhưng phải như thế cháu mới tốt hơn và có thể tiếp tục cuộc sống của mình.

Thứ ba: nếu cháu viết sai một lỗi, cháu hãy nhớ để sữa lại là được.

Thứ tư: điều quan trọng nhất đối với cháu và những người dùng cháu không phải là nước sơn bên ngoài cháu, mà là những gì bên trong cháu đấy.

Và cuối cùng: trong bất cứ trường hợp nào, cháu cũng vẫn phải tiếp tục viết. Đó là cuộc sống của cháu, cho dù cháu gặp tình huống khó khăn như thế nào cũng vẫn phải viết thật rõ ràng, để lại những dấu ấn của mình.



(Nguồn : songdep.xitrum.net)