Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

SÁM HỐI & LẬP CÔNG


Sám hối & lập công
(Suy niệm từ Ga 8. 1-11)
Hôm nay tuần cuối Mùa Chay,
           Lắng nghe tiếng Chúa: điều này phải thông:
        Tình thương Thiên Chúa chẳng cùng,
                      Hãy lo sám hối chớ đừng rầy mai.
                            Lại đừng xét đoán tội ai,
Xét mình trước đã, biết đời nhân sinh.
                            Sẻ chia chí nguyện của mình,
                     Làm lành, lánh dữ, sạch tinh xác hồn.
Bước vào Tuần Thánh xin ơn,
                    Theo đường Thánh Giá, đau buồn vượt qua.
                           Hồng ân đổ xuống như mưa,
                    Qua tuần Thương Khó tới mùa Phục Sinh.
                           Quyền năng nơi Dấng Cứu Tinh,
                     Lập công đền tội hiển vinh muôn đời…

                                                (Thế Kiên Dominic)

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

NHỚ VỀ QUÊ MẸ



Kính mời quý Vị nghe tâm tình của nhạc Sỹ Hoàng Giác về thời Quê Hương còn chinh chiến:


NHỚ VỀ QUÊ MẸ

Sông Rhein* cuồn cuộn, đục ngầu
Đôi bờ thanh vắng mượn cầu bắc ngang
Cây xanh xõa tóc, mơ màng
Công viên ghế đá mênh mang gợi sầu
Mây chiều lờ lững về đâu?
Dạo buồn thơ thẩn trên cầu, ngắm sông
Hai bên phố xá, người đông
Đôi bờ thanh vắng cho sông chạnh lòng
Nhìn con nước cuốn xuôi dòng
Đơn côi, buồn nhớ, thầm mong ngày về!
Quê người, ngày tháng lê thê
Gieo neo, cay đắng, ê chề, xót xa!
Tủi thân, kiếp sống xa nhà!
Tình đời như bãi tha ma lạnh lùng!
Nhớ Quê Mẹ xa nghìn trùng:
Ngồi quanh bếp lửa bập bùng thâu đêm
Sương rơi, lá rụng bên thềm
''À ơi, con ngủ...'', êm đềm mẹ ru
Làng quê tắm trong sương mù
Trâu cùng với bác nông phu ra đồng
Giàn bầu, bí, mướp trổ bông
Mẹ già chăm bón từng vồng rau xanh
Đồng quê gió mát, trăng thanh
Bình minh chim hót trên cành líu lo
Đông về, rét mướt co ro
Con đường lầy lội quanh co vào làng
Bao cô thôn nữ dịu dàng
Chân đi nhè nhẹ, nhịp nhàng, khoan thai
Xuân về, nở rộ cành mai
Phất phơ trong gió, áo dài thướt tha
Nữ sinh duyên dáng, ngọc ngà
Hai hàng phượng vỹ ngắm tà áo bay...
Thu về với gió heo may
Lùa qua khóm trúc, lung lay cành đào
Cánh đồng lúa chín rì rào
Non xanh, nước biếc, ca dao trữ tình
Lòng mẹ như biển Thái Bình
Dạt dào sóng vỗ như kinh ban chiều
Việt Nam Quê Mẹ mến yêu!
Bao ngày xa cách, bấy nhiêu là tình!

Phan văn Phước
(Cảm tác vào năm đầu tiên ở xứ người khi đứng nhìn sông Rhein gần nhà.)


* Sông Rhein tức là sông Rhin. Chữ ''ei'' của tiếng Đức phát âm là /ai/.



Mời nghe thêm : 




Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

THỨC TỈNH


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY  NĂM C - 13/3/2016  

Hôm nay Tin Mừng dẫn chúng ta tham dự vào một vụ xử án có thật xảy ra cách đây hơn 2000 năm. Vụ án “Người phụ nữ ngoại tình”. Một vụ án được xét xử thật kỳ lạ: vụ xử kết thúc mà không có một bản án. Chỉ một lời thẩm vấn của Đức Giêsu, các nguyên cáo bỏ đi hết chỉ còn lại bị cáo.
 
Vụ án không oan uổng đối với bị cáo với chứng cứ rõ ràng, tưởng chừng nắm chắc cái chết trong tay, nhưng bị cáo lại tìm được con đường sống.
 
Phải chăng mấu chốt của sự kỳ lạ ấy nằm ở con người vị thẩm phán tên Giêsu?
 
Từ sự kỳ lạ ấy giúp chúng ta khám phá ra sứ điệp của Tin Mừng hôm nay đó là: Đến với Thiên Chúa lương tâm ta được thức tỉnh, ta biết thật về con người mình, và ta được mời gọi sống đời sống mới.
 
Căn cứ trên trang Tin Mừng trước hết chúng ta thấy các nguyên cáo có vẻ hăm hở đắc thắng khi mang bị cáo đến trước Đức Giêsu, với những chứng cớ rõ ràng: “Thưa Thầy, người phụ nữ này bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Theo luật Môsê thì người đàn bà này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy xử thế nào?”. Thế nhưng sự việc đã không xảy ra như dự đoán và mong muốn của họ.
 
Sự thinh lặng của Đức Giêsu cùng với cử chỉ viết trên đất cho câu trả lời, đó như một sự nhắc nhở khéo léo nhẹ nhàng và tế nhị đối với những người kết tội. Một khoảng lặng để cho họ bình tĩnh nhìn lại mình. Một khoảng lặng để họ xét lại những việc họ đang làm. Thế nhưng họ như không hay biết điều đó hoặc cố tình lờ đi để rồi tiếp tục ép buộc Chúa lên tiếng.
 
“Ai sạch tội thì hãy ném đá người này trước đi”. Đức Giêsu trả lời. Một câu trả lời thay vì xét xử và kết tội phạm nhân thì lại là một câu thẩm vấn đánh sâu vào lương tâm các nguyên cáo để họ có thể nhận ra chân tướng của mình, con người thật của mình với đầy tội lỗi chẳng kém. Chính họ cũng đã đồng loã liên kết với nhau, dùng mưu mẹo để hại người, để loại trừ kẻ mà họ không ưa, một người đang có ảnh hưởng trong dân có vẻ như lấn át vị thế của họ. Lại một khoảng lặng nữa bắt đầu.
 
Và thái độ “bỏ đi hết, kẻ trước người sau bắt đầu từ những người lớn tuổi” cho thấy rõ lương tâm của các nguyên cáo đã được đánh động và thức tỉnh họ như đã dần dần nhận ra con người thật của mình.
 
Còn với bị cáo: Người phụ nữ ngoại tình? Tội đã rõ rành rành, chẳng cần chứng cớ, không chạy đâu được. Nếu như ta thử đặt câu hỏi: giả như chị ta không bị bắt quả tang phạm tội, thì hỏi rằng chị sẽ còn làm sự tội ấy nữa không? Điều đó sẽ cho chúng ta nghĩ rằng: có lẽ chị cho rằng chuyện tội lỗi chị làm trước đây khi chưa bị phát hiện, chẳng tội lỗi gì? Khi đến trước Đức Giêsu lương tâm của chị cũng đã được thức tỉnh bởi lời của Ngài: “Chị hãy về và đừng phạm tội nữa”. Đừng phạm tội nữa, một lời khẳng định cho chị thấy rõ chuyện chị làm là tội lỗi.
 
Vâng! Con người ngày hôm nay cũng đang có những cách sống và thái độ sống không khác gì các kinh sư và Pharisêu hoặc như người phụ nữ ngoại tình. Đó là thái độ dửng dưng trước tội. Làm sự tội mà không biết mình tội. Sống trong sự tội mà cho rằng mình không mắc tội. Lương tâm của họ xem ra như chai lì hoặc bị ngủ mê. Hầu như vô tư trước những tội lỗi của mình xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân.
 
Thật vậy có những người bỏ việc thờ phượng Thiên Chúa nhất là thánh lễ Chúa nhật với những lý do biện hộ rất đơn giản khi nại vào công việc hoặc đạo tại tâm, hoặc có tham dự cũng chỉ máy móc cho qua.
 
Có những người đang sống thiếu thành thật trong lời nói, thiếu ngay thẳng trong công việc làm ăn: gian lận thủ đoạn, lừa gạt… nhưng vẫn coi đó là bình thường chẳng tội lỗi gì.
 
Có những bạn trẻ hôm nay đang lao đầu vào những thú vui giải trí thiếu lành mạnh nhưng vẫn nghĩ rằng xã hội nhiều người làm được như thế, nên tôi làm cũng chẳng sao. Họ tự do yêu đương, tự do quan hệ, tự do luyến ái.
 
Có những người cho rằng rất bình thường chẳng có tội lỗi gì khi nói xấu, lên án người khác hoặc có thái độ cố chấp không cho rằng mình có lỗi khi gây ra những tổn thương cho tha nhân.
 
Ngay trong cuộc sống gia đình cũng vậy, chồng hoặc vợ xúc phạm đến nhau mà chẳng ai chịu nhận lỗi về mình.
 
Vâng, còn rất nhiều nếu đi vào từng chi tiết ngõ ngách của cuộc sống, chúng ta sẽ thấy chẳng thiếu những cung cách sống và thái độ sống thiếu ý thức về tội như vậy, đến nỗi Đức Thánh Cha trong Tông huấn “Sám hối và hoà giải” đã phải lên tiếng: “Con người ngày nay gần như mất cảm thức về tội, họ làm điều tội mà không biết là tội, họ sống trong tội mà không biết mình mắc tội”.
 
Trước mặt Thiên Chúa, không ai không là tội nhân. Chẳng ai có thể tự vỗ ngực nói rằng mình không có tội, như thánh Gioan nói: “Ai bảo mình không có tội là kẻ nói dối tự lừa dối mình”. Điều quan trọng tôi có ý thức mình là tội nhân không? Hãy có những khoảng lặng để gặp Chúa, để cho lời Ngài thức tỉnh chúng ta như Ngài đã thức tỉnh các kinh sư, người Pharisêu và người phụ nữ ngoại tình để chúng ta có thể nhận ra mình là tội nhân.
 
Thiên Chúa không chỉ thức tỉnh lương tâm chúng ta, nhưng Thiên Chúa còn mời gọi và đề nghị chúng ta sống một đời sống mới.
 
“Ta không kết tội chị, chị hãy về và đừng phạm tội nữa”. Một lời thức tỉnh, tha thứ nhưng cũng là một lời đề nghị.
 
“Hãy đi và đừng phạm tội nữa” cũng là lời đề nghị và mời gọi của Thiên Chúa đối với chúng ta hôm nay khi đã nhận ra lỗi lầm và sám hối rồi, chúng ta không chỉ dừng lại ở đó, nhưng phải tiến xa hơn, vượt lên trên bằng một sự thay đổi tận gốc rễ với một cuộc sống mới. Một lời xin lỗi xong chưa đủ, nhưng là đừng để cho điều lỗi xảy ra nữa. Đời sống mới là đời sống không còn như đời sống cũ trước đây đang sống tội nữa. Ví như trước đây tôi sống gian dối, nay tôi sống thành thật và ngay thẳng. Trước đây tôi hay vu khống kiện cáo, nay tôi sống khiêm tốn hoà nhã với tha nhân.
 

Mùa chay đã bước vào tuần thứ năm. Những ngày đại thánh mừng cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô sắp đến gần. Thiên Chúa đang rộng mở bàn tay đón chờ và mời gọi chúng ta đến với Ngài để lãnh nhận ân phúc. An phúc trước hết đó là chúng ta được Thiên Chúa đánh động và thức tỉnh lương tâm; ân phúc được ơn giao hoà với Thiên Chúa và được mời gọi sống đời sống mới qua việc tham dự các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và Giải tội. Chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn can đảm, lòng khiêm nhường để chúng ta mạnh dạn đến gặp Chúa.
 

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

MỪNG HỘI TRẠI HTDC BIÊN HÀ 2016


MỪNG HỘI  TRẠI HTDC BIÊN HÀ 2016
* * * * * * * * *
Vui thay hội trại xứ Biên Hà
Huynh Trưởng Cựu Hùng Dũng chúng ta
Hăng hái tham gia cùng  tuổi tác
Chuyên chăm đóng góp trẻ đến già
Công Cha (Antôn) tạo dựng còn vang bóng
Ơn Chúa thương ban mãi tiến đà
Ánh lửa lưu truyền  bao triển vọng
Tương lai bừng sáng khắp gần xa
* * * * * * * * *
Jos. Tinh Hoa (JHQ)
ĐXT-Saigon

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

NHỮNG KHOẢNH KHẮC LAY ĐỘNG LÒNG NGƯỜI NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI


Những bức ảnh ghi lại khoảnh khắc đầy ý nghĩa về các cung bậc cảm xúc khác nhau đã làm lay động trái tim của hàng triệu người trên thế giới.\
Nhiều người không khỏi đau lòng với hình ảnh nhà truyền giáo ở Uganda đang cầm bàn tay da bọc xương của một em bé sắp chết đói ở Châu Phi vào năm 1980. Bức ảnh là một lời nhắc nhở về sự chênh lệch giàu nghèo trên thế giới, đồng thời gửi gắm thông điệp hãy quý trọng những gì mình đang có. Ảnh: Mike Wells.



 Bức ảnh “Em bé Napalm” của phóng viên ảnh Nick Út đã gây chấn động thế giới khi lột tả được sự khốc liệt của chiến tranh chỉ bằng một khoảnh khắc. Nhân vật chính trong bức ảnh là cô bé 9 tuổi Kim Phúc bị bỏng nặng đang cố chạy trốn khỏi trận bom Napalm tại Trảng Bàng, Tây Ninh, ngày 8/6/1972. Ảnh: Nick Út. [Thêm: Kim Phúc sau này là công dân Canada, 



Hình ảnh này chụp lại bức tường của buồng hơi ngạt trong trại tập trung Auschwitz -“lò giết người hàng loạt” lớn nhất trong lịch sử do Đức quốc xã xây dựng. Theo tính toán của viện bảo tàng quốc gia Ba Lan, nơi đây đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.1 triệu người, trong đó chủ yếu là dân Do Thái. Những dấu móng tay cào cấu chằng chịt trên các bức tường là minh chứng cho sự tàn bạo khủng khiếp của thù hằn sắc tộc trong thế chiến thứ II.



Hình ảnh cậu bé Diego Frazão Torquato đang chơi vĩ cầm tại tang lễ của thầy giáo, người đã giúp cậu thoát khỏi cuộc sống băng đảng nhờ âm nhạc. Hình ảnh đẫm nước mắt này đã lan truyền rộng rãi trên toàn thế giới, đưa đến một góc nhìn mới về tình trạng đói nghèo và bạo lực tại Brazil, nơi Diego đã lớn lên.



Hình ảnh cậu bé mồ côi người Áo ôm chầm lấy đôi giầy do hội Chữ thập đỏ Mỹ tặng đã trở thành biểu tượng của sự hạnh phúc và thương cảm, bức ảnh này do phóng viên  Gerald Waller ghi lại năm 1946. Ông cũng rời đi ngay sau đó nên danh tính của chú bé trong ảnh vẫn là một bí mật đến tận ngày hôm nay. 



Bức ảnh với nhan đề “Bố ơi chờ con với” được chụp ngày 1/10/1940 ghi khoảnh khắc một cậu bé chạy theo bố – người đang chuẩn bị ra mặt trận trong Thế chiến II. Khoảnh khắc níu giữ đầy trong trẻo và xúc động này vẫn nổi tiếng đến tận ngày hôm nay. Ảnh: Claude P. Dettloff .



Nữ quân nhân Mỹ Terri Gurrola được đoàn tụ với con gái sau 7 tháng xa cách. Tuy chỉ do một người bình thường bấm máy, nhưng hình ảnh xúc động này đã lan truyền khắp nước Mỹ trong năm 2012.



Hai nhà báo Mỹ Euna Lee và Laura Ling được đoàn tụ với người thân ở California sau nhiều tháng bị giam giữ ở Triều Tiên. Ảnh : Robyn Beck.



Những tín đồ Cơ Đốc dang tay bảo vệ những người theo đạo Hồi trong buổi cầu nguyện ở Cairo, Ai Cập – nơi đang xảy ra một cuộc biểu tình lớn vào năm 2011. Ảnh: Reuters.



Suốt nhiều ngày liền, chú chó Leao nằm bên mộ chủ sau khi cô thiệt mạng trong vụ lở đất thảm khốc gần Rio de Janeiro, Brazil năm 2011. 


Hình ảnh bác sĩ người Ba Lan Zbigniew Religa cùng trợ lý mệt nhoài sau khi vừa kết thúc một ca phẫu thuật tim kéo dài 23 giờ đồng hồ vào năm 1987. Ảnh:James Stanfield



Bức ảnh ghi lại giây phút ngạc nhiên đầy ngỡ ngàng của cậu bé Harold Whittles bị khiếm thính lần đầu tiên nghe thấy âm thanh khi được đặt máy trợ thính vào tai. Ảnh: Jack Bradley



Điều kỳ diệu của“Bàn tay của hy vọng”: Trong 1 ca đẻ mổ, em bé đưa tay ra khỏi vết mổ khi vẫn đang nằm trong tử cung của mẹ và nắm lấy bàn tay của bác sĩ phẫu thuật. Điều này đã khiến bác sĩ phẫu thuật bất ngờ và anh không thể nói hay làm bất cứ điều gì trong khoảnh khắc kỳ diệu ấy. Ảnh: Michael Clancy



 Một người đàn ông đã mạo hiểm mạng sống để cứu những chú mèo con, đội chúng trên một chiếc rổ và băng mình qua dòng nước lũ trong một trận lụt lớn ở thành phố Cuttack, Ấn Độ vào năm 2011. Ảnh:  Biswaranjan Rout




Một cựu chiến binh lái xe tăng trong Thế chiến II xúc động khi được “gặp lại” chiếc xe tăng cũ mà ông từng gắn bó suốt thời gian dài. Chiếc xe đang nằm trong một đài tưởng niệm tại thị trấn nhỏ ở Nga.




Hình ảnh cầu thủ da đen Pele và đội trưởng đội tuyển Anh – Bobby Moore thân thiết với nhau sau trận đấu ở World Cup 1970 đã góp phần đẩy lùi tư tưởng phân biệt chủng tộc trên thế giới.



Thiếu nữ 17 tuổi, Jan Rose Kasmir đang cài một bông hoa lên họng súng của cảnh sát chống bạo động trong một cuộc biểu tình bên ngoài Lầu Năm Góc, nhằm yêu cầu chính phủ dừng cuộc chiến tại Việt Nam. Đây được coi là một trong những bức ảnh phản chiến ấn tượng nhất trong thế kỷ 20. Hình ảnh này do phóng viên Marc Riboud chụp ngày 21/10/1967.




Thi thể của một đứa bé được tìm thấy trong đống đổ nát sau vụ rò rỉ khí gas ở Bhopal, Ấn Độ. Ảnh : Raghu Rai



Một cô gái trong phòng cách ly khỏi phóng xạ đang nhìn chú chó của mình qua cửa kính. Bức ảnh được chụp tại Nihonmatsu, Nhật Bản vào ngày 14/3/2011. Ảnh: Yuriko Nakao



Một người đàn ông Pháp khóc trong tuyệt vọng khi nghe tin phát xít Đức đã chiếm đóng thủ đô Paris trong Thế chiến II. Ảnh: Lưu trữ quốc gia số 208-PP-10A-3



Bé gái 4 tháng tuổi được cứu sống một cách kỳ diệu khỏi đống đổ nát sau khi mất tích 4 ngày trong trận sóng thần Nhật Bản năm 2011. Ảnh:Yomiuri Shimbun



Một cụ ông ở Hàn Quốc bật khóc khi chia tay người em trai mình ở Triều Tiên. Hai người đã có cuộc đoàn tụ quý giá vào năm 2010. Khi đó, 423 người Hàn Quốc đã được phép ở lại Triều Tiên trong 3 ngày để đoàn tụ với người thân sau khi bị chia cách bởi chiến tranh năm 1950-1953. Ảnh: Kim Ho-Young



Những tù nhân người Do Thái khi được giải phóng khỏi trại tập trung “Con Tàu Tử Thần” gần sông Elbe, Đức năm 1945.



Một tu sĩ cầu nguyện cho một người đàn ông lớn tuổi chết đột ngột trong khi đang chờ đợi chuyến tàu ở Sơn Tây, Thái Nguyên, Trung Quốcvào cuối năm 2011. Ảnh: Asianewsphoto



Chú chó Zanjeer đã trở thành anh hùng khi đã cứu mạng hàng ngàn người trong vụ đánh bom liên tiếp ở Mumbai vào tháng 3 năm 1993, bằng cách phát hiện hơn 3kg thuốc nổ, 600 kíp nổ, 249 quả lựu đạn và 6406 viên đạn. Khi Zanjeer qua đời, tang lễ của chú chó diễn ra trang trọng với sự chứng kiến của nhiều quan chức cảnh sát cấp cao. Ảnh: STR News
 

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

LỜI CẢNH BÁO CỦA VỊ THIỀN SƯ


Một vị thiền sư trước khi lâm chung đã bày tỏ sự sám hối về những việc đã từng làm trong suốt cuộc đời của mình, cũng là lời cảnh báo cho tất cả những người đã và sẽ bước đi trên con đường tu luyện.

Vị thiền sư ấy là một người bạn thâm giao nhiều năm của tôi, mắc phải bệnh nan y, trong thiền định mà đối mặt với cái chết, cũng như tham ngộ về cái chết.
Vốn là bạn tốt của nhau, trước lúc ông qua đời, tôi thường xuyên đến thăm và lắng nghe những lời chỉ bảo từ ông ấy. Mỗi lần tôi đến, thấy ông luôn ngồi ngay ngắn, trên gương mặt tiều tụy luôn mỉm cười.
Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, ông nói: “Cả một đời của tôi đắm chìm trong hư danh. Tuy nhìn bề ngoài rất có tiếng tăm, cũng xuất bản sách, cũng có người theo tôi học Phật, nhưng tôi biết rõ, bản thân mình vốn không thật sự giác ngộ, cũng không thấy được chân ngã của mình, bây giờ nghĩ lại mới thấy tưởng thông minh lại bị thông minh hại”.
Tôi nói: “Các đấng tôn sư xưa nay, chẳng phải cũng có những người đã đắc Đạo trước lúc lâm chung hay sao?”
Ông nói: “Đó là người đại căn khí, buông bỏ vạn duyên, tâm hồn thanh tịnh, không giống loại tiểu căn khí như tôi. Cả đời này của tôi, chính vì rất thông minh, rất có tài, rất có tình, vì vậy mà có quá nhiều thứ không thể buông bỏ được.”
Tôi lại hỏi: “Thế ông gần đây tu luyện thế nào vậy? Mỗi lần tôi tới, đều thấy ông đang ngồi thiền, tôi cũng không đành lòng quấy rầy ông, chỉ đứng ở bên ngoài niệm Phật, cầu nguyện cho ông!”
Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói: “Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.
Tôi nói: “Thế chẳng phải là ông đã tu được rất cao rồi sao, ông đã biết được khi nào sẽ chết, đầu thai nơi nào, vậy mà còn chưa khai ngộ sao?”
Thiền sư có chút hổ thẹn nói: “Đấy chỉ là chút bản sự cỏn con, không con chút quan hệ gì với khai ngộ cả, càng không có quan hệ với việc tìm được chân ngã của mình. Từ khi 3 tuổi, tôi đã có thể nhớ lại nhân duyên đầu thai của mình. Đời này của tôi từ sớm đã biết rõ bản thân ‘sống đến từ đâu’, một đời tu hành chỉ là muốn biết được ‘chết đi về đâu’.
Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”.
Tôi hỏi: “Vậy sao gần đây ông tinh tấn tu hành vậy?”
Thiền sư nói: “Một lòng sám hối những nghiệp chướng đó, tịnh hóa từ trong tâm. Tôi là một người sắp chết, mong sao trước khi chết, thanh lọc nội tâm mình, mấy tháng nay tôi không ngừng sám hối.
Tôi sám hối cho những nghiệp chướng tôi đã tạo ra, sám hối cho những việc làm sai trái mà tôi đã phạm phải. Sám hối bản thân mình đã không tận hiếu thật sự, sám hối bản thân mình đã làm tổn thương người thân bạn bè, sám hối bản thân đã từng nói rất nhiều lời ngông cuồng, sám hối bản thân đã từng miệng nói một đằng, tâm nghĩ một nẻo, sám hối vì tôi đã làm tổn thương về tâm hồn đối với những cô gái đã từng yêu tôi, sám hối những lời dối trá đối với đồng tu…”.
Thiền sư đã nói nhiều sự tình cần phải sám hối như vậy, lúc nói ông còn chảy nước mắt. Ông nói với tôi: “Một người, trước khi lâm chung mà thành tâm sám hối, chính là buông bỏ gánh nặng, nhẹ nhàng mà lên đường”.
Nói đến câu này, ông nở nụ cười. Ai cũng biết “lên đường” là có ý gì.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Ông muốn tôi tìm một cái thau bằng sắt thật lớn rồi mang những bản thảo trong suốt một đời của ông, cao chừng 1 mét, đốt trước mặt ông.
Giúp ông đốt bỏ ư? Tôi không đành lòng, nói: “Đây vốn là tâm huyết cả đời của ông, có bao nhiêu nhà xuất bản muốn mua bản thảo của ông, cớ sao lại muốn đốt bỏ chứ? Không phải rất tốt sao?” Tôi quả thực không muốn đốt.
Ông nói: “Ông không đốt, vậy thì tôi tự mình đốt. Những thứ này không có giá trị gì hết, không đốt bỏ đi thì dùng để làm gì? Tôi không đắc Đạo, những lời giải thích loạn bậy Phật Pháp kia, suy cho cùng đều chỉ là ma chướng, bản thân tôi vốn biết rất rõ.
Đốt bỏ những bản thảo này để tránh dẫn thế hệ sau lầm đường lạc lối, cũng là để tránh tăng thêm tội lỗi của tôi. Bản thân không có tìm được chân ngã của mình, thì hết thảy những gì mình nói ra thảy đều là “chồn cáo hoang”, ông muốn tôi bị sa vào địa ngục sao?”
Ông trầm tĩnh nói: “Tôi cả đời thuyết Pháp giảng Kinh, biện luận thị phi, bởi vì không đắc Đạo, không thấy được chân tướng, nói những lời lộng ngôn cùng những luận giải bất chính, giờ đây, báo ứng tại thân, mắc bệnh tại khoang miệng, thực quản, dạ dày”.
Mặt của ông càng ngày càng gầy gò, bởi vì ngồi thiền nên tinh thần vẫn còn đỡ một chút. Tôi cùng với ông đốt từng quyển từng quyển sách một, gồm cả nhật ký của ông, khá nhiều được dùng bút lông ghi, chữ viết vô cùng ngay ngắn.
Nhìn dáng vẻ điềm tĩnh và thoát tục của ông tôi rất cảm động, cũng muốn trước khi tôi chết, sẽ giống như ông, đốt hết tất cả nhật ký, bản thảo của mình không lưu giữ những thứ tạp nham, hoàn toàn sạch sẽ, không một chút lo lắng mà rời đi. Tâm tư của tôi vừa động, ông cười, nói: “Đừng học theo tôi, học tôi không có tiền đồ gì cả”.
Nhiều lần tôi đến, thiền sư đều nói là đang sám hối nghiệp chướng, sám hối tội lỗi trong quá khứ, ông nói với tôi:“Khẩu nghiệp là điều khó sám hối nhất, trong một đời này, tôi giảng Kinh thuyết Pháp, miệng nói ra những lời xằng bậy, nói những điều không phải về người khác, khẩu nghiệp chất cao như núi”.
Ông thở dài: “Cho dù khẩu nghiệp sâu nặng, tôi vẫn là muốn sám hối cho hết để cái chết được thanh thản. Xem ra, tôi còn phải chết muộn hơn một tháng so với dự tính trước đó, một tháng này chuyên dùng vào việc sám hối khẩu nghiệp. Những người tu Đạo học Phật chỉ nói thôi cũng là tạo nghiệp, huống chi tôi tạo khẩu nghiệp, nói lời không phải, tranh giành đúng sai, nói chuyện không chính đáng, không biết một tháng này có đủ để sám hối không. Chờ tôi sám hối xong rồi, chính là ngày mà tôi sẽ rời đi”.
Ông vừa là người bạn, vừa là người thầy trong nhiều năm của tôi nên tôi rất buồn, hỏi ông:“Ông phải đi rồi, ông có lời khuyên hay cảnh báo sau cùng gì dành cho tôi không?”
Thiền sư nói: “Tôi biết con đường tương lai của ông, nhưng không thể nói ra được, nếu như nói ra thì chính là hại ông vậy. Con đường tương lai ở trong lòng của ông, nếu như vào mỗi buổi tối ông có thể tĩnh tọa nhìn vào trong tâm mình thì cũng sẽ biết được thôi.
Kinh nghiệm trong một đời này của tôi, có thể nói cho ông hay, chính là : Nếu như bản thân không có đắc Đạo, không có khai ngộ, không có thấy được chân ngã của mình thì quyết không được làm thầy người ta. Làm thầy người ta thì sẽ hại người ta, dẫn người ta đi sai lệch thì cũng chính là làm hại sinh mệnh người đó, quả báo thật nặng nề, báo ứng của tôi chính ở trước mắt ông đây, vì vậy, quyết không được làm thầy người ta.
Thứ hai, nếu như ông đã khai ngộ, tìm lại được chân ngã của mình rồi, thì vẫn cần phải giữ vững chuyện tu hành. Sau khi tu được cao rồi thì mới bước ra hồng dương Phật Pháp, dẫu cho ông đã có đệ tử, thì cũng hãy nhớ đừng nên tiếp nhận cúng dường, quyết không được ngược đãi đệ tử, những chuyện trong chốn này tôi đã thấy nhiều rồi, rất nhiều người làm thầy sai khiến đệ tử giống như là đầy tớ vậy, tội ấy rất nặng.
Thứ ba, chớ coi thường bất kỳ người nào không hiểu Phật Pháp, dẫu cho hiểu biết của họ còn non nớt, sai lệch đi nữa thì cũng đều không thể cười nhạo người ta. Tôi trong suốt một đời này đã cười nhạo rất nhiều người có kiến giải sai lệch, kết quả bản thân đã gặp phải báo ứng. Mỗi một người chưa khai ngộ đều có thể là một vị Phật trong tương lai, một khi đã khai ngộ thì chính là Giác giả, ông há có thể cười nhạo Giác giả được? Đạo lý này tôi hiểu, nhưng cái thói xấu xa, bản tính kiêu ngạo dẫn dắt đã rước lấy không ít nghiệp chướng cho mình, hết thảy những gì sám hối trong một tháng gần đây chính là sám hối tội lỗi với những người mà tôi đã từng xem thường trước đây.
Thứ tư, sau này nếu như ông có gặp người khác, cho dù là các đấng tôn sư ngoại đạo đi nữa thì cũng không nên so sánh rằng ai cao ai thấp. Tại cõi người này có vô số Bồ Tát hóa thân dạy bảo người ta, ngoại đạo lẽ nào không có được Bồ Tát giáo hóa chăng? Không nên mang theo cái tâm phân biệt và thành kiến. Ông hãy một lòng lắng nghe, nhìn vào bên trong mình, trí huệ bên trong sẽ tự sinh ra, sinh mãi không ngừng. Bản thân tôi trước đây rất thích tranh luận, rất thích tranh đấu với người ta, lấy ngòi bút làm vũ khí, kết quả bản thân mắc phải ung thư vòm họng, ung thư thực quản, tội nghiệp quả thật là sâu nặng thay”.
Miệng ông đang nói, còn nước mắt thì không ngừng rơi, đó chính là những giọt nước mắt ân hận, giọt nước mắt thức tỉnh, cũng là những giọt nước mắt khuyên răn. Ông nhìn tôi: “Đã nhớ chưa?”. Tôi nói: “Nhớ rồi”.
Trong mười năm nay tôi cũng có một chút hư danh, đôi lúc cũng có một số người tìm đến bái tôi làm thầy, tôi nhớ kỹ lời dạy của thiền sư, trước giờ chưa từng nhận qua đồ đệ. Có người quỳ xuống dập đầu bái lạy tôi, tôi cũng vội vàng quỳ xuống dập đầu bái lạy lại. Đây đều là những lời dạy bảo của thiền sư ấy.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Một tháng sau, ông nói: “Tôi phải đi rồi, vẫn là chuyển sinh ở vùng Tây Bắc, vùng đó tuy nghèo, nhưng con người thật thà chất phát, gốc rễ của tâm linh Phật, Đạo rất sâu, không giống như người Giang Nam, dùng Phật, Đạo để kiếm tiền, cũng không giống như những người Đông Bắc, thực chất bên trong vốn không hề tôn kính Phật. Tôi chuyển sinh vào vùng Tây Bắc, nếu như hai anh em chúng ta có duyên, ba mươi năm sau, còn có thể gặp lại, khi ấy ông là anh cả, tôi là em trai, ông cần phải giúp tôi đấy nhé!”
Chúng tôi đều cười. Tôi nói: “Khi tôi học thiền với ông không có thăng tiến, ông đã từng đá tôi, lúc đó cũng là lúc tôi phải đá lại ông rồi”.
Ông ấy nói: “Nếu được thì hãy cứ đá mạnh một chút, mong sao dưới một cú đá này, tôi sẽ khai ngộ ngay lúc đó”.
Ông thật sự đã ra đi vào đúng cái ngày ông nhận định, nhục thể được hỏa táng. Tôi lấy một chút tro cốt của ông mang theo lúc chuyển nhà. Có một năm, tôi phát hiện cái cây mọc ngoài cửa sổ lại chính là cây hải đường, cây thu hải đường, lúc này mới đột nhiên nhớ lại bài thơ trước lúc lâm chúng của ông: “Hải đường phong quá thiền hồn hương, mênh mông thanh thiên thị cố hương. Trở lại cầu Đạo, Đạo còn đâu? An khang phúc thọ chẳng mong cầu.”
Tôi bỗng nhiên ngộ ra, liền đem số tro cốt của ông rải xuống dưới cây hải đường bên ngoài cửa sổ. Trước đây chỗ đó vốn có cây thông, trồng được hai năm, do công việc của tiểu khu nên đã dời chuyển cây thông đi chỗ khác, trồng cây hải đường vào đó.
Được khoảng 5 năm, vào mùa hè, hải đường rậm lá, có vô số ve sầu ca hát dưới tán lá. Vào cuối thu, hoa hải đường đỏ chói, tiếng ve kêu dừng hẳn, ban đêm lại yên ắng đến lạ thường, yên ắng đến nỗi khiến người ta cảm thấy không quen với những đêm không có tiếng ve sầu, “tiếng ve ồn ào rừng muốn tĩnh, chim kêu đồi núi càng âm u”.
Người ta thường coi “phúc, thọ, an, khang, chết già” là năm cái phúc của đời người, vị thiền sư đó không cầu năm điều phúc ấy của nhân gian, mà chỉ cầu đại Đạo.
Ông ấy hiển lộ ra điều thần kì khi đoán trước nơi ở sau này của tôi, tro cốt của ông ấy sẽ thấm vào các nhánh cây hải đường. Ông nói những thứ này đều là vô thường cả, còn cách đại Đạo, cách chân ngã của sinh mệnh rất xa. Ngay đến cả tu hành như ông ấy vẫn còn chưa có thoát khỏi sinh tử, chưa có khai ngộ, chưa có tìm được chân ngã của sinh mệnh bản thân mình.
Khi viết bài này, thiền sư ấy đã viên tịch hơn mười năm rồi, nghĩ về chuyện tu hành của bản thân thì thật không khỏi cảm thấy xấu hổ. Vị thiền sư đó là ai vậy? Tôi không muốn nói ra tên của ông ấy, ông ấy đã đốt bỏ toàn bộ bản thảo của mình thì cũng tức là không muốn ai nhớ đến ông ấy nữa. Tôi tin tưởng rằng sẽ có một ngày, tôi sẽ gặp lại ông ấy giữa biển người mênh mông.
Hoàng Sâm, dịch từ Kannewyork

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

GHANH GHÉT, ĐỐ KỴ - NỖI KHỔ CỦA LOÀI NGƯỜI


Tính đố kỵ, ganh ghét từ xa xưa đã có. Trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” Chu Du vì ghen tức Gia Cát Lượng tài trí hơn mình đã bao lần đan tâm hãm hại mà không được, cuối cùng vì uất hận hộc máu mồm mà chết. Đó chính là một điển hình về lòng ganh ghét, đố kỵ.
Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp, tâm lý ganh ghét, đố kỵ càng trở nên phổ biến.Ganh ghét, đố kỵ là gì? Do đâu mà có? Khắc phục nó như thế nào? Mời các các bạn cùng tôi luận giải xem.
Người ta hay so sánh mình với những người cùng điều kiện như mình, chẳng hạn như: Bạn cùng lớp, đồng nghiệp cùng cơ quan, hàng xóm láng giềng, thâm chí anh, chị, em ruột thịt trong nhà… đối với những người càng ở gần, càng nhiều quan hệ càng dễ nảy sinh ra lòng ganh tỵ. Nếu phát hiện ra những người quen biết xung quanh mình có một vài mặt nào đó hơn mình thì thường cảm thấy trong lòng mình kém vui, sốt ruột, lo lắng, buồn bã, xấu hổ, lặng thinh, ngờ vực… rồi thì bực bội, căm ghét, thấy mình bị xúc phạm, muốn trả thù… Tất cả các tâm trạng đó tổng hợp lại thành một trạng thái tâm lý phức tạp, khó lý giải. Đó chính là tính ganh ghét, đố kỵ. 
Ganh ghét và đố kỵ hầu như thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và mọi mặt trong cuộc sống. Dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, đia vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại “chôn kín” ở trong lòng. Nhưng dù bất cứ hình thức nào, lòng ganh ghét, đố kỵ đều ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống và công việc.
Trước hết sự ganh ghét, đố kỵ phá hoại mối quan hệ giữa người với người, hòa khí vốn có trước đây bổng chốc vì ganh tỵ mà rạn nứt, đổ vỡ, sức mạnh đoàn kết và sự hợp tác của tập thể bị tổn thương. Thứ nữa lòng ganh ghét, đố kỵ còn cản trở con người phát triển tài năng. Trong một tập thể chỉ cần phảng phất chút lòng ganh ghét, đố kỵ là nội bộ lủng củng, mất đoàn kết, mọi người không sao sống thân thiện, thoải mái, chân tình với nhau được thì nhân tài sẽ không có môi trường thuận lợi để phát huy tác dụng.
Ngoài ra lòng ganh tỵ, có ảnh hưởng rất to lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của con người. Người có tính ganh ghét, đố kỵ bao giờ cũng căng thẳng về tinh thần và tổn hại về sức khỏe. Họ luôn bị một chứng bệnh khổ sở “stress” hành hạ.
Ở cơ quan tôi có hai anh Trưởng phòng, một làm Hành chính, môt làm Nghiệp vụ. Trong công việc cũng như ngoài đời họ là cặp đôi lý tưởng, tình bạn, tình đồng nghiệp của họ những tưởng luôn bền chặt theo năm tháng. Thân thiện, chín chắn, thẳng thắn và đầy trách nhiệm, đó là những gì tốt đẹp mà cấp dưới dành cho họ. Thế rồi, vì khuyết một vị trí Phó giám đốc, một trong hai người đã được Ban giám đốc đề bạt. Chỉ vừa mới nộp hồ sơ để làm thủ tục, qui trình, trong buổi họp ở cơ quan, anh Trưởng phòng Nghiệp vụ có đôi lời trao đổi, anh Trưởng phòng Hành chính đã hét lên: “Mày chưa là Sếp tao đâu mà ra lệnh!” nói hết câu đã bỏ ra ngoài cuộc họp, để lại bao lời xì xào, bàn tán...
Thế rồi từ đó tình bạn rạn nứt, mấy lần anh Trưởng phòng Nghiêp vụ chủ động qua phòng anh Trưởng phòng Hành chính làm lành đều bị anh ta từ chối, bỏ ra ngoài không tiếp. Ngày anh Trưởng phòng Nghiệp vụ nhận quyết định bổ nhiệm phó giám đốc, thì cũng chính là ngày anh Trưởng phòng Hành chính nộp đơn xin từ chức. Cũng từ đó, có dịp là anh ta công kích bất luận là đúng sai, phải quấy, miễn sao trút được cơn oán giận vô cớ trong lòng mình mới thỏa mãn. Người ngoài cuộc thì lấy đó làm trò đùa để tán gẫu, người trong cuộc lại tự nhủ đó là kẻ gác cổng giúp mình biết dừng lại trước “Ba-ri-e”.Ngẫm nghĩ thật tội nghiệp! 
Hơn 2500 năm trước, trong 14 điều răn, Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy chúng sinh: “Khổ tâm lớn nhất của đời người là sự ganh ghét, đố kỵ. Sai lầm lớn nhất của đời người là tự đánh mất chính mình”.
Nhà văn Pháp De Balzac cũng đã từng nói: “Người có tính ganh tỵ khổ sở hơn bất cứ một người bất hạnh nào. Bởi vì hạnh phúc của người khác càng lớn bao nhiêu thì nỗi bất hạnh trong anh ta sẽ nhân lên bấy nhiêu lần”.
Chân tướng của sự ganh ghét và đố kỵ ta đã biết rõ, thế muốn xóa bỏ ganh ghét, đố kỵ ta phải làm gì? Xin có mấy ý kiến sau đây:
1/ Phải nhận biết cái mà người ta có, không phải tự dưng nó đến mà phần lớn là công sức lao động, học tập kết hợp với tài năng, trí tuệ hình thành. Phải biết chấp nhận trong cuộc sống một chút tài năng và may mắn sẽ đem lại sự thành đạt cho con người.Nếu họ như ta mà họ hơn ta, tức là họ có may mắn hơn ta. Còn tại sao may mắn lại cứ đến với họ mà không đến với ta thì nên xem lại các điều kiện ngoại cảnh, các mối quan hệ, bản lãnh sống của ta. Nếu có tin vào số mệnh thì hãy tự làm chủ số mệnh của mình:“việc gì đến nó sẽ đến”.
2/ Trước sự thành công của “Đối thủ” hãy bình tĩnh, tự tin và lạc quan. Hãy nhìn sự vật một cách biện chứng trong mối quan hệ vận động và phát triển. Không nản lòng, không nhụt chí trước những điều chưa đạt được, luôn tin tưởng ở bản thân, ở tương lai chính mình, thất bại chỉ là tạm thời, đời người không ai tránh khỏi thất bại. Hãy dùng phép thắng lợi tinh thần: “thất bại là mẹ thành công” chỉ cần ta có dũng khí, đứng thẳng trên đôi chân mình thế nào cũng đi đến đích. Hồn thanh thản khi ta vào cuộc chiến đấu mới.
3/ Học cái hay cái tốt của “đối phương”để bổ sung và hoàn thiện mình. Phát huy sở trường hạn chế sở đoản tìm kiếm những giá trị mới để bù đắp. Chẳng hạn, ban gái ghen tỵ với một người nào đó xinh đẹp hơn mình, cho dù bạn có đi giải phẫu thẩm mỹ, hoặc trang điểm, hoặc dùng hàng hiệu cỡ nào mọi người cũng không khen là bạn đẹp hơn. Sắc đẹp là trời phú, vậy thì làm sao? Tôi khuyên bạn hãy chú tâm vào những việc làm khác, chẳng hạn bạn siêng năng tập thể dục, chơi thể thao để có sức khỏe dồi dào, ít đau ốm. Mọi người nhìn bạn lúc nào cũng căng phồng đầy sức sống, sắc diện hồng hào, thân hình cân đối, dáng đi thanh nhã, gọn gàng… thêm nữa bạn hãy tập ăn nói lưu loát, nhẹ nhàng, thuyết phục… như thế chẳng phải “bằng chúng, bằng bạn”. Nhờ vào những giá trị mới này mà bạn vượt qua “đối thủ”.
4/ Cuối cùng, nếu không thể xóa bỏ được tâm lý ganh tỵ vì nó đã ăn quá sâu vào tâm trí ta, thì hãy làm cho nó có ý nghĩa tích cực hơn lên. Hãy cạnh tranh một cách lành mạnh, chính đáng. Bạn có thể so bì, ấm ức thì tại sao không biến những cái đó thành nghị lực để phấn đấu vươn lên. Hãy biến niềm kiêu hãnh của “người ta” thành liều thuốc kích thích cho chính mình. Tự đặt ra mục tiêu và tự kiên trì thực hiện, thực hiện bằng được. Nhưng đặt mục tiêu thì cần phải “biết người, biết ta thì mới trăm trận trăm thắng” và phải nhớ cho rằng: “Ước mơ càng lớn thì nghị lực càng cao”. Đó thử thách của lòng kiên trì và ý chí sắt đá của bạn.
Tóm lại: Chúng ta không vì sự ganh ghét, đố kỵ mà phải chán nản, đau khổ, buồn phiền. Càng không vì ganh tỵ mà thù oán, làm tổn thương, làm hại người mà ta ghen tức. Làm như thế chỉ tỏ ra ta là người yếu thế và tổn hại đến nhân cách ta mà thôi. Chúng ta không dấu ước mơ, hoài bão của mình, nhưng phải tỏ ra là người có ước mơ, hoài bão cao thượng và sẽ đạt được hoài bảo, ước mơ đó bằng các phương châm, phương thức và hành động đúng đắn.
Đối với tôi, tôi có chủ trương riêng không dám khuyên mọi người. Tôi sẳn sàng giúp đỡ, hợp tác, học tập kinh nghiệm của những người thành đạt để tỏ rõ bản lĩnh và giá trị đích thực của mình. Cách tôi tự khẳng định là học hỏi và nếu có thất bại thì cũng vượt qua được chính mình.
 mygiangsan
(Nguồn : blog.tamtay.vn)