Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

ÔNG GIÀ NOEL KHÔNG MẶC ÁO ĐỎ

            Tôi ngồi phành chân trên ghế trước trong xe Pontiac cũ của chúng tôi, bởi vì đó là cách ngồi hay nhất dành cho một đứa trẻ lớp bốn.  Ba tôi lái xe vào thành phố để mua sắm, còn tôi chỉ đi theo chơi.  Đó là lý do tôi nói với ông.  Thật ra, tôi có một vấn đề quan trọng cần hỏi ông, mà vấn đề đó cứ lởn vởn trong đầu tôi mấy tuần nay.  Tôi bắt đầu lên tiếng: 

            - Ba à...
Tôi ngập ngừng. Ông không quay sang nói:
            - Gì vậy?
            - Dạo này, mấy đứa bạn trong trường con thường bàn tán về một điều mà con biết là không đúng...
            Tôi cảm thấy môi dưới mình run rẩy vì phải cố kìm lại những giọt nước mắt chỉ trực trào ra.
            - Chuyện gì vậy, Punkin?
            Tôi biết tâm trạng ông đang vui khi ông dùng cách gọi thân mật như vậy để gọi tôi.
            - Tụi nó nói là không có ông già Noel.
            Một giọt nước mắt bên phải trào ra.  Tôi ấm ức nói tiếp:
            - Tụi nó nói con ngốc lắm mới tin là có ông già Noel...  Chuyện đó chỉ dành cho con nít.
            Một giọt nước mắt bên trái lăn nhanh xuống má. Tôi sụt sùi:
            - Nhưng con tin những gì ba đã nói với con.  Ông già Noel là có thật.  Phải không ba?
            Ba tôi dịu dàng nói:
            - Patty, bọn trẻ ở trường con sai rồi.  Ông già Noel có thật.
            Tôi thở ra một hơi nhẹ nhõm:
            - Con biết ngay mà!
            - Nhưng ba cần nói thêm về ông già Noel với con. Ba nghĩ giờ đây con đã đủ lớn để có thể hiểu những gì ba sắp chia sẻ với con. Con sẵn sàng chưa?

            Nét mặt ba tôi dịu dàng hẳn, và ánh mắt của ông thật ấm áp.  Tôi biết sắp có một chuyện quan trọng, và tôi sẵn sàng vì tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông.  Ba tôi sẽ không bao giờ nói dối tôi.



            - Ngày xưa có một người đàn ông thường chu du khắp nơi trên thế giới.  Đi tới đâu, ông ấy cũng tặng quà cho những đứa trẻ mà ông thấy là xứng đáng.  Con sẽ tìm thấy ông ấy ở nhiều vùng đất khác nhau với nhiều tên khác nhau.  Ông ấy là tinh thần của yêu thương vô điều kiện, và ông ấy mong muốn chia sẻ yêu thương bằng cách tặng những món quà từ trái tim.  Khi con đến một độ tuổi nào đó, con sẽ biết ông già Noel thật sự không phải là người chui qua ống khói nhà con đêm trước Giáng Sinh.  Cuộc đời thật và linh hồn thật của vị thần tiên này sống mãi trong lòng con, trong lòng ba, trong lòng mẹ, trong lòng - cũng như trong tâm trí - của tất cả những ai tin vào niềm vui mà chúng ta tặng cho người khác.  Tinh thần thật sự của ông già Noel nằm trong điều con cho đi, chứ không phải điều con nhận được.  Một khi con hiểu và chấp nhận khái niệm này, Giáng Sinh càng thêm lý thú và kỳ diệu, vì con biết phép lạ xuất phát từ tâm hồn con, khi ông già Noel sống trong trái tim của con.  Con có hiểu những lời ba muốn nói với con không?

            Tôi nhìn chằm chằm ra ngoài khung cửa, tập trung vào một thân cây phía trước mặt.  Tôi sợ phải nhìn ba tôi - người mà lúc nào cũng đoan chắc với tôi rằng ông già Noel là có thật.  Tôi chỉ muốn tin như hồi năm ngoái tôi đã tin - ông già Noel là một vị thần tiên to lớn, mập mạp, mặc bộ đồ đỏ.  Tôi không muốn nuốt vào viên thuốc làm người lớn và nhìn thấy mọi việc khác đi.

            - Patty, con hãy nhìn ba.

            Ba tôi yên lặng chờ đợi.  Tôi quay đầu lại nhìn ông.

            Ba tôi cũng đang khóc - nước mắt của vui sướng.  Nét mặt ông rạng rỡ bởi ánh sáng của hàng ngàn thiên hà, và trong đôi mắt ông, tôi thấy đôi mắt của ông già Noel.  Ông già Noel thật sự.  Là người bỏ nhiều công sức lựa những món quà đặc biệt mà tôi muốn trong tất cả những dịp Giáng Sinh. Là người sẵn sàng ăn phần cà rốt mà tôi bỏ lại cho con chó Rudolph.  Là người - dù không có kỹ năng - vẫn ráp xe đạp, ráp cỗ xe ngựa, và những thứ linh tinh khác cho tôi trong suốt buổi sáng của những ngày Giáng Sinh.

            Tôi đã nhận được điều đó.  Tôi đã nhận được niềm vui, sự chia sẻ và yêu thương.  Ba tôi kéo tôi vào vòng tay ấm áp của ông, âu yếm ôm tôi thật lâu.  Hai cha con tôi cùng khóc với nhau.

            Ba tôi nói tiếp:

            - Bây giờ thì con thuộc về một nhóm người đặc biệt.  Kể từ giây phút này, mỗi ngày trong năm, con sẽ chia sẻ niềm vui Giáng Sinh với mọi người.  Vì giờ đây, ông già Noel đang sống trong tâm hồn con như ông ấy đang sống trong tâm hồn ba.  Trách nhiệm của con là thực hiện trọn vẹn tinh thần trao tặng.  Đây là một trong những điều quan trọng nhất có thể xảy ra trong suốt cuộc đời con, vì bây giờ con biết ông già Noel không thể tồn tại nếu như không có những người như con và ba - luôn giữ cho ông ấy sống mãi.  Con có thể thực hiện được điều này không?

            Tâm hồn tôi tràn ngập niềm tự hào, và tôi chắc chắn ánh mắt tôi sáng rực lên vì xúc động.  Tôi nói:
            - Được, thưa ba. Con muốn ông ấy luôn ở trong tim con, như ông ấy luôn ở trong tim ba.  Ba ơi, con yêu ba lắm.  Ba là ông già Noel tuyệt vời nhất trong đời con.

            Khi đến lúc tôi phải giải thích sự hiện hữu của ông già Noel cho các con tôi biết, tôi cầu xin tôi có tài ăn nói và tình yêu thương như ba tôi vào ngày đã giúp tôi hiểu được ông già Noel không mặc bộ đồ màu đỏ.  Tôi hy vọng các con tôi cũng dễ dàng chấp nhận như tôi ngày đó.  Và tôi hoàn toàn tin tưởng nơi chúng.

Patty Hansen 


Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH


 BAN CHẤP HÀNH 
 HÙNG TÂM DŨNG CHÍ GIÁO PHÂN ĐÀ NẴNG

                              LIÊN ĐOÀN THÁNH LINH

   
Kính chúc 

QUÝ CHA ,QUÝ TU SĨ
QUÝ ANH CHỊ EM CỰU TRƯỞNG, QUÝ HUYNH TRƯỞNG
ĐOÀN SINH trong nước và hải ngoại

              MÙA GIÁNG SINH  AN BÌNH THÁNH ĐỨC ,
        NĂM MỚI  AN KHANG THỊNH VƯỢNG HẠNH PHÚC
                         VUI TƯƠI HÙNG DŨNG BÁC ÁI
                               NHẤT TRÍ  -  ĐỒNG TÂM












ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG




Trân trọng 
Kính chúc Quý Phụ trách, Quý Huynh trưởng , cựu Huynh trưởng , các ACE Hùng Tâm Dũng Chí  và toàn thể gia quyến một mùa Giáng sinh an bình, hạnh phúc và tràn đầy hồng ân Thiên Chúa . 
banlienlaccuuhuynhtruong






Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

LỊCH SỬ BÀI HÁT :"ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG"



Lịch sử bài thánh ca nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng bắt đầu từ đêm vọng Giáng Sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ bé vùng đồi núi Orbendorf, nước Áo.

Linh mục Josef Mohr, cha xứ của giáo xứ Saint Nicholas, đã sáng tác một bài thơ ngắn đặt đề tựa là <<Đêm Thánh>>, ngài muốn phổ nhạc để hát trong thánh lễ nửa đêm.

Nhưng cha xứ lại không phải là một nhạc sĩ. Vì thế mà ngài đã nhờ đến người bạn của ngài, Ông Franz Gruber, giáo viên và cũng là nhạc sĩ rất hợp với ngài để phổ nhạc bài thơ đơn sơ này. Franz Gruber là người đàn phong cầm tại giáo xứ. Tuy nhiên, ông lại soạn bài hát cho đàn guitar với bài thơ Đêm Thánh của vị bạn cha xứ tại Saint Nicholas Orbendorf. Và rồi bài hát nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng ấy đã được hát lần đầu tiên trong đêm 24 tháng 12 năm 1818.

Kể từ đó bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng tự nhận danh hiệu là một bài hát gây ấn tượng nhất cho đêm thánh giáng sinh hài nhi Ki-tô.

Dẫu rằng tin hay không, người ta cũng không thể không rung động trước nét đẹp và đặc biệt là nét sâu sắc của bài hát đã lan rộng khắp địa cầu.

Bài Đêm Thánh Vô Cùng đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng trên hoàn vũ. Người ta còn hát với tiếng Et-ki-mô và với thổ ngữ ban-tu ở Phi Châu. Không có một âm hưởng nào, đời hay đạo, được quốc tế biết tới nhiều như bài thánh ca giáng sinh khiêm nhu này của Áo quốc.

Xuyên qua lịch sử Ki-tô giáo, bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng đã trở thành một biểu tượng chân thực cho mầu nhiệm sâu kín đêm Thiên Chúa giáng trần của người tín hữu Ki-tô.

Thực tế, có chăng một đêm êm dịu hơn cái đêm được nhìn thấy một hài nhi hạ sinh lại đặt vào trong một máng cỏ nơi chuồng súc vật, trong khi đó các thú gia cầm quen thuộc như bò và lừa lại thổi hơi cho ấm hài nhi? Chuyện hoang đường hay sự thật? Thật không quan trọng; mà trọng điểm là đã khơi động niềm xúc cảm cho nhân loại.

Thật khá lý thú, khi mà hầu hết các âm hưởng nhạc Giáng sinh truyền thống đều bị mai một hay chuyển đổi, trong khi âm hưởng của bản Stille Nacht vẫn lưu giữ được nguyên vẽ trong sáng về hình thức và cách cấu trúc.

Sự kiện gây chú ý là bài Đêm Thánh Vô Cùng từ nguồn gốc Ki-tô giáo đã được các tôn giáo khác đón nhận. Có nơi tại Á Châu còn hát bài này ngay cả trong những đền Chùa Phật giáo…

Người ta kể lại rằng trong thế chiến thứ hai, Đức và Mỹ đã đồng ý với nhau có một cuộc hưu chiến trong đêm Giáng Sinh để binh sĩ cùng tham dự thánh lễ nửa đêm, hôm đó đã hát lên bài Đêm Thánh Vô Cùng.

Cũng là một đêm bao trùm huyền nhiệm mà ba vì vua –hay còn gọi là vương tử- cất bước từ Đông Phương tìm đến thăm viếng do một vì sao lạ xuất hiện báo hiệu sự hạ sinh của một hài nhi mà sau này trở thành vì vua của hoàn vũ. Nơi đây nữa, là huyền thoại hay thực tế? Các chiêm tinh gia xác nhận ngôi sao lạ ấy đã thực tế mọc và chiếu rọi xuống Bê-lem…

Đức tin của người Ki-tô hữu xuất phát từ các biến cố ấy và vì thế trãi qua từ bao thế kỷ người ta đã cử hành kỷ niệm sự hạ sinh của hài nhi trong mọi thánh đường trên thế giới.

Do từ đó, không ngạc nhiên gì một bài hát thật đơn sơ như Đêm Thánh Vô Cùng lại gây vô cùng xúc động đã chinh phục được thế giới. Điểm nổi bật hơn hết là so với âm điệu của các bài thánh ca Noel khác, bài Đêm Thánh Vô Cùng tiêu biểu cho đêm hạ sinh một hài nhi-Thiên Chúa, đến với nhân trần.


Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

TÔN GIÁO VÀO THỜI CHÚA GIÊSU




Tái dựng đồ họa Cộng đoàn Qumran


Lm. James McPolin S.J

Người ta thực hành các tôn giáo nào vào thời Chúa Giêsu?

Nền văn hóa Hy lạp đã không chỉ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội và chính trị ở Đông Phương mà còn đời sống tôn giáo nữa. Đặc biệt ở Palestine, tôn giáo của đất nước bị ảnh hưởng do việc du nhập tôn giáo Hy Lạp, dù rằng vẫn có sự phản kháng mạnh mẽ, đặc biệt dưới thời Maccabê (khoảng năm 175-135 trước Công Nguyên).

Diaspora

Thêm vào đó, nhiều người Do Thái tản mác khắp nơi đã thành lập những cộng đoàn ở hải ngoại (gọi là Diaspora) đã tiếp cận với những hình thức khác nhau của tôn giáo Hy Lạp như niềm tin vào các vị thần của khác nhau được tôn thờ tại các thành phố hay niềm tin vào số mệnh, chiêm tinh, ma thuật, bùa chú, thuyết Khắc Kỷ và thuyết Khoái Lạc.

Các hình thức tôn giáo khác nhau này tìm đường đi vào đất Palestine và tồn tại ở đấy dưới thời Đế Quốc Roma.

Trong khi dưới ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp và quyền lực thống trị của Đế Quốc Roma, người Do Thái sống ở Palestine không phải là một dân tộc thống nhất, hết mình vì sự đoàn kết tôn giáo và quốc gia. Vẫn luôn có sự khác biệt giữa họ về thái độ đối với lề luật Do Thái hay đền thờ. Trong bối cảnh này, chúng ta hãy xem xét vài nhóm người mà Chúa Giêsu thường hay đối thoại công khai.

Phái Pharisiêu

Người Pharisiêu được biết đến như là “những người tách biệt” (Trong Tin Mừng tiếng Việt thường dịch là “người biệt phái”) bởi vì họ hết sức tránh tiếp xúc với dân ngoại giáo, với những người không tinh sạch, người tội lỗi và ngay cả những người Do Thái không giữ luật. Họ nổi lên như một phong trào thuộc tầng lớp thường dân (không phải tư tế) vào khoảng năm 150 trước Công Nguyên. Mục đích của họ là đưa các thực hành tôn giáo trong đền thờ ra bên ngoài để đi vào trong đời sống hằng ngày của dân chúng. Họ rất nhiệt thành với Do Thái giáo.

Giáo huấn cơ bản của họ không chỉ là luật thành văn (được gọi là Torah) và các ngôn sứ nhưng còn có những truyền thống truyền khẩu khác rất chi tiết về các thực hành và luật buộc. Các luật lệ chi tiết này (có liên quan đến ngày Sabát, luật tinh sạch tôn giáo, kiêng cử và thuế thập phân) có thể được thấy trong Tin Mừng Matthêô chương 23.

Mặt tích cực của phái Pharisiêu: họ phổ biến thực hành tôn giáo bên ngoài đền thờ, đi vào trong đời sống của những người dân bình thường; Họ muốn nhắc nhở dân chúng về sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người và kêu gọi dân chúng đáp trả lại sự hiện diện của Chúa bằng cách tuân giữ những thực hành tôn giáo.

Họ có ảnh hưởng trên những người Do Thái khác nhờ lòng đạo đức và học thức. Song một cách nào đó họ cũng bày tỏ tinh thần quốc gia và thái độ phân biệt chủng tộc đối với người ngoại quốc. Bằng cách này, họ duy trì căn tính tôn giáo và dân tộc theo nghĩa nào đó. Dưới cái nhìn của họ, không còn hy vọng nào cho các dân tộc khác không được ban lề luật. Chỉ có người công chính trong dân Israel mới có thể chia sẻ một thế giới sẽ đến trong tương lai.

Phong trào này đặc biệt thành công nơi những người dân thành thị, nghĩa là tầng lớp trung lưu, các nhà buôn, các quan chức và những người phục vụ xã hội. Nhưng họ không mấy gần gũi với đám dân nghèo. Sau khi Đền Thờ Giêrusalem bị phá hủy (70 AD), khi không còn phụng tự Đền Thờ nữa, thì phái Pharisiêu đóng vai trò trung tâm trong việc nuôi dưỡng Do Thái Giáo.

Người Pharisiêu đóng vai trò rất quan trọng trong các Tin Mừng. Chúa Giêsu đối thoại với họ về thái độ trên cả lề luật của họ có liên quan đến các khía cạnh chính yếu của một tôn giáo chân chính, quá nhấn mạnh đến các chi tiết luật buộc. Đôi lúc họ tỏ ra “thuần túy tôn giáo” đến độ thiếu đi lòng thương cảm khi chỉ nhấn mạnh đến việc tuân giữ lề luật tôn giáo.

Phái Sađucêô

Nhóm này phổ biến trong giới quý tộc và tư tế của người Do Thái sống ở Palestine. Tên gọi của họ xuất phát từ tên vị tư tế Sadok, người được vua Solomon chỉ định có trách nhiệm chăm lo hòm bia giao ước khi ông lên nắm quyền tại Giêrusalem (1 V 2, 35). Trong các bản văn viết sau này, các con của Sadok được xem như thuộc vào hệ tư tế chính thức của đền thờ (Ed 40, 46).

Như vậy, phái Sađucêô xưng mình xuất thân từ dòng dõi tư tế Sadok. Nhóm này gồm các tư tế và những người giàu có, xuất hiện vào khoảng năm 130 trước Công Nguyên. Họ tin rằng lề luật Do Thái đã được chú thích chính xác như trong văn bản rồi nên không cần phải giải thích thêm hoặc cần phải có những truyền thống phụ như quan niệm của người Pharisiêu. Vì thế họ từ chối truyền thống truyền khẩu của người Pharisiêu. Họ cũng chống đối người Pharisiêu về vài vấn đề giáo lý quan trọng. Chẳng hạn, họ tin rằng linh hồn sẽ bị hủy hoại cùng với thân xác (Trong Mc chương 12, Chúa Giêsu đã chạm trán với họ về vấn đề này khi họ nêu câu hỏi bảy anh em trai lấy cùng một vợ rồi chết mà không có con), trong khi  người Pharisiêu tin rằng linh hồn bất tử.

Người Pharisiêu được xem như thành phần đạo đức trong mắt người dân. Trong khi đó người Sađucêô thường có nhiều đất đai và giàu có, họ không nhận được sự ủng hộ của dân chúng. Họ cộng tác với người Roma và chi phối vụ xử án của Chúa Giêsu vì thấy rằng tôn giáo của Ngài công kích tôn giáo của đền thờ mà họ đang nắm quyền kiểm soát.


Di chỉ khảo cổ Cộng đoàn Qumran, gần Biển Chết

Phái Essênêô

Người Essênêô không được Tin Mừng đề cập đến, nhưng từ khi khám phá ra các cuộn bản thảo Biển Chết vào năm 1947 (được công nhận là các bản văn thuộc cộng đoàn người theo phái Essênêô sống ở Qumran trên bờ Biển Chết), chúng ta có nhiều bằng chứng hơn để xác định rằng họ hiện hữu vào thời Chúa Giêsu.

Essênêô có nghĩa là “những người thánh thiện”. Vì phản đối các lạm dụng của những vị thượng tế ở Giêrusalem nên họ rút lui khỏi đời sống công khai về ở ẩn (có lẽ vào khoảng năm 150 trước công Nguyên) và định cư tại Qumran (cũng có thể tại nhiều nơi khác tại Palestine nữa). Họ phủ nhận đền thờ Giêrusalem cũng như chức tư tế ở đó và thành lập một cộng đoàn rất có quy củ.

Họ nhấn mạnh hôn nhân nhất phu nhất phụ song nhiều người trong họ sống đời độc thân. Họ nghiên cứu sách thánh và chia sẻ của cải chung với nhau. Họ tin rằng trong cuộc chiến cuối cùng giữa sự thiện và sự dữ thì thời đại Cứu Thế sẽ đến, và chỉ mình họ được chia sẻ chiến thắng vĩ đại đó.

Phái Nhiệt Thành

Dù rằng ít khi họ được đề cập đến trong các Tin Mừng (chỉ trong Lc 6, 15), người theo phái Nhiệt Thành vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo và chính trị của xứ Palestine vào thế kỷ thứ I của Công Nguyên. Họ cổ vũ cuộc cách mạng vũ lực chống lại người Roma.

Những nhà cách mạng bạo động này luôn có đông người gia nhập xuất thân từ đám dân nghèo đang trong tình trạng kinh tế vô vọng. Phong trào kháng chiến Nhiệt Thành nhận được sự ủng hộ của đám thường dân, dân nghèo và lớp người trẻ, trong khi tầng lớp bên trên tìm cách duy trì hòa bình với Roma. Sự giải phóng đất nước và công bình xã hội là những cảm hứng chính cho phong trào này mà đỉnh cao là cuộc tàn phá Đền thờ Giêrusalem do người Roma thực hiện vào năm 70 của Công Nguyên.

Họ tự gọi là phái Nhiệt Thành vì họ rất nhiệt huyết, không chỉ với lề luật Chúa nhưng còn về công bình xã hội và công cuộc giải phóng đất nước, điều mà họ tin rằng có thể đạt được nhờ cuộc các mạng vũ lực. Việc người Roma chiếm đóng đất nước cũng như những đàn áp chính trị và xã hội đã làm lớn mạnh phong trào giải phóng rất bạo động này. Chúa Giêsu bênh vực người nghèo và kết án sự đàn áp bạo động nhưng không bao giờ trong các Tin Mừng chúng ta nghe thấy Ngài tuyên bố một cuộc cách mạng vũ lực nào cả.


Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn tin: Gpquinhon.org

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

BÊLEM, BẤT NGỜ THÚ VỊ

Noël chẳng những là đại lễ của tín đồ đạo Kitô (bao gồm Công giáo, Chính Thống giáo, Anh giáo, đạo Tin Lành, v.v.) mà đã trở thành dịp vui lớn của hầu hết nhân loại. Tuy nhiên, ngoại trừ một số tu sĩ Kitô giáo thì quá đông người, kể cả không ít Kitô hữu, chưa biết rõ về một nơi chốn rất gắn bó với mùa Giáng sinh: Bêlem.  

B
êlem / Bê lem / Bê-lem được các ngôn ngữ ghi ra sao? Tiếng Latinh: Bethleem. Tiếng Anh và tiếng Hà Lan: Bethlehem. Tiếng Đức và tiếng Đan Mạch lẫn tiếng Na Uy: Betlehem. Tiếng Pháp: Bethléem. Tiếng Ý: Betlemme. Tiếng Bồ Đào Nha: Belém. Tiếng Ba Lan: Betlejem. Tiếng Tây Ban Nha: Belén. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Beytüllahim. Tiếng Nga: Вифлеем. Tiếng Ukraina: Вифлеєм. Tiếng Mông Cổ: Витлеем. Tiếng Nhật: ベツレヘム. Tiếng Hoa  伯利恒 mà âm Bắc Kinh phát Bailiheng, phiên âm Hán-Việt thành Bá Lợi Hằng.
Bêlem trong tiếng Ả Rập mang nghĩa “Nhà thịt cừu non”, còn tiếng Do Thái lại có nghĩa “Nhà bánh mì”.
Bêlem không phải hang đá
Bêlem là tên thành phố của đất nước Palestine kể từ cuối năm 1995. Thuộc phần phía nam dãy núi Judea, Bêlem nằm trên độ cao 775m, cách thánh địa Jesusalem 10km, cách Địa Trung Hải 73km. Thành cổ ở trung tâm Bêlem gồm 8 khu phố, hiện có khoảng 5.000 dân; còn toàn thành phố Bêlem có 30.000 dân mà 23% theo đạo Hồi, 65% theo Kitô giáo (bao gồm Chính thống giáo Hy Lạp và Công giáo La Mã).

Thành phố Bêlem trên bản đồ
Đó là nơi Chúa Giêsu Kitô (1) chào đời. Lần giở Phúc âm thư do Gérard Gagnon phiên dịch (Thánh Tâm biệt thự, Đà Lạt, 1964) và Kinh Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước (Bản chuyển ngữ của nhóm phiên dịch Các giờ kinh phụng vụ, Toà Tổng Giám mục TP.HCM thực hiện – NXB TP.HCM, 1998), thấy Phúc âm theo thánh Mathêu / Tin mừng theo thánh Mát-thêu lẫn Phúc âm theo thánh Luca / Tin mừng theo thánh Lu-ca đều khẳng định thế.
Phúc âm Mathêu (2) ghi nhận rằng “có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông” theo ngôi sao đến Bêlem: “Họ vào nhà, thấy hài nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a (3), liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.” (Mt 2, 11; sđd, trang 1846). Phúc âm Luca (4) cho biết Giuse (5) từ Nadarét (6) đến thành Bêlem: “Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” (Lc 2, 5-7; sđd, trang 1941).
Vậy căn cứ vào Phúc âm thì Chúa Giêsu lọt lòng tại thành phố Bêlem, trên máng cỏ, trong nhà, hoặc trong chuồng bò cừu, chứ không phải trong hang đá.


Thành phố Bêlem ngày nay. Ảnh: Emily Kattan

Vương cung thánh đường Giáng Sinh
Những năm 132 – 135, quân La Mã chiếm đóng Bêlem và xây miếu thờ Adonis – một vị thần Hy Lạp. Giai đoạn 326 – 333, ngay tại vị trí đó, nhà thờ Giáng Sinh (7)được xây dựng. Năm 529, người Samaritan nổi dậy, phá tan nhà thờ Giáng Sinh, liền sau đó hoàng đế Justinian I cho tái thiết giáo đường ấy. Dưới thời cai trị của khalip Fatimid VI al-Hakim bi-Amr Allah, nhà thờ Giáng Sinh lần nữa bị phá huỷ vào năm 1009. Người kế vị là Aliaz-Zahir cho xây cất lại. Suốt thời gian dài, việc trông nom nhà thờ Giáng sinh trở thành đề tài tranh cãi giữa Chính Thống giáo và Công giáo.


Nhà thờ Giáng Sinh. Ảnh: Berthold Werner

Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở trung tâm thành phố Bêlem. Cạnh giáo đường là quảng trường Máng Cỏ (8). Nhà thờ này có Hầm Mộ Thánh (9), tương truyền là nơi Giêsu được sinh ra.


Hầm Mộ Thánh dưới giáo đường Giáng Sinh năm 1833. Tranh: Максим Никифорович Воробьёв / Maxim Nikiforovich Vorobiev

Từ điển Công giáo phổ thông của John A. Hardon (Phêrô Đặng Xuân Thành dịch sang tiếng Việt – NXB Phương Đông, Cà Mau, 2008; trang 63) ghi nhận: “Ở dưới Hầm có bàn thờ kính Chúa Giáng sinh được xây lùi vào trong tường. Nền nhà thờ bằng cẩm thạch, phía dưới bàn thờ được khoét thành hình 1 ngôi sao bạc: giữa ngôi sao đó là 1 mẩu đá của cái hang nguyên thuỷ. Chung quanh ngôi sao là dòng chữ Đây là nơi Đức Giêsu Kitô được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra. Ở đây có 53 ngọn nến cháy sáng cả ngày lẫn đêm. Tại đây, người ta cử hành lễ Giáng sinh mỗi ngày, các tín hữu quỳ trên nền nhà cẩm thạch”.
Ai từng viếng thăm nhà thờ Giáng sinh, hoặc đã xem phim ảnh đặc tả Hầm Mộ Thánh, ắt ngờ vực từ điển vừa dẫn. Nền giáo đường bằng cẩm thạch, song phía dưới bàn thờ không “khoét thành hình 1 ngôi sao bạc”, mà khoét 1 lỗ tròn. Ngôi sao 14 cánh bằng bạc có trổ vòng tròn từ tâm – với đường kính bằng lỗ tròn – được gia công riêng rồi ốp lên lỗ tròn đó bởi loạt ốc vít. Trên ngôi sao bạc, dòng chữ La Tinh chạy quanh vòng tròn: Hic de Virginia Maria Jesus Christus natus est. Giữa ngôi sao bạc chẳng phải “là 1 mẩu đá của cái hang nguyên thuỷ”, mà là lỗ tròn chứa chất lỏng như hình đính kèm.


Ngôi sao bạc 14 cánh. Ảnh: Jerychonka
Hang đá Bêlem xuất hiện ở Ý thế kỷ XIII
Sách St. Francis of Assisi: A Biography (10) của Omer Angleber (Ấn hành bởi Servant Ministries, Guatemala, 1979) viết rằng năm 1223, hai tuần trước lễ Noël, trên đường từ Roma về Assisi, Phanxicô đã dừng chân tại Greccio – một thị trấn của nước Ý. Gặp Jean Velita, một điền chủ giàu có vừa từ giã binh nghiệp để nhập dòng tu, Phanxicô thổ lộ:
- Ta mong ước cử hành lễ Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bêlem, nhưng làm sao thể hiện được nỗi cơ cực và khổ đau của Ngài ngay từ thuở còn thơ để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô. Con dẫn theo một con lừa và một con bò, giống như bò lừa đã chầu quanh Chúa hài đồng năm xưa.
Vậy là hơn 12 thế kỷ sau khi Chúa Giêsu lọt lòng, hang đá Bêlem mới xuất hiện nhờ sáng kiến của tu sĩ Phanxicô Assisi (11) (1181 – 1226) – người sáng lập dòng Anh em hèn mọn, còn được gọi dòng Phan Sinh. Từ đó, hang đá Bêlem được phổ biến toàn thế giới, nhất là dịp lễ Noël thường niên.


Đền thờ thánh Phanxicô Assisi tại Grecco. Ảnh: Florixc

Chính sự phổ biến rộng khắp kia khiến quá đông người nhầm lẫn về nơi chốn cụ thể của Chúa Giêsu lúc chào đời. Hàng loạt tác phẩm văn nghệ liên tục thể hiện chi tiết hang đá một cách ngộ nhận, chẳng hạn loạt ca khúc Hang Bêlem của Hải Linh và Minh Châu, Giáng sinh xanh của Từ Công Phụng, Đồng dao Noël của Lê Quốc Thắng, v.v. Lạ lùng là linh mục Phaolô Đoàn Quang Đạt (1877 – 1956) vào năm 1907 soạn thánh ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời mà lại viết ca từ mang nội dung trái sự thật:
Ớ chứng nhân tới xem điềm lạ
Kìa trong hang đá nọ trước lều tranh
Rằng tình tình tinh
Thánh tiểu hài sinh thật
Ngôi linh tính tang tình là tình
Thiên Chúa nằm trong máng cỏ bỏ bức khăn đơn.
Bêlem từ cổ điển đến hiện đại
Bấy lâu, hang đá Bêlem do giáo đường, nhà nguyện, quán tiệm, thương xá, tư gia trưng bày theo quy cách phổ biến như sau:
* Ngoài hang thường là tuyết (giả) phủ trắng, treo ngôi sao lấp lánh trên cao, thêm các dòng chữ như Merry Christmas / Joyeux Noël / 聖誕快樂 / Giáng sinh vui vẻ.
* Trong hang gồm bộ tượng Giáng sinh đơn hoặc kép. Bộ tượng đơn thường gồm Chúa hài đồng, Maria, Giuse; lắm khi thêm bò, lừa; có trường hợp chỉ một mình Giêsu. Bộ tượng kép gồm Chúa hài đồng, Maria, Giuse, bò, lừa, 3 vị vua hoặc 3 đạo sĩ; lắm khi thêm mục tử, thiên thần, v.v.


Hang Bêlem. Ảnh: Phanxipăng
Tượng Chúa hài đồng cũng nhiều dạng: bọc tã, mặc áo liền quần, đắp chăn mền. Maria và Giuse thì tư thế khác nhau: cùng quỳ, cùng đứng, hoặc kẻ đứng với người quỳ, v.v. Những tượng đó có kích cỡ từ bé tí xíu đến khổng lồ, được tạo tác bằng muôn chất liệu: đất sét, thạch cao, gốm, sành, sứ, thuỷ tinh, gỗ, nhôm, đồng, đá, v.v. Trong lẫn ngoài hang được gắn các bóng điện màu nhằm phát ánh sáng tuỳ ý.
Thời hiện đại, mô hình tái hiện Chúa Giêsu chào đời đã được cách điệu triệt để, ước lệ tối đa. Không còn hang đá Bêlem mà là quả trứng, chòi cỏ, liếp tranh, hoặc túp lều lợp lá cọ hay lá dừa, hoặc nhà sàn ở khu vực nhiệt đới nên chẳng thấy tuyết. Với xu hướng dân tộc hoá và địa phương hoá, Chúa hài đồng cùng Maria và Giuse mang hình hài Việt Nam, trang phục Việt Nam. Máng cỏ chuyển thành dung vải, hoặc cánh võng, hoặc chiếc nôi tre, hoặc lớp rơm rạ.


Nhà Bêlem được Việt hoá. Ảnh: Phanxipăng
Đã thấy những bộ tượng Giáng sinh bằng gỗ tạc, mây đan, len bện, hoặc vải kết có nhân dạng vô cùng đơn giản, mang tính tượng trưng.
Ngày nay, vui lễ Noël, nếu không gian chật hẹp thì chỉ cần mảnh ván hình trái tim, chiếc hộp lập phương hay trụ tròn xoay, đôi vỏ sò gắn chặt vào nhau, v.v., cũng đủ trang trí thành vật thể xinh xắn để đặt bộ tượng Giáng sinh. ♥

Đôi mảnh vỏ sò cùng ít cát trắng đủ trở nên chốn xinh xắn để đặt bộ tượng Giáng sinh. Ảnh: Phanxipăng
_________________
(1)   Giêsu Kitô được tiếng Pháp ghi Jésus-Christ, tiếng Anh ghi Jesus Christ, tiếng Hoa ghi 耶穌基督 mà âm Hán-Việt phát Gia Tô Cơ Đốc.
(2)   Còn được ghi Mát-thêu và Ma-thi-ơ; tiếng Pháp: Matthieu; tiếng Anh: Matthew; tiếng Hoa: 馬太 mà âm Hán-Việt phát Mã Thái; viết tắt Mt.
(3)   Còn được ghi Maria; tiếng Pháp: Marie; tiếng Anh: Mary; tiếng Hoa: 馬利亞 mà âm Hán-Việt phát Mã Lợi Á.
(4)   Còn được ghi Lu-ca; tiếng Pháp: Luc; tiếng Anh: Luke; tiếng Hoa: 路加 mà âm Hán-Việt phát Lộ Gia; viết tắt Lc.
(5)   Tiếng Pháp lẫn tiếng Anh: Joseph; tiếng Hoa: 若瑟 mà âm Hán-Việt phát Nhược Sắt.
(6)   Tiếng Pháp lẫn tiếng Anh: Nazareth; tiếng Hoa: 拿撒勒 mà âm Hán-Việt phát Nã Tát Lặc.
(7)   Tiếng Pháp: Basilique de la Nativité; tiếng Anh: Church of the Nativity.
(8)   Tiếng Pháp: Place de la Crèche; tiếng Anh: Manger Square.
(9)   Tiếng Pháp: Saint Crypte; tiếng Anh: Holy Crypt.
(10)  Tiểu sử thánh Phanxicô Assisi.
(11)  Tiếng Pháp: François d’Assise; tiếng Anh: Francis of Assis; tiếng Ý: Francesco d’Assisi; tiếng Hoa: 亞西西的方濟各 mà âm Hán-Việt phát Á Tây Tây Đích Phương Tế Các. Phanxicô Assisi được Giáo hoàng Gregory IX phong thánh ngày 16-7-1228.

(Nguồn :  phanxipang.wordpress.com)
Đã đăng Thế Giới Mới 865 (21-12-2009)