Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

MỪNG LỄ PHỤC SINH



PHỤC SINH VỚI CHÚA

Mỗi lần mừng Chúa Phục Sinh
Lòng nghe dào dạt ''Diễm Tình Thiên Ân'':
Vì con, Thiên Chúa giáng trần!!!
Vì con, Ngài phải mang ''thân phận người''!!!
Vì con, Ngài bị nhạo cười!!!
Vì con, Ngài đổ Máu Tươi dọc đường!!!
Vì con, ở chốn Pháp Trường
Ngài yêu, gánh tội của dương thế này!!!
Vì con, Ngài bị dang tay

Tréo chân để ''kẻ hăng say giết mình''(quân dữ)
Cúi đầu, cầm búa đóng đinh
Ngài trên ''Thập Giá Hy Sinh Đền Bù''!!!
Con quỳ lạy Chúa Giêsu
Phục Sinh đè bẹp ''ba thù hung hăng'':
Thế gian, xác thịt, Xa-tăng (Satan)
Giúp con thờ Chúa Vĩnh Hằng, Tối Cao!!!
''Phục Sinh với Chúa'' là Rao
Tin Mừng Cứu Độ cho bao nhiêu người!!!


Đức Quốc, Thứ Bảy Tuần Thánh, 26.3.2016

Đaminh Phan văn Phước




MỪNG LỄ PHỤC SINH 

Để tới lễ Phục Sinh,
Phải qua tuần thương khó.
Vậy ai đang đau khổ,
Sẽ tới ngày hiển vinh…
             ***
Chúa sống lại như lời đã phán hứa.
Khắp nhân gian mừng rỡ cất tiếng ca :
Halleluia! Halleluia!!!
Nay sự Chết không còn đáng sợ nữa.
              ***
Nay sự Chết chỉ còn là cánh cửa 
Để Ki Tô hữu mạnh dạn bước vào;
Với xác hồn trong sạch và thanh cao,
Vượt Cửa Tử có thiên thần đón rước.
                  ***
Ôi! Thiên Chúa quyền năng ai suy được:
Tự giáng trần, hiến mạng rồi phục sinh,
         Chuộc tự do cho hết thảy chúng sinh,
Và đưa họ về hưởng Nhan Thánh Chúa.
Halleluia! Halleluia!!!

                               (Thế Kiên Dominic)


     MẦU NHIỆM CHÚA PHỤC SINH
                  ********
Mẩu nhiệm quyền uy Chúa Phục Sinh:
Vượt qua tri thức mọi sinh linh.
Vì chưng Thiên Chúa thương nhân loại
Đến nỗi Ngôi Hai tự hiến mình.
Tưởng niệm Giê Su Vua Cứu Thế
Vững tin Thánh Tử Chúa Chiên lành.
Chết đi, sống lại: lập Vương Quốc,
Kinh Thánh,Tin Mừng đủ chứng minh.

                               (Thế Kiên Dominic)

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

SUY NIỆM

CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM C - 26/03/2016 
                                                                       ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Phụng vụ hôm nay trình bày cho ta sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng.
Mở đầu phần nghi thức, nhà thờ chìm vào bóng tối. Bóng tối tượng trưng cho thế lực sự dữ, sự ác. Khi Đức Giêsu chưa Phục Sinh, sự dữ, sự ác còn thống trị. Nhân loại chìm ngập trong bóng tối sự chết.
Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh. Đức Kitô Phục Sinh chiếu lên nguồn sáng mới, xua tan đi bóng đêm. Đức Kitô Phục Sinh là sự sống mới đã chiến thắng sự chết.
Như cây nến muốn chiếu sáng phải tiêu hao chính mình. Đức Kitô đã phải chịu tiêu hao đi trong những đớn đau, khổ cực, tủi nhục và cả trong cái chết, mới đem lại ánh sáng sự sống cho ta.
Chúng ta là con cái Chúa, là con cái của sự sáng. Nhưng trong ta còn nhiều phần chưa thuộc về Chúa. Nhiều phần trong tâm hồn ta còn thuộc về bóng tối.
Có thứ bóng tối tội lỗi nhận chìm linh hồn ta trong những vực sâu tối đen không có đường thoát ra.
Có thứ bóng tối đam mê dục vọng gìm linh hồn ta trong cơn mê ngủ miệt mài, mất hết ý chí phấn đấu tiến lên.
Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ làm lu mờ lương tâm, lý trí, khiến ta coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa. Vì tiền bạc mà dám phạm những tội ác tày trời. Vì lợi nhuận của mình mà làm thiệt hại cho người khác.
Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù nó làm cho tâm hồn ta không lúc nào bình an, vì chìm ngập trong nỗi hận thù dai dẳng.
Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng khiến cho linh hồn ta không tìm thấy niềm vui trong sự khiêm nhường tha thứ.
Tất cả những bóng tối đó đang khiến linh hồn ta suy yếu, chết dần chết mòn. Tất cả những bóng tối đó ngăn chặn ánh sáng của Chúa, ngăn chặn dòng suối ơn lành của Chúa đổ vào hồn ta.
Để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch những bóng tối còn vương vấn trong tâm hồn.
Cũng như cây nến phải chịu tiêu hao mòn mỏi mới nuôi được ánh sáng soi chiếu đêm tối, ta cũng phải phấn đấu với chính bản thân mình, quên mình, chịu chết cho tội lỗi, để ta sống một đời sống mới.
Khi phấn đấu đẩy lùi bóng tối tội lỗi, ta thoát được ách ma quỷ và được sống trong ánh sáng của Chúa, trở nên con cái ánh sáng.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng ma quỷ, xin giúp chúng con chiến đấu với ma quỷ, để được sống một đời sống mới trong ánh sáng của Chúa.


Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

NGƯỜI KHÔNG CÓ Ở ĐÂY, ĐÃ TRỖI DẬY RỒI


Có bao giờ bạn tìm một vật gì đó bị thất lạc? Một cây bút bi, một đồng tiền lẻ, một chú cún thân yêu… Tìm là hành động có chủ đích để mong thấy được đối tượng, là nỗ lực hướng đến cái đang tồn tại, cái có thật nhưng còn ngoài tầm tay. Đoạn Tin Mừng đưa ta vào một cuộc tìm kiếm, cuộc tìm kiếm của những người phụ nữ. Trên đường đi có lẽ họ tự nhủ: Chúa phải nằm ở đây, phải nằm như thế này và ta sẽ làm những điều này… Những tâm hồn thật đẹp, những con người hào hiệp giữa bóng tối mờ sương đi tìm Chúa của họ. Nhưng kết quả không như họ muốn, bởi Thiên Chúa không hoạt động như ý muốn của con người. Chúa đã bù đắp thật cân xứng những tấm lòng chân thành và ước nguyện đơn sơ của họ, bằng chứng là Chúa đã hiện ra đầu tiên với Maria Macđala. Đây là biến cố quan trọng để cho biết Chúa đã sống lại, biến cố quan trọng bậc nhất trong niềm tin Kitô giáo, tầm quan trọng ấy được thể hiện rất sống động trong thánh lễ Canh Thức Phục Sinh đêm nay.
“Giờ khải hoàn đã đến, hiệu lệnh đã vang. Giờ chiến thắng. Giờ vinh quang. Giờ hồng phúc. Người là thủ lãnh thập toàn, đã phục sinh từ trong cõi chết. Sứ điệp này đã được các thiên thần loan báo, Maria đã loan truyền, các Tông đồ đã làm chứng, Hội thánh vẫn tuyên xưng… Biến cố vượt qua đã trở thành giờ ân sủng, giờ cứu độ, giờ quyết định cho tôi, cho bạn, cho mọi người. Từ chốn tối tăm bước vào ánh sáng, từ nơi thất vọng bước vào hy vọng.” – Alleluia.

Lạy Chúa Kitô Phục sinh, Chúa mang đến cho nhân loại chúng con niềm hạnh phúc vô biên và hy vọng tràn trề vì được tham dự vào sự sống của Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa và nguyện xin Chúa giúp chúng con biết sẵn sàng chấp nhận thử thách, vác thập giá hằng ngày để được kết hợp với Chúa trong cuộc khổ nạn phục sinh của Chúa. Amen. 

(Nguồn : dcvxuanloc.net)

TÌNH CHÚA VÔ VÀN



Món Quà mà Chúa thương ban
Là Cây Thập Giá chứa chan Tình Ngài!
Bạc vàng, châu báu, lâu đài
Thay nhau đổi chủ, nên Ngài chẳng ban!
Dù đời lận đận, gian nan
Không quên ''Tình Chúa Vô Vàn'', Chúa ơi!
Trước ''Giây Phút Chúa Tắt Hơi'
Ngài ban ''Thánh Mẫu Tuyệt Vời'' cho con!
Nhờ Tình Mẫu-Tử sắt son
Nhìn lên ''Thánh Giá cho con: Diễm Tình!''
Vì con, Thiên Chúa Giáng Sinh!
Vì con, Ngài bị đóng đinh trên đồi!
Vì con, ''Tế Lễ Đền Bồi''
Vì con, Chúa chết để rồi Phục Sinh!
Vì con, Chúa lại ''Ẩn Mình''
Ở trong ''Bánh-Rượu'', chứng minh Tình Ngài!!!
Đời con dù lắm chông gai
Vẫn tin rằng ''Chúa An Bài'' đoái thương!!!
Tạ Ơn ''Tình Chúa Khôn Lường!''
Đời là cõi tạm ở dương thế này!!!
Trước khi, nhắm mắt, xuôi tay
Ôm hôn ''Thánh Giá giải bày Tình Thương''
Tạ Ơn ''Thánh Mẫu Thiên Đường''
Giúp con theo Chúa, chẳng vương vấn gì!!!



Đức Quốc, Thứ Sáu Tuần Thánh, 25.3.2016
Đaminh Phan văn Phước


Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

BẠN BIẾT GÌ VỀ THỨ SÁU TUẦN THÁNH ?

Thứ Sáu Tuần Thánh là một ngày khủng khiếp nhất trong năm. Bạn đã xem phim “The Passion of theChrist” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) chưa? Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày mà Chúa Giêsu chịu sự bất công oan sai nhất: bị phản bội, bị chế nhạo, bị nhục nhã, rồi bị giết chết bằng cách chịu đóng đinh vào Thập Giá – loại hình phạt tệ nhất dành cho các tử tội dạng “đại ca” thời đó. Tiếng Anh gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Good Friday – Thứ Sáu Tốt Lành. Thứ Sáu Tuần Thánh có là Ngày Tốt Lành không? Sao người ta sợ Thứ Sáu ngày 13 vậy?


Tại sao người ta cho rằng cái chết của Chúa Giêsu là ngày TỐT LÀNH trong khi lại là ngày Đại Tang của Kitô giáo?

Thứ Sáu Tuần Thánh đã được hoạch định

Từ đầu, Thiên Chúa đã biết những gì sẽ xảy ra nên Ngài đã hoạch định phương cách. Ngài hóa thân làm người để giải quyết tất cả mọi khúc mắc. Chúng ta đã biết điều này, đúng không? Nhưng đôi khi chúng ta bỏ lỡ Phụng Vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Thiên Chúa biết rõ: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19:30).
Khi Chúa Giêsu trở nên của lễ cứu chuộc, tất cả đã xong. Những gì còn dở dang cũng được hoàn tất. Cái chết của Ngài là “chất xúc tác” làm cho mọi điều nên trọn. Sự sống lại, Chúa Thánh Thần hiện xuống, sự tái lâm của Chúa Giêsu. Khi cái chết xảy ra, mọi thứ khác cũng được thực hiện theo cách nhìn của Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi hướng thượng để được vào Nước Trời. Ngài muốn chúng ta hy vọng sự sống lại và mong đợi ngày Ngài tái lâm. Ngài đã hoàn tất mọi sự, không còn gì dở dang. Sự chết không còn quyền gì đối với linh hồn chúng ta, vì mọi sự đã hoàn tất. Tội lỗi không còn có thể làm chúng ta dơ bẩn khi Thiên Chúa nhìn chúng ta, vì mọi sự đã hoàn tất.

Ngày duy nhất không có Thánh Lễ

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hợp với truyền thống cổ xưa: Không có Thánh Lễ – tức là không có truyền phép Thánh Thể. Tuy nhiên, Thánh Thể vẫn được giữ từ Thánh Lễ hôm trước, và chúng ta vẫn được đón nhận Thánh Thể. Các bí tích khác vẫn được cử hành trong trường hợp khẩn cấp, như rửa tội cho người hấp hối hoặc xức dầu cho người bệnh nặng. Nghi thức an táng được cử hành nhưng không có đàn hát hoặc chuông.

Chúa Giêsu bị phản bội hai lần

Lần thứ nhất là Tông đồ Giuđa Ítcariốt. Ông nhận 30 đồng bạc, tiền “bán đứng” Thầy mình, ở một góc tối trong Vườn Ghếtsimani, nơi Chúa Giêsu thường tới cầu nguyện vào ban đêm. Lúc đó Giuđa thay đổi ý định, nhưng không thể được. Vì thất vọng, Giuđa đã treo cổ tự kết liễu đời mình. Lần thứ hai là Tông đồ Phêrô. Chỉ vài giờ sau khi Chúa Giêsu bị bắt, ông đã sợ nên chối phăng là không biết Thầy Giêsu khi có người nhận ra ông là người đi theo Chúa Giêsu. Ông không chối một lần mà chối tới ba lần. Khi bị dẫn đi, ánh mắt Chúa Giêsu đã nhìn Phêrô với ánh mắt nghiêm nghị và đầy lòng trắc ẩn.

Sự phản bội đã biến đổi Phêrô

Sau khi thấy ánh mắt Chúa Giêsu, Phêrô sợ hãi và hoảng hốt vì tính hèn nhát của mình, ông bật khóc ăn năn. Ông được Chúa tha thứ và can đảm rao giảng Tin Mừng. Bài giảng của ông vào ngày lễ Ngũ Tuần đã khiến 3.000 người xin được rửa tội. Ông trở nên giáo hoàng tiên khởi và chịu tử đạo tại Rôma. Khi người Rôma đóng đinh ông vào thập giá, ông cảm thấy mình không xứng với Chúa Giêsu nên xin được đóng đinh ngược. Quân lính đã lật ngược thập giá theo ý ông muốn. Hằng trăm năm sau, các Kitô hữu bị bách hại đã bí mật đến viếng mộ Thánh Phêrô, và rồi Kitô giáo được công nhận thời Hoàng đế Constantine. Hài cốt Thánh Phêrô được cải táng về Đền thờ Thánh Phêrô. Ngày nay, Vatican lưu giữ những gì được tin là hài cốt Thánh Phêrô, được phát hiện những năm trước đây tại hầm mộ bên dưới bàn thờ của đền thờ này.

Không ăn uống gì từ 12 giờ tới 15 giờ

Ăn chay và kiêng thịt là truyền thống ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Tại sao? Vì đây là ngày Thiên Chúa bị phản bội, hạ nhục, hành hạ, mỉa mai bởi chính đám người mà mới vài ngày trước tung hô vạn tuế Ngài, rồi giết chết Ngài như một tên tội phạm. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu bị treo Thập Giá từ trưa cho tới 3 giờ chiều. Đây là khoảng thời gian nắng gay gắt. Đây cũng là khoảng thời gian tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta ơn cứu độ, nhưng chúng ta đã rũ bỏ. Để nhớ ba tiếng đồng hồ ghê rợn này, nhiều người nhịn ăn uống bất cứ thứ gì. Tại sao? Để than khóc chính mình, để đền tội mình, để thông phần đau khổ với Chúa Giêsu, đặc biệt là để sám hối về những lần chúng ta đã hèn nhát, không dám đứng lên bảo vệ sự thật, không dám đấu tranh chống lại bất công, hoặc không dám tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Tôn kính Thánh Giá

Trong Giáo Hội Công giáo, Thứ Sáu Tuần Thánh không cử hành Thánh Lễ, nhưng có nghi thức tôn kính Thánh Giá để tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. Nghi thức này thường được cử hành lúc 3 giờ chiều, giờ Con Thiên Chúa trút hơi thở trên Thánh Giá. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh, có thể cử hành trễ hơn, nhưng phải trước 9 giờ tối.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Tử thần chiến bại

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày ảm đạm, ngày đại tang, nhưng lại là ngày tốt lành vì Con Thiên Chúa đã hoàn tất mọi sự. Chính cái chết của Ngài khiến Tử Thần phải bó tay, đành thua cuộc. Kẻ thù vẫn tìm cách hãm hại chúng ta, muốn kéo chúng ta về phe chúng, nhưng chúng không thể chiến thắng vì chúng đã thua Con Thiên Chúa.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Khởi đầu phục sinh

Thứ Sáu Tuần Thánh là khởi đầu của sự chết, nhưng cũng chính là khởi điểm của sự phục sinh. Alleluia, Chúa Giêsu đã sống lại vinh quang!
Người ta sợ Thứ Sáu ngày 13 vì người ta thấy trong Bữa Tiệc Ly có 13 người: Chúa Giêsu và 12 môn đệ. Giuđa Ítcariốt là người phản bội, bị coi là người mang "bí số" 13. Đừng dị đoan nhảm nhí mà "sợ" ngày này. Thứ Sáu nào cũng tốt lành, Thứ Sáu Tuần Thánh càng tốt lành hơn!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)


Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

CHUYỆN LẠ TỪ BÍCH HỌA BỮA TIỆC LY VÀ DANH HỌA LEONARDO DA VINCI

Khoảng tháng Ba, tháng Tư hằng năm, vào những ngày nắng nóng gay gắt và oi ả nhất, người Công giáo nói riêng và các giáo hội có niềm tin Kitô khác long trọng kính nhớ và tưởng niệm Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Và danh họa Leonardo Da Vinci có công lớn khi tạo nên bức họa Bữa Tiệc Ly kỳ diệu…
Leonardo Da Vinci
Danh họa Leonardo Da Vinci vẽ bích họa Bữa Tiệc Ly (The Last Supper) mất 3 năm liền – không là 7 hoặc 20 năm như một số người nghĩ. Ðó là bức tranh vẽ mô tả Chúa Giêsu và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Giuđa phản bội. Bữa Tiệc Ly vào chiều tối một ngày thứ Năm, thời điểm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục tư tế.
Leonardo đã tốn nhiều công phu đi tìm người mẫu. Giữa hàng ngàn thanh niên ông mới chọn được một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu vẽ Chúa Giêsu. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt 6 tháng liền trước chàng trai để hình ảnh Chúa Giêsu có thể hiện ra trên bức họa.
Những năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 môn đệ, chỉ còn Giuđa – người môn đệ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ thâm độc. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình…
Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn chưa đủ để biểu lộ cái ác của Giuđa. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một người mà ngoại hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Người đó đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì tội giết người và nhiều tội ác tày trời khác.
Da Vinci lập tức lên đường đi Rôma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Ðúng, đây là Giuđa!
Ðược phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo với lính gác: "Các anh đem người này đi đi…". Lính canh túm lấy kẻ tử tù nhưng hắn đột nhiên vùng ra, lao đến quỳ xuống bên chân Da Vinci và khóc nức lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn tôi! Ngài không nhận ra tôi sao?".
Da Vinci quan sát kẻ mà 6 tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt, rồi ông đáp: "Không, tôi chưa từng nhìn thấy anh cho đến khi anh được đưa đến từ hầm ngục Rôma". Tên tử tù kêu lên: "Ngài Vinci, hãy nhìn kỹ tôi đi! Tôi chính là người mà ngài đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu đây…".
Câu chuyện này có thật, như bích họa Bữa Tiệc Ly là có thật. Chàng trai từng được chọn làm hình mẫu vẽ Chúa Giêsu đã tự biến mình thành hình tượng của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử chỉ sau một thời gian ngắn!
Leonardo di ser Piero da Vinci sinh ngày 15/4/1452 tại Anchiano (Ý), mất ngày 2/5/1519 tại Amboise (Pháp). Ông là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một triết gia tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì Da Vinci có nghĩa là "đến từ Vinci", không phải là họ thật của ông. Tên khai sinh là Leonardo di ser Piero da Vinci có nghĩa là "Leonardo là con của Ser Piero, đến từ Vinci". Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa Tiệc Ly…
Ông là người có những ý tưởng đi trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, cách sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull), cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết kế của ông đã được thực hiện và khả thi ngay lúc ông còn sinh thời. Ứng dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong lĩnh vực giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực. Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa học, và bút ký.
Bức họa Bữa Tiệc Ly
Nội dung: Bức tranh mô tả một sự kiện tôn giáo trong Kinh Thánh: Giuđa Iscariôt – một môn đệ của Chúa Giêsu – đã tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng thầy của mình chỉ với 30 đồng bạc. Chính giữa bức tranh là chúa Giêsu đang nói với các môn đệ: "Trong anh em có người sẽ bán rẻ Thầy". 12 môn đệ ngồi đồng bàn, mỗi người một vẻ mặt khác nhau: 3 người thì thầm bàn bạc, 3 người tỏ vẻ giận dữ (trong đó có 1 người đập mạnh tay xuống bàn), 1 người lộ vẻ nghi ngờ, 1 người tỏ ra ngạc nhiên, 1 người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành, 2 người lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền – đó chính là Giuđa, người mặc áo xanh thứ tư từ bên trái, tay cầm bọc tiền, có thể là tiền bán Chúa. Sau lưng ông là một khoảng tối, còn sau lưng Chúa Giêsu là ô cửa đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Chúa Giêsu làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ mà cương nghị. Sự tương phản mạnh mẽ này đã biểu đạt được sự căm giận sâu sắc của tác giả đối với lũ gian ác, sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa.
Nghệ thuật: Trước Vinci đã có nhiều họa sĩ nổi tiếng đã vẽ đề tài này, tuy nhiên họ đều thất bại. Bích họa của Da Vinci nổi tiếng nhất vì hai lý do: Thứ nhất, lần đầu tiên buổi tiệc ly được vẽ với các nhân vật hết sức sống động như người thật. Mỗi môn đệ tỏ một thái độ khác nhau khi nghe Chúa báo tin có người phản bội. Người thì bàng hoàng, người thì muốn ngất xỉu (thánh Gioan, người ngồi bên phải Chúa), mấy người khác ngạc nhiên hỏi nhau. Thứ hai, khả năng thể hiện luật viễn cận của Da Vinci trong bức họa rất tuyệt vời, mọi điểm trên bức tranh đều tụ về một điểm chung là khuôn mặt của Chúa. Một trong những nguyên nhân gây thất bại ở các họa phẩm khác là chưa phản ánh chân thực về 12 môn đệ, đặc biệt là hoạt động tâm lý phức tạp của Giuđa. Tác phẩm của Da Vinci đã giải quyết mỹ mãn vấn đề này. Từ đó về sau, không hoạ sĩ nào vẽ lại đề tài này nữa bởi họ cho rằng không thể vượt qua tác phẩm của danh họa Da Vinci.
Để vẽ nên bức tranh này, Vinci đã gặp không ít khó khăn, nhất là phải xử lý nhân vật Giuđa. Để giải quyết khó khăn này, hàng ngày Vinci phải đi lang thang trong thành phố để quan sát cử chỉ, hành động của bọn tội phạm, lưu manh rồi vẽ đi vẽ lại hàng trăm bức họa Judas ở các tư thế khác nhau. Việc đi lang thang trong thành phố như vậy đã nảy sinh lòng nghi ngờ của bao người, trong đó có cả giáo sĩ. Sau đó, nhờ thị trưởng thành phố, Vinci đã giải quyết được hiểu lầm, và bức tranh ngày nay vẫn còn trên tường nhà thờ.
Thời gian: Có một địa điểm mà mọi du khách đến thành phố Milan (Ý) đều muốn được xem, đó là nơi có bích họa Bữa Tiệc Ly của danh họa Leonardo Da Vinci, được vẽ trên tường nhà thờ Santa Maria della Grazie từ thế kỷ XV (trong 3 năm, từ 1495–1498). Thời gian đó, danh họa làm việc ở Milan dưới sự bảo trợ của công tước Sforza, và chính Sforza đã đặt vẽ bức tranh này.
Do lượng khách muốn xem tranh rất đông, mà theo quy định thì mỗi lần chỉ có 25 người được vào xem trong 15 phút nên khách thường phải đặt mua vé trên Internet trước 2 tháng (giá 8 euro). Muốn xem sớm hơn thì có thể mua vé tại một số công ty du lịch với giá đắt hơn, khoảng 20 euro.
Du khách được nhân viên dẫn qua mấy lớp cửa bảo vệ để vào nhà thờ, nơi bức họa được Da Vinci vẽ trên bức tường cách đây 600 năm với kích thước 8,8m x 4,6m. Khi sáng tác bức họa, Da Vinci không theo kỹ thuật lúc bấy giờ là sử dụng thạch cao ướt mà dùng thạch cao khô. Vì vậy, bức tranh bị tàn phai nhanh chóng theo thời gian. Nhiều thế kỷ sau, người ta phải tu sửa rất nhiều lần và việc này cũng gây nhiều tranh cãi về độ chính xác của bức họa.
Khi Pháp chiếm Milan hồi thế kỷ XVIII, quân lính của Napoléon đã phá hoại không thương tiếc bằng cách ném đá lên bích họa này. Trước đó (thế kỷ XVII), một người vô ý thức ở nhà thờ còn nảy ra ý định đục một cánh cửa ra vào ở giữa bức tường, ngay vị trí chân của Chúa. Sau này, cánh cửa bị bít lại, nhưng phần chân Chúa phía dưới bàn (theo các bản vẽ ban đầu có tư thế bắt chéo như khi bị treo trên thánh giá) không được phục hồi lại. Lần bức họa bị phá hoại nặng nề nhất là thời Đệ nhị Thế Chiến, khi nhà thờ bị bỏ bom và hư hỏng nặng.
Cũng trong căn phòng này, đối diện với bức tranh Buổi tiệc ly là bức Thập Tự Giá của Giovanni Donato da Montorfano – một họa sĩ cùng thời với Da Vinci nhưng ít nổi danh hơn. Cho dù đã từng xem bức tranh nổi tiếng của Da Vinci trong sách, nhưng khi đứng trước tuyệt tác này, nhiều người mới khả dĩ cảm nhận được kích thước to lớn của nó và đặc biệt là nghệ thuật xử lý ánh sáng của danh họa, vì ánh sáng trong bức tranh được vẽ là hướng từ cửa sổ bên trái phía sau.
Phần bên phải của bức tranh được danh họa vẽ sáng hơn, màu sắc trang phục các nhân vật cũng được xử lý rất khéo: Cùng màu xanh, nhưng chiếc áo của những người ngồi bên phải khác với màu xanh chiếc áo của Chúa ở giữa và những người ngồi bên trái. Những điều này khó có thể cảm nhận được trên các bản sao, dù là hình hoặc phim ảnh.
(tổng hợp)
(Nguồn: tgpsaigon.net)

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

ĂN CHAY HAY ĂN CHƠI ?


Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay được đặt tên là Chúa Nhật “Laetare” (Vui lên đi), dường như mang tính cách xả hơi sau khi đã trải qua một nửa chặng đường đền tội. Tuy nhiên, so với các tôn giáo khác, xem ra việc ăn chay trong Kitô giáo có vẻ “ăn chơi”, chứ đâu có gì khắc khổ! Phải chăng đó là do kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo lỏng lẻo, hay bởi vì các tín hữu không thực hành việc ăn chay cách nghiêm túc?
Tôi không dám so sánh kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo với các tôn giáo khác, bởi vì không biết có nên dừng lại ở khía cạnh lý thuyết hay cần phải kiểm chứng cả phương diện thực hành nữa. Thực ra, khi đọc Phúc Âm, chúng ta đã thấy ngay từ thời của Chúa Giêsu, đã có người nêu vấn nạn rồi, bởi vì xem ra các môn đệ của Ngài ăn chơi, đang khi các môn đệ của ông Gioan thì ăn chay. Chúng ta hãy đọc lại đoạn sách Tin Mừng thánh Marco, chương 2 câu 18-20:
Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang ăn chay; có người đến hỏi đức Giêsu: tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ người Pharisêu ăn chay, mà các môn đệ ông lại không ăn chay?. Đức Giêsu trả lời như sau: Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được, nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.
Qua câu nói vừa rồi, ta thấy Đức Giêsu đi xa hơn các ngôn sứ một bước. Thực vậy, trong Cựu ước, các ngôn sứ (tựa như ông Isaia, ở chương 58) đã đặt việc ăn chay trong bối cảnh của tất cả đời sống luân lý, nghĩa là không chỉ kiêng ăn uống mà còn phải kiêng phạm tội, kiêng xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta đã nghe đoạn văn này trong Thánh lễ ngày thứ 6 và thứ 7 đầu Mùa Chay. Chúa Giêsu thì mở thêm một chiều kích khác, chiều kíchhuyền bí của việc ăn chay: việc ăn chay mang một ý nghĩa tang chế bởi vì mất đi một người yêu. Chính vì thế mà trong Mùa Chay, Giáo luật buộc ăn chay vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. Việc ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro mang tính cách sám hối đền tội; còn việc ăn chay thứ Sáu Tuần Thánh thì mang màu sắc tang chế.
Giáo luật chỉ buộc ăn chay mỗi năm hai ngày thì đâu thấm thía gì khi so sánh với nhiều tôn giáo ở Việt Nam buộc ăn chay mỗi tháng 2 lần, vào mồng 1 và ngày rằm?
Thiết tưởng nên phân biệt: một bên là luật buộc, một bên là khuyến khích. Tôi không dám quyết chắc rằng ở Việt Nam có tôn giáo nào buộc phải ăn chay hay không, hoặc là chỉ khuyến khích mà thôi. Trong lịch sử Kitô giáo, thì ta thấy có sự phân biệt này, tuy trải qua thời gian, đã có sự tiến triển trong cả hai khía cạnh.
Vào thời Chúa Giêsu tại thế, thì các môn đệ không ăn chay. Từ hồi nào thì các Kitô hữu bắt đầu ăn chay?
Như chúng ta đã biết, những tài liệu về các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo không được phong phú cho lắm. Dù sao, chúng ta đừng nên quên rằng, các tín hữu đã giữ ấn tượng sâu đậm về việc Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày vào lúc khai mạc sứ vụ, một điều mà Cựu ước cũng đã ghi nhận nơi hai vị đại ngôn sứ Moses và Eliah. Sách Tông Đồ Công Vụ cũng thuật lại rằng, thánh Phaolô đã ăn chay 3 ngày sau khi trở lại (chương 9, câu 9), và khi lãnh sứ mạng làm tông đồ dân ngoại (chương 13, câu 2-3). Những lần ăn chay này xem ra mang tính cách huyền nhiệm, nghĩa là chuẩn bị để gặp gỡ Chúa, chứ không mang tính cách đền tội hoặc tang tóc.
Từ thế kỷ thứ II và III trở đi, có nhiều tài liệu cho biết các tín hữu giữ chay vào hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh, như là dấu hiệu tang tóc. Hơn thế nữa, thánh Irénee, trong thư gửi tới Giáo Hoàng Victor cho biết rằng, các tín hữu ở bên Đông phương giữ chay suốt Tuần Thánh. Sang thế kỷ IV, chúng ta thấy nhiều Giáo phụ bên Tây và bên Đông, nói đến tục lệ giữ chay suốt 40 ngày.
Và tục lề ấy kéo dài cho đến ngày nay, phải không?
Không hoàn toàn đúng như vậy. Một đàng, ngày nay, lịch Phụng vụ bắt đầu Mùa Chay từ thứ Tư Lễ Tro, nghĩa là 46 ngày chứ không phải 40 ngày. Lý do là tại vì một tục lệ khá cổ đã ngưng giữ chay vào các ngày Chúa Nhật; do đó, phải tính trội thêm 6 ngày cho đủ số 40. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng hơn nữa là ở chỗ nội dung việc giữ chay. Chắc hẳn chúng ta đều đã biết những quy định của Bộ Giáo Luật hiện hành về việc giữ chay.
Trong các ngày giữ chay, có phải chỉ được ăn no một bữa thôi đúng không?
Tạm chấp nhận như vậy đi. Cần nói thêm rằng, Giáo Luật hiện nay chỉ ấn định phải giữ chay 2 ngày, đó là thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. Thời xưa, các tín hữu phải giữ chay 40 ngày, chứ không phải chỉ có 2 ngày mà thôi. Và còn một sự khác biệt quan trọng nữa, đó là ngày chay thì không được ăn uống gì hết!
Như vậy là tuyệt thực 40 ngày hay sao?
Tôi xin lặp lại, vào thời xưa, trong suốt 40 ngày, các tín hữu không được ăn uống gì hết. Nhưng đó không phải là tuyệt thực. Trong suốt ngày, họ không được ăn uống, nhưng khi mặt trời lặn (nghĩa là hết ngày, và đêm về) thì họ được phép ăn một bữa.
Cũng như các tín đồ Hồi giáo trong mùa Radmadan, ban ngày thì ăn chay nhưng ban đêm thì đánh chén, phải không?
Tôi không biết luật của Hồi giáo đã quy định thế nào về việc giữ chay, nhưng các Kitô hữu cổ thời kèm theo việc giữ chay với việc kiêng thịt, kiêng rượu, kiêng đồ béo. Vì thế khó mà tưởng tượng được rằng họ được phép đánh chén sau khi mặt trời lặn!
Như vậy thì các tín hữu thời xưa ăn chay nghiêm túc, còn ngày nay thì chúng ta chỉ ăn chơi. Từ hồi nào có sự chuyển hướng như vậy?
Theo các sử gia, sự chuyển hướng xảy ra vào thời Trung cổ, vào lúc mà lòng nhiệt thành bắt đầu suy giảm, đồng thời óc vụ luật bắt đầu len lỏi vào đời sống đạo. Vào các thế kỷ đầu tiên, khi các tín hữu giữ chay vào thứ Sáu Tuần Thánh, thì việc chay tịnh mang tính cách huyền nhiệm và Phụng vụ, theo nghĩa là các tín hữu dành hôm đó vào việc cầu nguyện và cử hành Phụng vụ. Đến khi Mùa Chay kéo dài ra 40 ngày, thì dĩ nhiên là không thể nào ngồi trong nhà thờ suốt trong thời gian đó. Còn bao nhiêu công việc khác phải làm nữa chứ, và nếu bụng đói thì làm sao cuốc đất được? Từ đó, người ta tìm cách nào giải thích luật theo nghĩa co dãn.
Như đã nói trên đây, thời xưa, các tín hữu không được ăn uống gì trong suốt ngày giữ chay. Việc chấm dứt ngày chay không được đánh dấu bằng việc mặt trời lặn, nhưng là với Kinh Chiều. Để tôn trọng tục lệ cổ, người ta đọc Kinh Chiều liền sau giờ Chín (nghĩa là 3 giờ trưa), và từ thế kỷ XIV thì đọc kinh trùng với bữa ăn trưa! Ngoài ra, dựa theo chứng tích của thánh Tôma Aquinô, người ta biết rằng cho đến thế kỷ XIII, việc giữ chay bao trùm luôn cả việc kiêng uống (chứ không phải chỉ kiêng ăn); thánh Tôma thì nới rộng hơn một chút, khi cho rằng việc uống nước không phá chay (Summa Theology II-II, q.147, a.6).
Như vậy, thời xưa, khi giữ chay thì chỉ được ăn một bữa, và cùng lắm chỉ được phép uống tí nước cho đỡ khát. Từ hồi nào được ăn thêm bữa phụ?
Theo các sử gia, tục ăn thêm bữa phụ bắt nguồn từ các Đan Viện. Nên biết là luật Giáo Hội thời xưa chỉ buộc giữ chay trong Mùa Chay(nghĩa là 40 ngày trước Lễ Phục Sinh), còn trong các Dòng Tu, thì ngoài luật phải kiêng thịt suốt đời, họ còn phải giữ chay từ lễ Suy Tôn Thánh Giá (14 tháng 9) cho đến Lễ Phục Sinh năm sau (nghĩa là hơn kém 7 tháng). Xét vì các đan sĩ phải làm việc đồng áng chứ không chỉ ngồi trong nhà thờ đọc kinh, cho nên họ được phép uống một ly rượu vào ban tối, sau khi nghe đọc sách Collationes của Cassiano. Dần dần, bên cạnh ly rượu còn thêm tí bánh. Từ đó, bữa lót lòng được gọi là Collationes(Ngày nay trong tiếng Ý, bữa điểm tâm được gọi là colazione). Từ thế kỷ XIV, các giáo dân cũng được phép dùng bữa lót lòng vào những ngày giữ chay. Thế rồi từ chỗ điểm tâm lót lòng, kỷ luật giữ chay được nới rộng dần dần co đến kỷ luật hiện hành ngày nay.
Tóm lại, khi ôn lại lịch sử, ta có thể kết luận rằng kỷ luật khổ chế đã sa sút: từ chỗ ăn chay nghiêm ngặt vào các thế kỷ đầu, sang đến chỗ lỏng lẻo đến nỗi chỉ còn là ăn chơi vào thời cận đại, có đúng như vậy không?
Cần phải phân biệt hai khía cạnh:
- Một bên là kỷ luật. Xét về kỷ luật, thì khi so sánh với các thế kỷ đầu tiên, quả thật việc ăn chay ngày nay chỉ còn là chuyện ăn chơi.
- Một bên là tinh thần. Khi xét về mặt tinh thần, thì việc phê bình đối chiếu thật không đơn giản.
Việc giữ chay chỉ là một phương tiện khổ chế đền tội cũng như là một phương tiện bày tỏ ý chí cải hoán. Từ thời các Giáo phụ, Giáo Hội không hề tách rời việc ăn chay với các phương tiện khác nữa để đạt đến cùng một mục tiêu, đó là: sự cầu nguyện, thực hành nhân đức, đặc biệt là đức bác ái. Vì thế để đánh giá trình độ đạo đức của một cá nhân hay một thời đại, chúng ta không thể chỉ đo lường qua mức độ nghiêm khắc của kỷ luật ăn chay, nhưng còn phải đối chiếu với việc thực hành các công tác từ thiện bác ái, các hành vi tự kiềm chế tính kiêu ngạo ích kỷ, cũng như thái độ từ tốn trong cách cư xử với Thiên Chúa và tha nhân nữa. Dù sao, trong vấn đề này chúng ta cần dung hòa cả hai khía cạnh: kỷ luật và tinh thần. Kỷ luật nghiêm khắc mà không có tinh thần thì dễ rơi vào thái độ bôi bác giả hình. Tinh thần mà không có kỷ luật thì có nguy cơ tan biến ra khói!