Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI


Ngày mồng 7 tháng Mười
 
I. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Sau cuộc chiến thắng quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tại vịnh Lépante ngày 7-10-1571, nhờ ơn lạ đặc biệt của Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi, Đức Thánh Piô V dạy rước kiệu Mẹ trọng thể và thành lập lễ Mẹ Thắng Trận vào ngày mồng 7 tháng 10 để ghi ơn Đức Mẹ. Đến đời Đức Grêgôriô XIII, theo lời dòng Đaminh tâu xin, đổi lại ngày lễ. Ngài ra sắc lệnh ngày 1-4-1573 đổi là lễ Mẹ Mân Côi được mừng vào Chúa nhật I tháng 10 tại các nhà thờ tôn kính Mẹ Mân Côi. Năm 1671, lễ này cũng được Đức Clementê X ban phép mừng khắp Giáo hội Tây ban nha. Năm 1716, sau những chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hylạp, các giáo hữu gọi Mẹ là Mẹ chiến thắng và Đức Clêmentê XI truyền cho khắp Giáo hội đặc biệt mừng lễ Mẹ Mân Côi hàng năm. Ngày 11-9-1887, Đức Lêô XIII nâng lễ Mẹ Mân côi lên bậc nhì với kinh lễ và kinh Phụng vụ theo phụng vụ dòng Đaminh. Đức Thánh Piô X ấn định mừng lễ Mẹ Mân Côi vào ngày mồng 7 tháng 10.

II. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ

Ý nghĩa lễ Mẹ Mân Côi được dựa trên lịch sử, vẻ tuyệt diệu và thần lực của kinh Mân côi, nhất là do chính Đức Mẹ đã phán dạy và tỏ mình ra là Mẹ rất thánh Mân côi, và nhiều Đức Giáo Hoàng khuyên dạy đọc kinh Mân côi.

A. LỊCH SỬ KINH MÂN CÔI
Kinh mân côi nguyên tiếng Latinh là Rosarium, tiếng Anh, tiếng Pháp là Rose là hoa hồng tượng trương kinh Kính mừng kết thành vòng hoa thiêng dâng kính Đức Mẹ như cổ thời Hylạp, và một số nước hiện nay, người ta làm vòng hoa tươi treo vào cổ trao tặng nhau. Trước kia người ta đếm kinh bằng hạt sỏi, dần dần người ta kết những hạt khác thành chuỗi Mân côi gọi là Rosary.
Thế kỷ XII, 150 Thánh vịnh David dài quá đối với nhiều người không thể đọc được, nên người ta đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Dần dần người ta đọc 150 kinh Kính Mừng thay 150 kinh Lạy Cha. Do đó Thánh Đaminh gọi là "Thánh vịnh Đức Mẹ". Sau này Đức Sixtô IV gọi tắt là "Thánh vịnh".
Bắt đầu kinh Kính mừng chỉ gồm có lời chào của thiên sứ Gabrie: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng Bà" (Lc 1:28), rồi được thêm lời chào của bà Thánh Elizabeth: "Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Con lòng Bà gồm phúc lạ" (Lc 1:42). Cũng trong thế kỷ XII, Đức Mẹ hiện ra trao truyền tràng hạt Mân côi cho Thánh Đaminh để cải hoá bè rối Albigensê đang tung hoành ở phía nam nước Pháp. Sang thế kỷ XIII, đời Đức Urbanô IV, Thánh Danh "Giêsu" được thêm vào.
Thời đó người ta đọc 150 kinh Kính mừng cùng với 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi kinh Kính mừng một kinh Lạy Cha. Đến thế kỷ XIV, thầy Henry Kalkar (1328-1408), dòng Carthusian do Thánh Brunô sáng lập, chia 150 kinh Kính mừng thành từng chục (10) mỗi chục một kinh Lạy Cha. Thế kỷ XV, Cha Đaminh Prussia (1384-1460) cũng dòng Carthusian chia 150 Kinh Kính mừng thành 3 chỗi 50. Cũng trong thế kỷ này, Chân phúc Alanô de la Roche hay là De Rupe thêm phần suy niệm các mầu nhiệm trong khi lần chuỗi. Từ nay tràng kinh Mân côi gọi là "Vòng hoa hồng". Chân phúc Alanô nhiệt thành phổ biến kinh Mân côi mà Đức Mẹ đã trao truyền cho Thánh Đaminh. Chân phúc Alanô thành lập Hội Mân côi năm 1480 và được Đức Mẹ hứa ban 15 ơn cho những ai trung thành đọc kinh Mân côi. Năm 1521, cha Albertô da Castello, O.P., sửa lại mỗi kinh Lạy Cha với một mầu nhiệm. Năm 1569, Đức Thánh Piô V với bửu sắc "Consueverent Romani Pontifices" thêm phần thứ hai kinh Kính mừng: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời..." với kinh Sáng danh, và ấn định kinh Mân côi như chúng ta đọc ngày nay.

B. VẼ TUYỆT DIỆU CỦA KINH MÂN CÔI
Vẻ tuyệt diệu Kinh mân côi gồm hai phần như linh hồn và xác Kinh mân côi.
1. Suy ngắm những mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu thế và cuộc đời Đức Mẹ. Trước kia người ta đọc Thánh vịnh Đức Mẹ là 150 kinh Kính mừng và suy ngắm 150 mầu nhiệm. Nhưng rồi 150 mầu nhiệm được rút lại 15 mầu nhiệm cho 15 chục kinh. 15 mầu nhiệm như là bản tóm Phúc âm nhắc nhớ Đức Mẹ đồng công với Chúa Kitô trong việc Cứu chuộc loài người từ biến cố mầu nhiệm Nhập thể tới mầu nhiệm Cứu chuộc. Do đó kinh Mân côi bắt nguồn từ bản tính Phúc âm và dẫn ta tới Phúc âm. Phần suy niệm 15 mầu nhiệm chia làm 3 phần vui, thương, mừng là linh hồn kinh Mân côi. Nếu đọc kinh Mân côi mà không suy niệm mầu nhiệm, kinh Mân côi sẽ chỉ có xác mà không có hồn. Đức Mẹ Fatima dạy rõ: "Đọc kinh Mân côi và suy ngắm mầu nhiệm".
2. Phần kinh đọc gồm:
a. Kinh Lạy Cha là kinh cầu nguyện chính Chúa Giêsu đã dạy.
b. Kinh Kính mừng là lời thiên sứ Gabriê và lời Thánh Elizabeth chào chúc Đức Mẹ (Lc 1:28, 41-42). Kinh Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời do Đức Thánh Piô V thêm vào năm 1569.
c. Kinh Sáng Danh cũng được ngài thêm vào.
Nói chung kinh Mân côi tuyệt diệu vì bắt nguồn từ trời cao, chính Đức Mẹ đã phán dạy và các đức Giáo Hoàng, kể từ Đức Thánh Piô V đã không ngừng khuyến khích và dòng Thánh Đaminh đã nhiệt thành turyền bá sâu rộng.


C. THẦN LỰC KINH MÂN CÔI
Ngoài những ơn lạ Đức Mẹ ban nhờ thần lực của kinh Mân côi về phần hồn cũng như phần xác, lịch sử Giáo hội đã ghi lại 3 cuộc chiến thắng oanh liệt của Kinh Mân côi:
1. Đầu thế kỷ XII bè rối Albigensê nổi lên miền nam nước Pháp gieo lầm than và đau khổ cho dân nước Pháp. Mọi cố gắng của đạo và đời ngăn chặn bè rối tác hại này đã vô hiệu. Thánh Đaminh đứng ra khấn xin Đức Mẹ soi sáng cách nào để cứu vớt những tâm hồn sai lạc. Đức Mẹ đã hiện ra với ngài, Mẹ cầm một chuỗi Mân côi, dạy ngài cách đọc Kinh Mân côi và truyền cho ngài rao giảng như một phương thuốc linh nghiệm ngăn ngừa tội lỗi và sự lầm lạc. Quả nhiên, hơn 100 ngàn kẻ rối đạo đã từ bỏ sự lầm lạc, và rất nhiều người được thêm phấn khởi sốt sắng đọc kinh Mân côi.
2. Thế kỷ XVI quân Hồi Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh, đe doạ xâm chiến toàn vùng miền đất Công giáo Âu châu. Trước mối nguy cơ đó, Đức Thánh Piô V truyền lệnh cho các giáo phận tổ chức một nghi thức cầu nguyện gọi là "việc cầu nguyện 40 giờ" gồm các cuộc cung nghinh Đức Mẹ và đọc kinh Mân côi. Khi thuỷ quân của Hồi giáo xuống vịnh Lépante để tràn sang Âu châu, và trong khi đô đốc Don Juan người nước Áo chỉ huy hải quân Công giáo ra nghinh chiến, Đức Thánh Piô V cùng với tòan thể giáo dân rước kiệu Mẹ và đọc Kinh Mân côi cầu cho các chiến sĩ Công giáo chiến thắng. Bỗng nhiên, tại vịnh Lépante gió đổi chiều làm lợi điểm cho các chiến hạm Công giáo ào ạt tấn công đánh chìm các chiến hạm Hồi giáo, làm cho bọn họ hoàn toàn bại trận ngày Chúa nhật 7-10-1571 . Nói về cuộc chiến thắng vịnh Lépante nhờ Đức Mẹ Mân Côi, Đức Piô XI viết: "Khi quân lực Hồi giáo kiêu hùng với những chiến thuyền hùng mạnh đe doạ khắp các nước Công giáo Âu châu, Đức Giáo hoàng (Thánh Piô V) kêu gọi tất cả giáo dân sốt sắng khấn xin Mẹ lành trợ lực, địch quân bị bại trận, các chiến thuyền của họ bị đánh chìm".
3. Sau cuộc chiến thắng vịnh Lépante, đạo binh Công giáo còn chiến thắng Hồi quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hy lạp đời Đức Clêmentê XI.

D. CHÍNH ĐỨC MẸ ĐÃ PHÁN DẠY
* Mẹ Maria phán dạy Chân phước Alanô: "Bất cứ ai trung thành đọc kinh Mân côi và suy ngắm những mầu nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết. Điều đó rất dễ đối với Mẹ, vì Mẹ là Mẹ Vua Trời và Người gọi Mẹ là Đấng đầy ơn. Và vì đầy ơn, Mẹ có thể ban phát ơn phúc cho các con cái dấu yêu của Mẹ".
* Tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra với Bernađetta, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải, và đọc kinh Mân côi với Bernađetta.
* Tại Fatima, Đức mẹ hiện ra với 3 trẻ em Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức Mẹ đều thúc giục: "Các con hãy tiếp tục đọc kinh Mân côi hằng ngày". Ngày 13 tháng 10, Đức Mẹ xưng mình: "Ta là Đức Mẹ Mân Côi".

E. CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG KHUYÊN DẠY
Từ khi Đức Mẹ trao truyền Thánh Đaminh và chân phước Alanô rao giảng Kinh Mân côi, rất nhiều Đức Giáo Hoàng khuyên dạy và khích lệ. Nhất là các Đức Giáo Hoàng: Đức Lêô X, Đức Thánh Piô V, Đức Gregoriô XIII, Đức Sixtô V, Đức Clementê VIII, Đức Alexandrô VII, Đức Clementê IX, Đức Clementê X, Đức Innocentê XI, Đức Benedictô XIII, Đức Benedictô XIV, Đức Clementê XIX, Đức Piô VII, Đức Piô IX, Đức Lêô XIII, Đức Benedictô XV, và Đức Piô XI. Đáng kể nhất là Đức Lêô XIII đã được gọi là Đức Giáo hoàng của kinh Mân côi vì riêng ngài đã ban hành 9 thông điệp và 3 tông thư về kinh Mân côi. Sau các ngài, đáng kể có Đức Piô XII, Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II.

                                                 
III. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ

Bài đọc I: Tông đồ Công vụ 1:12-14
Đoạn văn thuật lại Giáo hội tiên khởi cầu nguyện tại Giêrusalem. Có ba nhóm được chứng kiến cuộc đời của Chúa Giêsu:
Nhóm 1: Các Tông đồ đã cùng sống với Chúa Giêsu từ lúc Gioan làm phép rửa, cho đến ngày Chúa Giêsu lên trời;
Nhóm 2: Các bà đi viếng mồ mà thấy mồ trống không thấy xác Chúa (xem Lc 24:22-24);
Nhóm 3: Mẹ Maria và các anh em Chúa đã chứng kiến thời thơ ấu của Chúa Giêsu.
Tất cả họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện. Kinh Mân côi ngày nay là một kinh cầu nguyện noi gương Mẹ Maria, và như là một phương thế kết hợp với Mẹ để đi sâu vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu, Con Mẹ.
Phúc âm: Luca 1:26-38
Thánh truyện Truyền tin là mầu nhiệm thứ nhất của kinh Mân côi, được chọn vào lễ Đức Mẹ Mân côi vì liên quan tới lời Đức Mẹ thưa thiên sứ: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời ngài truyền". Mẹ được thiên sứ cho biết Mẹ được đẹp lòng Thiên Chúa và đối với Chúa thì không có gì là không có thể. Mẹ đã thưa "Xin vâng" thánh lệnh của Thiên Chúa và đã trở nên Mẹ Chúa Cứu Thế.

Công đồng Vatican II nói về đời sống của Mẹ: "Đức Trinh Nữ tiến lên trong cuộc lữ hành đức tin" (LG, 58). Cuộc lữ hành là cuộc lên đường về nơi thánh: Mẹ Maria đã lên đường đi lên đồi Canvê nơi Chúa tự hiến tế. Rồi Mẹ cùng với cộng đoàn tiên khởi lên lầu trên đợi Chúa Thánh Thần xuống. Biến cố Truyền tin và đời sống Mẹ cho chúng ta một gương mẫu đức tin trong ba hoàn cảnh: Mẹ tin vào Thiên Chúa, Mẹ phó thác nơi Người, và Mẹ sống theo kế hoạch của Người. Đức tin không những là ý nghĩa đầy đủ của lời nói xuông, nhưng là một lời "Yes" và Amen dõng dạc đáp lại những lời phán bảo, những lời phán hứa và những lệnh truyền của Thiên Chúa.


IV. MƯỜI LĂM ƠN ĐỨC MẸ HỨA BAN CHO NHỮNG AI ĐỌC KINH MÂN CÔI

Đức Mẹ hiện ra với chân phước Alanô long trọng hứa ban 15 đặc ân sau đây:
1. Những ai trung thành phụng sự Mẹ bằng cách đọc kinh Mân côi sẽ nhận được những ơn cao cả.
2. Mẹ hứa sẽ phù trợ đặc biệt và ban nhiều đặc ân cho những ai đọc kinh Mân côi.
3. Kinh mân côi sẽ là áo mã giáp để chống lại hoả ngục. Kinh Mân côi tiêu diệt thói xấu, giảm thiểu tội lỗi, và phá tan các ngụy thuyết.
4. Kinh Mân côi giúp nhân đức và các việc lành triển nở. Kinh Mân côi kéo nhiều tình thương của Chúa xuống trên các linh hồn; giúp người ta khinh chê thế tục cùng những giả trá của nó, và nâng tâm hồn họ khao khát những của trên trời. Thực, kinh Mân côi chính là phương tiện giúp thánh hoá các linh hồn.
5. Linh hồn đến với Mẹ bằng kinh Mân côi sẽ không hư mất.
6. Những ai đọc kinh Mân côi sốt sắng và áp dụng những mầu nhiệm của kinh Mân côi vào đời sống mình sẽ không sợ bị rủi ro. Chúa sẽ nhân từ với họ và họ sẽ không phải chết bất tử. Nếu đã sống công chính, họ sẽ được bền vững mãi trong ơn Chúa và xứng đáng hưởng Quê Trời.
7. Những ai thực tôn sùng mầu nhiệm Mân côi sẽ được ơn chịu các phép Bí tích trước giờ chết.
8. Những ai trung thành lần hạt Mân côi, khi sống và nhất là trong giờ chết, sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn cùng với đầy dẫy ân huệ của Ngài. Khi lâm tử, họ sẽ được chia sẻ huân nghiệp của các thánh trên thiên đàng.
9. Mẹ sẽ cứu khỏi luyện tội những ai tôn sùng phép lần hạt Mân côi.
10. Những con cái trung thành của phép lần hạt Mân côi sẽ được thừa hưởng vinh quang lớn lao trên trời.
11. Nhờ lần hạt Mân côi, các con sẽ được hết những gì mình xin.
12. Những ai truyền bá phép lần hạt Mân côi sẽ được Mẹ giúp đỡ trong lúc gian truân, khốn khổ.
13. Mẹ đã xin Con chí thánh Mẹ ơn này cho những ai truyền bá phép lần hạt Mân côi, là họ sẽ được cả Triều đình Thiên quốc cầu bầu cho khi sống và trong giờ lâm tử.
14. Những ai đọc kinh Mân côi đều là con cái Mẹ và là anh em với Con Một Mẹ là Chúa Giêsu Kitô.
15. Tôn sùng phép lần hạt Mân côi là dấu chắc chắn được ơn tiền định cứu rỗi.


                                                   

V. LỜI CÁC THÁNH

- Thánh Gioan Kim Khẩu: Thiên Chúa cai trị thế gian, nhưng kinh nguyện điều khiển Thiên Chúa.
- Thánh Augustinô: Bất cứ lúc nào chúng ta sốt sắng đọc kinh Lạy Cha, tội mọn của chúng ta sẽ được thứ tha.
- Thánh Bênađô: Kinh Kính mừng làm cho quỉ dữ trốn chạy, hoả ngục run sợ.
- Thánh Đaminh: Sau thánh lễ và kinh Phụng vụ, không có sự tôn kính nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người bằng sốt sắng đọc kinh Mân côi.
- Thánh Bônaventura: Ai lơ là với Mẹ sẽ chết trong tội lỗi. Mẹ Maria chào chúc chúng ta với ơn lành, nếu chúng ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính mừng.
- Đức Mẹ phán với thánh Mechtildê: Mẹ muốn con biết rằng không ai có thể làm đẹp lòng Mẹ bằng đọc lời thiên sứ chào Mẹ mà Chúa Ba Ngôi chí thánh gửi xuống cho Mẹ và nâng Mẹ lên chức phẩm Mẹ Thiên Chúa.
- Thánh Giêtrudê xem thấy Chúa Giêsu đếm tiền vàng. Chúa nói: Cha đếm kinh Kính mừng mà con đọc. Đó là tiền mà con có thể mua đường lên thiên đàng.
- Thánh Tôma Kempi: Bạn hãy ân cần kính chào Mẹ bằng lời thiên sứ đã chào Mẹ, Mẹ rất hoan hỉ khi nghe lời chào ấy.
- Chân phúc Alanô: Kinh Kính mừng là một cầu vòng trên trời, là một dấu chỉ lòng thương xót và ân sủng Thiên Chúa ban cho thế giới. Mẹ muốn dân chúng có lòng sùng kính kinh Mân côi được ơn thánh và phúc lành của Con Mẹ torng cuộc sống và trong giờ họ chết. Mẹ muốn họ thoát khỏi mọi ràng buộc, để họ nên giống các vua đội triều thiên, cầm phủ việt và hưởng phúc vinh quang vĩnh cửu.
- Thánh Bôrômêô: Kinh Mân côi là kinh linh thánh nhất sau thánh lễ hy tế. Các bạn hãy đọc kinh Mân côi siêng năng bao nhiêu có thể.
- Thánh Montfort: Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị kinh Kính mừng và kinh Mân côi, là những người có dấu bị trầm luân hoả ngục. Không có gì có hiệu lực được lên nước Thiên Chúa bằng đọc kinh Mân côi và suy ngắm 15 mầu nhiệm.
- Thánh Phanxicô Salêsiô: Đọc kinh Mân côi là việc thích thú nhất và là niềm vui thứ nhất của lòng tôi.
- Thánh Anphong: Nhờ kinh Mân côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trong nẻo trọn lành. Biết bao người nhờ kinh Mân côi đã được ơn chết lành và hưởng phúc trường sinh.
- Thánh Vianney: Tôi biết điều có mãnh lực hơn Thiên Chúa là người cầu nguyện làm cho Thiên Chúa nói "được", khi Người đã nói "không được".


VI. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

- Đức Clêmentê XIII: Ta khoan dung ban một ơn đại xá, một năm một lần cho mỗi người và cho mọi người thật lòng thống hối xưng tội, rước lễ, sốt sắng đọc kinh Mân côi trong giờ đã định cho họ, và cầu nguyện để tiêu diệt các bè rối và thăng tiến Giáo hội.
- Đức Grêgôriô XVI: Một niềm vui biết bao nhớ lại kinh Mân côi lợi ích cho Giáo hội Công giáo, cũng như cho giáo dân hợp nhau cầu nguyện cầu xin ơn che chở của Rất thánh Trinh nữ.
- Đức Piô IX: Mỗi phần tử hội kinh Mân côi liên tiếp ngày đêm lần lượt đọc kinh Mân côi như một sự tôn kính không ngừng dâng lên Mẹ Thiên Chúa.
- Đức Lêô XIII: Các ơn lành Mẹ ban đã được chứng minh rằng nhiều người đã nhận được hiệu lực kinh Mân côi mà Mẹ đã ban dạy và thánh Đaminh đã vất vả truyền bá.
- Đức thánh Piô X: Không gì hoàn hảo bằng nhiều tiếng từ khắp nơi trên thế giới cùng dâng lên van xin Rất thánh đồng trinh maria như họ suy ngắm những mầu nhiệm Chúa Kitô, để những ơn lành của lòng từ ái Mẹ không ngừng ban xuống trên Giáo hội.
- Đức Bênêđictô XV: Kinh Mân côi cần thiết hơn bao giờ hết, vì không những dâng lên Mẹ để nhờ Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa ban mọi ơn cho chúng ta, và vì hơn mọi kinh khác, kinh Mân côi mang một dấu hiệu kinh chung gia đình.
- Đức Piô XI: Kinh Mân côi thực là một triều thiên hoa hồng rự rỡ nhất mà tuổi thanh xuân có thể đội: Đó là những đoá hồng trinh khiết và đoá hồng tình mến, đoá hồng tình yêu huynh đệ, đoá hồng chí tông đồ tươi nở trong khung cảnh lộng lẫy của một gia đình thiêng liêng như đoàn Thanh niên Công giáo Tiến hành.
- Đức Piô XII: Gia đình tụ họo bủôi chiều đọc kinh Mân côi tôn kính Nữ Vương Thiên đàng. Đời sống gia đình Kitô hữu và lòng sùng đạo thấm nhuần torng các con cái mầm ơn gọi linh mục và tu sĩ. Tinh thần hy sinh Kitô hữu dạy họ chịu đựng nghịch cảnh và sầu đau. Nếu noi gương Mẹ Maria, gia đình sẽ là một nguồn suối các nhân đức, và bình an luôn ngự trị trong đó.
- Đức Gioan XXIII: Chớ gì kinh Mân côi gia đình là một hương thơm sự an bình cho gia đình các con. Ước chi con cái của các con chạy đến với Mẹ maria để gìn giữ sự trong trắng thơ ngây. Ước chi các bạn thanh thiếu niên học được nơi Đức Mẹ sự phấn khởi làm việc thiện và bảo đảm sự thanh khiết của họ. Ước chi người đau khổ hy vọng được niềm an ủi nơi Đức Nữ Trinh.
- Đức Phaolô VI: Kinh Mân côi đạo đức và phổ cập hiện ra như một chuỗi cứu độ treo trên cánh tay Chúa Cứu Thế và Mẹ Thánh Người, và do đó phát ra mọi ơn lành cho chúng ta và mọi niềm hy vọng đến với chúng ta.
- Đức Gioan Phaolô II: Trong những chục kinh Mân côi, tấm lòng chúng ta có thể hái lượm được những sự kiện làm thành đời sống cá nhân, gia đình, dân tộc, giáo hội và thế giới. Đó là những vấn đề cá nhân hay người thân cận, người thân quyến chúng ta. Như vậy, kinh Mân côi hoà nhịp đời sống con người. 

 
L.m. Phêrô, CMC



Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

NÀY TÔI LÀ TÔI TỚ CHÚA

                           

Suy niệm 
của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt 
nhân dịp Kỷ niệm 95 năm ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. 1917-2012


Với lời thưa "Xin Vâng" của Đức Mẹ, điều vô cùng kỳ diệu xẩy ra: Thiên Chúa đến ở với loài người. Thiên Chúa vô hạn đến ở trong thân xác hữu hạn. Thiên Chúa vô thủy vô chung đi vào lịch sử để trở nên có sinh có tử. Đây là đại hạnh của con người. Nhân loại khổ đau có Thiên Chúa đến cùng chia sẻ nâng đỡ, chữa lành. Nhân loại đi trong đêm tối có Thiên Chúa đến dẫn đường chỉ lối. Nhân loại bơ vơ có Thiên Chúa đồng hành. Còn hơn thế nữa, Thiên Chúa không chỉ đến để đồng hành, để an ủi nhưng Thiên Chúa còn đến biến đổi thân phận con người. Thư Galata cho biết Thiên Chúa sinh làm con loài người để ta được nâng lên làm con Thiên Chúa. Thiên Chúa chịu nghèo để ta được giầu có vì được thừa kế gia tài, được hưởng vinh phúc của Thiên Chúa.
Những điều kỳ diệu ấy chỉ được thực hiện nhờ thái độ của Đức Mẹ. Khi thưa với thiên thần: "Này tôi là tôi tớ của Chúa", Đức Mẹ đã cộng tác trọn vẹn với Thiên Chúa để chương trình của Thiên Chúa được thực hiện. Vào thời Đức Mẹ nô lệ có nghĩa là không có quyền gì hết. Nô lệ hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của chủ. Chủ có thể bán đi. Chủ có quyền hành hạ, giết chết nô lệ mà không có tội trước pháp luật. Nô lệ không có quyền sống cho mình, mà sống vì chủ, cho chủ. Khi xưng mình là "tôi tớ", Đức Mẹ từ bỏ tự do, từ bỏ quyền sống của mình để hoàn toàn cho Thiên Chúa sử dụng. Từ đó Chúa ở trong Đức Mẹ. Đức Mẹ đi đâu cũng có Chúa ở cùng. Vì thế sự hiện diện của Đức Mẹ là hiện diện của Chúa. Đức Mẹ đi đến đâu là sinh ơn phúc đến đấy. Đến thăm bà Isave đem ơn cứu độ cho thánh Gioan Baotixita khiến thánh nhân nhảy mừng từ trong lòng mẹ. Đến tiệc cưới Cana làm cho đám cưới ngập tràn niềm vui vì được thưởng thức thứ rượu ngon chưa bao giờ có.
Từ khi về trời Đức Mẹ vẫn tiếp tục viếng thăm con cái trần gian. Lavang, Lộ đức, Fatima... không sao kể xiết những ơn lành Chúa xuống qua tay Đức Mẹ. Tuy Lavang, Lộ đức đều là chứng tích việc Chúa và Đức Mẹ đồng hành với con người trong những nỗi khổ đau. Nhưng Fatima mới tỏ tường là nơi Chúa và Đức Mẹ can thiệp vào lịch sử nhân loại. Thực vậy vào tháng 5 năm 1917, tại Fatima, Đức Mẹ tiên báo nước Nga sẽ gieo rắc lạc thuyết vô thần khắp thế giới. Đúng tháng 10 năm đó cách mạng vô sản nổ ra tại Nga và thế giới bị chia đôi. Một nửa theo lý thuyết cộng sản vô thần gay khổ đau cho biết bao người. Tuy nhiên Đức Mẹ cũng chỉ cho ta con đường thoát khỏi sự dữ này bằng cách cầu nguyện cho nước Nga và tuân giữ 3 mệnh lệnh là : ăn năn sám hối, lần hạt Mân Côi và tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ. Có thực hành lời Đức Mẹ dậy, nhân loại mới thoát khỏi cơn thịnh nộ của Chúa, thế giới mới được hòa bình. Sứ điệp Fatima quả đã đi vào lịch sử thế giới, hướng dẫn lịch sử thế giới và chữa trị những vết thương của thế giới.
Nếu chương trình của Chúa cần có Đức Mẹ "xin vâng", thì trong chương trình của Đức Mẹ cũng cần một người con quảng đại dâng hiến toàn thân cho Đức Mẹ sử dụng. Người đó chính là Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II có lòng yêu mến Đức Mẹ nồng nàn. Ngài đã viết Tông huấn "Kinh Mân Côi" để tôn vinh Đức Mẹ. Ngài là vị Giáo hoàng lần hạt chung với dân chúng. Ngài đã lập thêm Năm Sự Sáng cho tràng chuỗi Mân Côi. Nhưng nhất là Ngài dâng hiến toàn thân cho việc phụng sự Đức Mẹ. Khẩu hiệu của ngài là "Totus Tuus", trích từ câu nói của thánh Louis Grignon de Monfort:Totus Tuus ego sum et omnia mea Tua sunt (Con là tất cả của Mẹ và mọi sự của con đều là của Mẹ).
Ngài đã dâng nước Nga cho Đức Mẹ. Và đáp lại Đức Mẹ đã thực hiện những lời hứa và những bí mật Fatima trong cuộc đời của ngài. Việc nước Nga được ơn trở lại dưới triều Giáo hoàng của ngài là bằng chứng rõ rệt nhất về lời hứa Fatima: "Trái Tim Mẹ Sẽ Thắng". Theo sau nước Nga là các nước Đông Âu khác. Bản đồ thế giới được vẽ lại. Tình hình thế giới đổi mới khác hẳn. Quả thật Chúa và Đức Mẹ đã can thiệp vào lịch sử thế giới.
Tuy nhiên Đức Thánh Cha phải chịu đau khổ. Và thị kiến chị Lucia thấy người áo trắng bị ám sát đã ứng nghiệm trong đời ngài. Ngài bị bắn đúng ngày 13-5-1981. Tay thiện xạ Ali Agca đứng sát ngài và nhắm bắn trúng chỗ hiểm. Nhưng ngài thoát chết trong gang tấc. Ngài biết Đức Mẹ đã cứu ngài. Nên ngài đến hành hương Fatima tạ ơn Đức Mẹ và đặt đầu viên đạn lên triều thiên Đức Mẹ để tôn vinh quyền phép của Đức Mẹ. Vết thương hành hạ suốt đời đã biến cuộc đời ngài thành cuộc đền tạ Trái Tim Mẹ không ngưng nghỉ.
Đã 95 năm trôi qua kể từ ngày Đức mẹ hiện ra tại Fatima, nhưng sứ điệp Fatima vẫn còn mang tính thời sự và cấp thiết. Vì hiện nay biết bao lạc thuyết vẫn lan tràn gieo đau thương chết chóc cho con người. Đức Mẹ vẫn luôn đồng hành với ta như Người đã cùng cầu nguyện với các tông đồ trong nhà Tiệc ly. Đức Hồng Y Fulton Sheen diễn giải lời thiên thần Gabriel: "Này cô Maria, cô có đồng ý đem xương thịt cho Con Thiên Chúa không? Liệu Thiên Chúa có trở nên loài người qua thân xác của cô không?". Hôm nay Đức Mẹ cũng hỏi ta: "Con có đồng ý cho ta thân xác của con để ta hiện diện với các con, đồng hành với các con không". Nếu ta đồng ý Đức Mẹ sẽ nhờ thân xác ta mà hiện diện trong thế giới, sẽ uốn nắn thế giới và lịch sử sẽ thay đổi.
Ta hãy noi gương ĐTC Gioan Phaolô thưa với Mẹ: Lạy Mẹ, tất cả của con là của Mẹ, xin Mẹ hãy dùng con theo ý Mẹ để Thiên Chúa được vinh danh và nhân loại được hạnh phúc. Amen.



Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

HẠNH PHÚC VÀ ĐƠN SƠ



Hai ông bà đã ngoài 80. Họ chẳng ở với ai trừ chính họ, vì con cái đã ra riêng như bao gia đình khác. Bà lúi húi nấu nồi canh, thêm món thịt kho nóng hổi là 11 giờ trưa đã sẵn sàng cho bữa ăn đơn sơ như nó vẫn như vậy từ ngày thằng út lấy vợ rồi ở tiệt bên ấy.
Chẳng đến nỗi lọm khọm, nhưng ông cũng phải từ tốn lắm mới bưng được mâm cơm ấy lên nhà trên, để hai vợ chồng đã hơn 60 năm chung sống thưởng thức hương vị gia đình đã rất quen thuộc.
_Ông ăn nhớ…lè xương ra nhé, kẻo mắc cổ đấy!
_Bà lo cho phần bà đi! Đã hay lở mồm mà cứ cho đẫy tiêu vào!
_Ăn vậy nó mới ngon. Mà tôi nói ông bao nhiêu lần là đừng có vừa uống vừa ăn như vậy, sao ông chẳng…nghe lời tôi nhỉ?
_Tại tôi quen rồi bà ơi! Mà bà cũng nhớ là chớ có vừa ăn nóng lại uống nước đá ngay, nứt răng hết !
_Ờ ! Chuyện ấy xưa rồi, với lại răng tôi có còn mấy cái đâu mà ông cứ lo vớ lo vẩn vậy…
Nghe các cụ nói chuyện với nhau mà tức cười. Các ngài dặn dò bạn đời của mình cứ như dặn đứa trẻ ranh ! Vậy mà họ chẳng buồn vì chuyện ấy. Thậm chí hai ông bà còn nhắc nhau :
_Quần áo ướt ông chớ mà mặc, ngứa chết !
_Rửa chén xong, bà chớ có đổ nước tráng chén bát vào ấm mà nấu nhé. Tiết kiệm thì cũng vừa vừa thôi !
Có bao giờ ông mặc đồ ướt đâu mà bà nhắc hoài vậy !
Có bao giờ bà không đổ nước rửa chén đi mà ông làm như bà…ở dơ như thế !
Cụ ông và cụ bà nghe riết cũng nhàm tai, và họ cũng chẳng hề giận dỗi vì cái lỗi buồn cười như vậy ! Ấy là họ thừa hiểu rằng, trong cái mái nhà tranh này, nếu ông không khéo nhịn bà, và nếu bà cứ làm tới với ông, thì mỗi người chỉ còn cách ra ngoài sân ngủ với ánh sao trời cô lẻ. Họ chẳng chịu ở với đứa con nào, vì họ biết già trẻ khó mà hòa hợp với nhau. Già đời như họ mà lắm khi còn câu nọ câu kia nghe nẫu cả ruột. Nhưng như ngọn gió đùa qua rặng cây, hai cái bóng cổ thụ ấy cũng chỉ cà khịa nhau chút chút, rồi trời quang mây tạnh. Những đứa con « để » cha mẹ ở một mình cũng thấy băn khoăn trong dạ, nhưng bọn họ cũng sớm nhận ra, tình già của cha mẹ họ là cái không thể thiếu trên đường đời còn rất ngắn này. Trong cái lắng lo của con cái khi không kề bên chăm sóc đấng sinh thành, thì cũng có niềm tin cậy rằng, chính sự chịu đựng lẫn nhau trên suốt đoạn đời dài đã qua, khiến tình vợ chồng của cha mẹ họ đã giúp họ vẫn đầy niềm vui, nhất là khi con cháu tíu tít tụm về mái nhà xưa, nghèo nàn mà đầy ân nghĩa.
Hẳn rằng,tình yêu cần được tôi luyện trong gian nan mới bền vững như vậy ! Hẳn rằng, hai con tim muốn cùng chung nhịp đập thì đều phải chờ nhau chung bước ! Hẳn rằng, nếu không có sự khiêm tốn thì không bao giờ nhận ra được những lời nhắc nhở lẩm cẩm kia thật ra lại là hoa trái của cả một đời vun tưới ! Chỉ cần một chút tự ái, chỉ cần một giây quên đi lời hẹn ước từ xưa, thì chỉ cần một lời nói không đúng chỗ, cũng đủ làm cho tàng cây mãi xao động.
Rõ ràng, cần có một tâm hồn đơn sơ như trẻ thơ để hiểu được người bên cạnh, và để cùng nhau khoan thai bước đi trên đường. Chẳng cần phải suy diễn thêm về một thái độ, một câu nói đôi khi rất vô tình, mà đôi khi cũng rất chân tình. Việc ấy chỉ làm cho mọi bức tranh đều tối đen, đen cả đến chính tờ giấy chứa đựng bức tranh tội nghiệp ấy.
Vâng, chính Chúa cũng muốn gia đình luôn bền vững. Một yếu tố để bền vững chính là sự đơn sơ như trẻ thơ. Muốn hạnh phúc thì hãy đơn sơ. Nói gì đến chuyện vào Nước Trời là hạnh phúc lớn nhất của những ai mến tin vào Chúa…

                                                                                                                       LAM TRẦN  03.10.2015

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

CHỈ LÀ MỘT


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN B - 4/10/2015

“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phép phân ly”

Lời của Đức Giêsu đã vang vọng qua hai mươi thế kỷ và vẫn thường được chọn để in trên thiệp cưới.  Phải chăng người ta ngầm nhắc nhau rằng ly dị là từ không nên có trong từ điển của các đôi vợ chồng?  Tiếc thay số vụ ly hôn nơi các kitô hữu vẫn tăng.  Sống với nhau suốt một đời trở thành ước mơ khó đạt.
Trong xã hội Do thái giáo thời Đức Giêsu, người phụ nữ không được bình đẳng với nam giới. Người vợ là một thứ tài sản của người chồng, nên chỉ người chồng mới có quyền ly dị vợ, có khi ly dị vì một lý do cỏn con.  Trước câu hỏi: “Chồng có được rẫy vợ không?”  Đức Giêsu kiên quyết nói không.  Ngài bênh vực các bà vợ bị áp chế.  Họ không phải là một món hàng bỏ đi khi không cần.

Lập trường của ngài đi ngược với nền văn hóa và tôn giáo của thời đó cũng như thời nay.  Điều này khiến các môn đệ của Đức Giêsu có lần bị sốc.  Họ nói: “nếu vậy thì thà đừng lấy vợ thì hơn” (Mt 19, 10).  Hóa ra các ông vẫn cho mình có quyền bỏ vợ nếu muốn.

Khi người Pharisêu trích sách Đệ Nhị Luật để biện minh cho việc ly dị đúng theo luật Môsê, Đức Giêsu lại trích sách Sáng Thế, để nhấn mạnh đến sự hiệp nhất vĩnh viễn của vợ chồng.  Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.  Điều này nằm trong ý định nguyên thủy của Thiên Chúa.  Việc Môsê cho phép ly dị chỉ là một nhượng bộ tạm thời.  Đức Giêsu đến để hoàn chỉnh luật Môsê và khai mở trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa.

“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp…”  Vậy trong Lễ Cưới, không phải chỉ có hai người yêu nhau, lấy nhau và cam kết suốt đời sống cho nhau.  Hôn nhân không chỉ là bản hợp đồng giữa hai bên.  Còn cần một bên thứ ba là Thiên Chúa, Đấng phối hợp và làm cho hai bên kia nên vợ nên chồng.  Thiên Chúa có mặt trong mỗi Lễ Cưới, và tiếp tục bảo vệ tình yêu, cả khi hai người muốn bỏ cuộc.

Chung thủy chưa bao giờ là chuyện dễ dàng.  Khi thịnh vượng, lúc gian nan; khi bệnh tật, lúc mạnh khỏe.  Còn nhiều tình huống khác đe dọa hôn nhân: khi buồn chán và thất vọng về nhau, khi yếu đuối vấp ngã, khi đổ vỡ quá lớn và vết thương quá nặng, khi đời sống vợ chồng trở thành như hỏa ngục…  Những khi ấy, yêu thương và kính trọng nhau thật khó.  Con người bị cám dỗ tìm giải pháp chia tay.

Chúng ta cầu cho những ai đã và sẽ kết hôn.  Xin cho họ bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn, bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ, bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ…  Nhờ đó họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc bảo vệ và tưới bón tình yêu.

 LM Nguyễn Cao Siêu
(Lang thang chiều tím)
                                                                       


Suy niệm của  Guy Marin.
..........
Nếu cứ nhìn vào thực tại hiện nay: vô số những cuộc ly dị, ly thân, tái giá, không kể những cặp nam nữ chung sống với nhau ngoài hôn nhân thì trong Tin Mừng này lại chẳng là không tưởng ư? Nó không tưởng theo nghĩa là nó đề nghị một lý tưởng mà các Kitô hữu được mời gọi theo đuổi phải triệt để cậy dựa vào Chúa Thánh Thần, Đấng tạo nơi họ một quả tim mới.
Một điều chắc chắn là các nhà chức trách của Giáo Hội cũng như dân Kitô không thể chối bỏ một giáo huấn như thế được. Đàng khác, không ai được kết án những anh chị em mà đã thất bại trong quan hệ hôn nhân. Chúng ta vừa buộc phải theo lý tưởng được Chúa Giêsu đề nghị và buộc phải có tình thương huynh đệ đối với những kẻ đã phạm lỗi. 
Trong cuộc thi Olympic, không phải tất cả các lực sĩ đều lãnh huy chương, nhưng mục đích của hết thảy mọi người trong họ đều là đạt cho được huy chương.

***

Lạy Chúa, "Chúa là tình yêu", xin ban Tình yêu Chúa xuống trong các gia đình đã nguội lạnh tình yêu.
Xin cho các bậc cha mẹ luôn biết nhẫn nhục và tha thứ cho nhau, để họ trọn đời chung thủy trong tình yêu mà Chúa đã chúc phúc cho họ trong ngày thành hôn. Amen.



KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY

     (Ảnh hưởng TM Mc10, 2- 16)
Từ thuở ban đầu Chúa dựng nên
Con người bản tính vẫn hồn nhiên,
Một nam, một nữ bên nhau mãi,
Nên một thịt xương sống đẹp duyên.
         ***
Thiên Chúa Tình Thương xưa kết hợp.
Ai người ngu dại dám phân ly.
Ngoại tình phải kể là vô đạo:
Định luật thiên nhiên chẳng kể chi…
                        ***
Gia đình công giáo,vững hôn nhân.
Giáo huấn Tin Mừng sáng tuyệt trần,
Bí tích in sâu, luôn phấn khởi,
Tình yêu gắn bó, chẳng phân vân.
                         ***
Trọn nghĩa phu thê, vâng Thánh Ý,
Xứng danh phụ mẫu, sống gương lành.
Gia phong gia đạo luôn coi trọng,
Nghĩa vụ giáo dân sống nhiệt tình…

                          Thế Kiên Dominic 


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ Ý NGHĨA SÂU SẮC


Câu chuyện 1: 
Làm việc phải chuyên tâm, quan sát cẩn thận

Có một vị bác sĩ ngoại khoa nói với học sinh của mình rằng làm bác sĩ ngoại khoa phải có năng lực rất quan trọng là không được buồn nôn và kỹ năng quan sát.
Vừa nói vị bác sĩ vừa đưa một ngón tay của mình nhúng vào thứ chất lỏng trông rất ghê, dễ khiến người ta buồn nôn, rồi sau đó ông liếm liếm ngón tay của mình.
Ông yêu cầu toàn bộ học sinh cả lớp làm y hệt như ông một lần, những em học sinh tỏ ra miễn cưỡng đành phải cố gắng làm theo.
Bác sĩ sau khi xem xong cười to và nói: “Tôi chúc mừng các em đã hoàn thành xong lần trắc nghiệm đầu tiên, nhưng thật đáng tiếc là không có em nào vượt qua.”
Cả lớp đều vô cùng bối rối không hiểu: “Tại sao vậy, chẳng phải chúng em đã làm giống như thầy đó sao?”
Vị bác sĩ nói: “Là bởi vì các em lúc quan sát đã không cẩn thận, ngón tay mà tôi liếm không phải là ngón tay mà tôi đã nhúng vào trong chiếc đĩa kia”.
Rất đáng tiếc, các em đều không thích hợp làm bác sĩ ngoại khoa.

Vì vậy, mọi người trong cuộc sống phải chú ý quan sát đồ vật, chú ý quan sát con người, phải dùng ánh mắt của mình để đối mặt với cuộc sống, rất nhiều người thất bại không phải vì họ không có năng lực, cũng không phải là vì họ không đủ thông minh, mà là vì họ không đủ chuyên tâm, không đủ cẩn thận khi quan sát cuộc sống.

Câu chuyện thứ hai: 
Vô luận là đi đến nơi nào đều sẽ có người yêu thương và tiếp nhận bạn

Có một chàng thanh niên muốn đến nước Anh để phát triển sự nghiệp, nhưng rất không may là con thuyền mà anh ta đi đã gặp một trận bão lớn, khiến cho tất cả mọi người đều hoảng sợ.
Tuy nhiên, ngay lúc anh ta không biết phải làm thế nào thì gặp một người phụ nữ với vẻ mặt rất bình tĩnh đang cầu nguyện, thần sắc như không có chuyện gì xảy ra.
Sau khi sóng gió qua đi, toàn bộ mọi người trên thuyền đều thoát khỏi nguy hiểm, cậu thanh niên này tò mò đi đến chỗ người phụ nữ và hỏi: “Tại sao lúc gió bão ập đến như vậy mà bà lại không có một chút sợ hãi nào vậy?”.
Người phụ nữ trả lời: “Tôi có hai cô con gái, một đứa đã bị Thượng đế mang đi rồi, còn một đứa đang ở nước Anh, lúc sóng gió ập đến, tôi liền hướng lên thượng đế cầu xin. Nếu như ngài đón nhận tôi trên thiên đàng thì tôi sẽ được gặp con gái lớn, còn nếu như giữ được tính mạng thì tôi sẽ đến được nước Anh gặp cô con gái thứ hai. Cho dù tôi đến nơi nào, tôi đều có thể gặp một trong hai đứa con gái của mình, thế thì tôi sao phải sợ đây?”.

Sinh mệnh là có hạn và cũng là đã được an bài sẵn. Vì vậy khi bạn gặp nguy hiểm tính mạng, nhất định đừng sợ hãi, mà hãy bình tĩnh đối mặt với nó và điều quan trọng là trên thế giới này, vô luận bạn đi tới đâu, đều có người đón nhận và yêu thương bạn.

Câu chuyện thứ ba: 
Phải học cách trưởng thành và tiếp nhận mọi chuyện

Có một đóa hoa nhỏ mong manh mọc trên một gốc cây tùng cao lớn, đóa hoa nhỏ vô cùng hạnh phúc vì được cây tùng che chở, chắn gió che mưa khiến cho nó mỗi ngày đều sống mà không phải lo lắng gì.
Một hôm, đột nhiên có một nhóm công nhân đến, chẳng mấy chốc họ đã chặt đổ cây tùng to lớn này và mang đi.
Đóa hoa nhỏ vô cùng đau lòng, nó gào khóc và nói: “Không có cây tùng che chở, tôi biết sống ra sao? Mưa to gió lớn đến tôi phải làm thế nào? Chúng sẽ giết chết thân thể nhỏ bé này của tôi mất thôi”
Nghe bông hoa nhỏ gào khóc, một cái cây ở xa an ủi nó: “Bạn đừng nghĩ như vậy, mất đi sự che chở đó, bạn lại có thể tiếp nhận được ánh nắng mặt trời, nhận được những giọt mưa, như thế sẽ làm bạn mạnh mẽ hơn, mọi người sẽ nhìn thấy vẻ đẹp rạng rỡ của bạn. Sau khi họ nhìn thấy bạn rồi, sẽ trầm trồ khen ngợi bạn, ‘bông hoa nhỏ đẹp quá!’, bạn nói xem bạn có vui không nào?”
Bông hoa nhỏ nghe xong, tươi cười vui vẻ.

Con người cũng cần phải học sự trưởng thành, cần phải tách ra khỏi sự che chở của bố mẹ và gia đình, học cách tiếp nhận sự việc. Bạn nên biết, một người trải qua đủ loại thử thách sẽ có thể trở thành người mạnh mẽ. Không trải qua mưa gió, sao nhìn thấy cầu vồng! Chính là đạo lý này.

Câu chuyện thứ tư: 
Chỉ có người nào dám ước mơ mới có thể biến ước mơ trở thành hiện thực

Có một chàng trai năm 21 tuổi làm ăn thất bại, năm 22 tuổi tranh chức nghị viện thất bại, năm 24 tuổi việc làm ăn thất bại, năm 26 tuổi người yêu qua đời, năm 27 tuổi, từng cảm thấy tuyệt vọng với cuộc sống. Năm 34 tuổi, cạnh tranh chức nghị viên lại thất bại, năm 36 tuổi vẫn là cạnh tranh chức nghị viện thất bại, năm 45 tuổi vẫn thất bại, năm 47 tuổi ứng tuyển phó tổng thống không trúng cử, năm 49 tuổi lại không trúng cử, năm 52 tuổi trúng cử chức vị Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 16.
Người đàn ông này chính là Lincoln, bởi vì ông ta tin tưởng vững chắc rằng chỉ là Thượng Đế đang lùi lại chứ không phải là cự tuyệt lời thỉnh cầu của ông. Cho nên, ông luôn luôn nỗ lực kiên trì hết mình và cuối cùng ông đã thành công.

Có thể cho phép một người thất bại nhiều lần, thậm chí thất bại nhiều lần ở cùng một việc, nhưng không cho phép vì nhiều lần thất bại ở cùng một việc mà từ bỏ việc đó. Vì vậy, chỉ có người kiên trì với ước mơ của mình mới có cơ hội biến nó thành hiện thực.



                                                                                                                       (tinhhoa.net)

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

LỜI TRẦN TÌNH ĐÁNG SUY TƯ CỦA MỘT CỰU LINH MỤC



Trên tờ Records của giáo phận Perth, Australia, có đăng lời tâm sự của một cựu linh mục, một nhà thần học sau gần 20 năm trong thiên chức linh mục, nay đã hoàn tục.  Bài tâm sự này là một lời cảnh báo cho tất cả chúng ta không nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện hằng ngày.

“Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô.  Tôi xác quyết rằng dù sống hay dù chết, dù tù đày, bắt bớ, dù khốn cùng, quẫn bách.  Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô”.

Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên.  Cứ tưởng như là chỉ cần gào to lên như vậy thì tôi sẽ đời đời sống trong lòng mến của Thiên Chúa.
Thật ra, cũng không hoàn toàn là vô lý.  Thật sự, đúng là tù đày, bắt bớ, khốn cùng, quẫn bách đã không tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Nhưng, đơn giản là vì những thứ ấy không xảy ra trên đất nước tự do này. Ai dám bỏ tù tôi, ai dám kỳ thị tôi, ngược đãi tôi vì tôi là người Công giáo, tôi kiện họ lên tới Tối Cao Pháp Viện chứ chơi à.
Tuy nhiên, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn đã không chỉ tách tôi mà thực sự là “bứng” tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa: một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.
Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay “Tiếng thở dài.”  Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của sự đau khổ trong kiếp nhân sinh này, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt.
Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin sau khi đọc cuốn sách đó.  Họ tìm lại được lòng trông cậy vào Chúa và khen nức nở các ý kiến của tôi.
Mỗi khi có chuyện không như ý, theo lời khuyên trong cuốn sách, họ cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, con biết Chúa hằng yêu thương con.  Con phó thác mọi sự trong tay Chúa.  Nhưng, lạy Chúa, qua chuyện không vui này, Chúa muốn nói với con điều gì?”

Khốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện. Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa.  Tôi tưởng tôi đã gặp được Chúa trong những suy tư thần học, cho nên tôi xao lãng đời sống cầu nguyện, tôi đã không thực hành chính những điều tôi nói và viết hằng ngày trên bục giảng và trong các tác phẩm của tôi.  Có lẽ, tôi đã cho rằng cầu nguyện chỉ là hình thức cấp thấp dành cho những người bình dân.  Siêu đẳng như tôi thì không cần.  Càng ngày tôi cũng càng ít có giờ cho giáo dân và càng ngày tôi càng bướng bỉnh và kiêu căng với các đấng bề trên.  Chuyện gì đến cũng đã đến.  Tôi không muốn sa vào những phân tích vụn vặt.  Điều tôi muốn nói với các bạn sau nhiều năm suy tư, sau những đêm dài không ngủ và trong sự hối tiếc chân thành của tôi là sự thật đơn giản này:  Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài.  Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa.
Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao nhiêu lần chúng ta gặp câu này: “Sau đó, Người lui vào một nơi thanh vắng mà cầu nguyện.”  Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha. Chúng ta là ai, tư cách gì, mà đòi có thể biết được ý Chúa qua trí khôn, qua sự xét đoán nông cạn của mình trong cái náo nhiệt, bận rộn của cuộc sống quay cuồng chung quanh.
Chẳng vậy, tất cả các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã không nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao.  Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh mà chúng ta hằng tôn kính.  Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.

Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”: Việc cầu nguyện vừa là tìm tòi Thiên Chúa, vừa là mặc khải Thiên Chúa.  Nơi việc cầu nguyện của ta, Thiên Chúa tỏ rõ Ngài là Đấng Sáng Tạo và là Cha, là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa Cứu Thế, là Thần Khí “dò thấu mọi sự, cả đến những gì sâu xa nhất của Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10), cũng như dò thấu những gì bí mật của tâm hồn.
Trong việc cầu nguyện, trước hết, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là tình thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tới gặp con người đau khổ.  Tình yêu này nâng đỡ, vực dậy và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng.”

Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.

Trích “Nên thánh trong thời đại mới”, Kilian Mc Gowan, C.P
Người dịch LM JBM Trần Minh Cương

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

CÁI ỐNG NHÒM



LỄ KÍNH THÁNH NỮ TERESA HÀI ĐỒNG GIÊ SU  1/10 

Trong bài tường thuật này, người viết gọi thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là Chị Thánh và gọi Kính Vạn Hoa là Ống Nhòm.   Thời gian này Têrêsa được cử làm Phó Bề Trên Nhà Tập, có nhiệm vụ chăm sóc linh hồn các chị Nhà Tập.  Với tâm hồn đơn sơ giản dị, Têrêsa đã đưa ra những hình ảnh cụ thể để hướng dẫn mọi người yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.

Chị Thánh thường hay nói chuyện với tôi về một đồ chơi thông dụng, mà chị Thánh đã thích chơi hồi còn nhỏ.   Chơi ống nhòm, thứ ống gọi là vọng viễn kính, mà người ta nhòm thấy ở đầu kia rất nhiều hình đẹp đẽ vui vẻ, và thay đổi màu sắc hầu như vô cùng, chỉ cần xoay vần cái ống đi một chút là thấy sự lạ lùng ấy.
Chị Thánh nói rằng : cách chơi ấy làm em lạ lắm, em vẫn tự hỏi làm sao lại có thể diễn ra được những hiện tượng diễm lệ quá thể ấy.  Và một ngày kia, sau khi đã khảo sát cặn kẽ, em đã nhận thấy là giản dị vô cùng : có gì đâu, vài cái đầu giấy vụn và mấy miếng vải vụn để lộn xộn ở trong đầu ống.   Còn cái ống, thì là ba miếng kính ghép lại với nhau theo hình tam giác đặt nằm trong ống. Manh mối chỉ có thế mà đã sinh ra những công hiệu rất lạ lùng.

Với em, đó là hình ảnh một màu nhiệm cao cả : bao lâu những việc ta làm dù là rất nhỏ mọn, nếu đã làm vì lòng kính mến Chúa Cả Ba Ngôi - hình dung bằng ba miếng kính ghép lại và phản chiếu vào những việc nhỏ mọn ta làm – thì những việc đó sẽ trở nên muôn ngàn xinh đẹp và quí giá lạ lùng.  
Chúa Giêsu, qua miếng kính nhỏ, nghĩa là qua chính mình Người, Chúa nhìn chúng ta, nhận thấy tất cả những cử chỉ nhỏ nhặt của chúng ta đều đẹp đẽ hết, đẹp đẽ mãi ; nhưng nếu trệch ra ngoài trung tâm của lòng kính mến, chúng ta và những hành động, những cử chỉ của chúng ta sẽ thành cái gì?... Chúng ta sẽ thành những cái máy vô hồn, và những hành động, những cử chỉ của chúng ta sẽ thành những vấn rác... những đầu thừa đuôi thẹo... những việc bần tiện không một giá trị nào hết.

(Trích Sách Huấn Dụ Tập Sinh Dòng Kín Lisieux)


GƯƠNG SỐNG TÌNH YÊU
(Ảnh hưởng ý thơ thánh nữ Tê rê Sa)

Noi gương thánh nữ: sống tình yêu,
Mến Chúa yêu người, chỉ một điều.
Tỉnh thức cầu xin, luôn phó thác,
Hãm mình ép xác, chẳng nuông chiều.
 Đường tu trọn hảo vì tin cậy
Ơn phúc trường sinh bởi mến nhiều.
Thánh nữ trẻ trung, trong Giáo Hội.
Tình yêu tận hiến thật cao siêu...

                              Thế Kiên Dominic


ĐƯỜNG THƠ ẤU
Xưa thánh nữ Tê Rê Sa đã viết:
Vì tình yêu chứng tỏ bởi việc làm.
Vậy, làm sao con có thể khả kham
Để chứng tỏ tình yêu mình với Chúa.
***Con bé nhỏ chẳng biết chi chọn lựa,
Con không làm được những việc cao siêu
Con xin dâng Chúa hoa hồng, tỏ tình yêu
Là tất cả những hy sinh nhỏ mọn...
*** Khi đọc sách thiêng liêng đã được chọn
Bao cản ngăn, bao ảo tưởng tỏ bày,
Con mệt mỏi, đóng sách ấy lại ngay,
Vì tuổi con sức nào suy cho thấu...
***Con mở sách Thánh Kinh, lòng phấn đấu,
Tất cả đếu rực rỡ ánh linh thiêng,
Những chân trời vô tận mở cách riêng,
Hồn con thấy một điều này duy nhất:
***Là hoàn hảo trong tình yêu chân thật,
Đủ nhận ra sự hiện hữu của mình,
Là phải dâng trọn từ tuổi thiếu sinh
Để được sống trong tay Cha nhân ái.
.***Rồi để lại cho những tâm hồn vĩ đại
Những cuốn sách con chẳng đọc thông,
Và từ đây, con giữ mãi làm lòng:
’’Sống như trẻ nhỏ, sẽ được vào Nước Chúa’’ ...
***Con nhận biết, cầu nguyện; từ muôn thuở
Mãi  ứng linh, từ đáy của trái tim,
Cả buồn vui,sướng khổ, đủ mọi niềm
Đều xuất phát từ tình  yêu tận hiến...

                                       Thế Kiên Dominic