Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

ĂN CHAY HAY ĂN CHƠI ?


Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay được đặt tên là Chúa Nhật “Laetare” (Vui lên đi), dường như mang tính cách xả hơi sau khi đã trải qua một nửa chặng đường đền tội. Tuy nhiên, so với các tôn giáo khác, xem ra việc ăn chay trong Kitô giáo có vẻ “ăn chơi”, chứ đâu có gì khắc khổ! Phải chăng đó là do kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo lỏng lẻo, hay bởi vì các tín hữu không thực hành việc ăn chay cách nghiêm túc?
Tôi không dám so sánh kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo với các tôn giáo khác, bởi vì không biết có nên dừng lại ở khía cạnh lý thuyết hay cần phải kiểm chứng cả phương diện thực hành nữa. Thực ra, khi đọc Phúc Âm, chúng ta đã thấy ngay từ thời của Chúa Giêsu, đã có người nêu vấn nạn rồi, bởi vì xem ra các môn đệ của Ngài ăn chơi, đang khi các môn đệ của ông Gioan thì ăn chay. Chúng ta hãy đọc lại đoạn sách Tin Mừng thánh Marco, chương 2 câu 18-20:
Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang ăn chay; có người đến hỏi đức Giêsu: tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ người Pharisêu ăn chay, mà các môn đệ ông lại không ăn chay?. Đức Giêsu trả lời như sau: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được, nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.
Qua câu nói vừa rồi, ta thấy Đức Giêsu đi xa hơn các ngôn sứ một bước. Thực vậy, trong Cựu ước, các ngôn sứ (tựa như ông Isaia, ở chương 58) đã đặt việc ăn chay trong bối cảnh của tất cả đời sống luân lý, nghĩa là không chỉ kiêng ăn uống mà còn phải kiêng phạm tội, kiêng xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta đã nghe đoạn văn này trong Thánh lễ ngày thứ 6 và thứ 7 đầu Mùa Chay. Chúa Giêsu thì mở thêm một chiều kích khác, chiều kíchhuyền bí của việc ăn chay: việc ăn chay mang một ý nghĩa tang chế bởi vì mất đi một người yêu. Chính vì thế mà trong Mùa Chay, Giáo luật buộc ăn chay vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. Việc ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro mang tính cách sám hối đền tội; còn việc ăn chay thứ Sáu Tuần Thánh thì mang màu sắc tang chế.
Giáo luật chỉ buộc ăn chay mỗi năm hai ngày thì đâu thấm thía gì khi so sánh với nhiều tôn giáo ở Việt Nam buộc ăn chay mỗi tháng 2 lần, vào mồng 1 và ngày rằm?
Thiết tưởng nên phân biệt: một bên là luật buộc, một bên là khuyến khích. Tôi không dám quyết chắc rằng ở Việt Nam có tôn giáo nào buộc phải ăn chay hay không, hoặc là chỉ khuyến khích mà thôi. Trong lịch sử Kitô giáo, thì ta thấy có sự phân biệt này, tuy trải qua thời gian, đã có sự tiến triển trong cả hai khía cạnh.
Vào thời Chúa Giêsu tại thế, thì các môn đệ không ăn chay. Từ hồi nào thì các Kitô hữu bắt đầu ăn chay?
Như chúng ta đã biết, những tài liệu về các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo không được phong phú cho lắm. Dù sao, chúng ta đừng nên quên rằng, các tín hữu đã giữ ấn tượng sâu đậm về việc Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày vào lúc khai mạc sứ vụ, một điều mà Cựu ước cũng đã ghi nhận nơi hai vị đại ngôn sứ Moses và Eliah. Sách Tông Đồ Công Vụ cũng thuật lại rằng, thánh Phaolô đã ăn chay 3 ngày sau khi trở lại (chương 9, câu 9), và khi lãnh sứ mạng làm tông đồ dân ngoại (chương 13, câu 2-3). Những lần ăn chay này xem ra mang tính cách huyền nhiệm, nghĩa là chuẩn bị để gặp gỡ Chúa, chứ không mang tính cách đền tội hoặc tang tóc.
Từ thế kỷ thứ II và III trở đi, có nhiều tài liệu cho biết các tín hữu giữ chay vào hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh, như là dấu hiệu tang tóc. Hơn thế nữa, thánh Irénee, trong thư gửi tới Giáo Hoàng Victor cho biết rằng, các tín hữu ở bên Đông phương giữ chay suốt Tuần Thánh. Sang thế kỷ IV, chúng ta thấy nhiều Giáo phụ bên Tây và bên Đông, nói đến tục lệ giữ chay suốt 40 ngày.
Và tục lề ấy kéo dài cho đến ngày nay, phải không?
Không hoàn toàn đúng như vậy. Một đàng, ngày nay, lịch Phụng vụ bắt đầu Mùa Chay từ thứ Tư Lễ Tro, nghĩa là 46 ngày chứ không phải 40 ngày. Lý do là tại vì một tục lệ khá cổ đã ngưng giữ chay vào các ngày Chúa Nhật; do đó, phải tính trội thêm 6 ngày cho đủ số 40. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng hơn nữa là ở chỗ nội dung việc giữ chay. Chắc hẳn chúng ta đều đã biết những quy định của Bộ Giáo Luật hiện hành về việc giữ chay.
Trong các ngày giữ chay, có phải chỉ được ăn no một bữa thôi đúng không?
Tạm chấp nhận như vậy đi. Cần nói thêm rằng, Giáo Luật hiện nay chỉ ấn định phải giữ chay 2 ngày, đó là thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. Thời xưa, các tín hữu phải giữ chay 40 ngày, chứ không phải chỉ có 2 ngày mà thôi. Và còn một sự khác biệt quan trọng nữa, đó là ngày chay thì không được ăn uống gì hết!
Như vậy là tuyệt thực 40 ngày hay sao?
Tôi xin lặp lại, vào thời xưa, trong suốt 40 ngày, các tín hữu không được ăn uống gì hết. Nhưng đó không phải là tuyệt thực. Trong suốt ngày, họ không được ăn uống, nhưng khi mặt trời lặn (nghĩa là hết ngày, và đêm về) thì họ được phép ăn một bữa.
Cũng như các tín đồ Hồi giáo trong mùa Radmadan, ban ngày thì ăn chay nhưng ban đêm thì đánh chén, phải không?
Tôi không biết luật của Hồi giáo đã quy định thế nào về việc giữ chay, nhưng các Kitô hữu cổ thời kèm theo việc giữ chay với việc kiêng thịt, kiêng rượu, kiêng đồ béo. Vì thế khó mà tưởng tượng được rằng họ được phép đánh chén sau khi mặt trời lặn!
Như vậy thì các tín hữu thời xưa ăn chay nghiêm túc, còn ngày nay thì chúng ta chỉ ăn chơi. Từ hồi nào có sự chuyển hướng như vậy?
Theo các sử gia, sự chuyển hướng xảy ra vào thời Trung cổ, vào lúc mà lòng nhiệt thành bắt đầu suy giảm, đồng thời óc vụ luật bắt đầu len lỏi vào đời sống đạo. Vào các thế kỷ đầu tiên, khi các tín hữu giữ chay vào thứ Sáu Tuần Thánh, thì việc chay tịnh mang tính cách huyền nhiệm và Phụng vụ, theo nghĩa là các tín hữu dành hôm đó vào việc cầu nguyện và cử hành Phụng vụ. Đến khi Mùa Chay kéo dài ra 40 ngày, thì dĩ nhiên là không thể nào ngồi trong nhà thờ suốt trong thời gian đó. Còn bao nhiêu công việc khác phải làm nữa chứ, và nếu bụng đói thì làm sao cuốc đất được? Từ đó, người ta tìm cách nào giải thích luật theo nghĩa co dãn.
Như đã nói trên đây, thời xưa, các tín hữu không được ăn uống gì trong suốt ngày giữ chay. Việc chấm dứt ngày chay không được đánh dấu bằng việc mặt trời lặn, nhưng là với Kinh Chiều. Để tôn trọng tục lệ cổ, người ta đọc Kinh Chiều liền sau giờ Chín (nghĩa là 3 giờ trưa), và từ thế kỷ XIV thì đọc kinh trùng với bữa ăn trưa! Ngoài ra, dựa theo chứng tích của thánh Tôma Aquinô, người ta biết rằng cho đến thế kỷ XIII, việc giữ chay bao trùm luôn cả việc kiêng uống (chứ không phải chỉ kiêng ăn); thánh Tôma thì nới rộng hơn một chút, khi cho rằng việc uống nước không phá chay (Summa Theology II-II, q.147, a.6).
Như vậy, thời xưa, khi giữ chay thì chỉ được ăn một bữa, và cùng lắm chỉ được phép uống tí nước cho đỡ khát. Từ hồi nào được ăn thêm bữa phụ?
Theo các sử gia, tục ăn thêm bữa phụ bắt nguồn từ các Đan Viện. Nên biết là luật Giáo Hội thời xưa chỉ buộc giữ chay trong Mùa Chay(nghĩa là 40 ngày trước Lễ Phục Sinh), còn trong các Dòng Tu, thì ngoài luật phải kiêng thịt suốt đời, họ còn phải giữ chay từ lễ Suy Tôn Thánh Giá (14 tháng 9) cho đến Lễ Phục Sinh năm sau (nghĩa là hơn kém 7 tháng). Xét vì các đan sĩ phải làm việc đồng áng chứ không chỉ ngồi trong nhà thờ đọc kinh, cho nên họ được phép uống một ly rượu vào ban tối, sau khi nghe đọc sách Collationes của Cassiano. Dần dần, bên cạnh ly rượu còn thêm tí bánh. Từ đó, bữa lót lòng được gọi là Collationes(Ngày nay trong tiếng Ý, bữa điểm tâm được gọi là colazione). Từ thế kỷ XIV, các giáo dân cũng được phép dùng bữa lót lòng vào những ngày giữ chay. Thế rồi từ chỗ điểm tâm lót lòng, kỷ luật giữ chay được nới rộng dần dần co đến kỷ luật hiện hành ngày nay.
Tóm lại, khi ôn lại lịch sử, ta có thể kết luận rằng kỷ luật khổ chế đã sa sút: từ chỗ ăn chay nghiêm ngặt vào các thế kỷ đầu, sang đến chỗ lỏng lẻo đến nỗi chỉ còn là ăn chơi vào thời cận đại, có đúng như vậy không?
Cần phải phân biệt hai khía cạnh:
- Một bên là kỷ luật. Xét về kỷ luật, thì khi so sánh với các thế kỷ đầu tiên, quả thật việc ăn chay ngày nay chỉ còn là chuyện ăn chơi.
- Một bên là tinh thần. Khi xét về mặt tinh thần, thì việc phê bình đối chiếu thật không đơn giản.
Việc giữ chay chỉ là một phương tiện khổ chế đền tội cũng như là một phương tiện bày tỏ ý chí cải hoán. Từ thời các Giáo phụ, Giáo Hội không hề tách rời việc ăn chay với các phương tiện khác nữa để đạt đến cùng một mục tiêu, đó là: sự cầu nguyện, thực hành nhân đức, đặc biệt là đức bác ái. Vì thế để đánh giá trình độ đạo đức của một cá nhân hay một thời đại, chúng ta không thể chỉ đo lường qua mức độ nghiêm khắc của kỷ luật ăn chay, nhưng còn phải đối chiếu với việc thực hành các công tác từ thiện bác ái, các hành vi tự kiềm chế tính kiêu ngạo ích kỷ, cũng như thái độ từ tốn trong cách cư xử với Thiên Chúa và tha nhân nữa. Dù sao, trong vấn đề này chúng ta cần dung hòa cả hai khía cạnh: kỷ luật và tinh thần. Kỷ luật nghiêm khắc mà không có tinh thần thì dễ rơi vào thái độ bôi bác giả hình. Tinh thần mà không có kỷ luật thì có nguy cơ tan biến ra khói!


Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016

THÁNH DANH GIUSE (THƠ)

                       

THÁNH DANH GIUSE

Âm ''Giu-se'' con nghe hồi còn nhỏ:
Thuở ngây thơ, đơn sơ, chưa tò mò!
Tên không dài, gồm hai âm ghép lại
Con bập bẹ theo tiếng mẹ khoan thai!
Thánh Giuse là Dưỡng Phụ Ngôi Hai
Tức Giêsu cũng là Chúa An Bài
Bởi Thánh Linh mà Trinh Nữ thụ Thai
Nên Giuse luôn chở che Mẹ Ngài
Cùng với Mẹ nuôi Chúa Cứu Trần Ai!
Âm ''Giu-se'' con xướng nhẹ, êm tai
Tên cực trọng mang hy vọng cho đời:
''Thiếu lương thực, tìm Giuse mà tới!'' (*)
Tên Giuse làm Gia Thất đổi mới:
Nhà Giacóp và miêu duệ Nước Trời!
Tên Giuse nghe được cả đôi nơi:
Trong Cựu Ước và Tân Ước tuyệt vời!
Kêu Tên Ngài trong mọi lúc, mọi thời
Khi thất vọng, lòng buồn tủi, lệ rơi
Khi vui mừng, mặt tưng bừng phơi phới
Lúc lên giường đêm trường nghỉ thảnh thơi
Trong nắng mưa, giữa phố phường dạo chơi
Lúc mệt lã, tay chân đã rã rời
Giữa ba đào, bão táp ở biển khơi
Tên Giuse như ngọn đuốc sáng ngời!
Thánh Giuse, Dưỡng Phụ Chúa Cứu Đời
Xin giúp con giữa trần thế chơi vơi!

***
Tháng Ba kính Thánh Giuse

Đaminh Phan văn Phước


* Ghi chú: Khởi Nguyên 41, 55-56



GIA ĐÌNH THÁNH GIU SE
                     ******
Thiên Sai Cứu Thế xuống làm người:
Con Mẹ Đồng Trinh, Thánh dưỡng nuôi.
Gia trưởng Giu Se xin phục vụ,
Mẫu Thân Ấu Chúa chịu vâng lời.
Gian nan, biến cố đều qua hết.
Lao động, khó nghèo vẫn sáng tươi.
Mầu nhiệm Thánh Gia: khơi Lịch Sử
Tin Mừng Cứu Độ tới muôn đời...
                                   Thế Kiên Dominic   

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

TỘI VỚI LỖI KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO ?

 

    Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Trong Mùa Chay, các tín hữu được mời gọi ăn năn thống hối, chừa bỏ tội lỗi, trở về với Chúa. Nhưng mà tội với lỗi giống nhau hay không? Hay là tội thì khác và lỗi thì khác?
Nói cách tổng quát, thì tội và lỗi là hai điều khác nhau, theo nghĩa là có thể mình có lỗi mà không có tội; và ngược lại, có thể là có tội mà không có lỗi. Nhưng nếu muốn phân biệt chính xác hơn, thế nào là tội thế nào là lỗi, thì chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, bởi vì lối sử dụng ngôn ngữ thường ngày hiểu theo một nghĩa; ngôn ngữ của pháp luật hiểu theo một nghĩa khác; còn ngôn ngữ của thần học lại theo một nghĩa khác nữa. Trong tiếng Việt, chúng ta thấy từ “tội” được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau. Nói chung, tội có nghĩa là gì ngang trái, nó bao hàm một sự vi phạm luật lệ nào đó. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, “tội” cũng có lúc không bao hàm ý tưởng phạm pháp, mà chỉ nói lên cảnh xót xa đáng thương. Chẳng hạn như khi nói “bỏ thì thương, vương thì tội”, hay là khi buộc miệng than “tội nghiệp thay!”. Có thể lối nói này chịu ảnh hưởng thuyết nhân quả của Phật giáo, theo đó, nhiều thảm cảnh mà ta chịu bây giờ là một cái “nghiệp” do “tội” đã phạm ở kiếp trước!
Dù sao, trong ngôn ngữ thông thường, nhiều khi sự phân biệt giữa tội và lỗi nhằm nêu bật mức độ nghiêm trọng của chúng. Lỗi ám chỉ sự sai nhẹ, còn tội thì nặng hơn. Chẳng hạn như khi đá banh, một cầu thủ đụng bàn tay vào quả bóng chỉ là một lỗi, chứ không phải là một tội. Một học sinh viết sai chính tả, thì gọi là “lỗi” văn phạm, chứ không gọi là tội; nhưng mà nếu cậu ta trốn học đi chơi thì không còn phải là lỗi nữa, nhưng là “tội”. Từ khi Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Tây phương, người ta cũng du nhập tư tưởng pháp lý của nước Pháp, đặc biệt là sự phân biệt giữa phạm vi hình sự và hộ sự. Từ đó mà có sự phân biệt giữa tội và lỗi.
- “Lỗi” thuộc về ngành luật dân sự, quy định việc bồi thường thiệt hại gây ra cho người khác.
- “Tội” thì thuộc về lĩnh vực hình sự, nhằm trừng phạt sự bất tuân luật pháp quốc gia.
Có khi hai lãnh vực có liên hệ với nhau, thí dụ khi tôi lấy hòn đá ném vào đầu ông hàng xóm khiến ông bị thương, thì tôi vừa có tội vừa có lỗi. Tôi sẽ bị truy tố về hình sự bởi vì phạm tội đả thương; và ông hàng xóm kiện tôi ra toà dân sự để đòi bồi thường về những hậu quả do thương tích gây ra.
Tuy vậy, có nhiều lần hai lãnh vực có thể tách rời. Có trường hợp có lỗi mà không có tội. Chẳng hạn như con chó nhà tôi tuột xích, chạy ra đường cắn người hàng xóm: tôi phải bồi thường sự thiệt hại gây ra cho nạn nhân bởi vì tôi là chủ của con chó. Ngược lại, có thể là có tội mà không có lỗi, thí dụ như tội vi phạm đến an ninh quốc gia: tội nhân bị giam tù nhưng chẳng phải bồi thường gì cả.
Đó là những khái niệm về tội lỗi theo ngôn ngữ thường ngày hay là theo ngôn ngữ pháp luật. Thế còn trong thần học, thì sao: tội với lỗi có khác nhau hay không?
Trong lãnh vực thần học, chúng ta thấy hai từ “tội lỗi” thường đi chung với nhau, và vì thế coi như là đồng nghĩa. Tuy nhiên đó là nói đến ngôn ngữ thần học trong các tiếng của châu Âu, chứ còn ở Việt Nam, chúng ta chưa có đạt được sự chính xác đó. Một thí dụ cụ thể: trong tiếng Việt, chúng ta dùng tiếng “tội” cho cả lãnh vực hình luật lẫn lãnh vực luân lý. Nhưng mà trong các tiếng Tây phương, có hai danh từ khác biệt nhau.
- Tội về hình luật (tạm gọi là tội phạm) được kêu là delictum trong tiếng Latin, délit trong tiếng Pháp, offence hay trepass trong tiếng Anh.
- Còn tội về luân lý (tạm gọi là tội lỗi) thì được kêu là peccatum trong tiếng Latin, péché trong tiếng Pháp, sin trong tiếng Anh.
Dĩ nhiên, giữa tội hình sự (tội) và tội luân lý (tội lỗi), có một vài điểm chung; chẳng hạn như trong cả đôi bên đều có yếu tố vi phạm một điều luật cấm, (từ đó mà tội bị coi là hành vi xấu, trái luật), và kèm theo những chế tài. Nhưng sự khác biệt ở chỗ: hình luật dựa theo luật do Quốc gia ấn định, còn luân lý thì dựa theo luật của Thiên Chúa. Có những trường hợp mà ta thấy có sự trùng hợp giữa hai bên; thí dụ như việc giết người vừa là một tội hình sự vừa là một tội luân lý. Nhưng mà có những trường hợp không trùng nhau. Thí dụ tại Việt Nam, việc phá thai không phải là tội hình sự, tuy là tội luân lý. Ngược lại việc rước kiệu ở ngoài nhà thờ mà không xin phép công an là một tội hình sự chứ không phải là tội luân lý.
Như vậy, hình luật xét tới những sự vi phạm luật của Nhà Nước, còn luân lý thì xét tới những sự vi phạm luật của Thiên Chúa, có phải như vậy không?
Nói cách tổng quát, có thể chấp nhận sự phân biệt như vậy. Nhưng khi đi vào chi tiết thì vấn đề phức tạp hơn nhiều. Trong các nước dân chủ ngày nay, không phải bất cứ lúc nào sự vi phạm hình luật cũng cấu thành tội phạm. Các bộ hình luật đều dự trù những trường hợp giảm miễn hình phạt tùy theo mức độ ý chí của đương sự trong đó. Ngoài ra, có những trường hợp cố tình vi phạm luật nhà nước mà không phải là tội phạm, khi mà những luật đó đi ngược với Hiến pháp, với luật quốc tế, và thậm chí ngược với luật luân lý. Nhiều nền pháp chế dân chủ hiện đại chấp nhận trường hợp “vấn nạn lương tâm”, thí dụ đối với các quân nhân, các bác sĩ: họ có quyền khước từ không chấp hành mệnh lệnh của cấp trên khi thấy trái ngược với lương tâm. Nhưng tôi không muốn đi sâu vào vấn đề này. Ở đây tôi chỉ xin nói qua về luật luân lý. Như đã nói trên đây, ta tạm gọi “tội phạm” là sự vi phạm hình luật của quốc gia, còn “tội lỗi” là sự vi phạm luật Thiên Chúa. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự vi phạm luật Thiên Chúa cũng là tội lỗi. Chúng ta nhận thấy có sự tiến triển trong Kinh Thánh cũng như trong lịch sử của Giáo Hội về khái niệm tội lỗi, nhằm nêu bật yếu tố tự do trách nhiệm khi phạm tội.
Nói như vậy, có nghĩa là trong ý niệm về tội lỗi, ngoài sự vi phạm luật Chúa, còn phải có yếu tố khác nữa phải không?
Đúng thế. Khi giở lại Kinh Thánh, chúng ta thấy trong những chặng đầu tiên của Cựu ước quan niệm về tội lỗi, không khác gì với quan niệm về tội phạm của hình sự: ai vi phạm một điều luật cấm sẽ bị trừng phạt tức khắc, không cần xét đến chủ ý của đương sự. Chúng ta có thể thấy một trường hợp điển hình nói ở sách Samuel, quyển Hai, chương 6 câu 8. Khi vua Đavit rước Hòm Bia Thánh về Giêrusalem, thì trên đường đi, chiếc xe bị lắc lư, và Hòm Bia sắp bị đổ, ông Uzzia đưa tay ra đỡ, thế là ông bị phạt chết tươi, bởi vì đã có luật cấm không ai được phép chạm đến Hòm Bia Thánh. Dĩ nhiên, luật cấm đó được đặt ra nhằm bảo vệ sự tôn kính dành cho đồ vật thánh; nhưng mà ông Uzzia chạm hòm bia đâu có phải vì ông ta khinh mạn đồ thánh, mà chỉ vì muốn bảo vệ cho nó khỏi bị rơi. Thế mà cũng bị coi là tội trọng!
Dần dần, nhờ các ngôn sứ, ta thấy dân Israel được giáo dục để có một ý thức rõ rệt hơn về tội. Họ đừng nên coi luật của Chúa như đồ nguy hiểm tựa như trái mìn hay như dòng điện, ai mà đụng tới là toi mạng! Chúa không có ra luật để mà ra oai thị võ cho con người phải khiếp sợ. Luật của Chúa cần được lồng trong khung cảnh của giao ước tình yêu. Luật của Chúa nhằm duy trì tình nghĩa thiết giữa Thiên Chúa với con người, và chung quy cũng nhằm để bảo vệ con người mà thôi chứ Chúa chẳng được thêm lợi lộc gì hết! Vì thế, tội được nhìn không chỉ như là sự vi phạm luật Chúa nhưng như là sự bất tuân, cãi lệnh Chúa, phụ ơn bạc nghĩa, phản bội tình yêu,.v.v... Như vậy, các ngôn sứ đã giúp cho dân Do thái tiến triển thêm trong quan niệm về tội lỗi. Một đàng, họ đừng coi luật Chúa như đồ nguy hiểm chết người, phải cẩn thận kiêng lánh đừng đụng tới kẻo mang họa vào thân, song hãy coi đó như là món quà của giao ước. Đàng khác, chỉ có tội lỗi khi có ý thức làm trái ý của Chúa.
Như vậy, nếu vì vô tình mà vi phạm luật Chúa, thì không có tội phải không?
Đúng như vậy. Về điểm này, chúng ta thấy có sự tiến triển trong dân Do thái. Vào lúc đầu, Kinh Thánh có nói tới những tội phạm vì vô tình, vô ý thức. Thí dụ như sách Lêvi chương 4 nói tới hy lễ dâng lên để xin xá các tội phạm vì vô tình. Và Thánh Vịnh 19, câu 13-14, xin Chúa thứ tha cho những tội “phạm mà chẳng hay”, nghĩa là phạm mà không có ý thức, không biết! Nhưng mà dần dần, thì vừa nói, các ngôn sứ đã dạy cho dân ý thức về yếu tố bất tuân, phản bội của tội lỗi. Nếu thiếu yếu tố ý chí bất tuân thì không phải là tội. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên cẩn thận khi nói đến “vô tình, không biết”.
Có những tội do sự “vô tình không biết” gây ra, nghĩa là chính sự “không biết” là một tội. Chúng ta hãy lấy một thí dụ cụ thể. Một người kia có cha mẹ già. Anh ta có thể phạm tội bất kính đối với cha mẹ khi anh ta đã nói những lời thất lễ với các ngài; chuyện đó rõ rồi. Nhưng anh ta cũng có thể bất hiếu với cha mẹ khi không chịu trông nom cha mẹ già. Có thể là anh ta sẽ bào chữa rằng mình không biết, và mình cũng chẳng làm điều gì vô lễ với các ngài cả. Tuy vậy, sự “không biết không làm” cũng là lỗi với bổn phận hiếu thảo. Chính vì thế mà các nhà luân lý cũng xét tới các trường hợp do sự không biết gây ra, khi mà sự không biết là hậu quả của sự lơ đãng biếng nhác. Thí dụ một linh mục không chịu học hỏi những điều thuộc về bổn phận của mình, đưa tới những quyết định sai lầm, hay là không chu toàn hết các bổn phận của một chủ chăn thì cũng có tội. Từ đó, chúng ta thấy trong kinh Cáo Mình ở đầu Thánh lễ, Giáo Hội xin Chúa thứ tha, không những là các tội đã phạm “trong tư tưởng, lời nói, việc làm” mà cả các tội phạm vì đã “thiếu sót bổn phận”.

Trong thần học luân lý hiện đại, ta thấy có khuynh hướng: những tội phạm do sự thiếu sót bổn phận, đặc biệt là trong lãnh vực tình liên đới với tha nhân, khi chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước bao nhiêu cảnh lầm than đói khổ của tha nhân, trước bao nhiêu cảnh bất công xã hội. Thậm chí, có nhà thần học còn muốn nói đến “tội xã hội”. Tuy nhiên, ý niệm này cần được giải thích rõ ràng hơn. Khi nói đến tội xã hội, thì không nên hiểu rằng, trăm tội đều đổ cho xã hội, và chúng ta chỉ là nạn nhân. Nói đến tội xã hội, các nhà luân lý chỉ muốn nhấn mạnh rằng bất cứ hành vi nào của ta, dù tốt dù xấu, cũng đều có ảnh hưởng đến xã hội. Ta làm điều tốt thì xã hội được nhờ, ta làm bậy thì xã hội bị hư hỏng lây (Một con sâu làm rầu nồi canh). Ngoài ra, khi nói đến tội xã hội, các nhà luân lý muốn nhấn mạnh đến trách nhiệm của chúng ta đối với tình trạng xã hội, cách riêng những người lãnh đạo xã hội: sự lơ đãng bổn phận, sự nhút nhát của họ làm cho xã hội càng ngày càng thêm sa đọa, thay vì phải được thăng tiến lên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói đến yếu tố ý thức và vô tri trong khía cạnh tội lỗi ở số 1859-1860, và trách nhiệm xã hội ở các số 1868-1869.
(Nguồn : catechesis.net)

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU



SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT LỄ LÁ -  NĂM C    23/3/2016 

Cái chết của Chúa đã làm đổi thay thế giới, làm xúc động bao tâm hồn và cũng gây cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. Bao kiệt tác đã lấy cái chết của Chúa làm chủ đề. Một họa sĩ đã vẽ cảnh tháo đinh, đưa xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thập giá. Đặc điểm của bức họa là người trong cảnh đều có khuôn mặt quen thuộc của những người cùng thời với họa sĩ. Và người đang tháo đinh ở Chúa ra chính là họa sĩ. Người ta hỏi họa sĩ về chuyện này, ông cắt nghĩa: Tôi đã từng đóng đinh Chúa vào Thập giá, đinh sắt là tội của tôi. Cần phải tháo gỡ những chiếc đinh tội lỗi ra khỏi thân xác của Chúa.
Để tháo gỡ chúng ta khỏi quyền lực tội lỗi, Chúa đón nhận tất cả một cách ý thức và chủ động.
Chẳng những bằng lời nói, Chúa còn chuẩn bị đi vào khổ nạn bằng hành động. Chúa lập phép Thánh Thể, dùng một lối khác diễn tả tình yêu vĩnh cửu Người dành cho nhân thế. Chúa dùng chính thịt máu làm của nuôi chúng ta, đó cũng như nói tình yêu và cái chết của Chúa đem lại sự sống muôn đời cho tâm hồn người ta.
Chúa Giêsu đi vào cuộc khổ nạn hoàn toàn đơn độc. Cái chết cũng đơn độc, và khi Chúa Giêsu mang thân phận con người, Chúa không muốn thoát khỏi số phận đó. Trong vườn Cây Dầu, Chúa không biết chia sẻ đau buồn với ai. Bao nhiêu âu lo chồng chất mà không ai hiểu, hay an ủi một lời. Chúa để ba môn đệ thân tín gần chỗ Người cầu nguyện, nhưng ba lần Chúa trở lại đều thấy họ ngủ say. Trên thập giá nhìn xuống, Chúa thấy mình hoàn toàn trơ trọi, bên Người chỉ còn Gioan, Mẹ Maria và vài phụ nữ. Chính Thiên Chúa Ngôi Cha như cũng như xa vắng, vì thế Chúa thốt lên lời cầu nguyện như một tiếng than van: "Lạy Chúa, Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con!".
Chúa Giêsu bị kết tội trước tòa đạo cũng như trước tòa đời. Hội đồng công nghị, cơ quan tối cao của Do Thái giáo kết án Chúa vì đã tự xưng là Con Thiên Chúa. Trong khi Philatô, Tổng trấn đại diện Đế quốc La mã xử Chúa vì đã nhân danh mình là Vua. Còn Chúa Giêsu, thay vì chối bỏ những lời cáo buộc, Người chỉ bình thản quả quyết mình là Con Thiên Chúa và là Vua. Nhưng cả hai danh hiệu này không phải có ý nghĩa như những người tố giác đã hiểu. Chúa là Con Thiên Chúa toàn năng. Người đã từng làm nhiều phép lạ, nhưng không làm gì để tự bảo vệ và thoát khỏi tay địch thù. Chúa không phải vị Vua như mọi người mong chờ. Chúa là Con Thiên Chúa, là Tình yêu tột đỉnh, yêu đến mức sẵn sàng chết vì người khác. Chúa là Vua, Người cai trị mọi tâm hồn bằng tình yêu mà xét xử nhân loại cũng theo luật Tình yêu. Chỉ khi ta nhìn Chúa chết trên thập giá, ta mới hiểu Người đã là Con Thiên Chúa và là Vua như thế nào.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra tội lỗi và thật lòng sám hối, chiến thắng tội lỗi là tháo gỡ những mũi đinh chúng con đã đóng vào chân tay Chúa.

Tranh "Ba Thập Giá " của Danh họa Rembrandt, Hòa Lan thế kỷ 17

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

LỄ KÍNH THÁNH CẢ GIUSE 19/3



Ðức Thánh Cha Nói Về Gương Thánh Giuse:

Anh chị em rất thân mến,
Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse. Vào trung tâm của Mùa Chay, Phụng vụ trình bày cho chúng ta vị thánh vĩ đại này như là gương mẫu để noi theo, và như là Ðấng bảo vệ để chúng ta cầu khẩn.
Trước hết, thánh Giuse là mẫu gương sống Ðức Tin cho chúng ta. Như Tổ Phụ Abraham, thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên “Lời Ngài” đã phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Ðịnh của Chúa.
Hơn nữa, chúng ta được mời gọi noi gương Ngài, trong việc khiêm tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi Ngài trong nếp sống thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất. Trường học Nazareth quý giá biết bao cho con người thời nay, bị bao vây bởi một nền văn hóa rất thường đề cao vẻ bề ngoài và sự thành công, đề cao sự độc lập và một quan niệm sai lầm về tự do cá nhân. Ngược lại, thật là cần thiết biết bao, việc phục hồi lại giá trị của sự đơn sơ và vâng phục, sự tôn trọng và yêu mến đi tìm thánh ý của Thiên Chúa.
Thánh Giuse đã sống phục vụ cho vị hôn thê của mình và cho Con Thiên Chúa; và như thế, đối với các tín hữu, thánh Giuse trở thành chứng tá hùng hồn cho biết phải cai trị hay phục vụ như thế nào. Ðặc biệt, tất cả những ai, trong gia đình, trong trường học và trong giáo hội, có trách vụ sống làm cha, làm người hướng dẫn, đều có thể nhìn về thánh Giuse, để được huấn luyện sống tốt lành. Nhất là tôi nghĩ đến những người cha, mừng lễ của họ vào đúng ngày lễ dành cho thánh Giuse. Tôi cũng nghĩ đến tất cả những ai mà Thiên Chúa đã thiết lập trong giáo hội để thực hiện “tình cha thiêng liêng”.
Nguyện xin thánh Giuse, vị thánh mà dân Kitô tin tưởng khẩn cầu, luôn hướng dẫn những bước tiến của đại gia đình Thiên Chúa. Xin thánh nhân hãy đặc biệt trợ giúp cho những ai đang chu toàn vai trò làm cha tự nhiên hoặc thiêng liêng. Xin thánh Giuse hãy cùng đồng hành với những lời khẩn cầu của chúng ta và xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta, Mẹ là vị hôn thê đồng trinh của thánh Giuse và là Mẹ của Ðấng Cứu Chuộc.


Mời nghe :




Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

CẢM TÁC TRẢ LỜI "MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ"


Lời giới thiệu:
Cô em họ biết ông anh của mình hay tếu, bèn gởi tặng tôi bài ''DUI CƯỜI MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ'', khiến tôi cũng cười ''anh chàng'' bày trò nịnh vợ bằng cách cả gan ''đổi'' GIỚI RĂN của Chúa thành lời phạm thượng.
Dưới bài ''nịnh vợ'', có ''cảm tác trả lời'' cho tác giả vô danh.

DUI CƯỜI MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA VỢ
Thứ nhất: Thương một mình VỢ và kính mến VỢ trên hết mọi sự.
Thư hai: Chớ kêu tên một phụ nữ khác vô cớ hay có cớ.
Thứ ba: Giữ Ngày Sinh của VỢ.
Thứ bốn: Thảo kính Cha Mẹ VỢ.
Thứ năm: Chớ giết người yêu của VỢ.
Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục với em của VỢ.
Thứ bảy: Chớ lấy tiền của VỢ.
Thứ tám: Chớ nói dối VỢ.
Thứ chín: Chớ muốn vợ người.
Thứ mười: Chớ tham của lạ.

CẢM TÁC TRẢ LỜI:

Hỡi người nịnh VỢ!
Sao ông chẳng sợ
Chúa Tể Thiên Cơ,
Giả bộ ngu ngơ
Nói năng tĩnh bơ
Đổ thừa cho vợ
Bắt ông tôn thờ
Chỉ một mình vợ?
Lời Chúa răn dạy
Ông dám dùng tay
Miệng, lưỡi ''đổi'' ngay
Khi ông đang say
Và ''nhát như cáy''
Để vợ nhăn mày
Lòng dạ chua cay
Nghe cũng bỏ chạy...!!!
Thì sẽ có ngày
Ông sợ, khoanh tay
Quỳ gối, thờ lạy
Chúa Vũ Trụ này!
Đẹp nhất mỗi ngày
Là ông ''ĂN NGAY
Ở LÀNH'' bằng TAY,
MIỆNG, LƯỠI, hết thảy...!
Tình thật tỏ bày:
Nghe tiếng gà gáy
Phêrô áy náy
Nước mắt tuôn chảy
Ăn năn tội ngay!
Đang là MÙA CHAY
Cơ hội tốt thay
Cho ông thờ lạy
Lời Chúa RĂN DẠY
Thế giới dọa đày... !

Đức Quốc, 03.3.2016
(Phan văn Phước cảm tác, tạm gọi là... thơ.)

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

"NGƯỜI VỢ" LÀ MỘT VĨ NHÂN



Vợ là vĩ nhân đúng 100%. Đang lúc vợ còn tại thế, người chồng xem thường công lao của VỢ. Lúc vợ mất rồi thì mới thấm thía nhận ra sự mất mát to lớn biết là chừng nào! Cám ơn tất cả các Bà vợ HIỀN.

                       Tràm Cà Mau


BÀI VIẾT:
Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết.“ Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình.
Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần, trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi, mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ, bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.
Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.” Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống! Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ.
Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.
Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ để, khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình.
Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về. Bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng.
Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt.
Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm: ''Bà đi đâu rồi?'' Khi chợt nhớ bà không còn nữa, ông chảy nước mắt, ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ, ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được.
Ông tiếc vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại.
Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ, muốn nói lời ân hận thì làm sao cho bà nghe được? Ông tự xét ông là con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa.
Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai mỉa. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh.
Lấy kinh nghiện đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng họ đang có hạnh phúc quý báu, họ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chiếc bóng thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.
Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ.
Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn, bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?
Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó là gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó.
Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ, đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp.
Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.” Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục.
Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết.
Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?” Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ dặp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến.
Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó thì, hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ.
Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt khách thuê sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện?”
Một lần đi Âu Châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các ‘tua’ du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn.
Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!” Ông cám ơn bà và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.
Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng.
Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu, về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thía. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng.
Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen điu, rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ?
Như thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.
Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.” Có những chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ, ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều.
Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ, ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.
Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạng suy sụp trầm trọng.
Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn.
Một buổi sáng, khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng, ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc:
“Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…”
Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nẩy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thía và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.” Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”
Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khỏe, và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không.
Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây, ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng, bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.
Mỗi sáng, ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây, cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó, họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt. Rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè.
Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”
Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”
Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ ‘phục vụ” làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi.
Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng.
Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí.
Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn.
Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông, bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn. Bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết.
Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân áí, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn.
Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già. Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ‘ông Phật đất’. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.
Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”
Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã li hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”
Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy. Có thật vậy không?”
Ông chồng cũ của bà Huyền ngững mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”
Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông.
Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn:
“Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”


 Tràm Cà Mau

(Phan Văn Phước chuyển)