Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

CẢM TÁC TRẢ LỜI "MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ"


Lời giới thiệu:
Cô em họ biết ông anh của mình hay tếu, bèn gởi tặng tôi bài ''DUI CƯỜI MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ'', khiến tôi cũng cười ''anh chàng'' bày trò nịnh vợ bằng cách cả gan ''đổi'' GIỚI RĂN của Chúa thành lời phạm thượng.
Dưới bài ''nịnh vợ'', có ''cảm tác trả lời'' cho tác giả vô danh.

DUI CƯỜI MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ
Thứ nhất: Thương một mình VỢ và kính mến VỢ trên hết mọi sự.
Thư hai: Chớ kêu tên một phụ nữ khác vô cớ hay có cớ.
Thứ ba: Giữ Ngày Sinh của VỢ.
Thứ bốn: Thảo kính Cha Mẹ VỢ.
Thứ năm: Chớ giết người yêu của VỢ.
Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục với em của VỢ.
Thứ bảy: Chớ lấy tiền của VỢ.
Thứ tám: Chớ nói dối VỢ.
Thứ chín: Chớ muốn vợ người.
Thứ mười: Chớ tham của lạ.

CẢM TÁC TRẢ LỜI:

Hỡi người nịnh VỢ!
Sao ông chẳng sợ
Chúa Tể Thiên Cơ,
Giả bộ ngu ngơ
Nói năng tĩnh bơ
Đổ thừa cho vợ
Bắt ông tôn thờ
Chỉ một mình vợ?
Lời Chúa răn dạy
Ông dám dùng tay
Miệng, lưỡi ''đổi'' ngay
Khi ông đang say
Và ''nhát như cáy''
Để vợ nhăn mày
Lòng dạ chua cay
Nghe cũng bỏ chạy...!!!
Thì sẽ có ngày
Ông sợ, khoanh tay
Quỳ gối, thờ lạy
Chúa Vũ Trụ này!
Đẹp nhất mỗi ngày
Là ông ''ĂN NGAY
Ở LÀNH'' bằng TAY,
MIỆNG, LƯỠI, hết thảy...!
Tình thật tỏ bày:
Nghe tiếng gà gáy
Phêrô áy náy
Nước mắt tuôn chảy
Ăn năn tội ngay!
Đang là MÙA CHAY
Cơ hội tốt thay
Cho ông thờ lạy
Lời Chúa RĂN DẠY
Thế giới dọa đày... !

Đức Quốc, 03.3.2016
(Phan văn Phước cảm tác, tạm gọi là... thơ.)

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

"NGƯỜI VỢ" LÀ MỘT VĨ NHÂN



Vợ là vĩ nhân đúng 100%. Đang lúc vợ còn tại thế, người chồng xem thường công lao của VỢ. Lúc vợ mất rồi thì mới thấm thía nhận ra sự mất mát to lớn biết là chừng nào! Cám ơn tất cả các Bà vợ HIỀN.

                       Tràm Cà Mau


BÀI VIẾT:
Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết.“ Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình.
Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần, trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi, mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ, bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.
Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.” Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống! Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ.
Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.
Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ để, khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình.
Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về. Bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng.
Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt.
Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm: ''Bà đi đâu rồi?'' Khi chợt nhớ bà không còn nữa, ông chảy nước mắt, ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ, ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được.
Ông tiếc vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại.
Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ, muốn nói lời ân hận thì làm sao cho bà nghe được? Ông tự xét ông là con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa.
Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai mỉa. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh.
Lấy kinh nghiện đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng họ đang có hạnh phúc quý báu, họ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chiếc bóng thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.
Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ.
Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn, bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?
Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó là gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó.
Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ, đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp.
Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.” Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục.
Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết.
Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?” Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ dặp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến.
Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó thì, hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ.
Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt khách thuê sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện?”
Một lần đi Âu Châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các ‘tua’ du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn.
Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!” Ông cám ơn bà và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.
Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng.
Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu, về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thía. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng.
Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen điu, rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ?
Như thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.
Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.” Có những chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ, ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều.
Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ, ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.
Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạng suy sụp trầm trọng.
Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn.
Một buổi sáng, khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng, ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc:
“Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…”
Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nẩy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thía và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.” Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”
Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khỏe, và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không.
Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây, ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng, bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.
Mỗi sáng, ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây, cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó, họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt. Rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè.
Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”
Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”
Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ ‘phục vụ” làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi.
Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng.
Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí.
Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn.
Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông, bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn. Bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết.
Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân áí, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn.
Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già. Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ‘ông Phật đất’. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.
Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”
Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã li hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”
Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy. Có thật vậy không?”
Ông chồng cũ của bà Huyền ngững mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”
Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông.
Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn:
“Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”


 Tràm Cà Mau

(Phan Văn Phước chuyển)

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

"THƯƠNG NHỮNG ĐỜI NHƯ LỤC BÌNH TRÔI"

Viết để thương tặng những Tấm Lòng yêu làm việc Từ Thiện.

"Theo sóng vàng cát lở sông bồi
Còn chi nữa, biển dâu đã bao đổi dời
Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi
Thương những đời như lục bình trôi"

Lời ngân nga u hoài trong bài hát "Điệu buồn Phương Nam" của Vũ Đức Sao Biển có lẽ phù hợp với hoàn cảnh những người dân nghèo xóm đạo mà đoàn từ thiện chúng tôi sắp ghé thăm. Cuộc đời họ gắn liền với sông nước từ "Biển Hồ" bao đời bên Campuchia rồi bị "cáp duồn" trôi nổi như lục bình về quê hương tấp chỗ này, dạt chỗ kia. Cuối cùng họ tụ về đây cùng sống với nhau bên lòng hồ Trị An để sống lại với cái nghề đánh bắt cá "tuy nghèo mà vui" trong xóm đạo nhỏ, nhưng ấm áp ân tình.
Cha sở là 1 vị linh mục già đã 79 tuổi, nhưng ngài còn nhanh nhẹn hoạt bát và siêng năng chăm lo cho đời sống dân nghèo. Cha ưu tiên lo làm đường cho dân đi lại để đở tai nạn trợt té vì lầy lội , rồi lo bắt điện vô tận cùng hang hẻm cho dân hưởng chút ánh sáng văn minh, có ti vi coi buổi tối... trước khi lo xây nhà thờ. Tôi nghe được những điều này từ các chị trong đoàn đã đến công tác nhiều lần trước đây, khi xe dừng chân nghỉ ở Túc Trưng để ai muốn "giải sầu" hay muốn ăn "dằn bụng" vì lát nữa sẽ làm việc 1 mạch có khi tới 2 giờ chiều mới ăn trưa. Chúng tôi vào 1 quán chay bên đường vì đa số các chị là phật tử lại ăn chay trường, nên lần nào các chị cũng kiếm quán chay để ghé vô. Nhờ đó mà chúng tôi có những cuộc nói chuyện trao đổi ngắn gọn với nhau, chứ tới nơi ai lo việc nấy làm không kịp thở, còn giờ đâu mà nói. Tôi từ chối ăn thêm vì túi xôi vò quá ngon của BS A. mua tặng mỗi người, lúc sáng khi lên xe, ăn vẫn còn thấy no. T, một học sinh cũ đi chung với tôi, bất chợt nói:
- Tiếc quá, ngày mốt cô bay về Mỹ rồi, chứ nếu không em rủ cô đi thăm và phát quà cho mấy  em nhỏ bị ung thư thấy tội lắm cô à!
Một chị ngồi gần đó nghe thấy vội quay lại nhìn tôi:
-Ủa, cô là Việt kiều Mỹ hả? Sao em nhìn cô không giống chút xíu nào! Người ta chưng diện, se sua, xách bóp xịn không hà! Còn trông cô thiệt giản dị, bình dân quá, nhìn cái túi vải cô đeo vai, ai nhận ra cô là Việt kiều?.
T vội trả lời thay tôi:
-Cô em là vậy đó! nên đi đâu cũng ít ai biết. Đi từ thiện tới những xóm nghèo lại càng không nên để người ta biết...
Mọi người lục tục lên xe để đi tiếp hành trình. Xe bắt đầu đi vào những con hẻm quanh co trước khi tới xóm đạo, nhưng đường đổ xi măng rất bằng phẳng không lồi lõm như các xóm nghèo khác. Đúng như lời các chị trong đoàn đã giới thiệu lúc nảy, khác với những ngôi nhà thờ to lớn với tháp chuông uy nghi cao ngất trời mà tôi mới nhìn thấy san sát dọc theo quốc lộ, ở đây tôi nhìn thấy 1 tháp chuông cũ, nhỏ và mái che vừa rỉ sét vừa bị mưa gió giật sập 1 góc. Nó thiệt  phù hợp với ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn nằm cạnh bên. Ở 1 góc sân sau nhà thờ, tôi thấy rất nhiều người dân ngồi chờ ngoài nắng để đợi đoàn y tế tới khám bệnh. Họ ngồi chờ đoàn từ sáng sớm, nên khi thấy xe đoàn tới, họ đứng dậy mừng rở reo lên "Tới rồi, tới rồi bà con ơi !". Nghe họ reo mừng rỡ mà đoàn thấy mắc cỡ vì mình đã đến trễ hơn giờ ấn định cả tiếng. Do đó mọi người vội vàng bắt tay vào việc ngay, cha sở chỉ cho chúng tôi khu khám bệnh là 2 nền nhà trống không có nóc (chắc là bị gió thổi bay mất?) và mấy cái bàn học gỗ cũ, thô sơ, mấy cái băng ghế dài bạc thếch, có cái còn xiêu vẹo. Chúng tôi kê lại để 4 cái bàn phía trong cho bác sĩ khám bệnh, và 2 cái bàn ngoài để tiếp bệnh nhân ghi tên và đo huyết áp. Tôi và T ngồi 1 bàn, em ghi danh rồi chuyển qua tôi đo huyết áp. Các bệnh nhân thì ngồi dưới đất phía trước theo thứ tự để chờ tới phiên.
Đa số bệnh nhân già yếu, nhưng cũng còn gánh chịu lắm gian nan, họ là những người trôi giạt từ Campuchia về đây sau nạn "cáp duồn" (1970) bỏ nhà, bỏ của chạy về quê hương. Ngẫm lại sao dân Việt mình thật lắm long đong: nội chiến  Nam - Bắc rồi đến cáp duồn Campuchia, rồi tị nạn Cộng Sản, bây giờ thì lại "Tàu lạ" bắn giết ngư dân ngoài biển Đông... Về xã hội thì cán bộ mỗi lúc một giàu nhanh quá sức tưởng tượng, còn người dân thì mỗi lúc một nghèo xơ xác. Một cặp vợ chồng già ngoài 70, làm nghề đánh cá lâu đời, có 9 người con, có gia đình riêng đi làm ăn xa. Tụi nó cũng nghèo quá, lâu lắm mới về thăm 1 lần, không giúp được gì, có khi tụi tui còn phải chắt bóp cho thêm cháu. Hai người mà chỉ có 1 phiếu khám bệnh, thấy họ già yếu nên tôi linh động cho khám bệnh cả hai, họ mừng quá, cám ơn rối rít. Bà má bệnh nhân tiếp theo 85 tuổi, răng cái còn cái mất, nhưng mỗi ngày phải còng lưng lột vỏ hột điều mướn nuôi 3 đứa cháu ngoại mồ côi: "Má nó chết vì bịnh tim, ba nó buồn bỏ xứ đi lấy vợ khác, bỏ luôn mấy đứa con, nên tui phải lo lột vỏ hột điều, gánh gồng nuôi mấy đứa cháu!" - "Bà lột vỏ hột điều tiền công khá không? -  "lột 1 ký được 6 ngàn, già rồi lột mau mỏi lưng, mắt mờ nên không được bao nhiêu!" Kể lại mà nước mắt bà lưng tròng, nhìn đôi mắt già nua lèm kèm ướt nhèm mà lòng tôi thấy rưng rưng. Tôi vội mở giỏ móc bao thư lấy tiền rồi giúi vào tay bà. Bà nắm tiền trong tay, rồi chắp 2 tay xá xá "Đội ơn cô nhiều lắm!". Tôi cản bà lại: "Bà ơi, bà đừng làm vậy mà con mắc tội".
Tôi nhủ thầm tiền đi làm từ thiện đâu phải của riêng tôi, mà của nhiều bạn góp vô. Ngoài chị N là bảo trợ chính, tôi may mắn có nhiều bạn cùng tần số tri âm từ thiện. Mỗi lần biết tôi đi Việt Nam là các chị tự nguyện đóng góp, chị L còn nhiệt tình hơn, vì sợ không kịp ngày tôi đi, chị email cho các bạn trong nhóm: "Ai muốn góp từ thiện bao nhiêu, cứ email hay ĐT cho tui biết, tui sẽ ứng truớc, rồi mấy chị trả sau nha!" Từ đó mới có câu chuyện của chị P, chị mới dọn nhà nên tui ghé thăm xem có giúp gì được không? Ai dè vừa thấy tui chị nói liền: "Em ơi, chị mới dọn nhà nên sạch túi rồi mà còn nợ thẻ tùm lum. May nhờ có L chịu ứng trước nên em nhớ nói L ứng trước giùm chị 200$, tháng tới chị lãnh lương babysit 400$, chị sẽ trả L sau nha!". Tôi ái ngại: "Thôi khỏi, vì chị đang khó khăn, mà chị cho chi nhiều quá vậy?. Em cũng có chuẩn bị tiền từ  thiện rồi, chị đừng lo!" Chị lắc đầu: "Đó là phần của em, đâu phải phần của chị" rồi chị cười xua tay : "Qua nói qua làm là qua làm, nhỏ đừng cản qua làm chi. Qua sẽ kêu phone cho L. Thôi dìa đi cưng, tới giờ qua đi babysit rồi".Tôi ra về mà thấm thía: Đúng là lòng từ thiện không tùy thuộc vào sự giàu, nghèo của mỗi người,  mà tùy thuộc vào cái Tâm bác ái của họ. Tôi nhớ tới đọan phúc âm Chúa khen bà góa vì đã bỏ đồng xu cuối cùng vào thùng tiền nhà thờ, chị P ở đây còn hơn bà góa, vì dù nghèo, lương ít, nhưng tâm hào phóng với người nghèo nên chị muốn mượn tiền để làm từ thiện. Trong khi có nhiều người khá giả hơn chị rất nhiều, siêng đi nhà thờ, nghe giảng tỉnh tâm nhiều hơn chị, nhưng mỗi lần nghe tới giúp từ thiện thì làm lơ, dù là chỉ 5,10$...
Mỗi lần bấm máy đo huyết áp trong khi chờ đợi con số hiện lên, tôi lại có dịp thăm hỏi chuyện trò đôi câu với bịnh nhân để thấy rõ hơn đời là bể khổ mênh mông, mỗi người một cảnh khác nhau. Dân ở đây những ai còn sức khỏe thì đi giăng lưới cá ở Hồ Trị An, công việc cũng rất cực nhọc, họ phải đi từ 2,3 giờ sáng tới 1,2 giờ chiều mới về Mỗi ngày kiếm được 7, 8 chục ngàn tới 100.000 ( khoảng 4, 5 đô). Ngày nào sóng gió quá thì không có cá, không có tiền. Thường họ đi đánh cá là cả 2 vợ chồng cùng đi, chồng lặn xuống nước thả lưới, vợ trên thuyền kéo lưới phụ. Bắt được cá rồi gở cá,  lựa cá xấu đem về ăn, còn cá tốt đem bán lấy tiền mua gạo nuôi bầy con.  Ở đây cũng có nhiều "bà già neo đơn" ở một mình,  không có ai thăm viếng. Hình như số người "neo đơn" ở một mình càng lúc càng gia tăng trong xã hội hôm nay kể cả ở nước ngoài lẫn ở Việt Nam, lý do gần giống nhau: con ở xa cũng bận rộn mưu sinh. Một bà già 84 tuổi; " có 2 con gái ở xa, nhưng tụi nó nghèo quá, lo cho đám con nó chưa xong, làm sao lo tới mình, nên tui ở cu ky có 1 mình, bửa rau, bửa cháu, tự lo cho mình cô oi!" Bà nói mà mắt ngấn lệ, tay bà run lẩy bẩy. May lần này tôi rút kinh nghiệm từ mấy lần trước nên trước khi đi đã chuẩn bị đổi tiền nhỏ (giấy 100, 200 sẳn) nên có thể giúp nhiều người hơn. Hơn phân nửa những người tới khám bệnh đều có hoàn cảnh đáng thương cần giúp đở thêm. Một bà già đi theo con gái để trả lời giùm những câu hỏi, vì con gái bà bị tâm thần, ngơ ngẩn: " Hồi trẻ nó bị đàn ông gạt vác bụng bầu, làm báo hại tui phải còng lưng nuôi cả mẹ lẫn con. Bây giờ con nó 10 tuổi rồi, 3 thế hệ đùm bọc nhau mà sống. Bửa nào nó khỏe tui cho nó đi làm mướn cũng đở bửa nào được bửa đó." Một chị khác tâm sự: "Chồng tui đi tù cải tạo, tui theo nuôi mấy năm trời. Bây giờ ông bỏ theo vợ bé, nên một mình tui phải bươn chải nuôi đám con, cực lắm cô ơi!" Ủa ! sao nhìn đi nhìn lại ở đâu tôi cũng thấy phụ nữ là người gánh chịu nhiều nỗi đau khổ trên đời. Phải chăng do quan niệm phong kiến đã ăn sâu vào xương tủy: Phụ nữ phải chịu cực, chịu khổ, hy sinh "thân cò gánh gạo" nuôi chồng, nuôi con; còn đàn ông thì có quyền "gia trưởng" và "quyền 5 thê, 7 thiếp" ?? Trong khi phụ nữ cũng có trái tim và cảm xúc có khi còn nhiều hơn đàn ông, sao luôn bắt họ phải chịu nhiều thiệt thòi??
Tội nghiệp cha sở lâu lâu lại chạy tới thăm chừng mấy cô làm việc coi có khát để cha đi lấy nước cho uống ? Cha có vẻ quan tâm và hiểu rõ hoàn cảnh sống của từng giáo dân mình: Ông này bị tai biến mạch máu nảo, đi lại khó khăn, cha mới nhờ người vô nhà chở ra khám bệnh. Bà này bịnh nan y không có tiền mua thuốc, BS nhớ cho thuốc nhiều nhiều để dành uống mấy tháng...Cha đúng là hình ảnh Chúa nói : "Ta biết các chiên ta, và các chiên ta biết ta". Cha luôn quan tâm chăm sóc, đở nâng, an ủi từng gia đình nghèo, hèn gì mà các chị trong đoàn luôn dành cho cha sự kính phục, dù không cùng tôn giáo. Nghe cha kể ở xóm có khoảng 2500 - 3000 dân, chừng 500 hộ nghèo. Một lần chỉ chọn ra 200 hộ (không phân biệt tôn giáo), rồi luân phiên nhau. Mỗi hộ được phát 1 phiếu tới khám bệnh, nhận thuốc và nhận quà (5 gói mì, dầu ăn, sửa hộp, dầu gió) Vậy mà họ quý lắm, ở Mỹ nghe nói ăn mì gói là sợ chất độc, có hại sức khỏe...với dân nghèo mì gói là thực phẩm cao cấp, dùng để nấu canh, bỏ nước nhiều nhiều rồi thêm rau, chan ăn chung với cơm, ngon lắm! Nghe mà thấy thương! Trong khi đó ở các hotel sang trọng của Saigon nghe kể: 1 ly kem bạc hà (11 dollars), 1 bữa ăn trưa (26 dollars) 1 bửa ăn tối (42 dollars). Điều này khiến 1 chị Việt kiều về thăm Saigon rồi viết bài than thở "Saigon vô cảm, Saigon không có nụ cười..."Tại chị cứ ra trung tâm Saigon, tới Central Power lộng lẫy 72 tầng, rồi tới những nhà hàng, khách sạn sang trọng 5 sao, nên mới thấy như vậy. Mời chị tới hẻm 96 hay người dân còn quen gọi là hẽm "Ông Tiên" thuộc quận Phú Nhuận, chị sẽ thấy tình người ấm áp, vì dân trong hẽm quan niệm "được làm từ thiện là niềm vui chung của mọi người" Do đó trong hẽm có tới 5,6 dịch vụ miễn phí dành cho người nghèo, người khuyết tật như vá xe, sửa xe, hay sửa giày dép miễn phí. Trà đá uống khỏi trả tiền, tủ thuốc y tế ngay đầu hẻm: gồm bông băng, sơ cứu khi bị tai nạn, thuốc nhức đầu, thuốc đau bụng, dầu gió...ai cần cứ tới lấy xài. Bên cạnh đó trong xóm còn có dịch vụ chở xe ôm giùm cho những người già khuyết tật đau ốm cần đi bác sĩ, bịnh viện. Ai nghèo quá chết không có thân nhân lo, thì có cơ sở mai táng trong xóm lo giùm với sự góp tay của bà con. Trong xóm bà con gặp nhau lúc nào nụ cười thân thiện cũng nở trên môi thăm hỏi nhau. Nói đâu xa, ngay trong đoàn từ thiện hôm nay cũng toàn dân Saigon. Có nhiều anh chị BS, DS về hưu vẫn tiếp tục đi làm từ thiện giúp đồng bào nghèo, có những em BS trẻ mới ra trường, như B.S Hạnh làm ở BV Q 10 tôi gặp lần rồi, lần này em lại tiếp tục tham gia. Đó là chưa kể tôi mới đọc được bản tin mà lòng thấy vui và tự hào biết bao về lòng nhân ái, hào phóng của dân Saigon:
"Hẳn bạn đã quen với những hình ảnh Sài Gòn "miễn phí", từ thùng trà đá, đến chỗ bơm vá xe mỗi ngã tư đường... Và bây giờ, lại thêm một "thùng bánh mì miễn phí".
Thùng bánh mì cứ lặng lẽ đứng một góc, sẵn sàng gửi bánh cho những người đang cần đến mình, cũng như hàng trăm thứ khác mà lúc nào Sài Gòn cũng sẵn lòng "miễn phí".
Bánh mì Sài Gòn, không chỉ thơm ngon mà còn chứa đầy tình cảm của những người Sài Gòn, hào hiệp và tử tế. Thùng bánh mì miễn phí nằm lặng lẽ trong ánh nắng buổi sớm của Sài Gòn, đẹp như tấm hòng hồn hậu cùa người dân nơi đây. Nhìn hình ảnh ổ bánh mì được nâng niu như thế, tự dưng thấy thương Sài Gòn, thương cả những người ở nơi đây"...
Có tiếng khóc ré của đứa bé lôi tôi ra khỏi dòng suy nghĩ lan man, tôi vội lục giỏ tìm thanh kẹo chocolate đem ra dụ trẻ "Nín đi!, rồi cho con kẹo sô cô la nè!". Đứa bé nhìn thấy thanh chocolate thích quá, nín liền rồi đưa tay ra lấy. Mẹ em kể "Có mua bảo hiểm y tế cho dân nghèo, nhưng hết hạn rồi. Phải chờ 2 tháng nữa mới có bảo hiểm mới. Mấy bửa nay nó nóng, ho quá, mà đâu có tiền đi bác sĩ. May mà có đoàn y tế tới làm phước, thiệt mừng quá. Vậy mà kêu nó đi, cứ khóc không chịu đi, phải lôi nó tới đây đó..." Nghe chị tâm sự ba xấp nhỏ đi phụ hồ khiêng nặng nhiều quá, nên bây giờ bị đau nhức bên hông và vai, phải tạm nghĩ ở nhà. Tui phải làm "thợ đụng"-  "thợ đụng" là sao chị? - "Thì đụng đâu làm đó, ai mướn gì cũng làm hết: Chẻ hột điều, giặt đồ mướn, làm rẩy... Tối về mệt quá thì làm việc nhẹ, rán thức tới 4 giờ sáng lột vỏ hột điều. Sau chị là tới phiên một bà già kéo ghế ngồi trước mặt, tôi nhìn thấy đôi bông tai vàng nhỏ bà đeo, bèn nói đùa: "Bà giàu quá, có vàng đeo tai nữa" - " Giàu gì đâu cô, tại tính tui hay lo xa, tui để dành lâu đời còn chút xíu này đeo để phòng thân, lỡ chết rồi, thì con cháu gở ra bán làm đám ma cho mình, chứ tụi nó nghèo quá xá, tiền đâu lo nỗi?" Tôi thầm nghĩ  như vậy đây cũng là hình thức "Bảo hiểm nhân thọ" kiểu nhà nghèo. Khi bệnh nhân bắt đầu vơi bớt, tôi mới chợt để ý tới trên mặt bàn gổ cũ kỹ có khắc dòng chữ :"Tôi yêu Việt Nam, nước tôi" dòng chữ làm tôi cảm động, vì nó xuất hiện ở 1 xóm nghèo, bửa no, bửa đói, nhưng lòng yêu nước vẫn tồn tại. Đúng là " Người ơi ! Nước Nam của người Việt Nam" nên dù là ở chân trời góc bể, nó đều nằm trong tim người Việt Nam còn biết yêu quê hương.
Phần làm việc của chúng tôi xem như xong sớm nhất, còn phần của bác sĩ khám bệnh và phần sau cùng là phòng phát thuốc. Có giờ rãnh tôi đi lang thang trong khuôn viên nhà thờ, đi ngang qua hành lang phòng cha sở, nhìn vào mới thấy cha sống thật đơn sơ: chỉ có 1 chiếc giường gổ nhỏ, trãi phía trên là tấm chiếu manh, 1 bộ bàn nhỏ để cha làm việc. Gần đó có vài cái móc áo treo vài bộ đồ và 1 áo chùng đen. Sống giữa lòng xóm nghèo, cha đúng là "Chủ chiên có mùi chiên" như lời ĐTC Phanxico đã nói. Cha mới đúng là "Linh mục của Chúa", tôi cảm phục và hãnh diện về cha, dù tôi chỉ mới gặp cha hôm nay.Tôi xuống bếp, xem có phụ gì được không? nghe mấy bà bếp kể chuyện về cha. "Cha giỏi lắm nói được 4,5 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh, Campuchia và tiếng Tàu).Tội nghiệp  đáng lẽ cha về hưu lâu rồi, nhưng còn bận tâm phải lo cho dân nghèo và sang năm xây nốt nhà thờ cho giáo dân có nơi thờ phượng đàng hoàng rồi bước qua 80 tuổi cha mới bàn giao giáo xứ cho cha khác rồi về Long xuyên nghỉ hưu."
Nhìn trong số vài chị ở nhà bếp, tôi thấy 1 chị còn khá trẻ mặc chiếc áo T- shirt có dòng chữ " Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam". Tôi hỏi "Ở đâu chị có áo này?" - "Người ta cho em, em thích vì nó nói lên đảo đó của mình. Em phụ bán quán, nên em hay mặc áo đó, để có dịp nhắc nhở mọi người tới quán đọc và nhớ điều đó". Câu trả lời giản dị của chị chứng tỏ lòng yêu nước đâu cần phải cầu kỳ. Tôi yêu quý người dân phương Nam, thích cách nhìn nhận đời sống nhẹ nhàng, đơn giản, thoải mái. Chị nói: "Hôm nay nghỉ phụ quán 1 bửa để cùng mấy chị đây nấu cơm cho đoàn y tế cũng là làm việc thiện nguyện vậy!". Đúng rồi mỗi người làm 1 việc khác nhau, nhưng đều là phục vụ việc chung.
Bữa ăn đã chuẩn bị xong, có 2 mâm:1 cho người ăn chay và 1 cho người không ăn chay. Tôi nghe nhà bếp tiết lộ có món cá khô nhỏ xíu, đặc biệt chỉ có lòng hồ Trị An mới có, nên thấy cũng háo hức. Quả thật tới bửa ăn xem ra ai cũng thích thú với món ăn này, vì ngon và lạ miệng, mấy chị DS lo gủi tiền nhờ mua giùm. Sẵn dịp có chị rỉ tai "nói nhỏ"  cho nhau nghe:"Giáo xứ ở đây nghèo quá, nên tụi mình hùn tiền để gửi lại chi phí bữa ăn, vì tiền cha để lo cho người nghèo, chẳng lẽ mình ăn của người nghèo sao? Vậy là từng người hoan hỉ lấy 50 ngàn ra đóng góp, mà cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng. Riêng tôi cảm thấy thật vui vì hôm nay được gặp nhiều người cùng tần số từ thiện với mình. Ở đời gặp được "tri âm" là đủ vui rồi, dù nhóm chúng tôi không cùng tôn giáo, nhưng chúng tôi cùng gặp nhau ở việc " lấy niềm vui chia sẻ với người nghèo làm niềm vui của mình" Vì Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: "Mục đích của tất cả những truyền thống tôn giáo lớn trên thế giới không phải là để xây dựng những ngôi đền to lớn bên ngoài, mà là để xây dựng những ngôi đền thiện lành và từ bi bên trong trái tim chúng ta"
Phượng  Vũ
(Nguồn : giadinhnazareth.org)

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

SÁM HỐI & LẬP CÔNG


Sám hối & lập công
(Suy niệm từ Ga 8. 1-11)
Hôm nay tuần cuối Mùa Chay,
           Lắng nghe tiếng Chúa: điều này phải thông:
        Tình thương Thiên Chúa chẳng cùng,
                      Hãy lo sám hối chớ đừng rầy mai.
                            Lại đừng xét đoán tội ai,
Xét mình trước đã, biết đời nhân sinh.
                            Sẻ chia chí nguyện của mình,
                     Làm lành, lánh dữ, sạch tinh xác hồn.
Bước vào Tuần Thánh xin ơn,
                    Theo đường Thánh Giá, đau buồn vượt qua.
                           Hồng ân đổ xuống như mưa,
                    Qua tuần Thương Khó tới mùa Phục Sinh.
                           Quyền năng nơi Dấng Cứu Tinh,
                     Lập công đền tội hiển vinh muôn đời…

                                                (Thế Kiên Dominic)

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

NHỚ VỀ QUÊ MẸ



Kính mời quý Vị nghe tâm tình của nhạc Sỹ Hoàng Giác về thời Quê Hương còn chinh chiến:


NHỚ VỀ QUÊ MẸ

Sông Rhein* cuồn cuộn, đục ngầu
Đôi bờ thanh vắng mượn cầu bắc ngang
Cây xanh xõa tóc, mơ màng
Công viên ghế đá mênh mang gợi sầu
Mây chiều lờ lững về đâu?
Dạo buồn thơ thẩn trên cầu, ngắm sông
Hai bên phố xá, người đông
Đôi bờ thanh vắng cho sông chạnh lòng
Nhìn con nước cuốn xuôi dòng
Đơn côi, buồn nhớ, thầm mong ngày về!
Quê người, ngày tháng lê thê
Gieo neo, cay đắng, ê chề, xót xa!
Tủi thân, kiếp sống xa nhà!
Tình đời như bãi tha ma lạnh lùng!
Nhớ Quê Mẹ xa nghìn trùng:
Ngồi quanh bếp lửa bập bùng thâu đêm
Sương rơi, lá rụng bên thềm
''À ơi, con ngủ...'', êm đềm mẹ ru
Làng quê tắm trong sương mù
Trâu cùng với bác nông phu ra đồng
Giàn bầu, bí, mướp trổ bông
Mẹ già chăm bón từng vồng rau xanh
Đồng quê gió mát, trăng thanh
Bình minh chim hót trên cành líu lo
Đông về, rét mướt co ro
Con đường lầy lội quanh co vào làng
Bao cô thôn nữ dịu dàng
Chân đi nhè nhẹ, nhịp nhàng, khoan thai
Xuân về, nở rộ cành mai
Phất phơ trong gió, áo dài thướt tha
Nữ sinh duyên dáng, ngọc ngà
Hai hàng phượng vỹ ngắm tà áo bay...
Thu về với gió heo may
Lùa qua khóm trúc, lung lay cành đào
Cánh đồng lúa chín rì rào
Non xanh, nước biếc, ca dao trữ tình
Lòng mẹ như biển Thái Bình
Dạt dào sóng vỗ như kinh ban chiều
Việt Nam Quê Mẹ mến yêu!
Bao ngày xa cách, bấy nhiêu là tình!

Phan văn Phước
(Cảm tác vào năm đầu tiên ở xứ người khi đứng nhìn sông Rhein gần nhà.)


* Sông Rhein tức là sông Rhin. Chữ ''ei'' của tiếng Đức phát âm là /ai/.



Mời nghe thêm :