Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÃNH ƠN TOÀN XÁ TRONG NĂM THÁNH



Trong Năm thánh từ bi, người tín hữu dù là Tu sĩ hay Linh mục chúng ta đều muốn lãnh nhận ơn xá cho mình hay nhường cho các linh hồn. Vậy chúng ta phải làm gì để lãnh ơn toàn xá trong Năn thánh từ bi đây? 
Theo tông huấn GIÁO LÝ ÂN XÁ (Indulgentiarum Doctrina) do Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI ban hành ngày 1 tháng 1 năm 1967 thì:

1. Ân xá là sự tha thứ trước mặt Chúa các hình tạm phải chịu dù tội đã được tha cho những môn đệ Chúa Ky-tô, với điều kiện xác định qua sự can thiệp của Giáo Hội như thừa tác viên cứu rỗi, tha thứ với thẩm quyền và áp dụng kho tàng đền tội do Chúa Ky-tô và các thánh đã lập(x.Thành luật, n.1)
2. Sự tha thứ hình phạt tạm gọi bằng tên riêng là Ân xá. Đây là cách giảm bớt dấu vết tội, đồng thời tẩy sạch các dấu vết tội đó.Qua ân xá, Giáo Hội lợi dụng sức mạnh của Chúa Ky-tô, qua lời cầu nguyện và sự can thiệp của quyền bính, áp dụng cho người tín hữu như họ chuẩn bị, kho tàng đền bù mà Chúa Ky-tô và các thánh đã lập để tha các hình phạt tạm.
3. Mục đích khi quyền bính Giáo Hội ban ân xá, không những nhằm cho các tín hữu thoát khỏi hình phạt mà còn thúc đẩy họ làm việc đạo đức, đền tội và bác ái để gia tăng đức tin và mưu cầu công ích.
4. Khi người tín hữu lãnh ân xá cho người chết, họ vun trồng đức bác ái cách tuyệt diệu và khi họ hướng tâm trí về trời, họ cũng khôn ngoan hơn nơi trần thế. (Tông huấn Số 8)
5. Muốn hưởng Ân xá, người tín hữu phải có những điều kiện sau.
5.1. Xưng tội.
5.2. Rước lễ.
5.3. Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.
5.4. Viếng nhà thờ.

Để lãnh ơn Đại xá(còn gọi là toàn xá), phải làm việc có đại xá và giữ 3 điều kiện là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng. Điều đòi khác là phải dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù tội nhẹ (Thành luật, n.7).
Việc xưng tội: Một lần xưng tội để lãnh nhiều ơn đại xá. Có nghĩa là cho đến khi nào ta phạm tội trọng thì ta mới đi xưng, nếu còn rước lễ được thì không buộc phải xưng.
Việc rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng phải làm cùng và trong ngày ta lãnh ơn xá(x.Thành luật n.8). Nghĩa là ta phải đi tham dự thánh lễ và rước lễ trong ngày đó nhưng không nhất thiết là tham dự tại nhà thờ đó hoặc vào giờ đó.Ta có thể tham dự thánh lễ ở nhà thờ nào cũng được và đi viếng nhà thờ đã được chỉ định lúc nào trong ngày cũng được.
Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, coi như đầy đủ khi đọc một kinh Lạy Cha và một kinh kính mừng(x.Thành luật n.10).
Khi đi viếng nhà thờ đã được chỉ định để lãnh ân xá Tín hữu sẽ đọc một kinh Lạy Cha, một kinh tin kính(x.Thành luật,n.16) .
Mỗi ngày chỉ lãnh được một ơn đại xá hay toàn xá (x.Thành luật, n.6).
Tóm lại, để được lãnh ơn toàn xá, ta phải xưng tội(nếu cần), tham dự thánh lễ và rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng và đi viếng nhà thờ mỗi ngày hay mỗi khi có thể. Phải làm các việc này trong một ngày.Mỗi ngày làm thì mỗi ngày lãnh được một ơn toàn xá.Mỗi lần làm thì mỗi lần lãnh được một ơn toàn xá.
Nếu ta không tham dự thánh lễ và rước lễ thì dù ta có cầu nguyện và đi viếng nhà thờ thì ta cũng không được lãnh ơn toàn xá.Hay ta có tham dự thánh lễ mà không rước lễ thì ta cũng không được lãnh ân xá.
Đi viếng nhà thờ thì đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng và một kinh Tin kính, tùy ý đọc thêm kinh Năm thánh để cầu theo ý Đức Giáo Hoàng(x.Thành luật,n.10). Đọc kinh Năm thánh do Đức Giáo Hoàng làm ra thì không có gì thích hợp bằng.
Và nhất là ta phải làm những việc đó mục đích là để nên Thánh. Sống trong năm thánh ta phải nên thánh, điều mà ta đã cố gắng trong Năm thánh, trở thành một thói quen tốt cho suốt quãng đời còn lại của ta, mặc dù không lãnh nhận ân xá trong những năm khác, nhưng giúp cho ta nên thánh. Đó là điều quí nhất và là điều Giáo Hội mong muốn.Nên thánh thì ta sợ gì mà không lên thiên đàng.Chúa không hơn ân xá sao? Có Chúa là có mọi ân xá. Có Ân xá mà không có Chúa cũng như không. Nếu ta chỉ cố gắng trong năm thánh mà thôi, thì ân xá có nhiều mấy đi chăng nữa, cũng có ích gì cho ta. Ta đừng ỷ rằng ta có nhiều ơn toàn xá, mà không nên thánh, nên thiện, ta vẫn không được lên thiên đàng đâu. 
Vậy chúng ta hãy hiểu ý của Giáo Hội khi mở Năm thánh, để ta cố gắng sống thánh thiện và thu tích thêm nhiều ân xá cho mình cũng như dâng tặng cho các Linh hồn.

LM Bosco Dương Trung Tín, sưu tầm - Nguồn: Vietcatholic News


Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

PHÁP TRƯỜNG THAI NHI !!!

(KHÔNG AI CÓ QUYỀN BUỘC BÁC SĨ PHÁ THAI.)

Trước hết, xin giới thiệu với quý vị bản tin mà tôi nhận được từ Báo Công Giáo.

1- Bản tin từ Báo Công Giáo:

Một bác sĩ Công giáo Ba Lan bị buộc phải thực hiện phá thai

Bác sĩ Công giáo Bogdan Chazan, một bác sĩ sản khoa tại Warsawa, Ba Lan, đã bị buộc thi hành lệnh của Thủ tướng chấm dứt sự sống của một thai nhi được chẩn đoán bị dị tật não nghiêm trọng. Ông đã cương quyết từ chối vi phạm lương tâm của tín hữu Công Giáo. Hôm thứ ba, 10.6, Thủ tướng Ba Lan, Donald Tusk, tuyên bố: “Bất kể lương tâm của ông ấy nói gì, ông ấy phải thi hành pháp luật.”
Người mẹ của đứa trẻ đã đệ đơn khiếu nại về bác sĩ, nói rằng bà bị buộc phải mang thai một đứa trẻ khuyết tật.
Bác sĩ Chazan là một trong 3.000 bác sĩ đã ký tên vào bản “Tuyên xưng Đức Tin”, đòi hỏi công nhận quyền của bác sĩ được thi hành nhiệm vụ phù hợp với niềm tin tôn giáo của mình, liên quan đến các một số thực hành y tế, chẳng hạn như phá thai, ngừa thai, an tử.
Bản Tuyên xưng nói rằng các bác sĩ “nhìn nhận rằng luật Thiên Chúa đứng trên luật của con người” và thấy cần phải “chống lại các ý thức hệ áp đặt, phi nhân của nền văn minh hiện đại.”
Ở Ba Lan, phá thai là hợp pháp cho đến tuần thứ 25 của thai kỳ trong trường hợp sự sống của người mẹ gặp nguy hiểm, nếu thai nhi bị khuyết tật nghiêm trọng, hoặc nếu mang thai do bị hiếp dâm hay loạn luân.
Tiến sĩ Robert Walley, giám đốc điều hành của tổ chức MaterCare Quốc tế, một sáng kiến trợ giúp mẹ và con, do bác sĩ Chazan làm chủ tịch, nói rằng: “Thực tế đơn giản là đa số con người ngày nay đều xem phá thai là hành quyết một mạng sống vô tội. Việc chính phủ dùng lệnh để bắt buộc công dân không được thi hành nghĩa vụ đạo đức của họ là dấu hiệu của các nhà nước chuyên chế và nham hiểm nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng tôi rất buồn và phẫn nộ vì với biện pháp này chống lại bác Chazan , Ba Lan dường như muốn gia nhập hàng ngũ các nhà nước này.”
Ông nói tiếp: “Người có đức tin trở thành bác sĩ vì họ muốn giúp đỡ mọi người, muốn đem đến sự chữa lành và hy vọng, chứ không phải chết chóc và tuyệt vọng. Chúng ta tìm đến bác sĩ để nghe ý kiến và lời khuyên tốt nhất của họ. Nếu bảo rằng các bác sĩ không được có ý kiến, nếu bệnh nhân có quyền ra lệnh cho bác sĩ, thì bác sĩ để làm gì?
Làm hay không làm gì là một quyết định luân lý, và tố cáo người có niềm tin tôn giáo là thành kiến. Chúng ta cần đánh giá đạo đức của họ chứ không phải trừng phạt họ vì điều đó. Bác sĩ Bogdan Chazan, cũng như Gandhi, Martin Luther King Jr. Và rất nhiều người khác, coi ‘biện pháp’ này là giết người; bị pháp luật buộc phạm tội giết người: đó là điều chắc chắn mọi người chúng ta có quyền từ chối.”
(Theo Zenit)
Hình Bác Sĩ Chazan:


2- PHÁP TRƯỜNG THAI NHI !!!
Trước khi bày tỏ cảm tưởng của mình về việc ''GIẾT NGƯỜI TRONG BỤNG MẸ'' (qua bài thơ ''Pháp Trường Thai Nhi''), tôi xin kể câu chuyện về việc ''muốn phá thai'', nêu lên tấm lòng của những người ''mẹ bất đắc dĩ'' và lập trường của Giáo Hội Công Giáo về việc chống phá thai như sau:
Muốn phá thai:
Thiếu phụ nọ ẵm một đứa bé, bước vào phòng mạch bác sĩ và nói: ''Con tôi chưa đầy một tuổi! Vậy mà tôi đang mang bầu. Đẻ dày khổ lắm! Tôi không muốn … Xin bác sĩ làm ơn giải quyết giúp tôi cái nợ rắc rối này.''
Bác sĩ trả lời: ''Có cách tốt hơn để giúp bà như sau: Tôi giết đứa con bà đang ẵm! Giết đứa trong bụng bà hay đứa mà bà đang ẵm thì cũng là giết. Vả lại, giết đứa trong bụng thì còn nguy hiểm cho bà lắm!''
Nói xong, bác sĩ lấy con dao nhỏ, bảo thiếu phụ đặt đứa bé lên vế bà, hướng đầu nó về phía ông ta. Thiếu phụ liền nổi giận và la lên: ''Đồ tên khốn nạn, sát nhân!''
Như vậy, bác sĩ đã thành công vì đánh động được lương tâm của người mẹ đã nghĩ đến bản thân mình hơn là sinh mạng của thai nhi vô tội! (Xin vàoPhá thai là giết người trong ''youtube'' để thấy rõ hơn cái tội tày trời ấy.)

Tấm lòng người mẹ bất đắc dĩ:
Nhiều bà Ấn-độ mang thai mướn vẫn thấy xót xa khi ''phải trả con mang nặng, đẻ đau'' cho vợ chồng không có khả năng sinh sản mà phải ''mướn người đẻ thay!''

Lập trường của Giáo Hội Công Giáo về Sự Sống
Theo Thông Điệp ''Evangelium Vitae'' (Tin Mừng Sự Sống, năm 1995) của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, phá thai là vi phạm Đạo Đức Y Khoa vì đó tội sát nhân, hủy diệt Sự Sống! Thai nhi là người ''vô tội, vô phương tự vệ''!
Đức Thánh Cha và nhiều Quốc Gia đều lên án nạn diệt chủng, việc bài Do Thái … Nhưng nhiều chính khách, bác sĩ, nhà trí thức ... khác lại ủng hộ việc phá thai vốn là tội giết người. ''Quyền giết người'' hằng loạt như thế mà được khuyến khích, được bảo vệ, lại còn được đem ra làm đề tài hấp dẫn cử tri. Rất nhiều người Mỹ Công Giáo đã không bỏ phiếu cho ông Kerry vì ông ta ủng hộ việc phá thai. Đó là một trong những lý do khiến ông thất cử như Đức Tổng Ngô Quang Kiệt đã nhận định trong bài giảng mới đây tại Tu Viện Châu Sơn.
Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô phát biểu: ''Làm sao còn có thể bàn đến nhân phẩm khi mà mình lại giết những người yếu nhất và vô tội nhất? Nhân danh công lý nào mà mình kỳ thị đến độ bất công đối với những con người như thế bằng cách tuyên bố rằng một số người này thì đáng được bảo vệ, còn những người kia thì bị từ chối quyền sống?” (Evangelium Vitae, số 20)
Bác sĩ thường hỏi kỹ người mẹ muốn phá thai vài câu ... Ông ta và người mẹ ấy ''không hỏi được'' đứa bé trong bụng, nhưng vẫn thừa biết rằng ''cháu'' đang ung dung, tự tại nơi CUNG LÒNG của người cưu mang mình. Nếu mẹ của ông Philipp Rösler đã giết ''ông'' từ trong bụng của bà thì làm gì bây giờ nước Đức có Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Kinh Tế và Chủ Tịch Đảng FDP là người Việt da vàng, mũi tẹt! Có không ít người là con rơi, con ngoại hôn, con nuôi, con lượm mà vẫn lãnh đạo guồng máy của một Quốc Gia, làm tướng, nhà bác học hay tu sĩ! Trên thế gian này, thiếu gì những chính khách có ''lý lịch''' như thế!
Ở Đức, chỉ đưa tay chạm nhẹ người phạm lỗi gì đó thì liền bị người ấy mắng ngay: ''Không được đụng đến tôi!'' Còn Đức Giáo Hoàng đương kim lên tiếng chống phá thai, tức là ''đừng đụng đến nhân quyền của thai nhi'' thì nhiều chính khách ''bị ngài đụng'' bèn lên tiếng chỉ trích ngài!
Tôi đã đọc nhiều bài viết về ''nghĩa địa thai nhi'' ở Việt Nam, chẳng hạn:
- ''Nghĩa Trang Đồng Nhi ở Nha Trang'' do một nhóm người công giáo lập nên. Bài này có đoạn như sau: ''Theo một tài liệu của Bệnh Viện Đại Học Y Dược T.P HCM thì trong tám tháng đầu năm 2005, chỉ riêng bệnh viện này thôi đã giải quyết 6.055 ca. Có lẽ vì tình trạng nạo, phá thai ngày càng nhiều nên chuyện giải quyết các thai nhi một cách nhanh, gọn ở các trung tâm là: sau khi nạo, hút thai nhi, rồi bỏ vào bịch nilông, đem vứt bỏ vào đống rác.'' (Trích từ Trang Đất Việt – Phương Anh, phóng viên Đài RFA)
- ''Lặng người ở nghĩa trang hàng vạn thai nhi'' (ở Huế, có 42 ngàn thai nhi bị giết.)
- ''Những cuộc an táng rùng rợn lúc nửa đêm'', được đăng trên một số trang mạng, kể lại nghĩa cử của một giáo dân ở Nghĩa Thắng, Nghĩa Hưng, Nam Định, đã đi nhặt hay tình cờ vớt được thai nhi, có đoạn như vầy: ''Ông phục kích tại đây thì phát hiện một người đàn bà ném những túi đen xuống sông vào chiều tối. Người đàn bà này vốn là bác sĩ, đã về hưu, mở phòng sản tư, chuyên môn nạo hút thai. Mỗi ngày, bà gom hài nhi lại, rồi ném xuống sông Tiêu.''
Việc làm của bà bác sĩ không phải ''lương y như từ mẫu'' vừa nêu đã khiến tôi viết bài này, kèm bài thơ dưới đây. Tôi không được phép phê phán Ngành Y Khoa (Sản Khoa) nói chung, mà chỉ lên án những bác sĩ thất đức như bà kia. Tôi làm theo Lời Chúa dạy là THƯƠNG NGƯỜI, nhất là trẻ thơ vô tội mà Chúa Giêsu rất yêu mến như Ngài dạy: ''Ai muốn lên Nước Thiên Đàng thì hãy nên giống như trẻ con.''

Bài thơ:

PHÁP TRƯỜNG THAI NHI !!!

Mẹ nằm sóng soải trên giường
Để cho ''đao phủ học Trường Y ra''
Lôi con máu mủ, ruột rà
Bằng kềm bóp chặt thịt, da, đầu, mình!
Thai nhi là một sinh linh
Cớ sao mẹ để ''lý hình điêu ngoa''
Đầu toàn ''chữ nghĩa Y Khoa''
Giết con, mà chẳng khóc òa, xót thương?
Đồng tình kẹp thịt, kéo xương
Thai nhi là tội tỏ tường: ''SÁT NHÂN''!
Khẩu trang che mặt trân trân
Của người có học, bất cần Lương Tri
Nhưng còn để lộ tròng, mi
''Mắt-người-giết-chết-thai-nhi-mình-trần''!
Tử cung là chỗ nương thân
Là nơi bảo vệ ''Hồng Ân chào đời''!
Phá thai là TỘI TÀY TRỜI!
Dạ con đâu phải là ''nơi cầm tù''!
Thai nhi chưa biết hận thù
Sớm mang số phận ''phù du: tàn đời''!
Thai nhi không thét bằng lời
Nhưng hồn biết được ''họa thời, tai ương...''
Tủi thân tới số ''đoạn trường'':
Chưa sinh, đã bị coi thường, tẩy chay!
Ngày xưa ẵm mẹ trên tay
Ngoại ru cho mẹ ngủ say đêm trường…
Ngoại ơi...! Hai chữ ''Nhà Thương''
Trở thành ''Nhà Ghét, Pháp Trường Thai Nhi!''
Giết người được phép thực thi
Đánh mèo bị lộ, phải đi hầu Tòa!
Hỡi người ''Đao Phủ Y Khoa''
Giết bừa như vậy, ''nhân hòa'' ở đâu?
''Lương y: từ mẫu''* là câu
Mà người không chịu ghi sâu đáy lòng!!!

Đaminh Phan văn Phước


---------
Ghi chú:
Theo tác giả Đào Duy Anh, chữ ''Từ mẫu'' còn có nghĩa là mẹ của ''Từ Thứ''. Đó là người đàn bà đạo đức, can trường trong ''Tam Quốc Chí''. (Chữ ''Từ'' viết hoa.)

Đức Quốc, 26.5.2011

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

MỖI NGƯỜI LÀ MỘT ÁNH SAO CHO NHAU


SUY NIỆM 
LỄ CHÚA HIỂN LINH  -  03/01/2016 

                                                                        Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Người ta vẫn thường ví von mỗi người là một ánh sao. Mỗi một con người sẽ tương ứng với một ánh sao trên trời. Bài hát sinh hoạt thiếu nhi cũng ví von: con người là một ánh sao, có ánh sao xanh, có ánh sao hồng nhưng không có ngôi sao nào là ngôi sao đen. Bởi vì công dụng của sao là toả sáng, là soi dẫn, thế nên phải là ánh màu lung linh, không thể là ngôi sao đen chẳng có tác dụng gì với con người.
Hôm nay, ba vua cũng nhờ một ánh sao dẫn lối đưa đường đến triều bái Đấng cứu tinh nhân loại. Ánh sao đã dẫn họ đến hang Belem, nơi hài nhi, Con Vua Trời mới hạ sinh. Họ đã tin vào ánh sao để nhận ra thân phận vị cứu tinh nhân trần từ chính khung cảnh nghèo nàn của kiếp người. Họ đã tin vào ánh sao để có thể cúi mình thờ lạy một hài nhì yếu ớt con của một gia đình nghèo khó. Họ đã nhờ ánh sao để tìm thấy chân lý trong nghịch cảnh đời sống.
Vâng, Đấng cứu tinh mà họ mong gặp là một hài nhi được bọc trong khăn, đặt nằm trong máng cỏ. Đấng ấy đáng lẽ phải được toàn dân Giê-ru-sa-lem đón chào như vị cứu tinh duy nhất của họ, nhưng lạ lùng thay, họ không chỉ thờ ơ mà còn muốn loại trừ. Ngay cả những con người được coi là người quyền cao chức trọng vẫn không thể gặp được Ngài. Các luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Các kỳ lão chỉ lo về truyền thống. Hêrôđê thì tìm kiếm nhưng không phải để triều bái mà là để tìm cách huỷ diệt.
Chỉ có các mục đồng và các đạo sĩ đã tìm gặp được Đấng Cứu Thế. Họ là đại diện cho những con người thành tâm thiện chí đi tìm chân lý và khao khát an bình. Họ đã nhận ra thân phận hài nhi yếu đuối nằm trong máng cỏ lại là Vua Cả Trời Đất. Đấng phải đến trong thế gian để đem lại công lý và hoà bình cho trần gian.
Ánh sa từ trời cao hôm nay vẫn chiếu xuống nhân trần. Ánh sao hôm nay vẫn là ý Chúa mà con người phải thực hiện, vẫn là tiếng nói lương tâm mời gọi con người sống ngay lành, đừng làm điều dữ, đừng sống quanh co giả dối. Hãy từ bỏ lối sống đam mê lầm lạc của bóng tối tội lỗi để bước đi trong ánh sáng lề luật. Nhưng tiếc thay, nhiều người vẫn sống chai lỳ trong bóng tối tội lỗi. Biết bao bạn trẻ vẫn lao mình trong những đam mê lầm lạc của xì-ke ma tuý và thác loạn. Biết bao người vì danh lợi thú trần gian mà đánh mất lương tri con người. Biết bao người vì đam mê bất chính mà sống thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân. Biết bao người vẫn tìm kiếm thú vui trần thế mà bán rẻ nhân cách, nhân phẩm của chính mình.
Sứ điệp của ngày lễ hiển linh còn là tiếng mời gọi con người hãy là ánh sáng của nhau. Ánh sáng của con người ngay thẳng, không gian tham, xảo quyệt. Ánh sáng của bác ái yêu thương để đối xử khoan dung nhân ái với nhau. Thế giới hôm nay rất cần ánh sáng của niềm tin để xoá tan nghi kỵ, hiểu lầm. Ánh sáng của tình yêu để cảm thông nâng đỡ nhau. Ánh sáng của bao dung để xoá bỏ hận thù, chiến tranh. Ánh sáng ấy cần tỏ hiện trong từng gia đình. Nơi mà các thành viên cần phải là ánh sáng để dẫn dắt nhau. Nơi gia đình không thể thiếu ánh sáng niềm tin, tình yêu và tha thứ. Cần có ánh sáng của niềm tin để mọi người tin tưởng lẫn nhau. Không có niềm tin gia đình sẽ không có thuận hoà, chỉ có đố kỵ và ghen tương. Gia đình cần có ánh sáng tình yêu và tha thứ để mọi người biết cảm thông và nâng đỡ nhau, hầu giúp nhau sống đúng phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa.
Ước gì đời sống của người ky-tô hữu chúng ta luôn toả sáng những hành vi bác ái, yêu thương, những nghĩa cử nhân ái bao dung để nâng đỡ những ai đang cô đơn, thất vọng, đang sống trong cảnh lầm than tìm được niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống


Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

TRƯỚC ĐÂY , TẠI SAO GỌI LÀ LỄ BA VUA ?


 Bức họa sự chiêm bái của các nhà thông thái của Bartolomé Esteban Murillo, thế kỷ 17 tại Bảo tàng Nghệ thuật Toledo, Ohio, diễn tả cảnh ba vua đến thăm Chúa Hài đồng Giêsu

........
Ba ông là Vua của những nước nào vậy?

Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền tảng Kinh thánh, và đâu là truyền kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giuđê, thời vua Hêrôt trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn nói đến các nhà “chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định con số là bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm chí có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này dần dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V.

Con số 3 có ý nghĩa gì không?

Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa đo lường toán học, vừa theo nghĩa biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học. Thánh Matthêu (chương 2 câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng, nhũ hương, mộc dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có ba người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?), nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu tượng. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không chịu bỏ đạo mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà chiêm tinh của chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do thái, bất chấp những khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua Hêrôt ám sát.

Thánh Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại biến thành ba vua?

Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các nhà “chiêm tinh” không phải là các ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như các nhà thiên văn, và cách riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố vấn cho nhà vua về y khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các vua” bởi vì móc nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua chúa Ả-rập và Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn ngoan của ông. Nhưng các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến thờ lạy Chúa Giêsu.

Làm sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ nói đến những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông?

Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương Đông chắc chắn không phải là Trung Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên kia bờ sông Giorđanô, và các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập. Thánh Augustinô đã giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu mùa của muôn dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” (Sermo 200,1: PL 38,1028). Nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St 10,1). Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên biết là khi mới khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da đỏ nữa, nhưng tục lệ này không được phổ biến cho lắm.



Ba vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa phải không?

Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được đặt tên là Balthasar vua Ấn độ, Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy các tên này không có màu sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu truyền dân gian còn muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba Tư. Về sau khi thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã tấn phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô (Italia), và từ cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ chánh toà Colonia (Đức).

Như vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn thánh Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa?

Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói, thánh sử không nói đến các vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà chiêm tinh đi tìm thờ lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra cho triều đình Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật dâng tiến - vàng, hương, mộc dược - như là việc tuyên xưng ba phẩm tính của Người: vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con người hay chết. Tuy nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm chính mà thánh sử muốn nhắm tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu là vua Mêsia, đang khi mà dân Do thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm cách thủ tiêu Người nữa.

Nhưng vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu?

Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta biết rằng một thiên sứ đã hiện ra báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ và hài nhi Giêsu lánh nạn sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng sinh ra như đã tiên báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của mình tẩy chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt khác, ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là sự hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và ông lo ngại cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không phải là Vua theo nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua Mêsia.

Làm sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần?

Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng, chuyện một ngôi sao lạ như là điềm của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa lạ trong lịch sử các dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào lịch sử các tôn giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ đoạn văn sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp và vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà Israel”. Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao nhà Đavít, như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16. Trong lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của ngôi sao xuất hiện cho các nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao chổi, hay một ngôi sao nào khác thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn của các nhà chiêm tinh (nghĩa là hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không nói rõ điều đó, mà chỉ ghi nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn nhận Đức Giêsu là vị cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn chính các luật sĩ sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức Mêsia sẽ giáng sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình như bài học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang khi những người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng tìm chính đạo và tuân giữ.

nguồn: Đaminh VN

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

MẸ THIÊN CHÚA

       
                                          

               


MẸ THIÊN CHÚA
 (Lc 2, 16-21)
Ma-ri-a Mẹ Chúa Trời,
Hồng ân phúc lộc, tuyệt vời Thiên ban.
Con người thụ tạo bụi tan,
Phận hèn tớ nữ, tỏa lan sáng ngời.
Xin vâng, làm mẹ Con Trời,
Ngợi khen chúc phúc, ngàn đời quang vinh.
Mẹ sinh Con Chúa huyền linh,
Nằm trong máng cỏ, thân mình trẻ thơ.
Mục đồng chầu lạy kính thờ,
Loan tin khắp chốn, vọng chờ đêm thâu.
Con dân mong đợi bấy lâu,
Giê-su tên gọi, kính tâu Vua Trời.
Cung lòng Trinh Nữ cao vời,
Hạ sinh Con Chúa, làm người thế nhân.
Ma-ri-a Mẹ thần dân,
Xứng danh Mẹ Chúa, nhân trần kính tôn.


Ngày đầu năm Dương Lịch, ngày dành riêng để Trọng Kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Thiên Chúa đã yêu thương chọn gọi Đức Maria cộng tác vào công trình cứu độ. Maria đã đáp lời Xin Vâng. Qua hiệu qủa công trình cứu độ của Chúa Giêsu, Đức Maria đã được Thiên Chúa gìn giữ vẹn toàn và thánh thiện.
Đức Maria đã sống phó thác hoàn toàn trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Mỗi ngày, Maria sống trong ân sủng vì có Chúa ở cùng. Maria đã trải qua bao gian khó giữa trần đời. Đức Maria không khoe khoang ơn phúc lạ và không than van kêu trách số phận. Maria âm thầm đón nhận thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa với niềm tin tuyệt đối. Đức Maria xứng đáng với danh hiệu là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Giáo Hội và là Mẹ của chúng sinh.
Giáo Hội kính dâng Mẹ ngày đầu tiên của Năm mới. Chúng ta biết nhà có mẹ là nhà có mái ấm và có tình thương. Có mẹ chúng ta có tất cả. Giáo Hội Công Giáo có Mẹ. Giáo Hội mừng kính Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, đây là tín điều đã được tuyên tín. Qua lời xin vâng khi thiên thần truyền tin, Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của Con Chúa. Khi Mẹ đến viếng thăm chị họ Isave, bà đã lên tiếng ngợi khen: Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm.
Mẹ Maria đã sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta. Người Con có hai bản tính không thể tách rời: Bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người. Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu bao gồm trọn vẹn cả hai bản tính. Chúa Giêsu vừa là người, vừa là Chúa, nên Đức Mẹ là Mẹ của Con Chúa.
Ơn làm Mẹ hoàn toàn là hồng ân Thiên Chúa ban cho Mẹ. Không do công lênh của con người, mà do tình yêu của Chúa ban cho con người. Mẹ đã xin vâng theo thánh ý Chúa mọi lúc trong cuộc đời. Thái độ khiêm tốn nơi Mẹ đã trở nên nguồn ân sủng cho mọi người. Mẹ đã trải qua muôn vàn khó khăn từ khi nói lời Xin Vâng cho đến khi đứng dưới chân thập giá nhìn con mình đớn đau trút hơn thở cuối cùng. Mẹ giữ kín và suy niệm tất cả những gì xảy ra trong đời và vâng theo thánh ý Chúa.
Giáo Hội đã biệt kính Đức Mẹ qua các danh hiệu: Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời, Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Mỗi năm Giáo Hội dành riêng hai tháng, tháng 5 và tháng10, để dâng kính Đức Mẹ. Trong năm có 18 lễ kính Đức Mẹ, ngoài ra còn kính nhớ vào các thứ bảy đầu tháng và các việc sùng kính riêng. Giáo Hội đã tôn vinh danh Mẹ qua rất nhiều tước hiệu khác nhau.
Chúng ta có Kinh Cầu Đức Bà và tôn vinh Mẹ trên 70 danh hiệu khác nhau. Đức Mẹ hiện ra nhiều lần với con cái loài người, 39 lần hiện ra chính thức được Giáo Hội chuẩn nhận. Ngoài ra còn rất nhiều lần Đức Mẹ hiện ra riêng tư và ban phát muôn ơn lành qua việc chữa bệnh cả hồn lẫn xác.
Không có đau khổ nào của các bà mẹ trần thế có thể sánh ví được với những khổ đau của Mẹ. Mẹ đã chịu đựng tất cả và mẹ đã trở thành Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Chúng ta hãy chạy đến với Mẹ, Mẹ sẽ cầu bầu cho chúng ta.
Chúng ta cùng Mẹ dâng lời chúc tụng ngợi khen lòng Chúa bao dung. Chúng ta rất vui mừng vì chúng ta có Mẹ ở bên. Xin Mẹ dẫn dắt chúng con đến gần Chúa, để chúng con cùng chia xẻ niềm vui ơn Chúa Cứu Độ.

Lm Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York.


NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH


Ngày đầu năm mới và cũng là ngày Quốc Tế Hòa Bình, Giáo Hội hân hoan cử hành lễ Đức Maria rất thánh, Mẹ Thiên Chúa. Cả hai sự kiện này cùng diễn ra khi Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Hoàng Tử Bình An, là hòa bình đích thực của nhân loại.
Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con của Ngài sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria đã được nâng lên địa vị là Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội muốn đặt lễ hôm nay lên hàng đầu của năm tháng ngày giờ.

KÍNH XIN MẸ MARIA BAN BÌNH AN CHO MỌI NGƯỜI 
TRONG NĂM LÒNG THƯƠNG XÓT  2016 NÀY .

và xin dành ngày đầu năm mới 2016 cho NHỮNG NGƯỜI KHÓ NGHÈO qua KINH HÒA BÌNH , của Thánh Phanxico Khó Khăn  như một mong ước và lời khẩn cầu .
                                                                                                                     cht





KINH HÒA BÌNH



Lạy Chúa từ nhân
Xin cho con biết mến yêu
Và phụng sự Chúa trong mọi người
Lạy Chúa xin hãy dùng con
Như khí cụ bình an của Chúa 
Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hòa vào nơi tranh chấp
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm  
Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng 
Ðể con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm
Ðem niềm vui đến chốn u sầu

Lạy Chúa xin hãy dậy con
Tìm an ủi người hơn được người ủi an
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu 
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ 
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
Ơn an bình


Nhạc của Lm Kim Long
Trình bày : Lm Nguyễn Sang