Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

SUY NIỆM 

CHÚA NHẬT PHỤC SINH   


                                                                           ĐTGM Ngô Quang Kiệt.

Phụng vụ hôm nay trình bày cho ta sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng.
Mở đầu phần nghi thức, nhà thờ chìm vào bóng tối. Bóng tối tượng trưng cho thế lực sự dữ, sự ác. Khi Đức Giêsu chưa Phục Sinh, sự dữ, sự ác còn thống trị. Nhân loại chìm ngập trong bóng tối sự chết.
Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh. Đức Kitô Phục Sinh chiếu lên nguồn sáng mới, xua tan đi bóng đêm. Đức Kitô Phục Sinh là sự sống mới đã chiến thắng sự chết.
Như cây nến muốn chiếu sáng phải tiêu hao chính mình. Đức Kitô đã phải chịu tiêu hao đi trong những đớn đau, khổ cực, tủi nhục và cả trong cái chết, mới đem lại ánh sáng sự sống cho ta.
Chúng ta là con cái Chúa, là con cái của sự sáng. Nhưng trong ta còn nhiều phần chưa thuộc về Chúa. Nhiều phần trong tâm hồn ta còn thuộc về bóng tối.
Có thứ bóng tối tội lỗi nhận chìm linh hồn ta trong những vực sâu tối đen không có đường thoát ra.
Có thứ bóng tối đam mê dục vọng gìm linh hồn ta trong cơn mê ngủ miệt mài, mất hết ý chí phấn đấu tiến lên.
Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ làm lu mờ lương tâm, lý trí, khiến ta coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa. Vì tiền bạc mà dám phạm những tội ác tày trời. Vì lợi nhuận của mình mà làm thiệt hại cho người khác.
Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù nó làm cho tâm hồn ta không lúc nào bình an, vì chìm ngập trong nỗi hận thù dai dẳng.
Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng khiến cho linh hồn ta không tìm thấy niềm vui trong sự khiêm nhường tha thứ.
Tất cả những bóng tối đó đang khiến linh hồn ta suy yếu, chết dần chết mòn. Tất cả những bóng tối đó ngăn chặn ánh sáng của Chúa, ngăn chặn dòng suối ơn lành của Chúa đổ vào hồn ta.
Để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch những bóng tối còn vương vấn trong tâm hồn.
Cũng như cây nến phải chịu tiêu hao mòn mỏi mới nuôi được ánh sáng soi chiếu đêm tối, ta cũng phải phấn đấu với chính bản thân mình, quên mình, chịu chết cho tội lỗi, để ta sống một đời sống mới.
Khi phấn đấu đẩy lùi bóng tối tội lỗi, ta thoát được ách ma quỷ và được sống trong ánh sáng của Chúa, trở nên con cái ánh sáng.
Lạy Đức Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng ma quỷ, xin giúp chúng con chiến đấu với ma quỷ, để được sống một đời sống mới trong ánh sáng của Chúa.





Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

SUY NIỆM VỀ THÁNH GIÁ


Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh



Hôm nay, một hình dáng xù xì, khẳng khiu, vươn cao lên, xòe rộng ra, ôm lấy chúng ta, bao phủ chúng ta, đó là bóng Cây Thánh Giá của Chúa Giêsu Kitô.
Thập giá và Thánh Giá khác nhau một trời một vực: thập giá là do lòng hận thù độc ác của loài người sản xuất ra, còn Thánh Giá là do lòng yêu thương vô bờ vô bến của Thiên Chúa sáng tạo nên.
Trước khi trở thành Thánh giá, thập giá là hai miếng gỗ sù sì, trần trụi, gồ ghề, nặng nề, bắt chéo vào nhau như một hình chữ thập, dùng để giết người một cách rất  dã man.
Thập giá là hình khổ kinh khủng nhất, do người Rôma độc ác bày ra để hành hạ và giết chết những kẻ phản loạn, những người nô lệ, những ai bị họ đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Thập giá ghê tởm nầy, cách đây hơn 2000 năm, đã được Chúa Giêsu vác lên Núi Sọ và bị đóng đinh chết vào đó. Và kể từ đó, kể từ khi Con Đức Chúa Trời chịu đóng đinh chết tất tưởi trên thập giá, thì thập giá đã trở thành Thánh Giá lạ lùng. Lạ lùng đến nỗi loài người không thể nào hiểu được và không thể nào cắt nghĩa được!
Trước, thì thập giá quá đên tối, quá kinh tởm, quá tủi nhục; nay, thì Thánh Giá quá sáng chói, quá hấp dẫn, quá cao sang.
Trước, thì thập giá chỉ có mặt nơi tử địa, nơi pháp trường, nơi những chổ đê hèn nhục nhã; nay, thì Thánh Giá có mặt khắp nơi, nơi trang trọng nhất, nơi cao sang nhất.
Trước, thì thập giá bị chối từ, bị nhờm gớm; nay, thì Thánh Giá được ôm ấp, được ao ước, được mang nơi ngực, được đeo nơi cổ, được hôn kính dấu yêu.
Trước, thì thập giá được làm bằng lọai gỗ sần sù, lởm chởm; nay, thì Thánh Giá được làm bằng vàng, bằng bạc, bằng mọi thứ kim loại đắc giá nhất trên đời nầy.
Vì sao người công giáo chúng ta lại dành cho Thánh Giá một địa vị vô cùng đặc biệt như thế? - Vì trên Thánh Giá, Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, vì yêu thương loài người quá bội, nên đã nộp mình chịu chết để cứu chuộc loài người, để cho loài người được sống.
Nhìn lên Thánh giá, người Công Giáo chúng ta thấy hai chữ ĐAU KHỔ.



Trên thánh giá, Chúa Giêsu nếm chịu mọi nỗi đau khổ:
- đau khổ vật chất (bị lột hết áo quần ra, không một mãnh vải che thân );
- đau khổ thể xác (từ trên đỉnh đầu cho đến dưới bàn chân, chẳng chổ nào là chẵng xể xài rách nát, cùng bày xương ra...);
- đau khổ tinh thần (bị sĩ nhục, bị bỏ vạ, bị cáo gian, bị chửi rủa thậm tệ);
- đau khổ tâm hồn (thấy trước đủ mọi tội lổi tầy trời của loài người chống lại Thiên Chúa, thấy trước mọi vong ân bội nghiã của loài người đối với Thiên Chúa );
- đau khổ tình cảm (thấy những người thân yêu, nhất là Mẹ yêu dấu của mình, đang ở dưới chân mà không an ủi gì được).
Nhìn lên Thánh Giá, người công giáo chúng ta thấy hai điều trái ngược

Đấng vô tội, lại bị vu cáo; Đấng công chính, lại bị kết án; Đấng vô cùng thánh thiện, lại bị đày ải; Đấng cao sang vô cùng trên trời dưới đất, lại bị hành hạ, bị đóng đinh chết; Đấng toàn năng, phép tắc vô cùng, lại bị sĩ nhục; Đấng giàu có vô cùng, lại bị trần truồng nhuốc hổ; Đấng sáng láng vô cùng, lại bị tối tăm vây phủ; Đấng là sự sống, thì nay lại tắt thở và chết.
Nhưng, sau khi nếm cái chết chẳng đủ ba ngày, Chúa Giêsu sống lại, đánh bại tủ thần, và ban cho những ai biết đi theo Ngài trên Con Đường Thánh Giá và bằng lòng chết với Ngài trên Cậy Thánh Giá, được sống lại và sống muôn đời.
Đối với người công giáo chúng ta, Thánh Giá của Chúa Giêsu là nguồn hy vọng rạng ngời, là nguồn hạnh phúc vô biên.
Người công giáo chúng ta tung hô Thánh Giá là Cây cứu chuộc muôn dân đặng rỗi, là Cây làm cho kẻ có phước được phần vui mừng, là Cây làm cho kẻ có tội được lòng trông cậy, là Cây làm cho kẻ yếu đuối được nhờ sức mạnh, là Cây làm cho kẻ khốn nạn được sự an lành, là Cây tốt lành rất mực, diềm dà im mát, bóng che thiên hạ khỏi chốn hỏa hình; là gươm giáo dẹp giặc linh hồn, khử trừ đánh diệt tam cừu oan gia, sát phạt tà ma, thịt mình, thế tục; là chìa khóa mở cửa thiên đàng, đưa chúng ta vào nơi Quê Thật.
Thánh Giá gồm những mầu nhiệm cao siêu nhất trong Đạo Công Giáo: Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Mầu Nhiệm Ngôi Hai Xuống Thế Làm Người, Mầu Nhiệm Thiên Chúa Cứu Chuộc Loài Người.
Thánh Giá dạy người công giáo những bài học mà Chúa Giêsu đã truyền dạy phải sống và thi hành:
Hình thẳng hướng lên: Người Công Giáo hãy sống mến Chúa!
Hình ngang: Người Công Giáo hãy sống yêu người!
Tay Chúa giăng ra: Người Công Giáo hãy rộng mở đôi tay đối với mọi người, không xua đuổi ai. Người Công Giáo hãy tha thứ mọi xúc phạm của người khác đối với mình, không loại trừ xúc phạm nào.
Tay Chúa bị đóng đinh: Người Công Giáo hãy dùng đôi tay để cầu nguyện, lao động, giúp đỡ, bố thí. Người Công Giáo hãy đền tội cho đôi tay của mình là đôi tay thường biếng nhác, cắp trộm, đánh đập kẻ khác, dâm ô hèn hạ.
Chân Chúa bị đóng đinh: Người Công Giáo hãy dùng đôi chân để đi Nhà Thờ, đi làm việc đạo đức bác ái, đi làm việc hữu ích. Người Công Giáo hãy biết đền tội cho đôi chân của mình là đôi chân thường đi vô ích, đi đến nơi tội lỗi, đi đến với kẻ phạm tội.
Tim Chúa bị đâm thủng: Người Công Giáo hãy thắp lửa mến Chúa và yêu người trong trái tim của mình. Người Công Giáo hãy tắt lửa dục tình trong lòng mình. Người Công Giáo hãy biết ăn năn thống hối về những tội mình đã vô tình và vô ơn đối với Chúa.
+++
Người Công Giáo chúng ta hãy đặt Thánh Giá nơi chỗ cao trọng nhất trong nhà mình!
Người Công Giáo chúng ta hãy đeo Thánh Giá trên ngực là nơi đầy ý nghĩa nhất trong con người của mình.
Người Công Giáo chúng ta hãy làm Dấu Thánh Giá trên con người của mình, làm một cách nghêm trang, sốt sắng, và làm cho ra Một Hình Thánh Giá cân đối.
Người Công Giáo chúng ta hãy năng nhìn lên Thánh Giá để tỏ lòng yêu mến Chúa Giêsu đang đau khổ vì tội lỗi của loài người. Thánh Casimirô, mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, là mỗi lần ngài cảm động và rơi lệ.
Người Công Giáo chúng ta hãy luôn mang Thánh Giá trong tâm hồn mình để tỏ lòng yêu mến Chúa Giêsu, luôn mang Thánh Giá trong đầu óc mình để suy niệm về tình Chúa Giêsu yêu thương loài người..
Và nhất là, trong cuộc sống của mình, người Công Giáo chúng ta hãy luôn sống và thực hành những bài học của Thánh Giá Chúa Giêsu.
Amen.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
(Nguồn : tonggiaophanhue.net)



Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Ý NGHĨA VIỆC " RỬA CHÂN " TRONG THÁNH LỄ TIỆC LY



 Thứ Năm Tuần Thánh.

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ). Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ. Việt Nam không “lệ” rửa chân, nhưng tôi tớ lại phải khom lưng hoặc nằm xuống cho chủ bước qua.


Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ. Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” (Ga 13:16a; Ga 15:20) và “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13:16b). Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ”.

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa. Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay”. Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.



RỬA CHÂN LÀ YÊU THƯƠNG

Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian. Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm. Rửa chân người khác là hành động yêu thương. Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 13:23; Ga 19:26; Ga 13:23; Ga 20:2; Ga 21:7 & 20), và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu. Người rửa chân là “người thực hành yêu thương”, còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận. Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4:12). Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu. Quá ngược đời, và lạ thật! Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.





RỬA CHÂN LÀ KHIÊM NHƯỜNG

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường. Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức. Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng. Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài. Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. 



Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại. Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước. 

Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân. Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc và thật là dễ thương!

RỬA CHÂN LÀ PHỤC VỤ

Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26). Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ. Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều”. Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực”.

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình. Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ. Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22:24-27).



Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau. Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ. Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Vừa sợ không được chung phần vừa khoái chí, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch”. Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”.

RỬA CHÂN LÀ THA THỨ



Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ. Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác. Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ. Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).


Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21). Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27). Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần. Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “ngon” lắm rồi, ai dè… “bị hố”!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

TẠM KẾT

Cuối cùng, chúng ta phải ghi nhớ lời Chúa Giêsu nói về việc rửa chân: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13:17). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hành chứ không bảo chúng ta nghe biết cho vui tai.

Ngài chú ý cách thực hành tích cực, và chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu chúng ta thực hành điều Ngài đã làm. Ngài biết rằng sự đố kỵ, ghen ghét, bực tức, và thiếu lòng tha thứ làm chúng ta bị hạn chế và ngăn cản sự phát triển tâm linh của chúng ta. Nếu chúng ta cho phép những điều đó xảy ra, cuối cùng chúng sẽ hủy diệt chúng ta.

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm, chúng ta sẽ cố gắng khiêm nhường và cảm nghiệm niềm hạnh phúc khi noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu trong việc phục vụ nhau bằng cách tha thứ lẫn nhau.

Vậy thì chúng ta đích thực là môn đệ của Chúa Giêsu, như Ngài đã tâm sự: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15:15). Là thân phận tôi tớ, thậm chí chỉ đáng làm nô lệ, thế nhưng chúng ta lại được Chúa Giêsu gọi là bạn hữu và là môn đệ. Còn hạnh phúc nào hơn?!

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch. Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

                                                    

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

ĐỔ MỒ HÔI MÁU

Suy Niệm Tuần Thánh
Doi_thap_giaĐức Giêsu có thói quen cầu nguyện trong vườn Cây Dầu (Lc 22,39). Tại vườn này, buổi tối cầu nguyện trước cuộc thương khó thật đặc biệt.Tin Mừng Nhất Lãm đều kể lại sự kiện Đức Giêsu cầu nguyện trong thổn thức và xao xuyến. (Mt 26,36-46; Mc 14,32-42; Lc 22,39-46). Thấy trước cuộc khổ nạn, Đức Giêsu cầu nguyện đến mức "Mồ hôi của Người như những giọt máu rơi xuống đất" (Lc 22,44). Tuần Thánh, dừng lại nơi vườn Cây Dầu để suy niệm cuộc vượt qua của Đức Giêsu.
1. Đức Giêsu đổ mồ hôi máu
Trong dịp hành hương Đất Thánh, tôi có đến vườn Cây Dầu, nơi đây Chúa Giêsu đã trải qua cơn hấp hối khủng khiếp.Vườn có nhiều cây Ôliu gốc to sần sùi, dáng cổ ẩn dấu thời gian rêu phong. Nơi đây Chúa quì cầu nguyện trước khi bước vào khổ nạn. Khu vườn nằm sát bên Thánh Đường Các Dân Tộc. Gọi tên như vậy vì nhiều quốc gia đã đóng góp tiền của để xây nên Thánh Đường này.
Trước bàn thờ, tảng đá lớn được bao quanh bằng hàng rào thấp nhỏ như chiếc mão gai, có thể đưa tay để đặt vào tảng đá. Chúng tôi quỳ trước tảng đá cầu nguyện. Thật bồi hồi xúc động, được quỳ gối nơi Chúa đã từng quỳ gối cầu nguyện đến đổ mồ hôi máu. Mỗi người hôn kính tảng đá và thì thầm cầu nguyện với Chúa cách sốt mến lạ lùng. Chính tại nơi đây đã diễn ra đêm sầu khổ tột cùng của Chúa. Thời gian là vào khoảng 10 giờ đêm. Phía đông trăng tròn đã lên cao, tỏa ánh sáng huyền ảo xuống mặt đất, những nấm mồ trắng lung linh nhập nhoà. Các ngọn đuốc của đám vệ binh Đền thờ rọi sáng cả khu vườn. Tiếng lách cách của gươm đao, tiếng loảng xoảng của lưỡi kiếm khua vang trong đêm tĩnh lặng. Đêm cuối cùng. Cuộc Khổ Nạn bắt đầu. Ngày mai Ngài sẽ gặp cái chết và nấm mồ. Đức Giêsu vào vườn cùng với ba tông đồ: Phêrô, Giacôbê và Gioan.
Tấn kịch bi thảm sắp diễn ra, Đức Giêsu có một cảm giác đau đớn, lo lắng, bồi hồi, xao xuyến đến tột cùng: "Người cảm thấy hãi hùng xao xuyến" (Mc 14,33); Đức Giêsu thổn thức: "Linh hồn Thầy buồn đến chết được". Đấng Toàn Năng, cố vấn kỳ diệu, người chiến thắng sự chết và tử thần, lại xem ra ngã quỵ trước viễn tượng khổ giá. Ngài yêu cầu các môn đệ giúp đỡ: "Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy" (Mt 26,38). Nhiều lần Đức Giêsu từng dặn dò các môn đệ "canh thức", nhưng chưa lần nào nói "với Thầy" như hôm nay. Rồi bắt đầu cơn hấp hối, Ngài sấp mặt xuống nằm phủ phục dưới đất. Thân mình Ngài run rẩy đến nỗi mồ hôi rịn ra hòa lẫn với máu. Lời Thánh vịnh mô tả: "Nghe trong tim mình đau thắt lại, bóng tử thần khủng khiếp chụp xuống con. Bao run sợ nhập cả vào người, cơn kinh hãi tứ bề phủ lấp". (Tv 54,5-6 ).Ứng nghiệm vào Đức Giêsu thật chính xác. Ngài bị đánh đòn trong tư tưởng và đóng đinh trong ý nghĩ trước khi cuộc khổ nạn xảy ra. Viễn tưởng đó sẽ diễn ra tại vườn Cây dầu, rồi dốc ngược lên nhà Anna, tới chỗ dinh Caipha rồi cho đến đồn binh Antonia, dọc theo các phố xá đến lúc chết tủi nhục đớn đau trên thập giá và mai táng trong mồ. Ngài trông thấy tất cả, phải nếm sự cay đắng tột cùng của kiếp người cô đơn.
Ngài khóc với con tim rướm máu. Máu và nước mắt ấy là giọt sương của đêm cuối cùng trên trái đất. Có những nỗi khổ đau làm tan nát trái tim. Lúc này thần chết đã đứng ngoài ngưỡng cửa của cơn hấp hối.
2. Điều gì làm cho Đức Giêsu đổ mồ hôi máu?
Mồ hôi máu (en: Hematidrosis) hay chứng đổ mồ hôi máu là tình trạng rất hiếm gặp xảy ra ở người khi đang trong trạng thái tâm thần, cảm xúc và căng thẳng thể lý một cách cực độ, ví dụ như đang đối diện với cái chết, làm họ tiết ra mồ hôi máu. Một số tài liệu tham khảo về lịch sử đã mô tả hiện tượng này, đáng chú ý là những tài liệu của Leonardo da Vinci đã mô tả về: một người lính trước khi ra trận hay một người đàn ông bất ngờ chịu một án tử hình đã đổ mồ hôi máu, cũng như theo chi tiết trong Kinh Thánh thì Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi đang cầu nguyện trong vườn Getsemani (Lc 22,44). (x.vi.wikipedia.org).
Điều gì đã làm cho Đức Giêsu phải đau đớn buồn phiền đến mức phải "đổ mồ hôi máu"?
Phải chăng Ngài run sợ trước cái chết? Hay lo lắng trước những đau đớn thể xác sắp phải chịu? Không! Đức Giêsu không run sợ trước cái chết hay bất cứ nhục hình nào. Đau đớn thể xác không thể làm cho Ngài buồn phiền và lo lắng đến như thế. Biết bao thánh tử đạo đã hy sinh mạng sống mình mà không lo lắng buồn phiền, trái lại còn rất hân hoan vui mừng nữa. Chẳng lẽ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người lại sợ hãi cái chết, lo buồn vì những hình phạt thể xác sẽ xảy đến cho mình mà "đổ mồ hôi máu" hay sao?
Vậy thì điều gì làm cho Ngài muộn phiền đến vậy? Câu trả lời thật đơn giản, chỉ nằm gọn trong một từ: "chén". Đức Giêsu lặp lại đến 3 lần cùng một lời cầu nguyện: "Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn mà làm điều Cha muốn" (Mc 14,36). Chén này là chén Chúa Cha đã trao cho Đức Giêsu (Ga 18,11). Cách đó ít lâu trước giấc mơ quyền lực của hai môn đệ thân tín, Đức Giêsu đã từng nhắc đến: "Các người không biết các người xin gì ! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?" (Mt 20,22; Mc 10,38). Vậy, Chén ấy là chén gì mà khiến Đức Giêsu phải "ngập ngừng" như thế? (Giuse Duy Thạch).
Bị phản bội trong tình yêu, đó là nỗi đau đớn nhất. Trái tim co thắt từng cơn và tâm hồn xao xuyến muộn phiền tột cùng. Đức Giêsu, người trao ban tình yêu sắp bị phụ bạc, sắp bị chối từ. Các môn đệ trốn chạy, mọi người khinh khi nhục mạ. Đức Giêsu đau buồn đến "đổ mồ hôi máu" không phải vì lo lắng sợ hãi trước cuộc khổ hình thập giá cho bằng những khao khát yêu thương bị chối từ.
Đã có bao nhiêu người đi theo và nhận lãnh những ân huệ của Chúa Giêsu? Những trích đoạn Tin mừng sau đây giúp tính thử bằng con số.
- Mười hai Tông Đồ, đứng đầu là ông Simôn, cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê, Giacôbê, Gioan, Philípphê, Batôlômêô, Tôma, Mátthêu, Giacôbê, Tađêô, Simôn và Giuđa Ítcariốt (Mt 10,2-4).
- Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến (Lc 10,1).
- Năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con [đã được ăn uống no nê] (Mt 14,13; Mc 6,30-44; Lc 9,10-17; Ga 6,1-14).
- Bốn ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con [đã được ăn uống no nê] (Mt 15,38-39).
Tính sơ sơ đã thấy có tổng số 9.084 người. Tin Mừng Gioan và Máccô còn cho biết con số theo Chúa Giêsu không chỉ giới hạn ở con số 9.084 người mà còn nhiều hơn nữa. Chắc chắn trong số này đã có rất nhiều người đã từng thọ ơn của Chúa Giêsu.
- Có rất đông dân chúng đã đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm (Ga 6,2).
- Từ miền Galilê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giuđê, từ Giêrusalem, từ xứ Iđumê, từ vùng bên kia sông Giođan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xiđôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm (Mc 3,7-8).
- Nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua (Ga 2,23).
- Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ (Ga 13,2).
Như vậy, Chúa Giêsu là thần tượng và là vị đại ân nhân của cỡ chừng vài chục ngàn người chứ không phải ít bởi vì chính những ông Pharisiêu đã bảo nhau: "Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!" (Ga 12,17-19). Rất đông người đi theo, ngưỡng mộ và nhận lãnh những ơn huệ của Chúa Giêsu. Nhưng khi Người lâm nạn thì có bao nhiêu người đến chia sớt những nỗi cô đơn, đau khổ?. Có bao nhiêu người đến trả nghĩa dù là một chén nước lã, hay ghé vai vác đỡ thập giá trên đường thương khó?
Không thấy ai cả.
Khi Chúa Giêsu bị bắt, các môn đệ chạy tán loạn, chạy bán sống bán chết đến độ không còn một mảnh vải để che thân nữa (Mc 14,51-52). Chỉ còn ông Phêrô là "can đảm" theo Thầy xa xa. Ngày nay, ngoài vườn Giếtsêmani còn một động đá mệnh danh là "hang phản bội", để nhắc lại biến cố đau lòng của Phêrô và các môn đệ đã bỏ Chúa. Mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết, cùng bà Salômê (Mc 14,52-54; 15,40)... Đức Giêsu dường như cô độc giữa một biển người đồng hương. Không có ai đứng ra bàu chữa. Trong mắt họ, Ngài còn thua tên cướp Baraba. Họ khinh bỉ và khạc nhổ vào Ngài. Tình yêu bị chối từ là niềm đau đớn nhất. Đức Giêsu khao khát được yêu họ, được mang ơn cứu độ cho họ cho đến hơi thở cuối cùng. Thế mà tất cả đều chối từ. Lời Thánh vịnh ứng nghiệm: "Nỗi sầu riêng mong người chia sớt, luống công chờ không được một ai; Đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu" (Tv 69,21). Mồ hôi và máu chảy ra là do tự nỗi đau tột cùng ở trong tâm hồn đã làm đứt các mạch máu và máu chảy ra. Đức Giêsu thấy trước những vong ân bội nghĩa, thấy bị bỏ rơi trong cô đơn, thấy những tội lỗi nhân loại nên đau khổ tột cùng. "Chén đắng" là như thế, Ngài không "đổ mồ hôi máu sao được"?.
3. Đón nhận chén đắng với lòng vâng phục.
Dù bị các môn đệ bỏ rơi, bị giới lãnh đạo cô lập, Chúa Giêsu vẫn bình thản trước các sự kiện đang diễn ra. Người hoàn toàn tự do để đón nhận hay khước từ. Người có thể khước từ chén đắng, nhưng không, Người đã đón nhận trong tinh thần vâng phục thánh ý Chúa Cha. Dầu vậy, khi giờ đã đến, Người vẫn cảm thấy hãi hùng, xao xuyến nên đã cầu nguyện. Cầu nguyện trong cô đơn và sợ hãi đến độ mồ hôi máu bịn rịn nơi thân thể. Đây quả là giờ của đau khổ, giờ của hãi hùng, giờ bị mọi người khước từ. Đây là chén đắng của cuộc đời. Chén chua chát bị ruồng bỏ, bị nhạo báng đến nỗi Người đã nại vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa Cha: "Lạy Cha, Cha có thể làm mọi sự, xin cho con khỏi uống chén này", nhưng đón nhận thánh ý Chúa Cha, Người lại tiếp tục bình thản để thưa lên cùng Cha: "nhưng xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha trọn đời".
Chúa Giêsu bị phản bội, bị hiểu lầm, bị ghen ghét, chịu kết án cách bất công để cứu nhân loại khỏi án phạt đời đời. Người đã chết để đền tội, để chuộc tội, để gánh tội, để cứu độ con người. Người cho chúng ta được thông phần cuộc sống của Đấng "là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống", cho chúng ta "được sống dồi dào". Con người được dựng nên để sống và sống để yêu Chúa và để yêu nhau. Thiên Chúa là tình yêu nên đã sáng tạo muôn loài, đã tạo dựng và cứu chuộc con người. Nhập Thể và Cứu Chuộc là mầu nhiệm của tình yêu. Chúa Giêsu đã chấp nhận chén đau thương để đem lại tình yêu thương cho con người. Người đã biến đổi viên mãn của đau thương thành viên mãn của yêu thương qua cuộc khổ nạn (x.1Cr 15, 26 . 54; Dt 2, 14), để từ trong cái chết vì tình yêu, sự sống vươn lên tươi đẹp như một mùa lúa mới (Ga 12, 24). Tuần Thánh giúp ta chiêm ngắm tình yêu vô bờ bến của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và với nhân loại.
Xin Chúa cho chúng con luôn sống yêu thương, biết đem Tin Mừng bình an đi xây dựng cuộc đời.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
(Nguồn ;tonggiaophanhanoi.org)

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

TÌM HIỂU VỀ TUẦN THÁNH VÀ ĐẠI LỄ PHỤC SINH (2)



Bài 2. CỬ HÀNH TUẦN THÁNH VÀ TAM NHẬT VƯỢT QUA 

Sau thời gian cử hành Mùa Chay Thánh, trong đó Giáo Hội hướng về Đại lễ Phục Sinh bằng việc chuẩn bị các dự tòng lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo: Rửa Tội, Thêm Sức Và Thánh Thể, trong đêm Vọng Phục Sinh; đồng thời dọn lòng con cái cho Đại lễ này với các việc đọc Lời Chúa, tham dự phụng vụ, cầu nguyện, ăn chay hãm mình, canh tân trở lại, sống bác ái và làm việc bố thí. 

Bây giờ tới Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh là những ngày trọng đại nhất trong Năm Phụng vụ. Vì thế chúng ta tìm hiểu ý nghĩa những ngày này để có thể cử hành xứng đáng và đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng. 

Chúng ta cần lưu ý tới ba điểm sau đây:

1. Hiểu rõ ý nghĩa của Tuần Thánh
2. Cử hành sốt sắng các lễ nghi Tuần thánh
3. Một số lưu ý đặc biệt 

I. Ý nghĩa Tuần Thánh 

Hiểu rõ ý nghĩa Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh là một điều quan trọng, vì vô tri bất mộ. Chính vì nhận thấy sự cần thiết này, nên Đức Giáo hoàng Piô XII đã cho cải tổ Lễ nghi Cử hành Tam Nhật Thánh (năm 1951) và Lễ nghi Cử hành Tuần Thánh (năm 1955). Công đồng Vatican II cũng đã lưu ý tới điều này trong Hiến chế về Phụng vụ Thánh Công đồng chung: “Mỗi năm một lần, Giáo Hội còn cử hành hết sức trọng thể vào dịp lễ Phục Sinh sự sống lại cùng với cuộc Thương Khó của Người” (PV, 102). 

Vậy Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh có ý nghĩa như thế nào? 

1. Thời gian cử hành 

Về thời gian, Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá, hay Chúa Nhật thương khó, ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư sau đó, và sáng thứ năm. Bốn ngày này là những ngày cuối cùng của Mùa Chay Thánh. 

Tam Nhật Thánh, bắt đầu từ Thánh Lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh, THỨ BẢY TUẦN THÁNH và Chúa Nhật Phục Sinh. 

Đây là tột đỉnh của Mùa Chay Thánh và trung tâm của Năm Phụng vụ. Các Giáo phụ gọi Tuần Thánh là tuần trọng nhất trong Năm Phụng vụ, tuần lễ mẹ của các tuần lễ. 

Nếu nhìn vào việc thành hình Năm Phụng vụ, thì việc cử hành Ngày Chúa Nhật hằng tuần và việc cử hành Lễ Phục Sinh mỗi năm là khởi điểm của Năm Phụng vụ. Các tín hữu thường tập họp mỗi ngày Chúa Nhật để tưởng nhớ lại biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại. Rồi mỗi năm có việc cử hành các biến cố này một cách trọng thể hơn và đặc biệt hơn. Sau đó mới dần dần thành hình các việc cử hành các ngày lễ khác, và các mùa khác trong Năm Phụng vụ. Ngay trong việc thành hình các Sách Phúc Âm, thì đơn vị văn chương tường thuật việc Chúa Kitô sống lại, và cuộc thương khó của Chúa cũng được coi là đơn vị đầu tiên được viết ra cho cộng đoàn tín hữu sơ khởi. Các Thánh ký viết phúc âm đã sử dụng các bài tường thuật cuộc thương khó và phục sinh của Chúa Kitô như là chóp đỉnh của việc loan báo Tin Mừng về Chúa Kitô. 

2. Nội dung của Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh 

Chúng ta có thể nói ngay: đó là những biến cố vượt qua của Chúa Giêsu Kitô: việc Chúa chịu đau khổ, chết trên thập giá và sống lại. Mầu nhiệm Vượt qua là trung tâm điểm của các việc cử hành trong Năm Phụng vụ, của Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh. Công đồng chung Vatican II đã nhấn mạnh nhiều tới điều này trong Hiến chế về Phụng vụ (các số 5. 6. 61. 102). Văn kiện Những quy luật tổng quát năm phụng vụ (= QLTQNPV) nói một cách hết sức rõ ràng: “Chúa Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo, nhất là nhờ Mầu nhiệm Vượt qua của Người… Chính Tam nhật Vượt qua, nhằm tưởng niệm cuộc Thương khó và Phục sinh của Chúa, sáng chói lên như tột đỉnh của cả Năm phụng vụ” (số 18; x. số 19). Như vậy cử hành mầu nhiệm này là cử hành công cuộc cứu chuộc chúng ta và toàn thể nhân loại. 

3. Xét về cách thế cử hành 

Đi từ cách xếp đặt Tuần Thánh, cũng như Tam nhật Vượt qua, và nội dung cử hành, một hệ luận tất nhiên suy diễn ra từ đó, là phải cử hành rất long trọng, làm sao cho đúng với tầm quan trọng của nội dung cử hành này (x. QLTQNPV, 1). Từ đây chúng ta thấy Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh có những lễ nghi đặc biệt và đã có từ lâu đời trong truyền thống phụng vụ. Lễ nghi không chỉ gồm việc cử hành thánh lễ, nhưng còn gồm các nghi lễ, phụ tích khác, giúp làm sáng tỏ mầu nhiệm và biến cố chứa đựng mầu nhiệm đó. Các lễ nghi này gợi hứng từ các biến cố cuối đời của Chúa Giêsu, thêm vào đó những hình ảnh lấy từ biến cố vượt qua của người Do Thái xưa, nhằm làm sáng tỏ biến cố cuối cuộc đời Chúa Giêsu ở trần gian. Việc dùng các biểu hiệu rất phong phú, như biểu hiệu lá cây trong Chúa nhật đầu Tuần Thánh, nến phục sinh trong Đêm Vọng Thứ Bảy Tuần Thánh. Âm nhạc, nhất là bình ca cũng được sáng tác hợp với diễn tiến buổi cử hành. Thời gian cử hành cũng cố gắng hết sức theo sát diễn tiến của các biến cố thánh, khác hẳn với thời gian các buổi cử hành trong cả năm. Tất cả nhằm làm sáng tỏ nội dung thần học của việc cử hành, và giúp tín hữu đi vào mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô một cách sâu xa hơn. 

II. Cử hành Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh thế nào? 

Với những chỉ dẫn trên đây, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh, và từ đây, ý thức về việc cử hành những ngày này phải thực sự rõ ràng: làm sao để cử hành các lễ nghi Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh một cách long trọng và làm sao để giáo hữu tham dự được đông đảo, và tham dự cách tích cực. Về điểm này, chính Công đồng chung Vaticanô đã nhắc tới: “… Giáo Hội còn cử hành hết sức trọng thể vào dịp Lễ Phục Sinh sự sống lại cùng với cuộc thương khó hồng phúc của Người” (PV, 102). 

Để cụ thể hoá việc cử hành hết sức trọng thể Tuần Thánh và Tam nhật Vượt qua, chúng ta cần nhớ các điểm sau đây: 

1. Phải tôn trọng thời gian cử hành, nơi cử hành và cơ cấu các buổi cử hành, như đã được quy định trong Sách Lễ Rôma. Các yếu tố này có một ý nghĩa biểu hiệu của chúng và đã có một truyền thống lâu đời. Chúng ta cần lưu tâm để không đem những sáng kiến cá nhân vào, làm lệch lạc cơ cấu, mất ý nghĩa nội tại của chúng. 

2. Phải chuẩn bị trước các đồ dùng cần thiết cho mỗi buổi cử hành. Các thừa tác viên, nhất là các linh mục chủ sự phải biết rõ các nghi lễ cử hành. Các người giúp lễ phải được tập dượt trước để biết các việc phải làm và các cử chỉ, điệu bộ phải có. Linh mục nên dành thời giờ để đọc trước nghi lễ sẽ cử hành, các bản văn phụng vụ, các lời kinh phải đọc, nhất là khi có các lời kinh khác nhau có thể chọn lựa. Con số người giúp lễ cũng phải liệu con số đầy đủ để có thể nói là buổi cử hành trọng thể nhất trong năm. Thay vì chỉ có linh mục và một người giúp lễ mà thôi. 

3. Giáo dân cần được giải thích trước để hiểu ý nghĩa các lễ nghi mà mỗi năm họ chỉ tham dự một lần mà thôi. Vì thế, nếu được nên có những lời giải thích, vào những ngày trước khi cử hành, hoặc trước giờ cử hành các nghi lễ. 

Phần vụ dành cho tín hữu: các lời đọc, đối đáp, phận vụ phụng vụ, những bài hát, cần để cho họ tham dự và thực hiện, thay vì một số người làm hết, hát hết, thay cho cộng đoàn. 

4. Tính cách cộng đoàn cần phải được tôn trọng hết sức. Vì thế, các lễ nghi riêng rẽ, cần giảm bớt, nếu không vì lý do mục vụ chính đáng và luật phụng vụ cho phép. Các nhóm nhỏ, cũng phải hy sinh các sinh hoạt riêng rẽ trong Tuần Thánh để dành tất cả thời giờ cho việc chuẩn bị và tham dự các lễ nghi Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh với cộng đoàn giáo xứ. Không nên cử hành riêng một lễ nghi cho một nhóm nào. 

5. Tại nhà thờ chính tòa, tất cả các nghi thức phải được cử hành do giám mục giáo phận chủ sự. Đức Thánh Cha đã chủ sự các lễ nghi từ Chúa Nhật Lễ Lá và Tam Nhật Thánh tại Rôma. Nếu vai trò chủ sự của giám mục cần thiết cho các buổi cử hành khác có tính các giáo phận, thì trong Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh vai trò chủ sự này càng quan trọng hơn và ý nghĩa hơn (x. Sách Cử hành Phụng vụ của Giám mục, Caeremoniale episcoporum, số 296). 

6. Tính cách trọng thể được biểu lộ qua việc hát trong khi cử hành. Vì thế, các ca trưởng phải chọn lựa bài thánh ca cho từng buổi cử hành đã được Hội đồng Giám mục chấp thuận, và chọn theo ý nghĩa của mỗi lễ nghi, mỗi buổi cử hành. Các phần chung, cần tìm các bài hát thật dễ cho cộng đoàn cùng hát. Các phần dành cho linh mục, thừa tác viên cũng cần được hát do các vị này. 

7. Kèm với các buổi cử hành, cần có bầu khí và sự chuẩn bị tâm hồn: vì thế cố tạo bầu khí hồi tâm, cầu nguyện, trước khi cử hành các lễ nghi Tuần thánh. Thói quen nói chuyện cho tới lúc cử hành phụng vụ làm cản trở bầu khí cần thiết này. 

Để chuẩn bị nội tâm xứng đáng, một việc phải thực hiện, đó là thanh tẩy tâm hồn qua Bí tích Thống Hối và Hoà Giải. Việc xưng tội là một yếu tố quan trọng để cử hành Mầu nhiệm Vượt qua, để lãnh nhận dồi dào ơn thánh từ mầu nhiệm này. Bức thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các linh mục trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2001 đã nói về Bí tích Hoà Giải, như là biểu lộ lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa. Vì thế, chính các linh mục phải ý thức điều này, năng lãnh nhận Bí tích Thống Hối và Hòa Giải, giúp giáo dân ý thức về tội, và các linh mục cũng phải siêng năng ngồi toà giải tội. Vì thế, mỗi tín hữu cần cử hành bí tích này với tất cả ý thức về tầm quan trọng của bí tích, về hiệu lực thanh tẩy tâm hồn khỏi tội, và xưng thú tội lỗi của mình với linh mục. Và tránh để đến giờ phút chót của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. 

8. Các buổi cử hành các việc đạo đức bình dân, có ý nghĩa và mục đích riêng của chúng. Tuy nhiên, không được lấn át việc cử hành phụng vụ, đặc biệt Phụng vụ Tuần Thánh. Việc ngắm nguyện, nếu nơi nào còn giữ, cần tổ chức cho hoà hợp với buổi cử hành phụng vụ. Việc ngắm Đàng Thánh Giá cũng thế. Phải khuyến khích tham dự đầy đủ buổi cử hành phụng vụ. Phải có khoảng thời gian thích hợp giữa buổi cử hành phụng vụ và việc đạo đức bình dân như ngắm nguyện, nhất là khi việc ngắm nguyện kéo dài. Như vậy, giáo dân có khoảng trống thinh lặng và thanh thản để suy niệm, nghiền ngẫm, cầu nguyện, để tham dự và lãnh hội ơn thánh từ các buổi cử hành phụng vụ và các việc đạo đức bình dân. 

III. Một số lưu ý đặc biệt 

Sau đây là một số điểm lưu ý đặc biệt liên hệ tới các buổi cử hành trong Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh. 

1. Chúa Nhật Lễ Lá 

Nghi thức của ngày Chúa Nhật Lễ Lá gồm có việc rước kiệu tưởng nhớ biến cố Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể và tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, rồi việc công bố trọng thể bài thương khó của Chúa Giêsu theo Thánh Mathêô (năm A), Marcô (năm B) và Luca (năm C), và sau cùng là Thánh lễ. Ba nghi thức này nói lên vinh quang của Chúa Kitô và đồng thời chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa. Tất cả cho thấy hành trình của Chúa Kitô trong những ngày cuối cùng cuộc đời Ngài. Ngài được tôn vinh qua thập giá. 


Lễ nghi cần có đủ thừa tác vụ, phó tế, nếu có, để cử hành cuộc rước kiệu bình thường, để cầm thánh giá, đèn nến, bình hương và tàu hương, sách lễ; ba phó tế, hoặc ca viên để công bố bài Thương khó. Nghi thức làm phép lá nên cử hành tại một nơi khác ngoài nhà thờ, để sau đó có thể đi kiệu vào nhà thờ. Các Thánh vịnh 23 và 46 nên được chọn hát khi đi kiệu để tôn vinh Chúa chiến thắng. Khi công bố bài Thương khó, không dùng hương, không lời chào ban đầu; được công bố do ba phó tế, hay do hai ca viên và linh mục giữ vai Chúa Giêsu. Không được bỏ giảng sau bài Thương khó. 

2. Thánh lễ làm phép và thánh hiến các loại dầu 

Thánh lễ làm phép và thánh hiến dầu nói lên biểu hiệu của dầu thánh trong các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh và Xức Dầu Bệnh Nhân, cũng như một số phụ tích như Nghi thức Thánh hiến Nhà thờ và Bàn thờ. Ngoài ra thánh lễ làm phép dầu cũng biểu lộ sự hiệp thông giữa giám mục và linh mục đoàn trong giáo phận. Vì thế, các linh mục cố gắng đến đồng tế với giám mục trong thánh lễ này tại nhà thờ chính toà, ít là các vị có trọng trách đặc biệt trong giáo phận, như các cha quản hạt, cha sở…. Giáo dân cũng được mời gọi tham dự đông đảo hết sức. Vì thế, nếu không cử hành Thánh lễ Dầu vào sáng thứ năm được, thì cử hành vào một ngày nào gần nhất trước Thứ Năm Tuần Thánh, hoặc sau Chúa Nhật Phục Sinh để có sự tham dự đông đảo hơn từ linh mục và giáo dân. 

Tín hữu cũng được giải thích cho biết ý nghĩa các loại dầu thánh dùng để cử hành các bí tích ban ơn cứu rỗi. Dầu cũ được đốt đi và cha sở lấy dầu mới về. Nên có nghi thức để tiếp đón dầu thánh, như một nghi thức vắn tắt tiếp đón dầu thánh tại giáo xứ, trước Thánh lễ Tiệc ly chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Cũng có thể cử hành vào một thời gian khác với buổi phụng vụ lời Chúa để tôn kính dầu thánh và giúp giáo dân hiểu thêm ý nghĩa các loại dầu thánh. Dầu phải được cất giữ tại một chỗ xứng đáng trong phòng thánh, trong hộc có khóa kỹ và dễ nhận ra khi cần dùng tới. 

3. Chiều Thứ Năm Tuần Thánh 

Trong Thánh lễ Tiệc ly chiều Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành nghi thức rửa chân, thánh lễ tưởng niệm việc Chúa Kitô lập phép Thánh Thể và chức linh mục, cũng như ban bố giới luật mới tức là giới luật yêu thương. Sau cùng có việc kiệu Thánh Thể và chầu Thánh Thể tại nhà nguyện nhỏ cho tới nửa đêm. 

Các linh mục ngụ trong giáo xứ, hay ở các cộng đoàn nhỏ của tu sĩ linh mục trong giáo xứ được mời cùng đồng tế trong thánh lễ tưởng niệm bữa tiệc ly này. Trong ngày thứ năm, các linh mục không được làm lễ riêng. Nếu nhu cầu mục vụ thực sự đòi hỏi, giám mục giáo phận có thể cho phép cử hành một thánh lễ khác, cho những người không thể tham dự lễ chiều được, nhưng không được cho phép làm cho một nhóm mà thôi. Thánh lễ có hát kinh Vinh danh, có kinh “Cùng hiệp thông” riêng (Communicantes), cũng như kinh “Vậy lạy Cha” (Hanc igitur) riêng nếu đọc Kinh nguyện Thánh Thể I. Các thừa tác viên cũng phải có đủ, để giúp lễ và công bố Lời Chúa. Theo truyền thống, các người được chọn để rửa chân là những người đàn ông. Chuông, đàn được dùng cho tới hết kinh Vinh danh. Trước thánh lễ, cần để nhà tạm Mình thánh trống. Liệu đủ bánh lễ để truyền và dùng cho buổi cử hành phụng vụ ngày thứ năm và ngày hôm sau. Nhà tạm để chầu Mình Thánh nên dọn đơn sơ, không quá nhiều hoa, nến, nhưng trưng bày có mực độ. Tại nhà nguyện chầu Thánh Thể, cần có sách hát, sách Kinh Thánh để cộng đoàn dùng khi chầu Thánh Thể. Trong các giờ chầu, nên dành giờ để cầu nguyện và suy niệm riêng trong thinh lặng xen kẽ với việc đọc Kinh Thánh, như các chương 13–17 của Phúc Âm Thánh Gioan, hát xen kẽ, đọc kinh. Sau nửa đêm thì hết chầu cộng đoàn. Và chỉ còn chầu riêng mà thôi, cho tới giờ cử hành phụng vụ chiều thứ sáu. 

Sau các nghi lễ, thì lột hết các khăn trên bàn thờ. Thánh giá được che bằng một tấm vải đỏ hay tím, nếu trước đó chưa được phủ từ chiều thứ bảy trước Chúa nhật thứ 5 Mùa chay. 

Không tổ chức kiệu và đặt Mình thánh Chúa trong các nhà thờ không cử hành Nghi lễ chiều thứ sáu Tuần thánh tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Kitô. 

4. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 

Tưởng niệm Chúa Giêsu chịu đau khổ và chết trên thánh giá. Vì thế, Giáo Hội hồi tâm, thinh lặng ăn chay kiêng thịt để chia sẻ cuộc thương khó của Chúa và như là mở tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi. Nếu có thể thì tại nhà thờ giáo xứ, cha xứ và giáo hữu cũng cử hành Giờ Kinh sách và Kinh sáng chung với nhau tại nhà thờ; hoặc với giám mục tại nhà thờ chính tòa. Sáng thứ bảy cũng nên cử hành các giờ kinh phụng vụ này. 

Chỉ trao Mình Thánh vào buổi cử hành phụng vụ sau trưa. Đối với bệnh nhân, thì có thể kiệu Mình Thánh bất cứ lúc nào. Không cử hành bí tích nào, ngoài bí tích giải tội và xức dầu bệnh nhân. Nếu phải cử hành nghi thức an táng, thì không có hát, đánh đàn, kéo chuông. 

Sau trưa vào khoảng 3 giờ, nơi nào có thể, thì cử hành Nghi lễ Tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Chúa Kitô, nếu không thì cử hành vào giờ thuận tiện sau đó, nhưng không cử hành sau 21 giờ. Nghi lễ này gồm có Phụng vụ Lời Chúa mà cao điểm là việc công bố bài thương khó theo Thánh Gioan; sau đó là Lời nguyện chung đại thể, rồi việc tôn kính Thánh giá cách trọng thể, và sau cùng là việc rước lễ với Mình Thánh đã được truyền phép hôm trước. 

Các phần này được hiểu trong tương quan với nhau, như sau: Lời Chúa và nhất là Bài Thương khó theo Thánh Gioan, cho thấy ý nghĩa cuộc thương khó của Chúa; sau đó mọi người cầu nguyện cho các hạng người, như là ơn cứu rỗi được thông ban cho mọi người; tiếp theo Giáo Hội biểu lộ lòng tôn kính Đấng cứu thế qua việc tôn kính Thánh Giá, và sau cùng, qua việc rước lễ, tín hữu kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô để tôn vinh Chúa Cha. 

Cần có đủ các thừa tác viên để công bố Bài Thương khó, cử hành nghi thức tôn vinh Thánh Giá, kiệu Thánh Thể về để rước lễ. Khi kiệu Thánh Giá và mở khăn che Thánh Giá, linh mục mời mọi người cùng thờ lạy. Nên để giây lát để thờ lạy Thánh Giá trong thinh lặng. Thánh Giá để hôn kính phải đủ lớn và nghệ thuật và chỉ dùng một thánh giá mà thôi, để cho thấy ơn cứu rỗi chỉ từ Thánh Giá Chúa Kitô mà phát sinh ra. Nếu nhiều người quá, thì dùng một Thánh giá, và sau khi một số người đã hôn kính, linh mục giơ cao lên, nói vài lời và mọi người cúi đầu thờ lạy Thánh Giá. Sau Nghi thức, thì lột khăn bàn thờ. Nhưng để Thánh Giá với 4 cây nến trên đó. Cũng có thể dọn một nhà nguyện, để tín hữu tiếp tục đến suy niệm, hôn kính Thánh Giá. 

Có thể ngắm đàng Thánh Giá, học suy niệm về các sự đau khổ của Mẹ Maria, trong những lúc khác, ngoài Nghi thức Phụng vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. 

                                

5. Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh 

Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội ở bên mộ Chúa để suy ngắm cuộc tử nạn của Chúa Kitô, việc Ngài xuống mồ, biểu hiệu tính cách phổ quát của ơn cứu rỗi của Ngài, và chờ mong Chúa sống lại, qua việc cầu nguyện và ăn chay. Có thể cử hành giờ Kinh sách và Kinh sáng như sáng Thứ Sáu Tuần Thánh. 

Hôm nay chỉ cho rước lễ như của ăn đàng mà thôi. Không cử hành lễ cưới và các bí tích khác trừ Bí tích Giải Tội vá Xức Dầu Bệnh Nhân. 

Trong nhà thờ có thể để cho tín hữu kính viếng ảnh Chúa chịu nạn, ảnh Chúa bị chôn trong mồ, ảnh Đức Mẹ sầu bi. 

Chiều đến Giáo Hội cử hành canh thức vọng đón chờ Chúa Kitô sống lại. Đây là buổi Canh thức chính yếu, là mẹ các buổi canh thức khác. Giáo Hội chờ Chúa sống lại và cử hành các bí tích khai tâm kitô giáo (Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể). Buổi canh thức Vọng Phục Sinh cũng mang tính cách cánh chung, vì Giáo Hội chờ ngày Chúa sẽ đến trong vinh quang. 

Buổi Canh thức Vọng Phục Sinh cử hành vào giờ đêm bắt đầu và phải kết thúc trước hừng đông ngày Chúa Nhật. Không được cử hành vào giờ chiều, như vẫn cử hành Thánh lễ Chúa nhật vào chiều thứ bảy. 

Cơ cấu Canh thức Vọng Phục Sinh gồm có Công bố Phục sinh, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ các Bí tích khai tâm Kitô giáo, và Phụng vụ Thánh Thể. 

Các dấu hiệu được dùng trong buổi cử hành này, cần được thực hiện một cách nghiêm chỉnh: nến phục sinh phải là một cây nến mới cho mỗi năm, và bằng sáp. Tránh những hình thức giả tạo. Rồi việc làm phép lửa mới, rước nến phục sinh cũng cần thực hiện theo Sách Lễ Rôma, thế nào để cho thấy biểu hiệu Chúa Kitô sống lại là ánh sáng trần gian. 

Thầy phó tế hay một ca viên khác công bố Tin Mừng Phục Sinh với sự trang trọng và làm cho mọi người nhận ra ý nghĩa siêu nhiên của đêm canh thức này. Khi một ca viên không phải là phó tế công bố Bài Tin Mừng Phục Sinh, thì không xin phép lành của linh mục chủ sự. 

Các bài sách thánh trích từ Cựu ước (7) Tân ước (1) và bài Phúc Âm, để giáo huấn tín hữu và dự tòng về biến cố vượt qua của Chúa Kitô, việc cứu rỗi con người, giao ước mới, tạo vật mới, đời sống mới của những người được tái sinh trong Chúa Kitô. Vì lý do mục vụ có thể bớt các bài đọc Sách Thánh này, nhưng phải đọc ít là 3 bài Cựu ước (sách Luật và Ngôn sứ) và hai bài Tân ước, nhưng không bao giờ được bỏ đoạn 14 của sách Xuất hành. Các Thánh vịnh đáp ca được chọn để suy niệm các bài Sách Thánh, vì thế phải hát các Thánh vịnh này và không được thay thế bằng các bài hát khác. Các linh mục có thể nói mấy lời dẫn giải trước các bài Sách Thánh, nhưng không nên quá dài dòng, thay thế cho chính Lời Chúa. Sau các bài đọc cựu ước, tới Kinh Vinh danh. Có thể kéo chuông nếu có tục lệ này. 

Phần thứ ba của Nghi lễ Canh thức Vọng Phục Sinh là cử hành các Bí tích khai tâm Kitô giáo. Nếu không có dự tòng là người lớn, thì ít ra có việc rửa tội cho trẻ con. Trước khi làm phép Rửa Tội, linh mục làm phép nước để dùng rửa tội và rảy trên giáo hữu trong đêm vọng này và trong cả Mùa Phục Sinh. Nếu không có nghi lễ Rửa Tội, thì cũng có thể làm phép nước, rồi rảy nước thánh cho tín hữu cùng với việc tuyên lại lời hứa rửa tội. Khi tuyên lại các lời hứa rửa tội, mọi người đứng, cầm nến cháy và trả lời các câu hỏi của linh mục. Sau đó linh mục rảy nước thánh trên cộng đoàn. 

Thánh lễ cử hành cách trang nghiêm, sốt sắng và không vội vã, vì sợ buổi lễ kéo dài quá. Việc rước lễ có ý nghĩa đặc biệt trong Canh thức Vọng Phục Sinh vì để tín hữu kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô và sự sống lại của Ngài. 

6. Chúa Nhật Phục Sinh 

Chúa Nhật Phục Sinh là đại lễ và phải cử hành hết sức trọng thể. Nên cử hành việc rảy nước thánh thay cho nghi thức thống hối đầu lễ. Chiều Chúa Nhật Phục Sinh, có thể hát Kinh chiều kính nhớ Bí tích Rửa Tội, trong đó, khi hát các Thánh vịnh, có cuộc rước kiệu xuống giếng nước rửa tội. Các tân tòng được mời tham dự buổi Kinh chiều này và tham dự các thánh lễ trong cả tuần Bát Nhật Phục Sinh. Thời xưa, đây là thời kỳ các tân tòng được giải thích cho hiểu về các mầu nhiệm trong đạo, nên gọi là thời kỳ nhiệm huấn. Nến Phục Sinh được đặt gần bàn thờ hay gần Toà Công bố Lời Chúa và được đốt lên trong thánh lễ, kinh sáng và kinh chiều của các lễ lớn suốt Mùa Phục Sinh. Sau giờ Kinh chiều II Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Nến Phục Sinh được đặt tại Giếng rửa tội, và được đốt lên khi cử hành Bí tích Rửa Rội, đặt bên quan tài người chết trong thánh lễ an táng. Ngoài hai dịp này, không đốt nến phục sinh vào các buổi lễ khác và không để ở gian cung thánh hay trong phòng thánh, để cho thấy ý nghĩa riêng biệt của biểu tượng này trong Mùa Phục Sinh. 

Tôi vừa ghi lại một số điểm liên hệ tới ý nghĩa Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh, việc cử hành Tuần quan trọng này và một số những điểm chữ đỏ đặc biệt. Tôi không muốn ghi lại hết các điểm chữ đỏ. Những điều khác xin đọc trong Sách lễ Rôma, Bản văn các Quy luật tổng quát về Năm phụng vụ, Thư của Bộ Phụng tự về việc chuẩn bị và cử hành Lễ Phục sinh và Mùa phục sinh (ngày 16 tháng giêng năm 1988), hoặc Lịch phụng vụ công giáo Việt Nam. Xin cầu chúc tất cả Tuần Thánh sốt sắng và Lễ Phục sinh tràn đầy ơn sủng của Chúa sống lại.

                                                  


 (Nguồn : http://xudoanthanhtam)