Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

ĐOÀN CHIÊN THIẾU NGƯỜI CHĂN



CHƠ VƠ
 
Đời vẫn trôi đi, vẫn trôi đi
Với biết bao cố gắng, lặc lè!
Có kẻ gồng mình trong lũ dữ
Chỉ mong tồn tại, dẫu thảm thê…
 
Ngày vẫn qua đi, chẳng đợi chờ
Mặc ai gánh nặng, gót chơ vơ
Mặc ai tủi hờn, ai trách móc
Mặc ai bươn chải với nghi ngờ…
 
Trời vẫn xanh xanh, dẫu lạnh lòng
Nắng cứ quay cuồng trên mái nghiêng
Mưa cứ cười khi môi muối lệ
Gió vẫn gào những khúc đành hanh…
 
U mê, oán giận vẫn đầy tim
Làm sao có được phút yên bình
Làm sao nhìn xuyên qua đau khổ
Thấy ánh mắt Ngài thật ấm êm?
 
Quả vậy, thế giới đầy nhiễu nhương khiến con người âu lo…
Gia đình trong vòng vây chia rẽ, khiến tình yêu đội nón tạ từ…
Xóm làng bị hun trong khói mù nghi kỵ, làm đôi mắt tối lại chẳng còn nhìn thấy ai trên bờ cỏ…
Mỗi con người đang bị xâu xé giữa những ước muốn trần trụi của cuộc đời: tiền bạc, uy thế, tình cảm…
Rõ là con người đang chơ vơ, đau khổ
Ta có làm gì được cho hình ảnh ấy lại tươi màu?
Hay cũng như mọi người, ta dấy cuộc khổ đau
bằng lời nói, bằng việc làm không có tình yêu làm nền tảng?
 
Nghĩ như thế, thì cũng giật mình khi nghe lại Lời Chúa qua Tin Mừng Thánh Marco đoạn 6, câu 30-34:
“…Ra khỏi thuyền, Đức Giê su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều”
Ôi! Thế giới chung quanh có thật nhiều điều phải làm, mà ta có khi nào động tâm

                                                     
              
                                                          LAM TRẦN 18.07.2015


ĐOÀN CHIÊN THIẾU NGƯỜI CHĂN 
(Cảm nhận từ:Mc 6, 30-34)

*
Tông đồ vâng mệnh Chúa ra đi,­
Đúng hẹn cùng nhau đã trở về.
Xum họp quanh Thầy mà báo cáo
Công trình rao giảng, đến và đi…

*
Chúa tỏ tình thương cách lạ lùng:
Ngài ban lệnh thưởng bữa ăn chung
Và khuyên đi ngủ cho hồi lực.
(Tiên báo đời sau sẽ thưởng công.)

*
Thầy trò tạm nghỉ bước lên thuyền
Để trở về nơi bến sóng yên.
Dân chúng biết ngay nơi bến đó
Họ liền đi tới gặp Cha hiền.

*
Thiên Chúa tình thương – lượng hải hà.
Đoàn dân, Chúa biết, đến từ xa,
Họ là trong số đoàn chiên lạc
Chìm nổi chơi vơi chốn phong ba…


Ngày nay Giáo Hội mãi tuân hành.
Lãnh nhận ơn riêng Chúa Thánh Linh,
Sứ vụ tông đồ luôn hoạt động,
Giảng rao Nước Chúa- Nước trường sinh.

    
Câu đối:

LÚA    CHÍN    ĐẦY    ĐỒNG   CẦN    THỢ    GẶT.
CHIÊN NGOAN LẠC TRẠI THIẾU NGƯỜI CHĂN.

                                                        (Thế Kiên Dominic)




HIỆP THÔNG LỄ GIỖ LẦN THỨ 42 CHA CỐ AN-TÔN BÙI HỮU NGẠN

HIỆP THÔNG LỄ GIỖ LẦN 42
Cha Cố An-tôn Bùi Hữu Ngạn.18-7-2015
* * * * * * * * *
Phần hai thế kỷ chẳng quên cha
Tưởng nhớ năm xưa giữa xứ Đà
Cha cố Hướng Linh Hùng Dũng Chí
An-tôn Hữu Ngạn Phúc Thăng Hoa
Đoàn con liên kết chung lời hát
Hải ngoại quay quần góp tiếng ca
Xum họp tăng thêm lòng kính mến
Nguyện xin Thiên Chúa phúc an hòa
* * * * * * * * *
Đan Thụy – ĐXT-Saigon


Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

GIÁO HOÀNG - GIÁO CHỦ - GIÁO TÔNG

Sau năm 1975, trên báo chí, thấy xuất hiện một số cách gọi vị đứng đầu Giáo Hội hoàn vũ là Giáo Chủ hay Đức Giáo Chủ, mà không gọi như trước là Đức Giáo Hoàng hay Đức Giáo Tông. Về phía Giáo Hội thì cũng chỉ xưng Đức Thánh Cha. Chúng ta thử tìm hiểu xem cách gọi nào tốt hơn.
1. Các danh xưng của vị thủ lãnh tối cao của Giáo Hội hoàn vũ (Caput Universalis Ecclesiae, Supreme leader of the Church).
Theo thứ tự được ghi trong Niên Giám Giáo Hoàng 2007 như sau[1]:
(1). Giám mục Rôma (Episcopus Romanus, Bishop of Rome).
(2). Vị Đại diện Chúa Kitô (Vicarius Christi, Vicar of Christ).
(3). Đấng kế vị Thánh Phêrô, Thủ lãnh các tông đồ (Successor principis apostolorum, Successor of the Prince of the Apostles).
(4). Thượng Giáo Chủ của toàn thể Giáo Hội (Summus Pontifex Ecclesiae Universalis, Supreme Pontiff of the Universal Church) hay vắn tắt là Thượng Giáo Chủ (Đại Trưởng Tế, Đức Giáo Hoàng ) (Pontifex Maximus, Maximus Pontiff ).
(5). Giáo Trưởng nước Ý (Primas Italiae, Primate of Italy).
(6). Tổng giám mục và tổng giáo chủ (Đại giám mục) Giáo tỉnh Rôma (Archiepiscopus et metropolitanus provinciae ecclesiasticae Romanae, Archbishop and Metropolitan, từ hai chữ meter: “mẹ” và polis: “thành phố” of the Roman Province).
(7). Quốc vương nước Vatican (Princeps sui iuris civitatis Vaticanae, Sovereign of the State of the Vatican City).
(8). Tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa (Servus Servorum Dei, Servant of the Servants of God).
Ngoài ra, Giáo Luật (x. Can 331) còn ghi những danh xưng như[2]
(9). Đức Giáo Hoàng Rôma (Romanus Pontifex, The Roman Pontiff).
(10). Thủ lãnh của Giám Mục đoàn (Caput collegii, Head of the college of Bishops).
(11). Chủ chăn của toàn thể Giáo Hội trên trần gian (Universae Ecclesiae his in terris Pastor, Pastor of the universal Church on earth).
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã bỏ danh xưng Thượng phụ Giáo Chủ Tây Phương (Patriarcha Occidentis, Patriarch of the West) ra khỏi Niên Giám Giáo Hoàng từ năm 2006.
2. Hai danh xưng thường được sử dụng là Papa và Maximus Pontifex.
2.1 Papa (Pope, do bởi chữ Hy Lạp pappas nghĩa là “cha”), tiếng thân mật của con cái gọi cha mình hay của người vợ gọi người chồng. Ban đầu papa cũng được dùng để gọi các vị tư tế. Từ thế kỷ III (kh. 250), dùng để gọi các vị giám mục ở Tiểu Á và Alexandria. Bên Tây Phương, danh xưng này được dành cho vị giám mục Rôma từ thời Thánh Giáo Hoàng Lêô Cả (440-461), và từ năm 1073, Papa trở thành danh xưng riêng của các vị giáo hoàng.
Trong tiếng Việt, Papa ngày xưa dịch là “đức thánh baba”, sau này dịch là đức thánh cha. Danh xưng này không có trong các bảng liệt kê chính thức, nhưng lại được sử dụng nhiều nhất, thường xuất hiện dưới dạng viết tắt là “PP” (viết tắt của chữ “Papa”) sau danh hiệu hoặc chữ ký của các vị giáo hoàng trong các văn kiện mang dấu ấn của các ngài. Ví dụ: “Benedictus PP. XVI”.
2.2 Maximus Pontifex (Pontiff Maximus)
Maximus nghĩa đen là vĩ đại; pontifex (Lt. pons = cây cầu + facere = làm, xây dựng), nghĩa đen là người thiết lập chiếc cầu.
Trong thời đế quốc Rôma ngoại giáo, từ này chỉ tước hiệu của tư tế, sau đó là tước hiệu của nhà vua. Kể từ thế kỷ V, tước hiệu này dành cho các vị giám mục, nhưng trong truyền thống Kitô Giáo thường dùng để chỉ Đức Giáo Hoàng.












Hoàng đế Augustus trong trang phục của vị “Pontifex Maximus”
3. Ý nghĩa của các từ giáo, hoàng, tông, chủ
3.1. Giáo, có những chữ Hán này: 教, 校, 挍, 窖, 覺, 較, 酵, 餃. Ở đây là chữ 教, có nghĩa: (dt.) (1) Người làm nghề dạy học: Cô giáo. (2) Hệ thống các giáo lý giảng về quan hệ giữa người và Đấng Tạo Hoá: Tôn giáo. (3) Kitô Giáo: Đoàn kết lương giáo. (đt.) (4) Dạy cách thức: Hỗ giáo hỗ học (dạy lẫn nhau và học lẫn nhau). (5) Bảo:Thỉnh giáo.
Nghĩa Nôm: (dt.) (1) Khí giới thời xưa nhọn cán dài: Giáo mác. (2) Hệ thống các thanh vật liệu bắc lên cao: Thợ nề trên tầng giáo. (đt.) (3) Quấy cho nhuyễn, cho đặc lại: Giáo bột làm bánh. (4) Hát giới thiệu trò diễn sắp trình bày: Câu giáo trò. (5) Nói gần nói xa về việc định làm: Có gì cứ nói, làm gì phải giáo trước.
3.2. Hoàng, có những chữ Hán này: 皇, 黃, 簧, 潢, 磺, 蟥, 癀, 鱑, 凰, 偟, 徨, 篁, 喤, 蝗, 煌, 惶, 隍, 遑, 鰉, 鍠. Trong thuật từ giáo hoàng là chữ 皇.
Chữ 皇 thay đổi nhiều theo thời gian, không đơn thuần như người ta lầm tưởng là bộ 白 (bạch) và chữ 王 (vương). Theo cuốn “Tìm Về Cội Nguồn Chữ Hán” của Lý Lạc Nghị: Hoàng là chữ gốc của 煌 (hoàng, như huy hoàng). Phần dưới chữ vốn là chân đèn; ba nét sổ phía trên là ánh đèn sáng. Đến Tiểu triện thì phần trên viết nhầm thành 自 (tự), đến Lệ thư lại biến thành 白 (bạch).
Còn theo cuốn Quốc Ngữ Hoạt Dụng Từ Điển thì chữ hoàng tuy bộ 白 (bạch), nhưng kết cấu thì thuộc “hội ý”. trên mặt trời toả ánh sáng chói lọi, mặt trời mọc lên khỏi mặt đất thì sáng rực, diễn nghĩa cho chữ 白 (bạch), phần trên của chữ 皇 (Hoàng). Có các nghĩa sau: (dt.) (1) Họ Hoàng. (2) Vua: Hoàng đế. (2) Trời: Hoàng thiên. (3) Đạo Giáo (của Lão Tử) tôn vị thần chính yếu của họ là Hoàng (4) Thời kỳ quân chủ gọi cha của hoàng đế là hoàng: Thái thượng hoàng (Thái thượng có nghĩa là rất tôn kính, vì không can dự quốc sự nên không xưng là đế). (5) Người con tôn kính người cha đã qua đời cũng gọi là hoàng: Hoàng khảo. (đt.) (6) Cứu giúp vua. (7) Mở rộng. (tt.) (8) Lớn, vĩ đại. (9) Trang nghiêm. (10) Rực rỡ. (11) Mỹ thiện. (12) Quang minh.
Hoàng và vương đều có nghĩa là “vua” và “vĩ đại”, nhưng có khác biệt, theo thói quen thì nói hoàng thiên mà không nói vương thiên, dùng quốc vương mà không dùng quốc hoàng.
3.3. Tôngcó nhiều chữ Hán: 宗, 椶, 朡, 柡, 淙, 鬃, 騌, 鬉, 騣. Trong trường hợp này là chữ 宗. Chữ này theo phiên thiết là 作 (tác) 東 (đông), lấy phụ âm “T” của chữ “tác” nối với vần “ông” của chữ “đông”, nên phải đọc là tông. Chữ này trước triều Nguyễn vẫn đọc là tông, sau vì kiêng tên huý vua Thiệu Trị mới đọc là tôn, như vậy thuật từ nào có liên quan đến chữ này đều đọc là tôn, như: tôn giáo, nhưng lại nóitông đườngTông hay tôn có những nghĩa sau đây: (dt.) (1) Họ Tông. (2) Dòng họ:Đồng tông. (3) Tổ tiên: Liệt tông. (4) Người được mọi người noi theo: Nhất đại thi tông (nhà thơ giỏi nhất đương thời). (5) Trưởng tử. (6) Nhóm theo cùng một thuyết: Chính tôngTông giáo (chủ thuyết dạy lối phải tin tưởng và hành động: religion). (7) Danh hiệu của vua. (đt.) (8) Kính trọng. (9) Căn bản. (10) Miếu thờ tổ tiên. (11) Từ giúp đếm: Sự, món, vu (lượng từ), “điều”: Nhất tông tâm sự. (12) Tôn sùng. (tt.) (13) Cùng họ với nhau. (14) Chủ yếu: Tôn chỉ.
Nghĩa Nôm: Giống nòi qua các thế hệ: Con nhà tông: không giống lông cũng giống cánh; Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống; Thài lài mọc cạnh bờ sông, tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài; Yêu ai yêu cả đường đi; ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.
3.4. Chủ, có mấy chữ Hán: 主, 拄, 麈, 宔, 踽, 偊, 劚. Ở đây là chữ 主, là chữ gốc của 炷 (chú: bấc đèn). Giáp cốt văn nói là hình một bó đuốc. Thời cổ xưa, ngọn lửa là rất quý, thường do tộc trưởng bảo quản, vì thế cũng dùng để chỉ người thủ lãnh. Sau đó nghĩa mở rộng thành quân chủ, chủ nhân, chủ trì[3]
主 (chủ) có nghĩa: (dt.) (1) Lửa trong đèn. (2) Người đương sự. (3) Chủ trương. (4) Căn bản. (5) Tín đồ tôn giáo xưng vị thần của họ. (6) Bài vị của kẻ chết. (7) Chủ yếu. (8) Người chủ: Chủ nhân. (9) Người có quyền. (10) Người có quyền sở hữu:Địa chủ. (11) Vua chúa: Quân chủ. (12) Người bị hại: Khổ chủ. (đt.) (13) Chủ trương. (14) Chịu trách nhiệm chính: Chủ nhiệm. (15) Thống trị. (tt.) (16) Quan trọng nhất: Chủ lực. (17) Thuộc về mình: Chủ quan.
4. Nghĩa các thuật từ giáo hoàng, giáo tông, giáo chủ
4.1. Giáo hoàng (教皇): Giáo là tôn giáohoàng là vua.
Có người giải thích chữ “hoàng” nghĩa là “lớn”, chúng ta nên hiểu hoàng trong thuật từ này hoàn toàn không có nghĩa là lớn gì cả, vì khi hoàng là tĩnh từ mới có nghĩa là lớn, trong thuật từ giáo hoàng thì hoàng không phải là tĩnh từ.
Theo từ ngữ, chỉ có thể giải nghĩa giáo hoàng là vị vua của đạo mà thôi. Tuy nhiên, khi chúng ta xưng vị lãnh đạo của Giáo Hội là vua thì không thích hợp cho lắm. Chúng ta không phủ nhận có vị vua rất tốt, như vua của Thái Lan rất được dân chúng kính trọng. Nhưng khi chúng ta xưng vị lãnh đạo của tôn giáo của chúng ta là giáo hoàng, thì có vẻ còn mang nặng tư tưởng phong kiến và chính trị.
4.2. Giáo tông (教宗): Nghĩa là người đứng đầu Giáo Hội.
Ngoài ra, tất cả những gì thuộc về giáo tông đều mang chữ tông và có cùng một hệ thống với những từ như: Tông thư, Tông huấn, Tông sắc, Tông Toà..., nhưng không thể nói Hoàng thư, Hoàng huấn, Hoàng sắc, Hoàng Toà... được. Tuy người ta cũng gọi các uỷ ban của Toà Thánh là uỷ ban giáo hoàng, như Uỷ ban Giáo Hoàng về Di sản Văn hóa của Giáo Hội, Uỷ ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh..., nhưng những thuật từ này chúng ta có thể thay thế bằng thuật từ giáo tông một cách dễ dàng, như: Uỷ ban Giáo Tông về Thánh Kinh...
4.3. Giáo chủ (教主): Nếu phân tích từng chữ có nhiều nghĩa, nhưng thuật từ giáo chủ có nghĩa là “người sở hữu tôn giáo đó”, tức là: người sáng lập một tôn giáo[4], ví dụ: Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của đạo Phật.
Trong tiếng Việt, thấy có người dịch một số từ liên quan đến từ “giáo chủ” như:
- Maximus Pontifex: đức giáo chủ;
- Patriarch: thượng phụ giáo chủ;
- Metropolitan: trưởng giáo chủ;
- Primate (Giám mục hàng đầu, thứ nhất): giáo chủ;
- Cardinal: thường dịch là hồng y, nhưng có khi cũng dịch là hồng y giáo chủ...!
Như vậy, từ “giáo chủ” được gán hoặc ghép cho các tước hiệu vừa kể có thực chính xác không?
5. Nhận xét
Có một điều rất lạ, trong khi người Hoa Công Giáo trên toàn thế giới đều xưng vị lãnh đạo của chúng ta là giáo tông, thì chính quyền Trung Quốc lại gọi là giáo hoàng. Trong khi nhóm “yêu nước” thì xưng là giáo tông, còn Giáo Hội “thầm lặng” cũng chia thành hai nhóm, các giáo sĩ thì xưng là giáo tông, còn giáo dân lại gọi làgiáo hoàng. Chính quyền Trung Quốc gọi giáo hoàng với ý mỉa mai, xem ngài như di sản của chế độ phong kiến và vua của nước Vatican. Còn giáo dân của Giáo Hội “trầm lặng” thì tôn ngài như vị lãnh đạo đáng kính giống như vị vua thời xưa. Những cảm nghĩ này đều có tính chủ quan.
Giáo Hội tại Việt Nam từ xưa đã dùng thuật từ giáo hoàng, sau dùng giáo tông, nhưng không hiểu vì lý do gì mà không dùng giáo tông nữa mà trở lại dùng giáo hoàng. Sau này, có một số người dùng từ giáo chủ.
Lời kết
Tuy thuật từ giáo hoàng đã được sử dụng phổ biến như thế thì khó mà thay đổi. Nhưng xét về mặt từ ngữ thì không thích hợp cho lắm. Tất cả những danh xưng dành cho vị lãnh đạo của Giáo Hội trong tiếng La Tinh hay Hippri đều không có từ nào ám chỉ ngài là vị hoàng đế cả.
Chúng ta cần suy nghĩ có nên dùng thuật từ Giáo Tông? Vì thuật từ giáo tông ngoài nghĩa người đứng đầu, còn mang tính cách tông truyền nữa, cho nên thuật từ giáo tông thích hợp với vai trò vị lãnh đạo của Giáo Hội hơn cả.
Lm. Stephano Huỳnh Trụ
(Nguồn : tgpsaigon.net)
Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh"

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

NGƯỜI MÙ THẮP ĐÈN


Trong màn đêm tối đen như mực, có một vị tăng nhân tu khổ hạnh bôn ba nghìn dặm tìm Phật, đến một ngôi làng hoang vắng, trên đường xá tối đen như mực, người dân trong làng đang đi đi lại lại rất tấp nập. 

Trong màn đêm tối đen như mực, có một vị tăng nhân tu khổ hạnh bôn ba nghìn dặm tìm Phật, đến một ngôi làng hoang vắng, trên đường xá tối đen như mực, người dân trong làng đang đi đi lại lại rất tấp nập.

Khổ hạnh tăng đi đến một con hẻm nhỏ, ông trông thấy một chiếc đèn lồng sáng choang, từ nơi sâu thẳm trong một con hẻm vắng lặng, từ từ chiếu rọi qua đây. Một người trong thôn la lên: “Thằng mù đến rồi kìa!”.

“Mù ư?“, khổ hạnh tăng sửng sốt, ông hỏi một thôn dân bên cạnh : “Người xách chiếc lồng đèn kia có thật là bị mù không?”.

Người đàn ông gật đầu khẳng định.

Vị tăng nhân khổ hạnh nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, một người đã bị mù cả hai mắt, anh ta vốn dĩ không có khái niệm ngày hay đêm, anh không nhìn thấy sông chảy từ núi cao, cũng không được xem phong cảnh hữu tình cùng vạn sự vạn vật trên thế gian, thậm chí anh còn không biết ánh đèn là như thế nào, vậy anh ta xách theo chiếc đèn lồng, không phải khiến người ta cười chê sao?

Chiếc đèn lồng đó càng lúc càng đến gần, ánh đèn sáng choang, từ từ trong con hẻm tiến đến, chiếu sáng lên đôi giày của vị tăng nhân. Vị tăng nhân nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, nên bèn hỏi: “Dám hỏi thí chủ, cậu có thật là một người mù không ?”.

Chàng trai mù xách theo ngọn đèn lồng trả lời: “Đúng vậy, từ khi đến thế gian này, hai mắt tôi đã không trông thấy gì nữa”.

Vị tăng nhân hỏi: “Nếu cậu đã không trông thấy gì cả, vậy tại sao lại xách theo chiếc đèn lồng?”.

Chàng trai mù đáp: “Bây giờ là buổi tối phải không? Tôi nghe nói, trong màn đêm mà không có ánh đèn chiếu sáng, vậy thì mọi người trên thế gian này cũng đều sẽ giống như tôi, không trông thấy gì cả, vậy nên tôi đã thắp một ngọn đèn”.

Vị tăng nhân dường như có phần hiểu ra, nói: “Thì ra cậu là vì muốn chiếu sáng cho những người khác?”.

Thế nhưng, chàng trai mù lại nói: “Không, tôi làm vì chính mình”.

“Vì chính cậu ư?”, vị tăng nhân lại càng sửng sốt.

Chàng trai mù chậm rãi nói: “Ông có bao giờ đi trong đêm tối, mà bị những người đi đường khác đụng phải chưa?”.

Vị tăng nhân nói: “Đúng vậy, cũng như lúc nãy, tôi không có để ý nên đã bị hai người khác đụng phải“.

Chàng trai mù nghe xong, trầm lặng nói: “Nhưng tôi thì lại không bị, tuy tôi là kẻ mù, cái gì tôi cũng không trông thấy, nhưng tôi xách theo chiếc đèn lồng này, vừa để soi sáng đường cho những người khác, nhưng quan trọng hơn là để người khác trông thấy tôi. Như vậy, họ sẽ không vì không trông thấy mà đụng phải tôi.

Khổ hạnh tăng nghe xong, lập tức ngộ ra. Ông ngửa mặt lên trời thở dài, nói: “Ta đã đi khắp chân trời góc biển, bôn ba nghìn dặm tìm Phật, thật không ngờ rằng Phật đang ở bên cạnh ta. Thì ra, Phật tính cũng giống như một ngọn đèn, chỉ cần ta thắp sáng nó, dù cho ta không nhìn thấy Phật, thì Phật cũng sẽ nhìn thấy ta thôi!”.

Thế nên, vì người khác, hãy thắp sáng ngọn đèn sinh mệnh của chính mình! Như vậy, trong bóng đêm của đời người, chúng ta mới có thể tìm thấy bình an và sự chói lọi của chính mình.

Tiểu Thiện, dịch từ Epoch Time