Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

TẠI SAO LẠI GỌI LÀ "DÒNG BA"?

Tại Sao Lại Gọi Là "Dòng Ba"?

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Tại Việt Nam, có nhiều hội viên Dòng Ba Đaminh, Dòng Ba Phanxicô, Dòng Ba Carmêlô. Tại sao gọi là Dòng Ba?
Từ “Dòng Ba” giả thiết “Dòng Nhì” và “Dòng Nhất”. Cho đến thời gian gần đây, người ta cho rằng từ này xuất hiện thời Trung cổ, cách riêng với Thánh Phanxicô Assisi. Ngày nay, các sử gia cho rằng nó đã được sử dụng ít là ba thế kỷ trước Thánh Phanxicô. Thiết tưởng nên lưu ý về danh từ Ordo trong tiếng La-tinh (tương đương với Ordre tiếng Pháp, Order tiếng Anh). Ordo tự nó không phải là một Dòng Tu, nhưng chỉ có nghĩa là một đoàn ngũ, chẳng hạn như ngày nay bên Pháp, từ Ordre vẫn còn dùng cho đoàn ngũ các y sĩ, luật sư, ký giả. Trong Giáo hội thời cổ, chúng ta thấy bên cạnh đoàn ngũ các giám mục, linh mục, trợ tá (ordo episcoporum, presbyterorum, diaconorum), còn có đoàn ngũ các trinh nữ (ordo virginum), đoàn ngũ các góa phụ (ordo viduarum). Sang thời Trung cổ, từ thế kỷ X, người ta thấy vài tác phẩm nói đến ba hàng ngũ (đẳng trật) trong Giáo hội, đó là: hàng giáo sĩ, hàng đan sĩ, và hàng giáo dân. Các giáo dân được xếp vào hàng ngũ thứ ba, tertius ordo, sau các giáo sĩ và các tu sĩ. Với Thánh Phanxicô Assisi, người ta sử dụng một lối phân hạng khác: dòng nhất là các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu Clara, Dòng Ba là các giáo dân sống ngoài đời. Từ đó, Dòng Ba được hiểu là các giáo dân sống ngoài đời, nhưng muốn nên trọn lành qua việc khấn hứa giữ một bản tu luật.
Như vậy là Thánh Phanxicô là người đầu tiên lập ra Dòng Ba phải không?
Trước đây (nghĩa là cho đến giữa thế kỷ XX), câu trả lời là: đúng thế! Nhưng kể từ thập niên 60 của thế kỷ vừa rồi, những cuộc nghiên cứu lịch sử Dòng Tu thời Trung cổ đã lật ngược câu trả lời. Vì thế ngày nay, các sách lịch sử về các Dòng Ba phải được viết lại. Thực ra, ngay từ thế kỷ VIII, đã có nhiều giáo dân muốn chia sẻ nếp sống tu trì của các đan sĩ Biển đức dưới nhiều dạng thức (tựa như các bõ ngãi hay các cư sĩ ở Việt Nam). Họ xin đến trọ tại các đan viện, tình nguyện làm công không lấy lương, và bù lại họ muốn được tham gia vào sinh hoạt phụng vụ của nhà dòng. Đôi khi họ cũng mặc áo dòng như các đan sĩ, nhưng họ không tuyên khấn. Đó là hình thức oblati, donati, conversi. Nhưng sang đến thế kỷ XII-XIII, chúng ta lại chứng kiến một hiện tượng khác, đó là: nhiều phong trào gíao dân nổi lên, yêu cầu cải cách Giáo hội, bằng việc trở về với nếp sống khó nghèo của Phúc âm.
Tuy rằng một số phong trào đó đã ly khai khỏi Giáo hội, nhưng đa số không dừng lại ở chỗ kêu gào cải cách bằng miệng nhưng còn thực hành lý tưởng bằng đời sống bản thân. Họ mang danh là đoàn ngũ các hối nhân (Ordo penitentium). Đến khi Dòng Thánh Đaminh và Dòng Thánh Phanxicô xuất hiện thì họ đến nhờ các tu sĩ hướng dẫn. Dĩ nhiên là họ cũng chia sẻ lý tưởng Phúc âm mà hai thánh tổ phụ đề ra, và thậm chí còn xin mặc tu phục của hai dòng đó. Từ đó, hàng ngũ hối nhân (Ordo penitentium) chia thành hai ngành, ngành xám (màu áo Dòng Thánh Phanxicô) và ngành đen (màu áo choàng của Dòng Thánh Đaminh). Lần lượt các bản luật cũng được soạn ra: luật ngành xám được Toà thánh châu phê từ năm 1289; còn luật ngành đen thì được cha Munio de Zamora soạn từ năm 1285, nhưng mãi tới năm 1405 mới được Toà thánh châu phê. Lần lượt Toà thánh cũng châu phê bản luật của các Dòng khác soạn cho các giáo dân muốn chia sẻ tinh thần của mình, chẳng hạn như: dòng Âutinh (1399 cho nữ giới và 1470 cho nam giới), Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (1424), dòng Carmêlô (năm 1476), vv. Nên biết là Dòng Thánh Phanxicô đã sớm gọi hàng ngũ hối nhân của mình là “Dòng Ba Phanxicô” (như nhận thấy qua một văn kiện năm 1292), chứ các dòng khác thì mãi mấy thế kỷ sau mới du nhập từ ngữ Dòng Ba.
Các hội viên Dòng Ba có mặc áo dòng như các tu sĩ không?
Như vừa nói trên đây, từ thế kỷ XIII, các hối nhân đã phân thành hai nhánh - xám và đen - dựa theo màu áo choàng. Nói chung, vào lúc đầu các hội viên Dòng Ba cũng xin được mặc áo dòng như các tu sĩ. Nhưng dần dần, vì sự tiến triển y phục bên châu Âu cũng như vì công tác lao động, cho nên các hội viên Dòng Ba không mặc toàn bộ áo dòng như các tu sĩ (trừ khi tham dự các buổi rước kiệu và lúc tẩm liệm trong quan tài), nhưng chỉ mặc một áo cộc, làm biểu hiệu.
Các hội viên Dòng Ba có phải tuân giữ những nghĩa vụ nào không?
Dĩ nhiên các tín hữu xin gia nhập Dòng Ba không phải để lãnh áo dòng làm kiểng. Như đã nói trên đây, nguồn gốc của các Dòng Ba là phong trào các hối nhân: họ chủ trương nếp sống khắc khổ, trở về với những yêu sách của Tin mừng. Trên thực tế, đã có nhiều sự thay đổi về kỷ luật các hội viên Dòng Ba từ thế kỷ XIII cho đến nay. Vào lúc đầu, các hội viên cũng tuyên khấn tuân giữ vài nghĩa vụ mà bản Kỷ luật đặt ra, chẳng hạn như việc cầu nguyện (nguyện kinh nhật khóa), thực hành khổ chế (trong đó có việc kiêng thịt suốt đời, khước từ tham dự các buổi lễ hội giải trí dân gian), và đôi khi lời hứa giữ khiết tịnh (ai chưa lập gia đình thì phải giữ độc thân, còn người đã có gia đình thì không được tái hôn).
Như vậy, các hội viên cũng phải tuyên khấn như các tu sĩ hay sao?
Bản luật của Dòng Ba Đaminh soạn năm 1285 đã dự trù một thời kỳ tập luyện là 1 năm, và sau đó hội viên tuyên khấn. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của lời khấn Dòng Ba không được coi như tương đương với lời khấn của các tu sĩ. Điều này càng rõ rệt hơn khi mà trong số các hội viên Dòng Ba, một vài người đã họp nhau thành cộng đoàn, tuân giữ một bản luật khác với bản luật dành cho các giáo dân. Người ta gọi họ là “Dòng Ba tu trì” (tertiarii regulares), đối lại với “Dòng Ba đời” (tertiarii seculares). Các hội viên Dòng Ba tu trì - đa số là nữ giới - sống thành cộng đoàn, giữ ba lời khấn dòng; họ chỉ khác với các đan nữ dòng nhì ở chỗ là họ không ở trong nội vi, nhưng tham gia các công tác tông đồ và bác ái. Đó là nguồn gốc của các dòng nữ tu hoạt động tông đồ vào thời nay.
Từ khi các cộng đoàn Dòng Ba tu trì lớn mạnh, cách riêng từ thế kỷ XV, thì vai trò của các hội viên Dòng Ba “đời” bị giảm. Nhiệt tình của phong trào “hối nhân” giảm sút. Vì thế, các nghĩa vụ của họ cũng được giảm nhẹ. Tính cách pháp lý của lời khấn hứa của họ không đáng kể. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, các Dòng Ba đời mới được phục hồi, nhưng thường được đồng hóa với các hội đoàn đạo đức cầu nguyện, nhưng không tác dụng vào đời sống Giáo hội cách mạnh mẽ như hồi thế kỷ XIII-XIV nữa. Dĩ nhiên, đó là nói các đường hướng chung, chứ khi đi vào lịch sử của mỗi Dòng Ba thì có nhiều đặc trưng khác nữa.
Hiện nay có bao nhiêu thứ Dòng Ba?
Sự phân biệt giữa Dòng Ba “tu trì” với Dòng Ba “đời” coi như không còn nữa. Các Dòng Ba tu trì trở thành các Dòng Tu như bao nhiêu Dòng Tu khác, chẳng hạn như các Dòng nữ tu Đaminh, Phanxicô, Cát minh, vv. Còn các Dòng Ba “đời” thì dần dần cũng đổi tên: thay vì gọi Dòng Ba Đaminh đời, thì người ta gọi là “huynh đoàn giáo dân Đaminh”; một cách tương tự như vậy, “Dòng Ba Phanxicô đời” được đổi thành “Dòng Thánh Phanxicô tại thế” (bỏ tính từ “thứ ba” để khỏi gây mặc cảm).
Dưới một khía cạnh khác, có thể nói được là có nhiều thứ Dòng Ba dựa theo các linh đạo khác nhau. Về điểm này ta thấy có sự khác biệt khá lớn giữa bộ giáo luật 1917 và bộ giáo luật 1983. Trong bộ giáo luật 1917, chỉ có các Dòng sau đây được phép nhận hội viên Dòng Ba: Phanxicô, Đaminh, Augustin, Carmêlô, Tôi tớ Đức Mẹ, Chúa Ba ngôi, Prémontrés, Minimi, Đức bà chuộc kẻ làm tôi, Biển đức. Như vậy, con số khá hạn hẹp, và chỉ giới hạn vào vài Dòng cổ điển. Ngược lại, Bộ giáo luật hiện hành không còn đặt giới hạn như vậy. Điều 303 của bộ giáo luật 1983 cho phép tất cả các Dòng Tu (dù cổ hay tân, dù là nam hay nữ) cũng đều có quyền kết nạp các giáo dân muốn tham gia vào linh đạo của mình. Đó là nói trên nguyên tắc. Cần phải chờ một thời gian nữa thì mới biết được điều luật này được áp dụng như thế nào.
Mặt khác, cũng nên biết rằng nhiều Dòng Tu, điển hình là Dòng Tên, tuy vốn không có Dòng Ba, nhưng vẫn điều khiển nhiều phong trào đạo đức gíao dân (thí dụ như trước đây gọi là Hiệp hội thánh mẫu, Hội tông đồ cầu nguyện, Phong trào Linh thao, vv). Sau cùng, để kết thúc bài hôm nay, cần thêm một nhận xét khác không kém phần quan trọng. Trong quá khứ, các phần tử Dòng Ba tìm đến các Dòng Tu để tìm con đường nên thánh, và con đường nên thánh được diễn tả qua việc hãm mình cầu nguyện.
Từ sau công đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới về sứ mạng của các tín hữu giáo dân, đường nên thánh của các giáo dân không thể chỉ giới hạn vào việc hãm mình đền tội, đọc kinh cầu nguyện mà thôi, nhưng còn phải tìm cách đem men Phúc âm vào các môi trường sinh sống: từ gia đình, nghề nghiệp, cho tới các cơ chế kinh tế, chính trị. Hậu nhiên, Giáo hội mong đợi nơi các phần tử Dòng Ba không phải chỉ là những chuyên viên đọc kinh cầu nguyện, nhưng còn là những cộng sự viên của hàng giáo phẩm trong các sinh hoạt mục vụ giáo xứ (chẳng hạn: dạy giáo lý, thăm viếng người bệnh tật), các công tác bác ái xã hội, cũng như là những chứng tá tin mừng trong các môi trường giáo dục, lao động, chính trị. Tại Italia, người ta đang tiến hành thủ tục phong thánh cho ông Giorgio La Pira, một hội viên Dòng Ba Đaminh, nguyên thị trưởng thành phố Firenze (1904-1977). Giữa thời chiến tranh nóng bỏng tại Việt Nam, ông đã đưa ra chủ trương đàm phán. Nếu tôi không lầm, thì ông là chính khách đầu tiên của khối Tây phương đi gặp chủ tịch Hồ chí Minh tại Hà nội, vào tháng 8 năm 1965, để tìm cách bắt nhịp cầu.

(Nguồn : catechesis.net)

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

THÁNH NỮ FAUSTINA - TÔNG ĐỒ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT





MỜI XEM PHIM :
THÁNH NỮ FAUSTINA 




Tiểu sử Thánh nữ Faustina, Tông đồ Lòng Thương xót Chúa Giêsu
(Trích Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa)
THÁNH NỮ MARIA FAUSTINA KOWALSKA ngày nay được khắp thế giới biết đến với tước hiệu “Tông Đồ Lòng Thương Xót Chúa” là một vị thánh được các nhà thần học kể vào số những nhà thần bí trổi vượt trong Giáo Hội.
Chị là người thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức tại Glogowiec, một làng quê nằm giữa đất nước Ba Lan. Khi được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie lân cận, chị đã được nhận tên “Helena.” Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đạo hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân. Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm, và đến năm 14 tuổi, chị đã phải rời bỏ mái ấm gia đình để mưu kế sinh nhai, giúp đỡ cha mẹ bằng công việc phụ giúp việc nhà tại thành phố Aleksandrow và Lodz kế cận.
Khi mới lên bảy tuổi (hai năm trước khi rước lễ lần đầu), Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì. Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ, nhưng hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống trong tu viện. Trước hoàn cảnh như thế, Helena đã cố bóp nghẹt lời mời gọi trong tâm hồn. Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người: “Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?” (NK 9), Helena bắt đầu tìm cách để xin vào một tu viện. Chị đã gõ cửa không ít tu viện, nhưng không được nơi nào đón nhận. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, Helena đã được bước qua ngưỡng cửa của dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở phố Zytnia tại Warsaw. Trong Nhật Ký, chị có viết: “Dường như tôi đã bước vào cuộc sống thiên đàng. Một lời kinh đã trào dâng từ tâm hồn tôi, một lời kinh tạ ơn” (NK 17).
Tuy nhiên, vài tuần lễ sau đó, chị bị cám dỗ mãnh liệt, muốn chuyển sang một dòng khác để có nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện. Chính lúc ấy, Chúa Giêsu đã tỏ cho chị thấy các thương tích và thánh nhan tử nạn của Người và phán: “Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện. Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải một nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con” (NK 19).
Khi vào dòng, Helena được nhận tên Maria Faustina. Chị đã sống thời kỳ năm tập tại Cracow, và cũng tại đây, trước sự chứng kiến của đức giám mục Stanislaus Rospond, chị đã tuyên lời khấn tạm lần đầu, và năm năm sau, tuyên giữ trọn đời ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được cắt cử làm một số công tác tại các tu viện của dòng; hầu hết thời gian là ở Cracow, Plock, và Vilnius, với các công tác làm bếp, làm vườn, và coi cổng.
Tất cả những cái vẻ bên ngoài ấy không làm hiện lộ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina. Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng, trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương người chung quanh một cách vô vị lợi.
Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên lỉ cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn. Chị đã viết trong Nhật Ký, “Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế” (NK 1372).
Chính quyển Nhật Ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị. Những tư liệu này - nếu được đọc chăm chú - sẽ làm hiện lên một bức tranh diễn tả mối thân tình hợp nhất cao độ giữa linh hồn chị với Thiên Chúa: sự khắng khít lạ lùng giữa Thiên Chúa với linh hồn chị, cũng như những nỗ lực và chiến đấu của chị trên con đường hoàn thiện Kitô Giáo. Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác, và ơn quí trọng bậc nhiệm hôn. Tuy được hoan hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: “Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa... Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi hệ ở việc kết hợp mật thiết giữa ý chí tôi với ý chí Thiên Chúa” (NK 1107).
Nếp sống khổ hạnh và những lần chay tịnh đến kiệt sức ngay cả trước khi vào dòng của chị đã làm suy sụp yếu nhược thể trạng của chị, đến nỗi ngay trong thời gian thỉnh tu, chị đã được đưa đi Skolimow gần Warsaw để phục hồi sức khỏe. Gần cuối năm đầu tiên trong thời kỳ nhà tập, chị còn phải trải qua những kinh nghiệm thần bí đớn đau lạ thường của giai đoạn vẫn được gọi là đêm tối giác quan, và sau đó là các đau khổ tinh thần và luân lý liên quan đến việc hoàn thành sứ mạng mà chị được nhận lãnh từ Chúa Kitô. Thánh nữ Faustina đã hy hiến cuộc đời cho các tội nhân, vì thế, chị đã chịu đựng những khổ đau tư bề để trợ giúp các linh hồn. Trong những năm tháng cuối đời của chị thánh, các đau khổ nội tâm của cái gọi là đêm thụ động của linh hồn và những bệnh nạn phần xác càng trở nên dữ dội hơn nữa. Căn bệnh lao của chị lan dần, tấn công những lá phổi và phần ruột non. Vì vậy, hai lần chị đã phải trải qua nhiều tháng điều trị ở bệnh viện phố Pradnik tại Cracow.
Tuy kiệt quệ về thể lý, nhưng chị Faustina đã đạt đến mức trưởng thành sung mãn trong đời sống thiêng liêng. Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, sau 13 năm trong cuộc sống tu trì. Thi hài của chị được an nghỉ tại ngôi mộ chung trong nghĩa trang tu viện tại Cracow-Lagiewniki. Năm 1966, trong khi thủ tục điều tra tôn phong chân phúc đang được xúc tiến, thi hài nữ tu Faustina đã được cải táng vào nhà nguyện của tu viện.
Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới, Người đã phán với chị,
 “Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha” (NK 1588).
 “Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha. Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau” (NK 1605) …
 “Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ  tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha” (NK 1567)
(Nguồn :xuanha.net)

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

BÌNH AN


Mọi sự cứ bấn loạn cả lên, khi đột nhiên bà tức ngực! Ba chân bốn cẳng đưa vào bệnh viện khi trên phố chẳng còn một bóng xe. Rồi cơn đau tim của bà dần dần hạ xuống, để bà có thể nói chuyện với người đến thăm. Có ai đó nói xa nói gần về việc “đọc kinh kẻ liệt” cho bà. Cô con dâu ra dấu, ý là đừng để bà nghe thấy, vì có lẽ bà cũng như mọi người, đều sợ chết! Nhưng mặt bà thì thanh thản thấy rõ khi khách đến nhắc bà về hạnh phúc của gia đình bà mà chẳng ai trong xóm bì kịp: Một gia đình thành đạt và gắn bó. Nụ cười bà làm khuôn mặt mọi người bên giường như giãn ra. Vui mừng, thanh thản, và an bình…cho dù trong cái phòng săn sóc đặc biệt này, ngày nào chẳng có người ra đi vĩnh viễn, khiến bà và các con phải bủn rủn vì lo lắng. Khi người ta đưa người quá cố ra khỏi phòng ngang qua chỗ bà nằm, bà nhắm hẳn mắt lại. Chắc là bà đang lâm râm cầu nguyện cho kẻ qua đời có thể chẳng có tên thánh như bà và các con bà bên cạnh. Một mũi tiêm khiến bà dịu đi vào giấc ngủ lơ mơ. Khi tỉnh giấc, bà thấy thương những đứa con đang căng mắt trông mẹ. Tâm hồn bà an bình biết bao! Bà vẫy tay cho con gái út, đứa nghèo nhất nhà lại gần. Bà đưa cánh tay vướng víu những ống truyền dịch, ống này nọ… ôm lấy cô, dịu dàng:
_Cố lên con nhé!
Bà nói thế mà lòng bình yên! Bình yên như sau một tháng chồng bà qua đời trước đây, bà tin chắc rằng ông phải được Nước Trời, vì ông đã sống một cuộc đời trọn vẹn, thiết tha với mọi người…
Người con gái ấy hơi sụt sùi, vì cô cố giấu cái cảm giác sẽ xa mẹ ám ảnh cô từ cả tuần nay. Trái tim cô như vỡ tung vì những đau đớn lặng thầm ấy. Chồng cô khẽ bấu vai cô như nhắc nhở:
_Bình tĩnh lại đi, kẻo mẹ lại lo lắng…
Những nụ cười lại trở lại trên môi miệng gia đình ấy, cho dù chung quanh chẳng thiếu những tiếng khóc rưng rưng , những tiếng nấc nghẹn ngào, những tiếng thở dài khe khẽ…
Rồi có tiếng chuông điện thoại, con trai bà khe khẽ:
_A lô…
Bà nhìn anh dò hỏi. Anh nhìn bà rồi bịt hẳn micro:
_Ừ! Chiều tôi sẽ đem sang…
Bà thôi hẳn vẻ thắc mắc. Hơi nhăn nhó, anh lại nói, trong khi ngón tay cái của anh vẫn khéo léo bịt micro, để giọng anh tuy có vẻ run run nhưng tan vào khoảng không đang quay cuồng:
_Cám ơn nhé! Mẹ tôi đỡ nhiều rồi…
Hm! Thật ra, anh vừa nhận được tin dữ : Chị cả của anh mới bị xe đụng chết trên đường về thăm mẹ mình. Anh biết, nếu bà nghe tin ấy hẳn hồn sẽ lìa ngay khỏi xác! Vì thế, anh phải hết sức không để cho chân tay lẩy bẩy, không để cho giọng mình pha dù chỉ một tí xíu lắng lo, không để cho sự bất an trong lòng mình trào ra khắp căn phòng đầy nước mắt này. Anh chỉ muốn cho mẹ được an lòng, dù việc ấy khiến khuôn mặt anh bỗng như già đi hàng mươi tuổi!
Vậy mới thấy sự bình an cần thiết đến thế nào trong đời sống con người. Trong cơn đau đớn, trong sự ngờ vực, trong lúc mất niềm tin, sự bình an còn cần thiết gấp muôn vạn lần.
Thế nên, khi Đức Giê su từ cõi chết trỗi dậy, đến với các Tông Đồ đang hãi sợ, Ngài đã chẳng chào họ rằng “Bình an cho anh em!” sao?
Rồi sau đó, lại đến với các Tông Đồ, lần này có cả Tôma- kẻ bán tín bán nghi về việc Thầy mình đã sống lại- , Ngài cũng chào bằng lời chào nghe rất đỗi êm đềm và thân ái:
_Bình an cho anh em!
“ Bọn” loài người chúng ta có làm gì để bình an luôn ở trong tâm hồn mình không nhỉ?
                                                                                                                 LAM TRẦN 02.04.2016



Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

CÁC HÌNH THỨC TÔN SÙNG LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA



Có nhiều hình thức trong việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa
Thứ nhất là hình Lòng Thương Xót Chúa.
Mẫu của tấm hình này đã do chính Chúa Giêsu cho chị Faustina thấy trong thị kiến ngày 22 tháng 2 năm 1931 trong phòng của tu viện tại Plock. Chị ghi lại trong nhật ký như sau: “Ban chiều khi đang ở trong phòng của mình, tôi trông thấy Chúa Giêsu mặc chiếc áo trắng: một tay giơ lên để chúc lành, trong khi tay kia chạm vào áo trên ngực, từ đó nhích ra bên cạnh để cho hai luồng sáng lớn phát ra,  một đỏ, một nhạt… Sau một chút Chúa Giêsu nói với tôi: “Con hãy vẽ một hình giống mẫu con trông thấy, bên dưới viết: “Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” (Nhật ký r. 74). “Cha muốn tấm hình này được làm phép một cách trọng thể vào ngày Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh, Chúa Nhật này phải là lễ của Lòng Thương Xót” (Nhật ký, tr. 75).
Ý nghĩa tấm hình này gắn liền một cách mật thiết với phụng vụ của ngày Chúa Nhật đó. Trong ngày này Giáo Hội đọc Phúc Âm theo thánh Gioan miêu tả biến cố Chúa Giêsu phục sinh hiện ra trong Nhà Tiệc Ly và việc thành lập bí tích sám hối (Ga 20,19-29) Như thế, bức hình diễn tả Chúa Cứu Thế phục sinh đem đến cho cọn người niềm an bình với việc tha thứ các tội lỗi, với giá trả là cuộc Khổ Nạn và cái chết của Người trên thập giá. Các tia sáng  của máu và nước vọt ra từ trái tim Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm thâu và các vết sẹo của các thương tích của việc đóng đanh đưa chúng ta trở về với các biến cổ của ngày Thư Sáu Tuần Thánh (Ga 19,17-18.33-37). Hình Chúa Giêsu Thương Xót quy tụ trong nó cả hai trình thuật nói lên tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Trong hình của Chúa Kitô có hai tia ánh sáng. Thánh nữ Faustina hỏi Chúa Giêsu ý nghĩa của hai tia ánh sáng này và Ngài giải thích chúng như sau: “Tia sáng lạt diễn tả Nước khiến cho các linh hồn nên công chính; tia sáng đỏ diễn tả Máu là sự sống của các linh hồn. Phúc cho người sống dưới bóng chúng” (Nhật ký, tr.235). Linh hồn được thanh tẩy bởi bí tích rửa tội và bí tích sám hối, trong khi lương thực tốt nhất cho nó là bí tích Thánh Thể. Như vậy, hai tia sáng này biểu tượng cho các bí tích thánh và tất cả mọi ân sủng của Chúa Thánh  Thần, có biểu tượng kinh thánh là nước, và cả giao ước mới của Thiên Chúa với con người được ký kết bằng máu Chúa Kitô.
Hình của Chúa Giêsu Thương Xót thường được gọi là hình Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì trong mầu nhiệm phục sinh  của Chúa Kitô tình yêu của Thiên Chúa đối với con người được vén mở một cách rõ ràng hơn. Bức hình không chỉ diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa, mà con nhắc cho kitô hữu nhớ tới bổn phận phải tin cậy đối với Thiên Chúa và sống lòng bác ái tích cực đối với tha nhân. Trong phần dưới của bức hình – do ý muốn của Chúa Kitô – có viết các lời: “Giêsu, con tín thác nơi Chúa”. Ngoài ra Chúa Giêsu còn nói: “Bức hình này phải nhắc nhớ các đòi buộc của Lòng Thương Xót của Cha, bởi vì cả lòng tin mạnh mẽ nhất cũng không ích lợi gì, nếu không có các việc làm” (Nhật ký, tr. 457).
Chúa Giêsu đã đưa ra các lời hứa lớn lao cho những ai tôn kính ảnh Chúa Giêsu Thương Xót: ơn cứu rỗi đời đời, các tiến bộ trên con đường hướng tới sự trọn lành kitô, ơn có một cái chết hạnh phúc và các ơn khác nữa, nếu con người xin chúng với lòng tin tưởng. “Qua bức hình này Cha sẽ ban nhiều ơn cho các linh hồn, vì thế mỗi linh hồn phải có thể đến với nó” (Nhật Ký, tr. 379).
Thứ hai là lễ kính Lòng Thương Xót.
Nó chiếm chỗ quan trọng nhất trong tất cả mọi hình thái tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa đã được vén mở cho thánh nữ Faustina. Lần đầu tiên Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ về việc thành lập lễ này là tại Plock vào năm 1931, khi Ngài truyền cho thánh nữ ý muốn của Ngài liên quan tới bức hình: “ Cha ước ao rằng bức hình mà con sẽ vẽ bằng bút, được làm phép cách long trọng trong ngày Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh; Chúa Nhật này phải là lễ của Lòng Thương Xót” (Nhật ký, tr. 75).
Việc chọn ngày Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh làm ngày lễ lòng thương xót có một ý nghĩa thần học sâu xa, cho thấy mối dây liên lạc mạnh mẽ giữa mầu nhiệm phục sinh của việc Cứu Chuộc và mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa. Mối dây này  được nhấn mạnh về sau bởi Tuần Cửu Nhật kính Lòng Chúa Thương Xót, trước ngày lễ và bắt đầu vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong đó tín hữu lần hạt kính Lòng Thương Xót.
Ngày lễ không phải chỉ là một ngày đặc biệt tôn thờ Thiên Chúa trong mầu nhiệm lòng thương xót, nhưng còn là thời gian ơn thánh cho tất cả mọi người. Chúa Giêsu đã nói: “Cha ước mong rằng lễ Lòng Thương Xót là sự bảo vệ và ẩn náu cho tất cả mọi linh hồn, và cách đặc biệt cho các kẻ tội lỗi đáng thương” (Nhật ký, tr. 440). “Các linh hồn hư đi mặc dù Cuộc Khổ Nạn đau thương của Cha. Cha ban cho chúng lần cứu rỗi cuối cùng, nghĩa là  lễ Lòng Thương Xót của Cha. Nếu chúng không tôn thờ Lòng Thương Xót của Cha, chúng sẽ chết đời đời” (Nhật ký, tr. 561).
Tầm quan trọng của ngày lễ này được đo lường với các lời hứa ngoại thường mà Chúa Giêsu đã cột buộc vào nó. Chúa Giêsu đã nói: “Trong ngày đó, ai đến gần suối nguồn sự sống, người đó sẽ được tha hết mọi tội và hình phạt” (Nhạt ký, tr. 235). “Trong ngày đó ruột Lòng Thương Xót của Cha sẽ mở ra, Cha sẽ tuôn đổ cả một biển ơn thánh trên các linh hồn đến gần suối nguồn Lòng Thương Xót của Cha… Đừng có linh hồn nào sợ hãi đến gần Cha, cả khi tội lỗi của nó có đỏ như son đi nữa” (Nhạt ký, tr. 441).
Để được các ơn lớn lao này cần phải chu toàn các điều kiện  của việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa (tin tưởng nơi lòng nhân lành của Thiên Chúa và sống bác aí tích cực với tha nhân), ở trong tình trạng ơn thánh (sau khi xưng tội) và rước lễ một cách xứng đáng. “Không có một linh hồn nào sẽ tìm được sự công chính hoá cho tới khi nào hướng tới Lòng Thương Xót Cha với sự tin tưởng, và vì thế ngày Chúa Nhật đầu tiên sau lễ Phục Sinh phải là lễ Lòng Thương Xót, và các linh mục trong ngày đó phải nói với các linh hồn về Lòng Thương Xót vĩ đại và khôn dò của Cha” (Nhật ký, tr. 378).
Thứ ba là Chuỗi nhỏ Lòng Thương Xót Chúa.
Nó  đã được Chúa Giêsu đọc cho thánh nữ Faustina ghi lại tại Vilnius ngày 13-14 tháng 9 năm 1935 như là lời cầu nguyện giúp nguôi cơn giận của  Thiên Chúa (Nhật ký tr. 327-329). Ai đọc chuỗi nhỏ này thì dâng lên Thiên Chúa Cha “Thân xác, Máu, Linh Hồn và Thiên Tính” của Chúa Giêsu Kitô để khẩn nài lòng thương xót cho các tội riêng, cho các tội của tha nhân và của toàn thế giới, đồng thời trong khi kết hiệp với hiến lễ của Chúa Giêsu cũng hướng tới tình yêu mà Thiên Chúa Cha trên trời ban cho Chúa Con, và trong Người ban cho tất cả mọi người.
Với lời cầu này người ta cũng xin “lòng thương xót cho chúng ta và cho toàn thế giới”,và như thế người ta chu toàn một cử chỉ của lòng thương xót. Với sự tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa và việc gắn bó với ý muốn của Ngài, tín hữu có thể chờ đợi việc thành toàn các lời hứa của Chúa Kitô, cách riêng các lời hứa liên quan tới giờ chết: ơn hoán cải và một cái chết thanh thản. Không chỉ những ai lần hạt kính Lòng Thương Xót sẽ nhận được các ơn đó, nhưng cả người hấp hối mà người ta lần hạt kính Lòng Thương Xót bên cạnh họ nữa. Chúa Giêsu đã nói: “Khi chuỗi Lòng Thương Xót được lần bên cạnh người hấp hối, cơn giận của Thiên Chúa được nguôi ngoai, và Lòng Thương Xót khôn dò bao bọc linh hồn” (Nhật ký, tr. 487). Lời hứa tổng quát nói rằng: “Vì việc lần hạt này Cha thích ban cho tất cả những gì họ sẽ xin Cha” (Nhật ký, tr. 806). “Với chuỗi lòng thương xót con sẽ được mọi sự, nếu điều con xin phù hợp với Ý muốn của Cha” (Nhật ký, tr. 897). Thật thế, tất cả những gì trái nghịch với ý muốn của Thiên Chúa thì không phải là một thiện ích cho con người, và cách riêng cho hạnh phúc vĩnh cửu của nó.
Trong một lúc khác Chúa Giêsu nói: “Với việc lần chuỗi lòng thương xót còn đưa nhân loại tới gần Cha” (Nhật ký, tr. 543). “Lòng Thương Xót của Cha sẽ bao bọc trong khi sống và đặc biệt trong giờ chết các linh hồn sẽ lần chuỗi hạt này” (Nhật ký tr. 463).
Thứ tư là giờ của Lòng Thương Xót.
Vào tháng 10 năm 1937 tại Cracovia Chúa Giêsu đã nói với  thánh nữ Faustina tôn kính giờ chết của Chúa. “Mỗi khi con nghe đồng hồ điểm ba giờ, hãy nhớ dìm toàn thân mình con trong Lòng Thương Xót của Cha, bằng cách thờ lậy nó và chúc tụng nó; hãy khẩn nài quyền năng của nó cho toàn thế giới và đặc biệt cho các kẻ tội lỗi đáng thương, bởi vì chính trong giờ đó Lòng Thương Xót được mở toang ra cho mọi tâm hồn” (Nhật ký, tr. 820).
Rồi Chúa nói thêm: “Con gái của Cha, trong giờ đó hãy đi Đàng Thánh Giá, nếu các bổn phận không cho phép con, và nếu con không đi Đàng Thánh Giá được, thì ít nhất hãy vào nhà nguyện một lúc và tôn kính Trái Tim Cha trong Bí Tích Cực Thánh tràn đầy Lòng Thương Xót. Và nếu con không thể đến nhà nguyện, thì hãy cầm trí cầu nguyện ít nhất trong một lúc ngắn tại nơi con đang ở” (Nhật ký, tr. 820)
Giáo sư thần học gia Rozycki chỉ ra các điều kiện để lời cầu nguyện nói lên trong lúc đó được lắng nghe: nó phải hướng về Chúa Giêsu và được đọc vào lúc 3 giờ chiều, phải quy chiếu các giá trị và công nghiệp Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Chúa Giêsu đã hứa: “Trong giờ đó con sẽ được tất cả cho con và cho các người khác, trong giờ đó ơn thánh được ban cho toàn thế giới, Lòng Thương Xót chiến thắng công lý” (Nhật ký tr. 820).
Thứ năm là phổ biến việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa.
Theo giáo sư thần học gia Rozycki lời Chúa Giêsu hứa cũng liên quan tới việc phổ biến lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa. “Các linh hồn phổ biến việc tôn sùng Lòng Thương Xót của Cha, Cha che chở họ suốt đời, như một bà mẹ dịu dàng che chở đứa con thơ còn đang bú sữa, và trong giờ chết Cha sẽ không là một thẩm phán đối với chúng, nhưng là Đấng Cứu Độ xót thương” (Nhật ký tr. 604).
Nòng cốt của việc tôn sùng Lòng  Thương Xót Chúa hệ tại thái độ của tín hữu kitô tin tưởng nơi Thiên Chúa và sống bác ái tích cực đối với tha nhân. Chúa Giêsu đòi hỏi lòng tin tưởng của các thụ tạo (x, Nhật ký tr. 597) và các việc bác ái, bằng hành động, lời nói và lời cầu nguyện. “Con phải cho thấy lòng thương xót đối với tha nhân luôn luôn và ở khắp mọi nơi: con không thể miễn cho mình điều này, cũng không được khước từ hay biện minh cho mình” (Nhật ký, tr. 457). Chúa Kitô muốn rằng các người tôn kính Ngài mỗi ngày phải chu toàn ít nhất là một hành động bác ái đối với người khác.
Việc phổ biến lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa không nhất thiết đòi hỏi nhiều lời nói, nhưng đòi buộc phải có đức tin, lòng tin tưởng nơi Thiên  Chúa và lòng thương xót ngày càng lớn hơn. Trong cuộc sống của mình thánh nữ Faustina đã làm gương cho việc tông đồ này.
Việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa đưa đến chỗ canh tân cuộc sống tu trì trong Giáo Hội, trong tinh thần của sự tin tưởng kitô và lòng thương xót. Dưới khía cạnh này chúng ta gặp thấy trong các trang nhật ký tử tưởng của thánh Faustina về một “dòng tu mới”, đó cũng là ước muốn chính Chúa Giêsu đã tỏ cho chị biết. Tư tưởng này đã có một tiến triển chắc chắn: từ một dòng chiêm niệm trở thành một phong trào được làm thành bởi các dòng hoạt động cũng như bởi giáo dân. Cộng đoàn lớn này vượt qua các quốc tịch là một gia đình được cột buộc bởi Thiên Chúa trong mầu nhiệm Lòng Thương Xót của Ngài, và hiệp nhất bởi ước muốn suy niệm đặc tính này của Chúa trong con tim, bằng cách biểu lộ nó ra trong các hành động riêng làm vinh danh Chúa trong mọi linh hồn. Đó là một cộng đoàn bao gồm nhiều người, trong các cách thức khác nhau tùy theo điều kiện và ơn gọi của mình (linh mục, tu sĩ hay giáo dân sống giữa đời), sống lý tưởng tin mừng của lòng tin tưởng và thương xót, loan báo mầu nhiệm khôn tả Lòng Thương Xót Chúa với chính cuộc sống của mình và bằng lời nói, và khẩn nài Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cho toàn thế giới.
Sứ mệnh của thánh nữ Faustina tìm ra một nguồn gợi hứng trong Thánh Kinh, và phản ánh trong các tài liệu của Giáo Hội, nhất là trong Thông điệp Dives in misercordia Thiên Chúa giàu lòng xót thương của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Tác giả: Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vietvatican.net/

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT


  Đức Thánh Cha Phanxicô đã khai mạc Năm Thánh Ngoại Lòng Thương Xót với việc mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma. Trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn sẽ khai mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót và mở Cửa Thánh tại Nhà thờ Chính Tòa vào Chúa Nhật 13/12/ 2015, đồng thời cũng có Nghi thức mở Cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Sở Kiện. Năm Thánh sẽ kết thúc vào Chúa Nhật Chúa Kitô Vua 20/11/2016. Sau đây là những điều cần biết về Năm Thánh.
I. Năm Thánh (Jubilee) là gì?
Trong những năm gần đây, Giáo Hội tại Việt Nam chúng ta có nhiều năm kỷ niệm thành lập giáo phận hay kỷ niệm xây dựng, khánh thành nhà thờ cũng gọi là “Năm Thánh” nên có thể nhiều người không ý thức được tầm quan trọng Năm Thánh mà chúng ta vừa bắt đầu. Những “Năm Thánh” ở Việt Nam vừa qua chỉ dành cho một giáo phận hay Giáo Hội tại Việt Nam (2009-2010), còn Năm Thánh (Jubilee) là Năm Toàn Xá cho cả Hội Thánh thì quan trọng và có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều.
Trong Sách Lêvi nói đến năm toàn xá được xảy ra cứ 50 năm một lần. Trong năm này, tù nhân và nô lệ được thả tự do, nợ nần xóa bỏ và lòng thương xót của Chúa được tuôn đổ một cách đặc biệt. Từ năm 1300 Hội Thánh Công Giáo đã thiết lập Năm Thánh (năm toàn xá) vào dịp mỗi 25 năm hay 50 năm, đôi khi cũng chỉ định năm thánh ngoài những mốc thời điểm đó thì gọi là “Năm Thánh ngoại thường.” Năm Thánh lần cuối là năm 2000 thời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Năm Thánh ngoại thường lần cuối là năm 1983 để kỷ niệm 1950 năm biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.
Vì vậy Năm Thánh 2016 này là Năm Thánh Ngoại Thường Lòng Thương Xót được thiết lập bởi Đức Phanxicô để toàn thể Hội Thánh có thể ý thức hơn, đón nhận lòng thương xót Chúa và tỏ lòng thương xót cho người khác.
II. Tại sao bây giờ lại có Năm Thánh?
Thương xót là đặc tính căn bản của toàn thể sứ vụ và con người của Chúa Giêsu Kitô. Đức Phanxicô muốn đặt thương xót như là sứ điệp trung tâm triều đại Giáo Hoàng của ngài. Ngài đã nói khi công bố Năm Thánh ngoại thường vào buổi cử hành sám hối tại đền thờ Thánh Phêrô: “Tôi thường ưu tư làm sao Hội Thánh có thể làm nổi rõ sứ vụ làm chứng tá của lòng thương xót. Tôi xác tín rằng cả Hội Thánh, luôn cần lãnh nhận lòng thương xót bởi vì chúng ta là những tội nhân, sẽ khám phá trong Năm Thánh (Jubilee) niềm vui và mang lòng thương xót Chúa cho mọi người trong thời đại này mà chúng ta được mời gọi mang đến họ niềm an ủi.” Đức Thánh Cha còn nhắc nhở: “Chúng ta đừng bao giờ quên rằng Chúa tha thứ và luôn tha thứ. Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi xin Chúa ơn tha thứ.”
Trong thư gửi cho Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng Cổ Võ Tân Loan Báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha viết: “Tôi mong rằng Ơn Toàn Xá Năm Thánh có thể đến với mỗi người như là một kinh nghiệm thực thụ về lòng thương xót của Thiên Chúa, sẽ đến để gặp gỡ từng người trong Diện Mạo của Chúa Cha là Đấng sẽ đón nhận và tha thứ và hoàn toàn quên hết mọi tội lỗi đã phạm.”
III. Lòng thương xót là gì?
Để hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu. Trong Tông sắc Năm Thánh, Đức Phanxicô viết:
“Trong Chúa Giê-su thành Nazareth, lòng thương xót của Thiên Chúa Cha trở nên sống động và rõ ràng, và đã tìm thấy tột đỉnh điểm của nó. Chúa Cha, Đấng “đầy Lòng Nhân Hậu” (Eph 2, 4)....Chúa Giê-su thành Nazareth chính là Đấng mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa, nhờ vào những lời và những công việc của Ngài, và toàn bộ cuộc hiện sinh của Ngài” (số 1).
“Sứ vụ của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao phó là mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của tình yêu ấy....Tình yêu này đã được thể hiện hữu hình và cụ thể trong toàn bộ cuộc sống của Chúa Giêsu. Ngôi vị của Ngài không gì khác hơn là tình yêu, một tình yêu được trao ban nhưng không. Các mối quan hệ Chúa với những người đến với Ngài thể hiện một điều gì đó hoàn toàn độc đáo và không thể lặp lại được. Các dấu chỉ Ngài thực hiện, đặc biệt trước những kẻ tội lỗi, người nghèo, người bị gạt ra ngoài lề, người bệnh tật, và những người đau khổ, tất cả đều nhằm giảng dạy về lòng thương xót. Mọi thứ nơi Ngài nói lên lòng thương xót. Không có gì nơi Ngài thiếu vắng lòng thương xót” (số 8).
“Trong dụ ngôn về lòng thương xót, Chúa Giêsu tiết lộ bản tính của Thiên Chúa như một người Cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi Ngài đã tha thứ kẻ sai phạm và vượt qua sự từ khước với lòng trắc ẩn và thương xót” (số 8).
“Chúa Giêsu khẳng định rằng lòng thương xót không chỉ là một hành động của Chúa Cha, nó trở thành một tiêu chuẩn để xác thực ai là con cái thật sự của Ngài. Nói vắn tắt, chúng ta được mời gọi để tỏ lòng thương xót vì lòng thương xót đã được thể hiện ra cho chúng ta trước. Tha thứ cho các sai phạm trở thành diễn đạt rõ ràng nhất của tình yêu thương xót, và đối với Kitô hữu chúng ta đó là một mệnh lệnh mà chúng ta không thể thoái thác cho chính mình” (số 9).
“Thương xót là nguồn cội của niềm vui, của sự thanh thản và bình an.
Thương xót tỏ lộ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Thương xót là hành vi chóp đỉnh và chung cuộc mà Chúa đến gặp gỡ chúng ta. Thương xót là quy luật nền tảng trong trái tim mỗi người để nhìn một cách chân thành vào con mắt của anh chị em khác trong hành trình cuộc sống.
Thương xót là nhịp cầu nối Thiên Chúa và con người, mở trái tim chúng ta cho niềm hy rằng chúng ta được Thiên Chúa yêu thương đến muôn đời, bất chấp sự tội lỗi của chúng ta” (số 3).
“Thương xót không mâu thuẫn với công lý nhưng diễn tả con đường tiếp cận của Thiên Chúa với tội nhân, cho họ một cơ hội mới để nhìn lại mình, trở lại và để tin” (số 21).
IV. Chúng ta sẽ làm gì trong Năm Thánh?
Chúng ta được mời gọi ngước mắt chiêm ngưỡng Chúa Kitô và đến gần Người hơn vì Ngài là dung mạo của lòng thương xót Chúa Cha. Chúng ta hoán cải lãnh nhận lòng thương xót Chúa từ Chúa Kitô và thực thi lòng thương xót như Người.
a. Lãnh nhận lòng thương xót Chúa: Hành Hương bước qua Cửa Thánh để lãnh nhận Ơn Toàn Xá
b. Thực thi lòng thương xót, ”Thương người có 14 mối”:
Thương xác 7 mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết.
Thương linh hồn 7 mối: lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
1. Lãnh nhận lòng thương xót Chúa
a. Bước qua Cửa Thánh có ý nghĩa gì?
Cửa Thánh tượng trưng cho Chúa Kitô đầy lòng thương xót, như ngài phán: “Ta là Cửa” (Ga 10:9). Khi bước qua Cửa Thánh, với lòng ăn năn sám hối chúng ta trở về với Chúa và đi vào trong Chúa Kitô để đến cùng Thiên Chúa Cha.
Đức Phanxicô đã dạy như sau trong Tông chiếu về Năm Thánh Lòng Thương Xót:
“Cửa Thánh này sẽ trở thành Cửa Thương Xót mà bất cứ ai bước vào sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa, Đấng an ủi, tha thứ, và khơi lên niềm hy vọng (số 3).
“Bởi bước qua ngưỡng Cửa Thánh, chúng ta sẽ tìm được sức mạnh để đón nhận lòng thương xót của Chúa và dấn thân trở nên xót thương với người khác như Chúa Cha đã thương xót chúng ta” (số 14).
b. Ơn tha thứ của Chúa
b.1. Tha vạ tuyệt thông cho những người phạm tội phá thai (Vạ không dành cho Tòa Thánh)
Phá thai trực tiếp và có hiệu quả là tội rất nặng và là tội ác đáng xấu hổ xúc phạm đến danh dự Đấng Tạo Hóa (GS. 27) vì kết liễu mạng sống của một người vô tội nhất và vô phương tự vệ, dù chỉ là tiếng khóc (EV. 58). Nếu những ai trực tiếp tham gia (cha mẹ, bác sỹ, y tá..) hay trực tiếp cộng tác (ví dụ cho vay tiền để phá thai, khuyên đi phá thai..) vào việc phá thai và có hiệu quả thì ngoài phạm tội trọng còn mắc vạ tuyệt thông tiền kết (tức khắc bị rút phép thông công) nếu như người đó trên 18 tuổi và biết sẽ bị mắc vạ đó mà vẫn làm. Vạ tuyệt thông cấm người đó tham dự các bí tích như xưng tội, dự lễ và rước lễ, á bí tích, trừ trong trường hợp nguy tử (Giáo luật điều 1398, 1331, 1323, 1324).
Trong Năm Toàn Xá, Đức Thánh Cha ban phép cho tất cả các linh mục được quyền tha vạ tuyệt thông cho những người phạm tội phá thai, nếu những hối nhân tỏ ra thành tâm sám hối và dốc lòng chừa. Linh mục phải tha vạ trước (cất đi sự ngăn cản lãnh nhận bí tích) rồi mới đọc công thức xá giải (Do quyền năng đã được ủy thác, Cha tha vạ tuyệt thông cho con. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần). Hoặc đọc công thức xá giải với ý tha vạ cùng một lúc (...Vậy cha tha vạ và tha tội cho con. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần).
b.2. Tha vạ tuyệt thông và tội dành riêng cho Tòa Thánh
Có những vạ tuyệt thông tiền kết sau đây mà chỉ có Tòa Thánh mới quyền tha:
+ Xúc phạm đến Mình Thánh hay Máu Thánh Chúa (Gl điều 1367)
+ Hành hung Đức Giáo Hoàng (Gl điều 1370, §1)
+ Xá giải cho người đồng lõa phạm điều răn thứ Sáu (Gl điều 1378)
+ Không có bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng mà phong chức hay chịu chức giám mục (Gl điều 1382)
+ Linh mục giải tội vi phạm trực tiếp ấn tín tòa giải tội (Gl điều 1388).
Có những tội mà chỉ có Tòa Thánh mới có quyền tha, ví dụ:
+ Linh mục dùng bí tích giải tội để quyến rũ hối nhân phạm tội với mình về điều răn thứ 6 (Gl điều 1387)
+ Người không có chức linh mục giả vờ để nghe xưng tội và cử hành Thánh lễ (Gl điều 1378, §2, 1o, 2o)
+ Linh mục vi phạm gián tiếp ấn tín tòa giải tội (Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những Qui Định Thiết Yếu, điều 4, §1,1o)
+ Đặt ghi âm hay dụng cụ để nghe lén xưng tội, hay truyền thông những điều được nói trong khi xưng tội (Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những Qui Định Thiết Yếu, điều 4, §2)
Những vạ và tội này sẽ được tha bởi các sứ giả lòng thương xót, sai đi bởi Đức Giáo Hoàng, trong mùa Chay 2016.
b.3 Tổ chức “24 giờ cho Chúa”
Các Giáo phận sẽ tổ chức 24 giờ liên tục giải tội cho các tín hữu từ thứ Sáu đến thứ Bảy trước Chúa Nhật IV mùa Chay để họ có thể giao hòa và lãnh nhận lòng thương xót Chúa.
c. Ơn toàn xá là gì?
Tội có 2 hình phạt: hình phạt đời đời (xa rời Thiên Chúa) và hình phạt tạm ở đời này như những hậu quả và vết thương của tội lỗi. Khi xưng tội, thì chúng ta được tha tội và hình phạt đời đời bởi tội, nhưng hình phạt tạm là những hậu quả xáo trộn bởi tội ở đời này thì vẫn phải chịu và phải đền tội.
Sách Giáo Lý Công Giáo dạy rằng: “Ân xá là sự tha thứ các hình phạt tạm do tội gây ra, mà các tội đó đã được tha. Các Kitô hữu đã chuẩn bị thích đáng được hưởng dưới những điều kiện được quy định qua hành động của Hội Thánh, như là thừa tác viên của ơn cứu độ, dùng quyền ban phát và áp dụng kho tàng ơn thánh của Ðức Kitô và các thánh. Ân xá có thể là tiểu xá hay toàn xá tùy thuộc việc xóa bỏ một phần hay tất cả những hình phạt tạm gây ra bởi tội lỗi” (GLCG 1471).
Như thế ân xá chỉ tha hình phạt tạm do tội đã xưng nhưng chưa đền đủ mà không tha tội. Ân xá có thể áp dụng cho những người đã qua đời.
d. Điều kiện để lãnh nhận ơn toàn xá trong Năm Thánh Lòng Thương Xót
d.1. Hành Hương và bước qua Cửa Thánh: Có 3 điều kiện sau đây:
1o. Làm một cuộc hành hương và bước qua Cửa Thánh (Cửa Thương Xót), như một dấu chỉ của sự thống hối chân thành.
2o. Xưng tội và hiệp dâng Thánh Lễ với một suy niệm về lòng thương xót.
3o. Tuyên xưng đức tin (có thể đọc kinh Tin Kính) và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và theo ý của ngài cho cả Hội Thánh và toàn thế giới.
d.2. Những cách thức khác để lãnh ơn toàn xá:
Trong thư gửi cho Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng Cổ Võ Tân Loan Báo Tin Mừng, Đức Phanxicô đã định như sau:
1o. Những ai làm một trong những việc của lòng thương xót - “14 mối thương người” - thì chắc chắn được ơn toàn xá.
2o. Những người đau yếu hay già cả, kết hợp đau khổ của mình với cuộc thương khó của Chúa, được gần gũi với Chúa, khi rước lễ, hoặc tham dự Thánh lễ hay một cuộc cầu nguyện chung, có thể qua các phương tiện truyền thông thì được ơn toàn xá.
3o. Những tù nhân có thể lãnh ơn toàn xá trong nhà nguyện của nhà tù khi hướng tâm trí và lời nguyện lên Chúa Cha mỗi lần bước qua cửa phòng giam.
4o. Ơn toàn xá có thể ban cho những người qua đời khi chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho họ trong Thánh lễ để họ có thể chiêm ngưỡng dung nhan thương xót của Chúa.
2. Thực thi lòng thương xót cho người khác
Chúng ta lãnh nhận lòng thương xót Chúa thì có đủ sức mạnh để thực thi lòng thương xót Chúa cho người khác. Việc thực thi lòng thương xót là hoa trái của niềm vui khi lãnh nhận lòng xót Chúa như khẩu hiệu của Năm Thánh: “Thương Xót Như Chúa Cha.”
Mối phúc của Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai thương xót người, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5: 7) là kim chỉ nam của suốt Năm Thánh.
Thực thi lòng thương xót là bản chất của Hội Thánh:
“Điều căn bản quyết định nhất cho Hội Thánh và sự đáng tin trong việc loan báo Tin Mừng của Hội Thánh là Hội Thánh phải sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và cử chỉ của Hội Thánh phải chuyển tải lòng thương xót để động chạm đến trái tim của tất cả mọi người và khích lệ họ lần nữa tìm ra con đường dẫn đến Chúa Cha.
Chân lý đầu tiên của Hội Thánh chính là tình yêu Chúa Ki-tô. Hội Thánh biến mình thành tôi tớ và làm trung gian cho tình yêu ấy, tức tình yêu dẫn tới sự tha thứ và sự tự hiến. Như vậy, nơi đâu có sự hiện diện của Hội Thánh, thì lòng thương xót của Thiên Chúa Cha cũng phải trở nên rõ rệt tại đó. Trong các giáo xứ, các cộng đoàn, và các hiệp hội của chúng ta trên khắp thế giới, tức những nơi mà các Ki-tô hữu đang hiện diện, mỗi người thuộc bất cứ ốc đảo nào cũng đều phải có thể nhận ra được lòng thương xót” (Tông sắc Năm Thánh, số 12).
Cụ thể Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta như sau:
1o. Nghĩ đến và mở tâm hồn với những ai đang sống ngoài lề xã hội, những người không có tiếng nói, chịu bất công xã hội, những người “nhỏ bé”, đau khổ, bệnh tật, cô đơn, những người bị tước đoạt nhân phẩm ...
2o. Thực thi 14 mối thương người: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết, lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mu muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
3o. Đừng phán xét người khác, tha thứ và chia sẻ trong vui mừng.
V. Các Kinh Nguyện
Kinh đọc Trước Cửa Thánh Khi Hành Hương
(Đức Phanxicô đã đọc kinh này trước khi mở Cửa Thánh ngày 8/12/2015)
Lạy Thiên Chúa,
Đấng đã tỏ quyền năng vô biên của Chúa
trên hết qua lòng thương xót và tha thứ,
xin ban cho chúng con sống một năm hồng ân,
một thời gian thuận tiện để yêu mến Chúa và anh chị em
trong niềm vui của Tin Mừng.
Xin tiếp tục tuôn đổ Thánh Thần trên chúng con,
để chúng con không bao giờ mỏi mệt với tin tưởng,
hướng về Con Chúa làm người,
Đấng mà chúng con đã đâm thâu qua,
Đấng là Dung Nhan lòng thương xót không mỏi mệt của Cha,
Đấng là nơi nương náu an toàn cho tất cả chúng con,
là những kẻ tội lỗi khao khát lòng thương xót, bình an và sự thật sẽ giải thoát và cứu vớt chúng con.
Người là Cửa,
Qua đó chúng con đến được với Chúa,
Đấng là nguồn an ủi không bao giờ cạn cho mọi người,
Đấng là vẻ thiện mỹ không bao giờ phai,
Đấng là niềm vui tuyệt hảo của sự sống không bao giờ cùng.
Xin Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm khẩn cầu cho chúng con,
Mẹ là hoa trái đầu mùa và rạng ngời của chiến thắng Vượt Qua,
Mẹ là rạng đông sáng rực của trời mới và đất mới,
Mẹ là bến bờ hạnh phúc của cuộc lữ hành trần thế của chúng con.
Xin cho mọi danh dự và vinh quang
đều thuộc về Chúa là Cha chí thánh,
và Chúa Con, Đấng Cứu Độ chúng con,
và Chúa Thánh Thần, Đấng an ủi
bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.
Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót
(Đức giáo hoàng Phanxicô)
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa dạy chúng con phải có lòng thương xót như Cha trên trời,
và ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha.
Xin tỏ cho chúng con thấy dung nhan của Chúa
và chúng con sẽ được cứu độ.
Ánh mắt đầy yêu thương của Chúa đã giải thoát ông Zakêu
và thánh Matthêu khỏi ách nô lệ bạc tiền;
làm cho người đàn bà ngoại tình và thánh Mađalêna
không còn tìm hạnh phúc nơi loài thụ tạo;
cho thánh Phêrô khóc lóc ăn năn sau khi chối Chúa,
và hứa ban thiên đàng cho kẻ trộm có lòng hối cải.
Xin cho chúng con được nghe
những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samaria,
như thể Chúa đang nói với mỗi người chúng con:
“Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!”
Chúa chính là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình,
Đấng biểu lộ quyền năng của Ngài
trước hết bằng sự tha thứ và lòng thương xót:
Xin làm cho Hội Thánh
phản chiếu gương mặt hữu hình của Chúa trên trái đất này.
Chúa là Đấng phục sinh vinh hiển.
Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa
cũng mặc lấy sự yếu đuối
để có thể cảm thông với những người mê muội lầm lạc,
xin làm cho tất cả những ai tiếp cận với các ngài
đều cảm thấy họ đang được Thiên Chúa
quan tâm, yêu mến và thứ tha.
Xin sai Thần Khí Chúa đến
xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con,
để Năm Thánh Lòng Thương Xót này
trở thành năm hồng ân của Chúa cho chúng con;
và để Hội Thánh Chúa, với lòng hăng say mới,
có thể mang Tin Mừng đến cho người nghèo,
công bố sự tự do cho các tù nhân và những người bị áp bức,
trả lại ánh sáng cho kẻ mù lòa.
Lạy Chúa Giêsu,
nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ của lòng thương xót,
xin ban cho chúng con những ơn chúng con đang cầu xin.
Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha
và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.
Salve, Regina
Salve, Regina, mater misericordiae;
vita, dulcedo et spes nostra, salve.
Ad te clamamus exsules filii Hevae.
Ad te suspiramus gementes et flentes
in hac lacrimarum valle.
Eia ergo, advocata nostra,
illos tuos misericordes oculos ad nos converte.
Et Iesum, benedictum fructum ventris tui,
nobis post hoc exsilium ostende.
O clemens, o pia, o dulcis Virgo Maria.
Kinh Lạy Nữ Vương (Mẹ của lòng thương xót)
Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà; Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ.
Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.
Vp Tòa TGM Hà Nội